TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc ĐỀ TIỂU LUẬN Môn: Giáo dục đại học Thế giới và Việt Nam (Dành cho lớp nghiệp vụ sư phạm giảng viên CĐ – ĐH) Câu 1: (5 điểm) Anh (chị) hãy trình bày các xu hướng phát triển giáo dục đại học hiện đại. Câu 2: (5 điểm) Anh (chị) hãy đề xuất một số giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời gian tới BÀI LÀM CÂU 1: Dựa trên việc phân tích các dữ liệu thống kê kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo của các trường Đại Học tại Việt Nam thời gian gần đây, có thể nhận dạng những thành tựu cốt lõi của giáo dục Đại Học Việt Nam đặt trong các xu hướng của giáo dục Đại Học thế giới hiện nay như sau: Xu hướng thứ nhất: Chương trình giảng dạy chú trọng các năng lực cần thiết trong môi trường làm việc tương lai.
Trang 1TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ TIỂU LUẬN Môn: Giáo dục đại học Thế giới và Việt Nam
(Dành cho lớp nghiệp vụ sư phạm giảng viên CĐ – ĐH)
Câu 1: (5 điểm)
Anh (chị) hãy trình bày các xu hướng phát triển giáo dục đại học hiện đại
Câu 2: (5 điểm)
Anh (chị) hãy đề xuất một số giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 2BÀI LÀM CÂU 1:
Dựa trên việc phân tích các dữ liệu thống kê kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo của các trường Đại Học tại Việt Nam thời gian gần đây, có thể nhận dạng những thành tựu cốt lõi của giáo dục Đại Học Việt Nam đặt trong các xu hướng của giáo dục Đại Học thế giới hiện nay như sau:
Xu hướng thứ nhất: Chương trình giảng dạy chú trọng các năng lực cần
thiết trong môi trường làm việc tương lai
Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động trình độ cao, có chuyên môn, kỹ năng trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng tăng
Do đó, để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động, tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng với ngành nghề được đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, mục tiêu đào tạo cần thay đổi theo hướng thúc đẩy sáng tạo, phát triển năng lực cá nhân; chương trình và phương thức đào tạo cần được đổi mới; năng lực của đội ngũ giảng viên trong việc thiết kế và phát triển chương trình giảng dạy cần được nâng cao
Kết quả KĐCL 392 CTĐT gần đây của các trường ĐH cho thấy, việc thiết kế
và phát triển chương trình dạy học đảm bảo cho người học đạt được chuẩn đầu ra trong thời gian ngắn nhất đã bước đầu đạt được như kỳ vọng
Hơn 40% CTĐT được KĐCL đạt yêu cầu đối với tiêu chí có liên quan đến mức đóng góp của mỗi học phần vào việc đạt được chuẩn đầu ra của CTĐT và các chuẩn đầu ra này đã được sự góp ý của các nhà tuyển dụng
Xu hướng thứ hai: Áp dụng các phương pháp giảng dạy dựa trên khoa học
của việc học tập và chấp nhận phương pháp học tập chủ động
Trang 3Những thay đổi về nội dung đào tạo đòi hỏi những thay đổi tương xứng về cách tiếp cận phương pháp dạy và học trong cơ sở GDĐH Việc đóng cửa trường học và đại học trong đại dịch Covid-19 đã làm sáng tỏ điều này
Người học không nhất thiết phải đến giảng đường để nghe giáo sư thuyết giảng, không cứ phải đến phòng thí nghiệm để thực hành, thay vào đó, công nghệ
sẽ giúp người học thực hành, trải nghiệm và thu nhận kiến thức ngay tại nhà và ngay trước mắt
Những cố gắng ban đầu của một số trường đại học nước ta nhằm đưa công nghệ thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo vào phục vụ công tác tuyển sinh như trường Đại học Kinh tế quốc dân hoặc hỗ trợ thiết kế và phát triển chương trình dạy học dựa trên chuẩn đầu ra của Trường đại học Ngoại ngữ, Đại học quốc gia Hà Nội là những tiến bộ cần được ghi nhận
Vai trò của công nghệ trong học tập đại học không chỉ trang bị thông tin cho sinh viên mà còn là cầu nối để tiếp cận với nền giáo dục chất lượng, giúp bỏ qua những hạn chế về thời gian và địa điểm, thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, khuyến khích sự sáng tạo, tò mò, hợp tác và cá thể hóa việc học tập
Xu hướng thứ ba: Mở rộng địa điểm và thời gian học tập cho người học
Khi nền giáo dục đang quen với cách dạy - học truyền thống, thầy đọc trò chép hàng ngày trên giảng đường, trước tác động mạnh mẽ của đại dịch, các trường đại học Việt nam đã kịp thích ứng với việc đột ngột chuyển hướng sang giảng dạy trực tuyến với phương pháp dạy và học hoàn toàn thay đổi, tuy rằng kết quả học tập
