MỞ ĐẦU 1. Luận giải về sự cần thiết của dự án Đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam có vai trò quan trọng góp phần vào sự phát triển của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Họ trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, cung cấp những tri thức khoa học nhằm hình thành, phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho người học thông qua việc truyền thụ những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số môn học thuộc lĩnh vực chính trị khác. Chính vì vậy, đội ngũ giảng viên LLCT phải được xây dựng, phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu cơ ngày càng cao của hoạt động giảng dạy có tính đặc thù này. Thực tiễn cho thấy, hiện nay hệ thống đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, gọi tắt là trường Đảng, bao gồm: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các Học viện chính trị khu vực, các trường chính trị tỉnh, thành phố thuộc Trung ương và các trung tâm chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong các cơ sở đào tạo nói chung và đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ nói riêng, đội ngũ giảng viên luôn là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của trung tâm tất yếu phải chú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên LLCT Trên thực tế giảng viên giảng dạy lý luận chính trị tại các trường cao đẳng, đại học, các trường Đảng, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các bộ, ngành, lực lượng vũ trang, nhất là các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các trung tâm chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng và mất cân đối về cơ cấu. Số lượng giảng viên chuyên trách không được quy định rõ ràng và cơ bản không đáp ứng yêu cầu vì tiêu chuẩn phải có trình độ lý luận cao cấp. Đa số giảng viên kiêm chức là lãnh đạo các phòng, ban cấp huyện, chủ yếu là lãnh đạo các ban Đảng và đội ngũ báo cáo viên, được lựa chọn theo cơ cấu, không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm. Kết quả khảo sát của Ban Tuyên giáo Trung ương tháng 6 năm 2021 ở 585 trung tâm chính trị cấp huyện, có 2.812 cán bộ, nhân viên. Trong đó, giảng viên chuyên trách là 1.257, giảng viên đồng thời là lãnh đạo ban tuyên giáo cấp ủy cấp huyện là: 1.243, còn lại là nhân viên. Về trình độ lý luận chính trị, chỉ có 43,6% cao cấp, 32,7% trung cấp, còn lại là sơ cấp. Hầu hết giảng viên chuyên trách chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm. Thực trạng này cho thấy các cơ sở đào tạo đều rất cần nguồn nhân lực có kiến thức chuyên sâu về lý luận chính trị theo các chuyên ngành cụ thể, có kỹ năng chung, kỹ năng chuyên biệt của ngành và năng lực tự chủ, chịu trách nhiệm để làm giảng viên chuyên trách tại các trường chính trị tỉnh, trung tâm chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra cho Đảng ta rất nhiều thách thức. Một trong số đó là công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ngày 22102018, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35NQTW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là một nhiệm vụ cấp bách, hệ trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đội ngũ giảng viên LLCT bằng chính những hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chuyên môn đặc thù của mình ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là một lực lượng tham gia đắc lực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh hiện nay, trước sự tấn công không ngừng, thường xuyên của các thế lực chống đối, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ công cuộc đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc càng được chú trọng. Hơn bao giờ hết, yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT và đào tạo giảng viên LLCT đã được thể hiện trong các quan điểm chỉ đạo được nêu tại Nghị Quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, XIII, các bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Quyết định, Quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản hướng dẫn khác về đào tạo LLCT. Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ lười học, ngại học LLCT, học đối phó, xem nhẹ công tác đào tạo LLCT; coi học LLCT chỉ để lấy tấm bằng nhằm có đủ điều kiện được đề bạt, bổ nhiệm chứ không phải học để nhằm trau dồi và củng cố nền tảng tư tưởng, để hoàn thiện nhận thức của những người làm công tác lãnh đạo, quản lý. Đây cũng chính là một trong những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, thậm chí là nhận thức chưa đầy đủ của cấp ủy đảng, chính quyền của một số địa phương về giáo dục LLCT. Giảng viên LLCT là nhà giáo, nhà khoa học, đồng thời là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng lý luận của Đảng. Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng vô cùng quyết liệt. Để vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thì người đấu tranh không những phải vững vàng về chuyên môn, nắm chắc, nhuần nhuyễn về lý luận mà đòi hỏi bản lĩnh và sự dấn thân. Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo giảng viên LLCT chính là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên này ngày càng có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu ở các nhà trường đồng thời họ góp phần tham gia đắc lực vào công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT đáp ứng yêu cầu phát triển mới là góp phần nâng cao sức mạnh lực lượng tham gia nghiên cứu, tư vấn chính sách cho Đảng, Nhà nước. Đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường đại học, cao đẳng, nhất là trong các học viện, các trường đại học lớn là một bộ phận của giới nghiên cứu lý luận Việt Nam, đã đang tích cực tham gia nghiên cứu, đưa ra những luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển thắng lợi. Tuy nhiên, hầu hết các trường ĐH, CĐ còn thiếu giảng viên LLCT, chưa đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy các môn LLCT. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 2020, cả nước có 460 trường ĐH, CĐ (224 trường ĐH, 236 trường CĐ). Số lượng giảng viên LLCT là 3395 người. Như vậy, trung bình chung, mỗi trường ĐH hoặc CĐ có khoảng hơn 7 giảng viên LLCT, cùng với đó về chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng này cũng còn có những bất cập. Chính vì những lý do đó cần thiết phải Khảo sát thực trạng, nhu cầu sử dụng giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ; sử dụng hiệu quả đội ngũ GVLLCT tại các cơ sở đào tạo bồi dưỡng ở Việt
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUDỰ ÁN ĐIỀU TRA CƠ BẢN
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG, NHU CẦU SỬ DỤNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ
SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Phần thứ nhất: 30
KHUNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NHU CẦU SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM 30
1 Khái niệm liên quan 30
2 Những yêu cầu cơ bản của giảng viên lý luận chính trị tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng 44
3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về đào tạo lý luận chính trị và đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 53
Phần thứ hai: 68
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM 68
1 Thực trạng số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam 68
2 Chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 76
3 Thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam hiện nay - Hạn chế và nguyên nhân 97
Phần thứ ba: 108
THỰC TRẠNG NHU CẦU SỬ DỤNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM 108
1 Về nhu cầu về số lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 108
2 Về nhu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị 113
Phần thứ tư: 122
GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ TRONG SỬ DỤNG VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM 122
1 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam 122
2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng giảng viên LLCT 136
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC 154
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng trung bình GVLLCT theo học phần LLCT 74
Bảng 2.2 Mức độ đáp ứng kiến thức chuyên môn của giảng viên LLCT 77
Bảng 2.3 Mức độ đáp ứng năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn của giảng viên LLCT 83