ít nhiều bị ảnh hưởng
Việc giảng dạy trực tuyến đã buộc phải nhìn nhận lại các khái niệm về thời gian và không gian trong thế giới giáo dục, phải mở rộng các hình thức học kết hợp Học tập kết hợp không chỉ có nghĩa là kết hợp một lớp học ảo và lớp thực, mà
Trang 4còn cho phép học tập thực sự nhập vai và trải nghiệm, cho phép sinh viên áp dụng các khái niệm đã học trong lớp học vào thế giới thực
Vì vậy, thay vì “học ở bất kỳ chỗ nào” cung cấp tính linh hoạt cho các CTĐT, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam bằng cách gia tăng tỷ lệ các học phần
tự học đang chuyển dần sang cách tiếp cận “học từ mọi nơi” và “học từ mọi người” (học thầy không tày học bạn) cung cấp sự hòa nhập trong khóa học, lớp học Những thay đổi này cũng được ghi nhận bước đầu trong kết quả kiểm định chất lượng
Xu hướng thứ tư: Hỗ trợ người học sẵn sàng cho lực lượng lao động, được
chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần
Xã hội luôn kỳ vọng đối với sản phẩm đào tạo của một nhà trường có uy tín khi ra trường sẽ là những công dân gương mẫu, là những người lao động giỏi trên mọi cương vị công tác, có tinh thần sáng nghiệp và ý thức làm chủ để trở thành những nhà quản lý, doanh nhân xuất sắc, những nhà khoa học, công nghệ, văn hóa nghệ thuật tài năng cống hiến thật nhiều cho đất nước Muốn vậy, sinh viên tốt nghiệp không chỉ cần được trang bị đầy đủ năng lực mà còn cần phải được chăm sóc tốt về sức khỏe thể chất và tinh thần
Kết quả KĐCL 392 CTĐT và 52 CSGD cho thấy, các hoạt động hỗ trợ người học của các trường đại học Việt Nam luôn đạt mức cao nhất so với các tiêu chuẩn khác trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tương ứng
Hầu hết các CTĐT được đánh giá đều đáp ứng yêu cầu về chính sách tuyển sinh, hệ thống giám sát học tập của sinh viên, hoạt động hỗ trợ học tập, hỗ trợ việc làm và việc xác lập, giám sát, đối sánh tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp
Xu hướng thứ năm: Đổi mới quản trị đại học
Trên thế giới, việc quản trị GDĐH trong trường ĐH thông qua thiết chế Hội đồng trường (HĐT) là khá phổ biến, dù ở các nước phát triển, đang phát triển hay
Trang 5các nước có nền kinh tế chuyển đổi HĐT vừa là tổ chức quản trị, đại diện cho quyền sở hữu của các bên liên quan, vừa là thiết chế quyền lực cao nhất trong CSGD ĐH công lập, dựa trên ba trụ cột cơ bản là quyền quyết định, quyền ban hành và quyền giám sát
Thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về tự chủ đại học, luật hóa vai trò của HĐT, các trường ĐH đã từng bước tổ chức lại hệ thống quản trị dựa trên nền tảng của HĐT và bước đầu đã thu được các kết quả mong muốn ở một số cơ sở GDĐH
CÂU 2:
* Các giải pháp chiến lược phát triển giáo dục ĐH
Các giải pháp phát triển giáo dục trong giai đoạn 2008-2020 đảm bảo các định hướng sau:
- Thể hiện rõ mục đích tạo động lực, phát huy nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho giáo dục; đồng thời có tính toàn diện và đột phá để thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu giáo dục;
- Thể hiện tinh thần phát huy cao độ nội lực, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong giai đoạn hội nhập;
- Xác định ưu tiên cho mỗi giai đoạn phát triển của giáo dục
* Các giải pháp mang tính đột phá
Giải pháp 1: Đổi mới quản lý giáo dục
- Thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục Việc quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm nhận.Thực hiện dần việc bỏ cơ chế Bộ chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học
Trang 6Trong thời gian trước mắt, các Bộ, các địa phương cũn quản lý cỏc trường đại học, cao đẳng phải phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế quản lý trường đại học, cao đẳng
- Hoàn thiện môi trường pháp lý và chính sách giáo dục; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục, điều tiết cơ cấu và quy mô giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu của người học và nhân lực của đất nước trong từng giai đoạn; triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục
- Thực hiện công khai hóa về chất lượng giáo dục, nguồn lực cho giáo dục