Bảng 2.4 Mức độ lồng ghép kiến thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào giảng dạy LLCT 86
Bảng 2.5 Mức độ đáp ứng năng lực nghiên cứu khoa học của 88
Bảng 2.6 Đánh giá chung chất lượng giảng viên LLCT 100
Bảng 2.7 Rào cản trong quá trình phát triển đội ngũ GVLLCT 103
Bảng 2.8 Rào cản trong quá trình phát triển đội ngũ GVLLCT 105
Bảng 2.9 Rào cản trong quá trình phát triển đội ngũ GVLLCT 107
Bảng 3.1 Thống kê tiêu chí ưu tiên tuyển dụng GVLLCT 109
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số lượng trung bình GVLLCT theo khối trường 68
Biểu đồ 2.2 Đánh giá mức độ đáp ứng giảng viên LLCT theo khối trường 69
Biểu đồ 2.3 Số lượng trung bình GVLLCT theo độ tuổi 71
Biểu đồ 2.4 Số lượng trung bình GVLLCT theo trình độ chuyên môn 73
Biểu đồ 2.5 Mức độ thường xuyên 80
Biểu đồ 2.6 Mức độ đáp ứng năng lực sử dụng công nghệ 92
Biểu đồ 2.7 Trình độ LLCT của giảng viên LLCT 96
Biểu đồ 2.8 Đánh giá mức độ đáp ứng số lượng giảng viên LLCT 98
Biểu đồ 3.1 Yêu cầu về phương pháp giảng dạy đối với GV LLCT9 118
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Luận giải về sự cần thiết của dự án
Đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở ViệtNam có vai trò quan trọng góp phần vào sự phát triển của các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng Họ trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo, cung cấp những trithức khoa học nhằm hình thành, phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinhquan cách mạng cho người học thông qua việc truyền thụ những nguyên lý, lýluận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản ViệtNam và một số môn học thuộc lĩnh vực chính trị khác Chính vì vậy, đội ngũgiảng viên LLCT phải được xây dựng, phát triển cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức đáp ứngyêu cầu cơ ngày càng cao của hoạt động giảng dạy có tính đặc thù này
Thực tiễn cho thấy, hiện nay hệ thống đào tạo, bồi dưỡng lý luận chínhtrị của Đảng Cộng sản Việt Nam, gọi tắt là trường Đảng, bao gồm: Học việnChính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các Học viện chính trị khu vực, các trườngchính trị tỉnh, thành phố thuộc Trung ương và các trung tâm chính trị huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Trong các cơ sở đào tạo nói chung và đàotạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ nói riêng, đội ngũ giảngviên luôn là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Vì vậy, để nângcao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của trung tâm tất yếu phảichú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên LLCT
Trên thực tế giảng viên giảng dạy lý luận chính trị tại các trường caođẳng, đại học, các trường Đảng, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các
bộ, ngành, lực lượng vũ trang, nhất là các trường chính trị tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương và các trung tâm chính trị huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh đều thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng và mất cânđối về cơ cấu Số lượng giảng viên chuyên trách không được quy định rõ ràng
Trang 8và cơ bản không đáp ứng yêu cầu vì tiêu chuẩn phải có trình độ lý luận caocấp Đa số giảng viên kiêm chức là lãnh đạo các phòng, ban cấp huyện, chủyếu là lãnh đạo các ban Đảng và đội ngũ báo cáo viên, được lựa chọn theo cơcấu, không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm
Kết quả khảo sát của Ban Tuyên giáo Trung ương tháng 6 năm 2021 ở
585 trung tâm chính trị cấp huyện, có 2.812 cán bộ, nhân viên Trong đó,giảng viên chuyên trách là 1.257, giảng viên đồng thời là lãnh đạo ban tuyêngiáo cấp ủy cấp huyện là: 1.243, còn lại là nhân viên Về trình độ lý luậnchính trị, chỉ có 43,6% cao cấp, 32,7% trung cấp, còn lại là sơ cấp Hầu hếtgiảng viên chuyên trách chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm
Thực trạng này cho thấy các cơ sở đào tạo đều rất cần nguồn nhân lực
có kiến thức chuyên sâu về lý luận chính trị theo các chuyên ngành cụ thể, có
kỹ năng chung, kỹ năng chuyên biệt của ngành và năng lực tự chủ, chịu tráchnhiệm để làm giảng viên chuyên trách tại các trường chính trị tỉnh, trung tâmchính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra cho Đảng
ta rất nhiều thách thức Một trong số đó là công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng củaĐảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch Ngày 22-10-2018, BộChính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phảnbác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” Nghị quyết nêu rõ:
“Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chínhtrị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môitrường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước” Đây là một nhiệm vụ cấp bách,
hệ trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Đội ngũ giảng viên LLCT bằngchính những hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chuyênmôn đặc thù của mình ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là một lực lượng tham gia
Trang 9đắc lực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác cácquan điểm sai trái, thù địch
Trong bối cảnh hiện nay, trước sự tấn công không ngừng, thường xuyêncủa các thế lực chống đối, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ công cuộc đổimới, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc càng được chú trọng Hơn bao giờ hết,yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT và đào tạo giảng viên LLCT đãđược thể hiện trong các quan điểm chỉ đạo được nêu tại Nghị Quyết Trungương 4 khóa XI, XII, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, XIII, cácbài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Quyết định, Quy định của Bộ Chínhtrị, Ban Bí thư và các văn bản hướng dẫn khác về đào tạo LLCT Thêm vào đó,một bộ phận cán bộ lười học, ngại học LLCT, học đối phó, xem nhẹ công tácđào tạo LLCT; coi học LLCT chỉ để lấy tấm bằng nhằm có đủ điều kiện được
đề bạt, bổ nhiệm chứ không phải học để nhằm trau dồi và củng cố nền tảng tưtưởng, để hoàn thiện nhận thức của những người làm công tác lãnh đạo, quản
lý Đây cũng chính là một trong những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thốngchính trị, thậm chí là nhận thức chưa đầy đủ của cấp ủy đảng, chính quyền củamột số địa phương về giáo dục LLCT
Giảng viên LLCT là nhà giáo, nhà khoa học, đồng thời là chiến sỹ trênmặt trận tư tưởng - lý luận của Đảng Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng vôcùng quyết liệt Để vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thìngười đấu tranh không những phải vững vàng về chuyên môn, nắm chắc,nhuần nhuyễn về lý luận mà đòi hỏi bản lĩnh và sự dấn thân Đổi mới mạnh mẽcông tác đào tạo giảng viên LLCT chính là cơ sở vững chắc để xây dựng, pháttriển đội ngũ giảng viên này ngày càng có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụgiảng dạy, nghiên cứu ở các nhà trường đồng thời họ góp phần tham gia đắclực vào công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệnền tảng tư tưởng của Đảng
Trang 10Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT đáp ứng yêu cầu phát triển mới
là góp phần nâng cao sức mạnh lực lượng tham gia nghiên cứu, tư vấnchính sách cho Đảng, Nhà nước Đội ngũ giảng viên LLCT trong cáctrường đại học, cao đẳng, nhất là trong các học viện, các trường đại học lớn
là một bộ phận của giới nghiên cứu lý luận Việt Nam, đã đang tích cựctham gia nghiên cứu, đưa ra những luận cứ khoa học cho việc xây dựngđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệpđổi mới phát triển thắng lợi Tuy nhiên, hầu hết các trường ĐH, CĐ cònthiếu giảng viên LLCT, chưa đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy các mônLLCT Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 2020, cả nước có 460 trường
ĐH, CĐ (224 trường ĐH, 236 trường CĐ) Số lượng giảng viên LLCT là
3395 người Như vậy, trung bình chung, mỗi trường ĐH hoặc CĐ cókhoảng hơn 7 giảng viên LLCT, cùng với đó về chất lượng và cơ cấu độingũ giảng này cũng còn có những bất cập
Chính vì những lý do đó cần thiết phải Khảo sát thực trạng, nhu cầu sử
dụng giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ; sử dụng hiệu quả đội ngũ GVLLCT tại các cơ sở đào tạo bồi dưỡng ở Việt Nam.
2 Mục đích, nhiệm vụ của dự án
2.1 Mục đích của dự án
Khảo sát thực trạng giảng viên LLCT hiện nay trong các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng ở Việt Nam và nhu cầu sử dụng giảng viên LLCT trong các cơ sởnày từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị phát triển đội ngũ giảng viên LLCT; sửdụng hiệu quả đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ởViệt Nam
2.2 Nhiệm vụ của dự án
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về giảng viên đội ngũ giảngviên LLCT; những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sởđào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
Trang 11- Khảo sát và phân tích đúng thực trạng giảng viên lý luận chính trịtrong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam; nhu cầu sử dụng giảng viênviên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển đội ngũ giảngviên LLCT và sử dụng hiệu quả giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồidưỡng ở Việt Nam
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng, nhu cầu sử dụng giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng ở Việt Nam
3.3.2 Phạm vi không gian
Khảo sát 33 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tại 8 tỉnh/ thành phố, bao gồm: 1
Hà Nội; 2 Thái Nguyên; 3 Bắc Ninh; 4 Nghệ An; 5 Đà Nẵng; 6 Cần Thơ;
7 Thành phố Hồ Chí Minh; 8 Bình Dương
3.3.3 Phạm vi nội dung
Dự án tập trung khảo sát hai nội dung sau:
- Thực trạng sử dụng giảng viên LLCT: về cơ cấu, vị trí việc làm, nănglực (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khác), khả năng đáp ứng yêu cầu trongthời đại công nghệ,…
Trang 12- Thực trạng nhu cầu sử dụng giảng viên LLCT: về cơ cấu (cơ hữu,kiêm nhiệm, thỉnh giảng), số lượng, chất lượng, mức độ đáp ứng trong thờigian tới,…
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Việc điều tra, khảo sát được thực hiện theo hai phương pháp là địnhlượng và định tính
Với phương pháp điều tra, khảo sát định lượng, có 02 mẫu bảng hỏiđược thiết kế để thu thập thông tin của 02 nhóm đại diện cho các đối tượngbao gồm: lãnh đạo khoa; và Giảng viên giảng dạy LLCT Các mẫu bảng hỏi
bao gồm (có mẫu bảng hỏi kèm theo):
- 01 mẫu bảng hỏi dành cho đối tượng là quản lý lãnh đạo cấp khoa;
- 01 mẫu bảng hỏi dành cho đối tượng là giảng viên giảng dạy LLCT.Với phương pháp điều tra, khảo sát định tính, có 02 mẫu hướngdẫn phỏng vấn sâu được soạn để thu thập thông tin với 02 nhóm đại diệncho các đối tượng bao gồm: lãnh đạo khoa và Giảng viên giảng dạyLLCT; mẫu thảo luận nhóm dành cho lãnh đạo khoa Các mẫu hướng dẫn
phỏng vấn sâu (PVS), thảo luận nhóm (TLN) bao gồm (có mẫu hướng
dẫn kèm theo)
4.2 Quy mô khảo sát
4.2.1 Địa bàn điều tra, khảo sát
Địa bàn điều tra, khảo sát được tiến hành tại 8 tỉnh/ thành phố, baogồm: 1 Hà Nội; 2 Thái Nguyên; 3 Bắc Ninh; 4 Nghệ An; 5 Đà Nẵng; 6.Cần Thơ; 7 Thành phố Hồ Chí Minh; 8 Bình Dương
4.2.2 Quy mô khảo sát
Với khảo sát định lượng, đề tài tiến hành khảo sát tổng thể với toàn bộcán bộ công chức, viên chức đang công tác tại 33 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cóđào tạo chuyên ngành LLCT ở Việt Nam Tổng số cán bộ công chức, viênchức tham gia trả lời bảng hỏi là 893 người
Trang 13Số lượng Tỷ lệ
Học viện Chính trị Công an Nhân dânTrường Đại học Tài nguyên Môi trườngTrường Đại học Thương mại
Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ươngTrường Cao đẳng Cộng đồng Hà TâyHọc viện Chính trị khu vực I
Trường Đào tạo Cán bộ Lê Hồng Phong
Trường Đại học Khoa học, Đại học TháiNguyên
Bắc Ninh Trường Chính trị tỉnh Bắc Ninh 37 4,1Nghệ An
Trường Đại học Vinh
Trang 14Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương 3Thành phố Hồ Chí Minh
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí MinhHọc viện Chính trị khu vực II
đủ các thành phần
4.2.3 Thời gian thực hiện điều tra, khảo sát
Nhiệm vụ điều tra, khảo sát được tiến hành từ tháng 10/2022 đến tháng8/2023
4.3 Thành phần tham gia
4.3.1 Đối tượng thực hiện điều tra
Thành viên của đề tài
4.3.2 Đối tượng được điều tra, khảo sát
Lãnh đạo các khoa trực tiếp đào tạo LLCT và đội ngũ giảng viên giảngdạy LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
4.4 Tổ chức điều tra, khảo sát
4.4.1 Công tác chuẩn bị và phổ biến kế hoạch
- Chủ nhiệm, thư ký nhiệm vụ: Liên hệ với các Học viện, trường Chínhtrị, Đại học, Cao đẳng để gửi công văn và kế hoạch dự kiến khảo sát;
- Chủ nhiệm và tổ chuyên môn xây dựng mẫu phiếu điều tra định lượng
và các bản hướng dẫn PVS, TLN;
- Các đoàn điều tra, khảo sát lập kế hoạch khảo sát tại các Học viện,trường Chính trị, Đại học, Cao đẳng theo mẫu được chọn Trưởng đoàn và thư
ký liên hệ đầu mối các Học viện, trường Chính trị, Đại học, Cao đẳng để gửi
kế hoạch khảo sát ít nhất 01 tuần trước khi khảo sát chính thức;
Trang 15- Thư ký hành chính và kế toán đề tài:
+ Bố trí phòng họp, thuê phương tiện di chuyển để phục vụ công tácđiều tra, khảo sát
+ Thực hiện thủ tục thanh toán, quyết toán kịp thời và đúng quy định.+ Hướng dẫn các thủ tục về mặt hành chính và tài chính đến các điềutra viên biết và thực hiện
4.4.2 Thực hiện điều tra, khảo sát
+ Tổ chức họp các thành viên để trao đổi tình hình thực hiện điều tra,khảo sát và thống nhất hướng giải quyết các vấn đề bất cập trong quá trìnhthực hiện (khi cần thiết) Trong quá trình tổ chức điều tra, khảo sát nếu cóphát sinh những vấn đề vượt thẩm quyền; báo cáo, đề xuất giải pháp thựchiện, trình xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan chủ trì;
+ Báo cáo chủ nhiệm và cơ quan chủ trì về kết quả điều tra, khảo sát vànhững vấn đề phát sinh, khó khăn vướng mắc, nội dung cần điều chỉnh (nếucó) để thực hiện bước điều tra, khảo sát chi tiết
- Các thành viên:
+ Thực hiện PVS, TLN các đối tượng theo sự phân công của Trưởng đoàn;+ Hướng dẫn các đối tượng điều tra, khảo sát điền thông tin vào phiếuđiều tra, khảo sát;
+ Ghi chép những thông tin chính liên quan đến nội dung của từngcuộc phỏng vấn cũng như những lưu ý nhằm rút kinh nghiệm trong suốt quátrình điều tra, khảo sát tại thực địa;
+ Thông báo kịp thời cho Trưởng đoàn và các thành viên khác nếu có
sự thay đổi thời gian, địa điểm, đối tượng thực hiện điều tra, khảo sát;
Trang 16+ Viết báo cáo tóm tắt về chuyến điều tra, khảo sát;
+ Lưu giữ hóa đơn, chứng từ về các chi phí thực hiện trong quá trìnhđiều tra, khảo sát theo hồ sơ tạm ứng và thanh toán theo quy định
- Người trả lời tại các địa bàn điều tra, khảo sát:
Cung cấp thông tin một cách chân thực, chính xác theo những nội dung
mà đề tài đưa ra Được đảm bảo quyền về tự nguyện tham gia trả lời và đượcgiữ bí mật các thông tin cá nhân quan trọng
- Các Học viện, trường Chính trị, Đại học, Cao đẳng:
+ Chuẩn bị địa điểm làm việc tại cơ sở, phân công người đại diện, bố trínhân sự có liên quan để làm việc với các thành viên tổ công tác thực hiệnchương trình điều tra, khảo sát;
+ Nghiên cứu, chuẩn bị trước các thông tin, phối hợp với các thànhviên tổ công tác để cung cấp đầy đủ thông tin theo phiếu điều tra, khảo sát;
+ Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin do đơn vị cungcấp tại phiếu điều tra, khảo sát
4.5 Xử lý phiếu và phân tích số liệu, viết báo cáo
Kết quả điều tra, khảo sát được nhập và xử lý bằng các chương trìnhphần mềm chuyên xử lý dữ liệu định lượng và định tính
Cụ thể, kết quả khảo sát bằng bảng hỏi định lượng được nhập và xử lýbằng chương trình phần mềm SPSS 26.0 Kết quả được kết xuất ra dưới dạngcác bảng số liệu để phục vụ cho nhóm nghiên cứu phân tích và viết báo cáo
Với kết quả khảo sát định tính, thông tin ghi nhận được từ mỗi cuộcPVS, TLN được đánh vào 01 file word, sau đó được tổng hợp và xử lý bằngphần mềm Nvivo
Trên cơ sở các kết quả khảo sát thu được, chủ nhiệm đề tài phân côngcác thành viên nghiên cứu chủ chốt viết báo cáo Có 01 báo cáo chính tổnghợp toàn bộ kết quả khảo sát định tính và định lượng
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của dự án
Trang 17Đề tài góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận về đào tạo, sử dụnggiảng viên LLCT; đánh giá thực trạng, nhu cầu sử dụng giảng viên LLCTtrong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp,kiến nghị nhằm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT; hiệuquả sử dụng giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam.