ĐH và tài chính của các cơ sở giáo dục, thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Thực hiện phân cấp quản lý mạnh đối với các địa phương và các cơ sở giáo dục, nhất là đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các cấp về nội dung đào tạo, tài chính, nhân sự; kiên quyết thúc đẩy thành lập Hội đồng trường ở các cơ sở giáo dục đại học để thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của đơn vị
- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn bộ hệ thống quản lý giáo dục, từ
cơ quan trung ương tới các địa phương, các cơ sở giáo dục nhằm tạo ra một cơ chế quản lý gọn nhẹ, hiệu quả và thuận lợi cho người dân Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm “tin học hóa” quản lý giáo dục ở các cấp
- Xây dựng và triển khai đề án đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục nhằm đảm bảo mọi người đều được học hành, huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục
Giải pháp 2: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Trang 7- Để tạo sự cạnh tranh lành mạnh và ý thức phấn đấu trong đội ngũ nhà giáo, tiến tới thực hiện chế độ hợp đồng thay cho biên chế trong quá trình tuyển dụng và
sử dụng các giáo viên, giảng viên và các viên chức khác Năm 2009 bắt đầu thí điểm ở một số trường phổ thông và trường đại học, tới năm 2010 có 100% số giáo viên, giảng viên mới được tuyển dụng làm việc theo chế độ hợp đồng thay cho biên chế
- Để đảm bảo đến năm 2020 có đủ giáo viên để thực hiện giáo dục toàn diện, dạy học các môn học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học 2 buổi/ngày ở phổ thông; để đảm bảo tỷ lệ giáo viên trên lớp, học sinh trên giáo viên, sinh viên trên giảng viên, tiếp tục tăng cường đội ngũ nhà giáo cho các cơ sở giáo dục Có chính sách miễn giảm học phí, cung cấp học bổng đặc biệt để thu hút các học sinh giỏi vào học tại các trường sư phạm Đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo sư phạm, từ mô hình đào tạo tới nội dung và phương pháp đào tạo nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên vững vàng về kiến thức khoa học cơ bản và kỹ năng sư phạm Phát triển các khoa sư phạm nghề tại các trường đại học kỹ thuật để đào tạo sư phạm nghề cho số sinh viên đó tốt nghiệp các trường này nhằm cung cấp đủ giáo viên cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
- Tổ chức các chương trình đào tạo đa dạng nhằm nâng cao chuẩn trình độ đào tạo cho đội ngũ nhà giáo Đến năm 2020 có 80% số giáo viên mầm non và 100% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 100% số giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt trình độ đại học trở lên; 20% số giáo viên ở các trường trung cấp nghề và 35% số giáo viên ở các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ
- Thực hiện đề án đào tạo giảng viên cho các trường đại học cao đẳng từ
2008 đến năm 2020 với ba phương án đào tạo: đào tạo ở trong nước, đào tạo ở
Trang 8nước ngoài và kết hợp đào tạo trong và ngoài nước Tập trung giao nhiệm vụ cho một số trường đại học và viện nghiên cứu lớn trong nước, đặc biệt là các đại học theo hướng nghiên cứu đảm nhiệm việc đào tạo số tiến sỹ trong nước với sự tham gia của các giáo sư được mời từ những đại học có uy tín trên thế giới
- Tiếp tục xây dựng, ban hành và tổ chức đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non và phổ thông, đánh giá theo chuẩn nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên giáo dục nghề nghiệp và giảng viên đại học
- Tăng cường các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên theo các chương trình tiên tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ nhà giáo trong tình hình mới
- Có chính sách khuyến khích thực sự đối với đội ngũ nhà giáo thông qua chế
độ đãi ngộ xứng đáng Năm 2009 bắt đầu thí điểm để tiến tới thực hiện việc hiệu trưởng quyết định mức lương cho từng giáo viên, giảng viên dựa trên kết quả công tác của cá nhân ở các cơ sở giáo dục
- Thu hút các nhà khoa học nước ngoài có uy tín và kinh nghiệm, các trí thức Việt kiều tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam
- Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành; xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục; có chế độ
độ ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ quản lý Khuyến khích các cơ sở giáo dục