Đề tài góp phần cung cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc rà soát, sửađổi chương trình đào tạo hoặc đề án mở ngành đào tạo giảng viên lý luậnchính trị cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến dự án
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục LLCT nói chung cũng như vấn đềnâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giảng viên LLCT nói riêng là một vấn
đề được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Đã có nhiều công trình khoahọc nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, trong số đó có thể kể đến một sốnhóm loại công trình sau:
Thứ nhất: Nhóm công trình nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư tưởng, giáo dục LLCT
Một trong những vấn đề cần thiết trong việc nâng cao chất lượng độingũ làm tuyên giáo theo Trần Thị Anh Đào (2014) là cần phải nâng cao vấn
đề phẩm chất và năng lực cán bộ làm công tác tư tưởng Để đạt được điều
đó nhiều nghiên cứu cũng đánh giá cao vai trò của công tác đào tạo TheoHoàng Đình Cúc (2008) để nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác giảngdạy LLCT thì chất lượng công tác đào tạo LLCT là yếu tố quyết định.Cùng quan tâm đến công tác đào tạo LLCT Trần Ngọc Hiên (2015) đã chỉ
ra những tiêu chí hợp thành chất lượng đào tạo LLCT phù hợp đó là: (1)Chất lượng LLCT là cơ sở cho việc soạn giáo trình giảng dạy; (2) Chấtlượng của học viên được đào tạo thành giảng viên LLCT; (3) Chất lượngcủa hoạt động quản lý đào tạo giảng viên LLCT nhằm tạo ra môi trườngchủ động, sáng tạo, tự giác của những người học và người dạy, cũng nhưđánh giá chất lượng đào tạo để kịp thời nâng cao kết quả đào tạo Tác giả
Trang 18đặc biệt nhấn mạnh đến chất lượng của các thầy cô tham gia đào tạo có ảnhhưởng lớn đến công tác đào tạo LLCT Hoặc theo Lương Ngọc Vĩnh(2016) thì công tác đào tạo cần định hướng sang phát triển toàn diện phẩmchất và năng lực nghề nghiệp đó là tiếp tục đổi mới nội dung, chương trìnhđào tạo theo hướng tinh giản lý thuyết, tăng thực hành, phục vụ mục tiêubồi dưỡng phẩm chất và kỹ năng nghề cho người học; ứng dụng mạnh mẽphương pháp giảng dạy mới vào quá trình đào tạo
Để nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn cho người làm công tác tưtưởng thì bên cạnh chú trọng công tác đào tạo, công tác nghiên cứu LLCT,hoặc chú trọng đến các cơ chế chính sách cũng là nội dung được quan tâm.Tác giả Dương Xuân Ngọc (2013), đã đưa ra những giải pháp nhằm nângcao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học LLCT trong thời kỳ pháttriển mới của đất nước, ông đã chỉ ra 5 giải pháp cho hoạt động này trong
đó có nhấn mạnh đến vấn đề: mở rộng và thực hành dân chủ, tự do tưtưởng trong hoạt động nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoahọc đặc biệt là cơ chế đấu thầu, đánh giá kết quả nghiên cứu theo hướnggắn với thực tiễn
Theo quan điểm của Phạm Thị Hạnh (2015) thì ngoài những giải pháp
về nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức thì cần chú trọng đến chế
độ, chính sách đối với đội ngũ làm công tác giáo dục LLCT cũng như cầnhiện đại hóa cơ sở vật chất để nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục
Nói đến công tác giáo dục LLCT không thể không nói tới vai trò củacác giảng viên LLCT của các trường đại học, cao đẳng và các trường chinhtrị Đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác giáo dục LLCT liên quanđến các trường đại học cao đẳng bàn đến vai trò trách nhiệm của người giảngviên LLCT cũng như những giải pháp, tiêu chí nâng cao năng lực của giảngviên LLCT
Khẳng định tầm quan trọng của giảng viên đối với việc nâng cao chấtlượng giáo dục LLCT theo Trần Thị Anh Đào (2010), Nguyễn Tiến Sơn
Trang 19(2016) trong nghiên cứu của mình cho rằng, giải pháp để nâng cao chất lượngcông tác giáo dục LLCT là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạyLLCT trong các trường đại học.
Tác giả Đào Duy Quát trong công trình “Về công tác tư tưởng của
Đảng Cộng sản Việt Nam” (2004) đã đưa ra khái niệm về giáo dục LLCT và
khẳng định, giáo dục LLCT là một nhiệm vụ của công tác tư tưởng Theo tácgiả: Giáo dục LLCT là việc truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ,đảng viên và quần chúng nhân dân Đó là quá trình tác động vào đối tượnggiáo dục bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học, những khái niệmnhững quan điểm, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thứcđúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định mục tiêu, lýtưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nhất trí cao với đường lối, quanđiểm của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và khả năng hoạt động thựctiễn, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống
Công trình “Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận
chính trị trong các trường đại học, cao đẳng”, do Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia ấn hành năm 2015 đã luận giải khá rõ về vị trí, vai trò, mục tiêu, mụcđích của giáo dục LLCT trong các trường đại học, cao đẳng trong cả nước.Theo các tác giả, giáo dục LLCT không chỉ là truyền bá hệ tư tưởng, là sựphổ biến thế giới quan, phương pháp luận và nhân sinh quan tiên tiến, quanđiểm, đường lối khoa học và cách mạng của Đảng đến toàn xã hội, mà giáodục LLCT còn góp phần đáng kể vào việc vận dụng sáng tạo và phát triểnnhững luận điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện ViệtNam,… Công trình cũng đã phản ánh khá rõ về tình hình giảng dạy và học tậpLLCT; bàn, luận giải về các giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy cácmôn LLCT tại các trường cao đẳng, đại học theo các khối ngành, nghề khácnhau (khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn, trường cao đẳng nghề…)
Trang 20Đề án: “Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự
cần thiết và nội dung học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng” do Ban
Tuyên giáo Trung ương chủ trì báo cáo Bộ Chính trị khóa XII Đối tượngnghiên cứu của Đề án này bao gồm cả các trường trong hệ thống giáo dụcquốc dân và hệ thống trường Đảng Đề án đã nêu lên ý nghĩa, vai trò, tầmquan trọng của giáo dục LLCT trong việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sángtạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chỉ ra thựctrạng của việc học LLCT và nguyên nhân của việc ngại học LLCT, đề xuấtmột số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục LLCT Đóng gópcủa Đề án không chỉ là việc nêu lên được thực trạng của việc học tập chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà với những điều tra, khảo sátkhá bài bản, mặt thành công của đề án này còn là ở việc phân tích, chỉ rõnguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, gây nên “bệnh” ngại học LLCT.Theo Đề án, nguyên nhân của “bệnh” ngại học LLCT là do: nhận thức về vịtrí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục LLCT còn hạn chế; nội dunggiáo dục LLCT vẫn còn áp đặt, chưa gắn với thực tiễn, chưa tạo sự hứng thúthực sự cho người học, chưa thể hiện được vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh trong dòng chảy trí tuệ của nhân loại; chưa thực sự gắnkết, theo kịp, giải đáp được những vấn đề cuộc sống đang đặt ra hiện nay; nộidung, chương trình giảng dạy chưa thực sự tinh gọn, còn có sự trùng lặp,chồng chéo về nội dung giữa các chương trình cho các đối tượng, cấp họckhác nhau, chưa tạo được sự thống nhất, đồng bộ, tính liên tục, liên thônggiữa các chương trình, gây lãng phí không nhỏ về thời gian, sức lực cho cảngười dạy và người học;… Có thể nói, các nguyên nhân mà Đề án đưa ra làđúng, trúng và khá toàn diện; số liệu khảo sát, điều tra công phu, khoa học,đánh giá sát thực Đề án cũng đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh chính làcăn cứ để chúng ta vận dụng, phát triển công tác giáo dục LLCT
Trang 21Công trình “Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác nghiên cứu và giáo dục lý
luận chính trị” (2012) do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành cũng đã tập hợp các bài viết nêu
rõ nhiệm vụ của công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị Trong đó
đáng chú ý có chuyên đề: “Công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị” của tác giả Phạm Văn Linh; “Tham mưu, định hướng về giáo dục lý luận
chính trị trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và ở trường chính trị tỉnh, thành phố” của tác giả Ngô Đình Xây;
“Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị; yêu cầu, kỹ năng giảng dạy tại
các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện” của tác giả Mai Yến Nga đã
nêu rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của công tác giáo dục LLCT Theo các tácgiả, với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và đặc điểm của mỗi đối tượng,công tác giáo dục LLCT có 5 mức độ và với mỗi mức độ giáo dục sẽ đượcgiao cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng LLCT riêng: (1) Giáo dục LLCT chođội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp của Đảng và hệ thống chính trị theo cáctrình độ LLCT (cao cấp, cử nhân, trung cấp, sơ cấp, nhiệm vụ này hiện nay
do các học viện, trường chính trị, TTBDCTCH đảm nhiệm); (2) Giáo dụcLLCT phổ cập cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng (chủ yếu do hệthống các TTBDCTCH đảm nhiệm); (3) Giáo dục LLCT theo các chươngtrình trong hệ thống giáo dục quốc dân, theo các loại trường lớp, bậc học,cấp học (hệ thống các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân đảm nhiệm);(4) Bồi dưỡng LLCT thường xuyên cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhândân, nhất là các vấn đề mới và theo các chương trình chuyên đề (do các họcviện, trường chính trị, TTBDCTCH đảm nhiệm); (5) Tổ chức tuyên truyền,phổ biến LLCT trên hệ thống thông tin đại chúng, qua hoạt động của đội ngũbáo cáo viên (do cấp ủy, ban tuyên giáo các cấp chỉ đạo, định hướng, tổchức thực hiện) Công trình nghiên cứu cũng đã khẳng định vai trò của giáodục LLCT trong sự nghiệp cách mạng Theo các tác giả, giáo dục LLCT cóvai trò quan trọng, bởi nó là một biện pháp cơ bản để tạo nên phong trào
Trang 22cách mạng rộng lớn của hàng triệu quần chúng, là cơ sở quan trọng để Đảngxây dựng đường lối chính trị đúng đắn Công tác giáo dục LLCT đã gópphần làm cho toàn Đảng thống nhất mục tiêu lý tưởng, cương lĩnh, đườnglối, khắc phục biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị; góp phần nâng cao ýthức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhântrong đội ngũ cán bộ, đảng viên Đồng thời, giáo dục LLCT cũng góp phầnvào việc nâng cao năng lực tổ chức, tập hợp, động viên, giáo dục, thuyếtphục quần chúng của đội ngũ cán bộ của Đảng.
Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Hồ Chí Minh: Về công tác giáo
dục LLCT , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách là tập hợp của các
bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GD LLCT Trong đó,Người đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của công tác GD LLCT đối với cán bộ,đảng viên, xác định đây là yếu tố ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng;Người cũng xác định rõ nội dung, nhiệm vụ học tập LLCT của đội ngũ cán
bộ, đảng viên và cung cấp cho người giảng viên định hướng để nâng cao tínhthuyết phục của bài giảng LLCT
Lương Khắc Hiếu (2022), Thực trạng và kinh nghiệm giáo dục LLCT
cho sinh viên các trường đại học Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị
và Truyền thông, số 5, Hà Nội Công trình đã khái quát thực trạng, chỉ ranhững ưu điểm và hạn chế của việc học tập, GD LLCT cho sinh viên trongnhững vừa qua, trên các vấn đề: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý; thiết kếnội dung và xây dựng, quản lý chương trình; sử dụng hình thức, phương pháp,phương tiện giáo dục và xây dựng đội ngũ giảng viên
Lương Khắc Hiếu (2022), Quan điểm, giải pháp tăng cường, đổi mới GD
LLCT cho sinh viên góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Công tác GD LLCT góp phần bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, Ban Tuyên giáo trung ương Bàiviết đã đề xuất 04 quan điểm và 05 giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường GDLLCT cho sinh viên đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Trang 23Đảng Tác giả còn cho rằng, để kiến thức các môn LLCT thu hút người học, cầnphải giảm thiểu tối đa phương pháp độc thoại, tăng cường phương pháp đốithoại, gợi mở, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thông tin đa chiều, kết hợp thuyếttrình với đối thoại, thảo luận nhóm với sử dụng phương tiện trực quan; tổ chứccho sinh viên tham gia nghiên cứu thực tế trải nghiệm thực tiễn chính trị - xã hội,viết tiểu luận, bài thu hoạch Việc đổi mới chương trình cần theo xu hướng mở,gắn với đối tượng người học, đặc biệt là chương trình, nội dung GD LLCT cầngắn với ngành học và với chuyên môn của người học.
Thứ hai: Một số công trình về lý luận dạy học, phương pháp giảng dạy, phương pháp giảng dạy LLCT
Lý luận dạy học hiện đại, Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường, Nxb Đại
học Sư phạm, Hà Nội, 2014; Vận dụng phương pháp tích cực vào giảng dạy
Triết học của tác giả Nguyễn Thị Như Huế do Nxb CTQG Sự thật xuất bản
năm 2017 Các công trình khoa học này nghiên cứu dựa trên cơ sở các
phương pháp dạy học tích cực hiện nay vào quá trình nghiên cứu phươngpháp giảng dạy Triết học
Ph.N.Gônôbôlin (2015), Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên”
tập 1-2, NXB Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách đã làm rõ tầm quan trọng của
người giáo viên trong hoạt động giảng dạy, là chủ thể quyết định đến chấtlượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục, trong đó, những phẩm chất về tâm lýcủa người giáo viên đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của bàigiảng Ngoài ra, tác giả cũng xây dựng một số tiêu chí để đánh giá tính thuyếtphục trong giảng dạy giảng viên: Về tổ chức lớp học, về chuẩn bị bài giảng,
về nghiên cứu đối tượng, về giáo án… trong đó, tác giả nhấn mạnh, bài giảngkhông nên tự trói buộc mình trong các khuôn khổ có sẵn, rập khuôn mà cầnxây dựng một cách sinh động, hấp dẫn qua đó mới tạo được sự thuyết phụcvới người học
Geoffrey Petty (2016), Dạy học ngày nay, NXB Sư phạm, Hà Nội Tác
giả đã đề cập đến nhiều vấn đề của việc dạy học ngày nay, trong đó, nhấn
Trang 24mạnh tới hành trang của người giáo viên Trên cơ sở đó, tác giả khẳng địnhrằng: Việc dạy học được thúc đẩy bởi một động cơ tích cực, với thái độ giảngdạy tích cực và hệ thống phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo ra không khíhọc tập hiệu quả.