ký hợp đồng với các nhà giáo, nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm trong và ngoài nước quản lý và điều hành cơ sở giáo dục
Giải pháp 3: Tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân và mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục
- Tái cấu trúc cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, bảo đảm tính phân luồng rõ rệt và liên thông sau trung học cơ sở để tạo
Trang 9cơ hội học tập suốt đời cho người học Vào năm 2009 sẽ ban hành Nghị định của Chính phủ về cơ cấu mới của hệ thống giáo dục quốc dân
- Phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, đảm bảo đến năm 2020 có 100% xã, phường trên toàn quốc có trường mầm non
- Mạng lưới trường phổ thông được phát triển khắp toàn quốc, đảm bảo không còn tình trạng học sinh tiểu học bỏ học vì trường quá xa nhà Củng cố và mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh, cấp huyện và trường bán trú, đến năm 2020 có 8% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông là người dân tộc được học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú
- Mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đến năm 2020 có thể tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và 30% số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học một ngành nghề và có thể tiếp tục học lên trình độ cao hơn khi có điều kiện
- Quy hoạch lại mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trên phạm vi toàn quốc và từng vùng kinh tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực về quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo, phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Phát triển các trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các địa phương
- Mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên Đến năm 2020 có 100% quận, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên, có 95% xã , phường có trung tâm học tập cộng đồng
* Giải pháp khác
Có thể nói những đổi mới trong những năm qua đã tạo cho giáo dục Đại học Việt Nam những chuyển biến ban đầu tích cực phù hợp với xu thế chung của giáo dục Đại Học toàn cầu Tuy vậy, bối cảnh phát triển kinh tế nhanh chóng của đất
Trang 10nước, toàn cầu hóa, sức cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài ngay tại Việt Nam và những hạn chế được nhận dạng trong quá trình kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo có thể nêu ra những đòi hỏi và cũng là những thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới
Thứ nhất, chương trình giảng dạy của cơ sở giáo dục là yếu tố cốt lõi trong
việc tạo ra một đội ngũ nhân sự chất lượng cao cho xã hội và năng lực của sinh viên tốt nghiệp, là thước đo chất lượng học thuật, uy tín đào tạo của các trường ĐH
Vì vậy, các cơ sở giáo dục Đại Học cần tiếp tục chú trọng phát triển và nâng cao năng lực xây dựng, thiết kế chương trình giảng dạy dựa trên chuẩn đầu ra của đội ngũ giảng viên nhằm có được những chương trình đào tạo mang tính bản sắc, hấp dẫn người học và nhà tuyển dụng, trang bị cho sinh viên các năng lực cần thiết đáp ứng môi trường làm việc tương lai
Thứ hai, đổi mới phương pháp dạy, học và kiểm tra đánh giá trong bối cảnh
cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là hiện đại hóa việc học của thế hệ trẻ theo hướng cá thể hóa nhằm khơi dạy tiềm năng trong mỗi sinh viên, học viên để các em say mê học tập và phát triển nghề nghiệp Sự thích ứng và chấp nhận phương pháp học tập chủ động của người học đã trở thành xu thế tất yếu trong GDĐH hiện nay
Thứ ba, không gian và thời gian học tập của người học đã có sự chuyển dịch
mạnh mẽ, không còn bó hẹp trong giảng đường và sách vở Người học có thể học
từ mọi nơi và học từ mọi người
Do vậy, các cơ sở GDĐH cần đổi mới tư duy và nhận thức, đầu tư các công nghệ dạy học tiên tiến, hiện đại, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo trên cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số để đáp ứng yêu cầu của dạy học hiện đại và nhu cầu học tập của người học
Thứ tư, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo là hoạt động không thể tách
rời của một trường ĐH đúng nghĩa Nghiên cứu, sáng tạo là nền tảng cho kỹ năng