Barnes (2013), Cẩm nang phương pháp sư phạm, NXB Tổng hợp Hồ
Chí Minh, Hồ Chí Minh Qua phân tích, đánh giá về vị trí, vai trò của ngườithầy, cách thức để tổ chức hoạt động giảng dạy, tác giả đã đưa ra một cẩmnang về các phương pháp sư phạm: Phương pháp thuyết trình, phương phápnêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm… Mỗi phương pháp, tác giả đềuphân tích, đánh giá ưu điểm, hạn chế của từng phương pháp, để người đọc cógóc nhìn đa chiều trong việc sử dụng các phương pháp sư phạm
Franz Emanuel Weinert (2016), Sự phát triển nhận thức học tập và giảng
dạy, NXB Sư phạm, Hà Nội Tác giả đã phân tích các đặc điểm của người giáo
viên tích cực và để thành công trong hoạt động sư phạm của mình thì người giáoviên cần phải có những năng lực gì Cùng với đó, tác giả đã nhấn mạnh vai tròquan trọng của người giảng viên trong sự phát triển nhận thức về học tập vàgiảng dạy, những yêu cầu đặt ra với giảng viên hiện nay
Lois Cohen, Lawrence Manion và Keith Morrison (chủ biên, 2017),
Cẩm nang thực hành giảng dạy, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Theo các tác
giả, các giáo viên được chứng nhận giáo viên dạy giỏi phải đáp ứng đủ cáctiêu chuẩn chia thành 03 lĩnh vực sau: Thực hành và chất lượng chuyên môn;kiến thức và sự hiểu biết; giảng dạy (chuẩn bị, dự tính và mục tiêu, kiểm soát
và đánh giá, giảng dạy và quản lý lớp học) Ngoài ra các tác giả còn bàn vềcác đặc điểm chính của giảng dạy hiệu quả bao gồm: Kỹ năng giảng dạy; đặcđiểm về chuyên môn; không khí lớp học
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu bồi dưỡng
phương pháp giảng dạy LLCT, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Tác
giả đã khái quát những cách thức, phương pháp để người giảng viên dạyLLCT có thể chuẩn bị bài giảng một cách thuyết phục người nghe nhất, nội
Trang 25dung cuốn sách gồm 07 chuyên đề, đã nêu khái quát lịch sử công tác giáo dụcLLCT; cơ sở tâm lý của việc giảng dạy LLCT; một số vấn đề lý luận về dạyhọc các môn LLCT; phương pháp giảng dạy LLCT; nhân cách và hoạt độngcủa người giảng viên LLCT; nghệ thuật diễn giảng LLCT; kiểm tra, đánh giátrong giảng dạy và học tập các môn LLCT.
Đề tài KX 10-08, “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học
Mác - Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung”, do Nguyễn Hữu Vui,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội làm
Chủ nhiệm; Đề án: “Đổi mới giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị
trong hệ thống giáo dục quốc dân” (2013) do Ban Tuyên giáo Trung ương
thực hiện Các công trình này đã làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung củagiáo dục LLCT hiện nay và có những đánh giá tương đối toàn diện về tìnhhình đổi mới việc giảng dạy, học tập các môn LLCT trong hệ thống giáo dụcquốc dân; về những yếu tố cơ bản tác động đến việc giảng dạy, học tập cácmôn LLCT cũng như đề ra quan điểm, giải pháp để đổi mới, nâng cao chấtlượng việc giảng dạy, học tập các môn LLCT Giải pháp mà hai công trìnhnày tập trung vào là: đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương phápgiảng dạy, đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá…
Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và
học môn Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học, NXB
CTQG, Hà Nội Các bài viết đã bàn sâu đến các nội dung liên quan đến vị trí,vai trò của các môn LLCT cho sinh viên hiện nay; nội dung, nguyên tắc,phương pháp, hình thức giảng dạy các môn Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh; một số bài viết đã đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để nângcao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT Liên quan đến tính thuyếtphục của bài giảng LLCT, các nhà khoa học cho rằng để bài giảng có tínhthuyết phục thì người giảng viên phải đặc biệt chú trọng đến các khâu trongquá trình giảng dạy từ nội dung bài giảng, phương pháp sư phạm lựa chọn,
Trang 26hình thức bài giảng, cùng với đó, trước khi xây dựng bài giảng thì phải nghiêncứu kỹ các đặc điểm của đối tượng để xây dựng bài giảng cho phù hợp
Trần Thị Tuyết Oanh (2008), Giáo dục học, NXB Đại học Sư phạm,
Hà Nội Tác giả chia làm hai nội dung cơ bản, bao gồm phần 1 là lý luậnchung về giáo dục học và lý luận dạy học Phần 2 bao gồm phần lý luận giáodục và quản lý giáo dục trong nhà trường Tác giả đã cung cấp cách thức làmsao để có được tính thuyết phục của một bài giảng, từ việc xây dựng nội dungbài giảng, phương pháp, hình thức thực hiện bài giảng, hình thức tổ chức thựchiện bài giảng, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả…
Nguyễn Văn Cường (2016), Lý luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư
phạm, Hà Nội Cuốn sách đã cung cấp những nội dung cơ bản trong dạy họchiện đại, tác giả đã nêu bật được những lý luận cần thiết để trang bị cho giảngviên trong công tác giảng dạy hiện đại hiện nay như: Cách chuẩn bị một bàigiảng; nghiên cứu tâm lý, đặc điểm của đối tượng; cách lựa chọn nội dung,phương pháp giảng dạy phù hợp, các lý thuyết về giáo dục hiện đại, các môhình dạy học của người giảng viên
Phạm Viết Vượng (2008), Lý luận và phương pháp dạy học đại học,
Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giảng viên các trường đại học và caođẳng, Đại học sư phạm Hà Nội Tác giả đã khái quát về hoạt động dạy học đạihọc, cùng với đó, tác giả đã đưa ra phân tích sâu về các hoạt động cấu thànhcủa hoạt động giảng dạy ở trường đại học: Về các nguyên tắc dạy học; về cáchình thức tổ chức dạy học
Ngô Văn Thạo (2008), Phương pháp dạy học LLCT, NXB Lao động xã
hội, Hà Nội Tác giả đã cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về LLCT
và công tác GD LLCT; các hoạt động tâm lý của người giảng viên và họcviên trong hoạt động dạy học LLCT; năng lực, trình độ, phẩm chất của ngườigiảng viên, báo cáo viên LLCT; công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệuquả hoạt động giảng dạy LLCT; các nguyên tắc trong hoạt động giảng dạyLLCT Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp một số phương pháp dạy học LLCT:
Trang 27Phương pháp dạy học nêu vấn đề; phương pháp trực quan, phương pháp dạyhọc cùng tham gia
Vũ Ngọc Am (2009), Một số vấn đề về phương pháp dạy học LLCT,
NXB Thông tấn, Hà Nội Tác giả đã khái quát những nét chung nhất vềphương pháp dạy học LLCT, làm rõ những ưu điểm, hạn chế của từngphương pháp dạy học LLCT như: Phương pháp thuyết trình, phương phápnêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu gương; cùngvới đó, hướng dẫn cho giảng viên sử dụng nhuần nhuyễn các phương phápdạy học để nâng cao tính thuyết phục của bài giảng LLCT cho học viênhiện nay
Phạm Huy Kỳ (2010), Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục
LLCT, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Tác giả đã phân tích, làm rõ
những vấn đề lý luận về nghiên cứu, giáo dục LLCT: Khái niệm, vị trí, vaitrò, nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu… Cùng với đó, tác giả đãđưa ra và phân tích các phương pháp nghiên cứu, giáo dục LLCT cơ bản như:Thuyết trình, thảo luận nhóm, nêu gương, nêu vấn đề… đây là nội dung rấtquan trọng trong việc nâng cao tính thuyết phục của bài giảng LLCT
Trần Thị Anh Đào (2010), Công tác GD LLCT cho sinh viên Việt Nam
hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã phân tích làm rõ những
vấn đề lý luận về công tác GD LLCT cho sinh viên: Khái niệm về giáo dụcLLCT, công tác GD LLCT; vị trí, tầm quan trọng của công tác GD LLCT chosinh viên; nội dung, tiêu chí đánh giá… Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giáthực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả côngtác GD LLCT cho sinh viên Việt Nam hiện nay
Vũ Ngọc Am (2011), Đổi mới phương pháp GD LLCT, NXB Chính trị
-hành chính, Hà Nội Cuốn sách tuy không đề cập trực tiếp đến thuật ngữ ”tínhthuyết phục của bài giảng LLCT” nhưng các nội dung trong cuốn sách đều nhằmhướng tới cho người đọc cách thức để làm sao có thể thực hiện tốt một bài giảngLLCT có sức thuyết phục với người học về mọi phương diện, từ việc nghiên cứu
Trang 28đối tượng, xây dựng đề cương sao cho phù hợp với chương trình chi tiết mônhọc, phương pháp, hình thức giảng bài, cách thức chuẩn bị bài giảng, giáo án Đây là tài liệu mà các giảng viên giảng dạy LLCT tham khảo để học tập nângcao tính thuyết phục của bài giảng LLCT cho học viên.
Bùi Hoàng Thao (2017), Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục lý luận chính trị trong các trường Đại học, Học viện Công an nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và tuyên truyền, Hà Nội Luận
án đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về nội dung, chương trình
GD LLCT trong các nhà trường CAND: Nội dung giáo dục LLCT, chươngtrình GDLLCT, qua đó luận án, qua đó luận án đã chỉ ra những vấn đề đặt ra vàđưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới nội dung, chương trình giáo dục lý luậnchính trị trong các trường Đại học, Học viện Công an nhân dân ở Việt Nam
Công trình “Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị” (2012) do Ban
Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc giaphát hành Đây là công trình gồm 6 chuyên đề, bàn về các hoạt động giáo dụcLLCT tại TTBDCTCH như: Một số vấn đề chung về công tác giáo dục lýluận chính trị; Một số vấn đề tâm lý và giáo dục học trong giảng dạy lý luậnchính trị; Phương pháp dạy học lý luận chính trị; Phẩm chất nghề nghiệp vàhoạt động cơ bản của giảng viên lý luận chính trị; Nghệ thuật diễn giảng lýluận chính trị; Kiểm tra, đánh giá trong giảng dạy lý luận chính trị Công trìnhcũng đã đưa ra một số khái niệm công cụ, những yêu cầu trong giảng dạyLLCT như: LLCT, giáo dục LLCT, các nguyên tắc trong giảng dạy LLCT,tiêu chuẩn, yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá trong giáo dục LLCT tại cácTTBDCTCH Với những nghiên cứu bài bản, công phu, công trình đã giúpcho giảng viên, lãnh đạo ban tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành uỷ, huyện ủy… cóthể vận dụng vào các khâu của quá trình giảng dạy và chỉ đạo việc thực hiệncác chương trình bồi dưỡng LLCT đang triển khai ở các TTBDCTCH
Trần Huy Ngọc (2018), Đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính
trị cho sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía Bắc
Trang 29nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền [100].
Luận án trên cơ sở làm rõ những những vấn đề lý luận về phương pháp GDLLCT, các luận cứ phải đổi mới phương pháp GD LLCT, tác giả luận án đãphân tích, đánh giá làm rõ thực trạng việc đổi mới phương pháp GD LLCTcho sinh viên các trường đại học khu vực trung du, miền núi phía Bắc, qua đócho thấy một trong những nguyên nhân khiến học viên không hứng thú tronghọc tập các môn LLCT là do phương pháp GD LLCT của giảng viên khônghấp dẫn, chủ yếu là sử dụng phương pháp độc thoại, thuyết trình là chính,chưa kết hợp được các phương pháp sư phạm khác nhau, nhất là các phươngpháp hiện đại, phù hợp với đặc điểm nhận thức, trình độ của đối tượng nêndẫn tới bài giảng LLCT không có tính thuyết phục
Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tình hình giảng dạy, học tập các
môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới, Đề tài khoa học cấp Bộ,
Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương Đề tài đã phân tích làm rõnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giảng dạy, học tập các mônLLCT ở cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học trên cả nước, qua đó, rút ra nhữngvấn đề đặt ra đối với công tác giảng dạy LLCT hiện nay và đề ra hệ thống giảipháp nhằm giải quyết vấn đề trên
Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn (2010), Đổi mới phương pháp
giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành kỹ thuật, Đề tài khoa học cấp Bộ, Đại
học Bách khoa Hà Nội Đề tài phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thựctiễn về hoạt động giảng dạy và học tập các môn LLCT ở các trường đại học,cao đẳng khối kỹ thuật hiện nay, đề tài đã làm rõ tính đặc thù của đối tượngsinh viên kỹ thuật, cũng như hoạt động giảng dạy LLCT cho sinh viên ở khối
kỹ thuật với những thực trạng đáng báo động trong việc ngại và lười học cácmôn LLCT của sinh viên khối ngành kỹ thuật Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ
ra, một trong các lý do khiến bài giảng không thuyết phục được sinh viên là
Trang 30do nội dung, phương pháp giảng dạy còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với môitrường và điều kiện giáo dục hiện đại, còn nặng về truyền thụ kiến thức mộtchiều mà chưa chú trọng giáo dục phát triển kiến thức toàn diện.
Ngoài ra có thể kể đến một số công trình như: Phùng Văn Bộ (chủ
biên), (2001), Một số vấn đề về phương pháp dạy học và nghiên cứu Triết
học, Nxb Giáo dục; Trần Bá Hoành, (2010), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội; Nguyễn Kỳ,
(2002), Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Nxb, Hà Nội; Phan Trọng Ngọ, (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội; Lê Đức Ngọc, (2005), Giáo dục đại học phương pháp dạy và học, Nxb Đại học Quốc gia; Nguyễn Trọng Sửu
(2008), Dạy học nhóm, phương pháp dạy học tích cực, Tạp chí giáo dục số 171; Nguyễn Duy Bắc, (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn dạy và học
môn học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
Thứ ba: Nhóm công trình về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
lý luận chính trị
Trương Ngọc Nam (2015), Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giảng viên
lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài đã phân tích, làm rõ các vấn
đề lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên LLCT ở Việt Nam hiệnnay: Khái niệm, nội dung, nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng Từ việcđánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra, đề tài đã xây dựng hệ thống cácnhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng giảngviên LLCT hiện nay
Nguyễn Thị Thảo (2016), Nhu cầu và điều kiện học tập lý luận chính trị
của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền Tác giả luận án qua phân tích, đánh giá về nhu cầu vàcác điều kiện học tập LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay,
Trang 31đã làm rõ những vấn đề đang đặt ra đối với việc học tập LLCT của sinh viên trênđịa bàn Hà Nội hiện nay, nhất là việc lười học tập các môn LLCT trong bộ phậnkhông nhỏ sinh viên, khi xác định đây chỉ là môn phụ nên không quan tâm họctập, cùng với đó, luận án cũng chỉ ra nguyên nhân là do bài giảng LLCT củagiảng viên kém thuyết phục: thể hiện qua nội dung bài giảng nghèo nàn, phươngpháp độc thoại là chính, vẫn nặng tầm chương trích cú, nhiều nội dung chưa gắnvới thực tiễn nên không thu hút được sự hứng thú của người học khiến tínhthuyết phục của bài giảng LLCT không cao.
Bùi Hải Dương (2017), Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT ở các
trường chính trị vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Luận án Tiến sĩ,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận án Tiến sĩ, Học viện Báo chí vàTuyên truyền [34] Luận án đã phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về xâydựng đội ngũ giảng viên LLCT: Khái niệm giảng viên LLCT, xây dựng độingũ giảng viên LLCT ở các trường chính trị; vị trí, tầm quan trọng của xâydựng đội ngũ giảng viên LLCT ở các trường chính trị; nội dung, tiêu chí xâydựng đội ngũ giảng viên LLCT ở các trường chính trị… Từ đó, tác giả luận án
đã đánh giá thực trạng, những vấn đề đặt ra và đưa ra một số giải pháp gópphần xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT ở các trường chính trị vùng đồngbằng sông Cửu Long hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Châu (2015) thì giảng viên LLCT cần phải ra sứcrèn luyện, tu dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ LLCT, chuyên môn kiếnthức thực tiễn, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm ngoại ngữ, tin học, bên cạnh tàinăng thì yếu tố đạo đức nghề nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định thànhcông với nghề dạy học
Trong nghiên cứu của mình tác giả Thân Minh Quế (2016), cũng đã đãđặt ra những yêu cầu đối với giảng viên LLCT hiện nay: (1) Phải có phẩmchất chính trị và đạo đức cách mạng; (2) Có trình độ sâu sắc, nhuần nhuyễn trithức và chuyên môn khoa học mà mình giảng dạy; (3) Phải là một nhà nghiêncứu khoa học; (4) Có kỹ năng sư phạm; (5) Luôn gắn lý luận với thực tiễn; (6)
Trang 32Phải xây dựng niềm tin của học viên đối với đường lối, chính sách của đảng
và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Một yêu cầu nữa mà giảng viên LLCT cần phải có theo tác giả ĐàoThu Hiền đó chính là bản lĩnh chính trị vững vàng, và bản lĩnh đó được thểhiện là sự vững vàng về chuyên môn, cập nhật thông tin thực tiễn; Có trình
độ, tư duy khoa học và độc lập có khả năng nêu quan điểm, ra quyết định độclập, không vì áp lực tác động bên ngoài mà dễ dàng thay đổi lập trường; Cóniềm tin khoa học đối với tính đúng đắn trong hệ thống lý luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tính linh hoạt và sáng tạo trong quá trìnhvận dụng đưa ra đường lối phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam; Yêu nghề,tâm huyết với nghề, sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng và nghề nghiệp đãchọn; Mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động, xử lý những tình huốngmới đặt ra một cách khéo léo, chính xác, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; Khônggiấu giếm khuyết điểm, thẳng thắn thừa nhận sai lầm, sẵn sàng sửa chữa sailầm, tự hoàn thiện chính mình
Ngoài những yêu cầu đối với giảng viên LLCT, tác giả Vũ Thanh Bình(2012) trong luận án tiến sĩ của mình đã phân tích những tồn tại từ chính độingũ giảng viên LLCT là: Một bộ phận giảng viên có sức ỳ, chậm đổi mớiphương pháp, ít cập nhật kiến thức
Bên cạnh hạn chế từ phía giảng viên, những hạn chế từ phía nhà trườngtrong xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT được Bùi Hải Dương (2017) đã chỉ
ra như: Quá trình tuyển dụng chưa theo quy trình chặt chẽ; Chất lượng đầuvào của giảng viên còn bất cập; Việc tuyển chọn giảng viên chưa đạt yêu cầuđặt ra trong quy định như chưa chú ý đúng mức về năng khiếu và trình độ;Công tác đào tạo đội ngũ giảng viên chưa được quan tâm đúng mức…
Nguyễn Văn Biết (2014) cũng cho thấy cũng có nhiều trở ngại đối với GVLLCT các trường chính trị tỉnh mà họ cần phải vượt qua như: công tác lý luậnchưa theo kịp thực tiễn cuộc sống, sự vô hạn của tri thức trong thời đại bùng nổ
Trang 33thông tin, những giới hạn của chính giảng viên và những bất cập của môi trườnglàm việc
Tác giả Nguyễn Văn Cảnh (2016), Nguyễn Văn Nhâm (2016) đề xuất
là cần phải có đội ngũ giảng viên đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêucầu giảng dạy LLCT cũng như yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội[19, 20] Đối với bản thân giảng viên cần phải tích cực đổi mới phương phápgiảng dạy cho phù hợp với đặc điểm đối tượng học viên, phải nâng cao ý thức
tự học tập, rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sốngtrong sáng là tấm gương để học viên noi theo
Tác giả Võ Văn Lực (2016), trong bài viết: “20 năm (1997 - 17), công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu, tác giả cho rằng việc quan tâm đến chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần cho cán bộ, viên chức nói chung và NGV nói riêng như là một giải pháptạo sự yên tâm để người giảng viên cống hiến cho sự nghiệp giảng dạy Chế
độ đãi ngộ, khen thưởng công bằng, rõ ràng xây dựng nền nếp, chân thànhtình đồng chí, đồng nghiệp là những yếu tố quan trọng để thực hiện tốt côngtác cán bộ
Kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn là một yêu cầu quan trọng đối vớigiảng viên LLCT Bởi vậy, theo Nguyễn Thanh Hải thì để tăng cường kiếnthức thực tiễn cho giảng viên các trường chính trị thì cần tăng cường đưagiảng viên trẻ đi thực tế dài ngày ở cơ sở
Theo Tác giả Phạm Huy Kỳ (2015), đội ngũ giảng viên LLCT đóng vaitrò quan trọng trong công tác giáo dục LLCT, muốn nâng cao chất lượnggiảng dạy cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và tác giả đã đưa
ra một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảngviên LLCT ở nước ta hiện nay: Xác định mục tiêu, xây dựng nội dung,chương trình đào tạo; Đổi mới phương pháp đào tạo; Đổi mới, tăng cườngđiều kiện đảm bảo cho công tác đào tạo đội ngũ giảng viên LLCT Còn theoBùi Hải Dương (2017) để nâng cao chất lượng đội ngũ GV LLCT các trường
Trang 34chính trị tỉnh cần có lộ trình và hệ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ GVcác trường chính trị tỉnh Ngoài ra, cần cơ cấu đội ngũ giảng viên theo hướngtinh gọn và chất lượng, cũng cần tạo điều kiện để giảng viên an tâm công tácphấn đấu cho sự nghiệp.
Luận án tiến sĩ của Vũ Thanh Bình (2012) về “Vấn đề chất lượng độingũ giảng viên LLCT trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay”.Luận án đã bàn về khái niệm đội ngũ giảng viên LLCT, những nhân tố tácđộng đến nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT; thực trạng và nhữngvấn đề đặt ra đối với chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT; những quan điểm
và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT ở nước ta.Trong các giải pháp, tác giả luận án cũng có bàn về đổi mới công tác đào tạo,bồi dưỡng, tập huấn giảng viên LLCT theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa
Đánh giá các công trình nghiên cứu, điều tra liên quan đến Dự án
Có thể nói vấn đề xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận, vấn đề độingũ giảng viên LLCT đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Các côngtrình trên đã cung cấp những tri thức về các khía cạnh lý luận và thực tiễnkhác nhau, đã bàn về vị trí vai trò cũng như giải pháp nâng cao chất lượng độingũ giảng viên LLCT Đây là tư liệu quý cho dự án khảo sát thực trạng, nhucầu sử dụng giảng viên LLCT Tuy nhiên, đa phần các công trình chủ yếunghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên LLCT, hầu như chưa có nhiềucông trình bàn đến thực trạng đội ngũ giảng viên LLCT và nhu cầu sử dụnggiảng viên LLCT Đây chính là khoảng trống mà dự án tập trung nghiên cứu,thực hiện nhằm đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũgiảng viên LLCT, sử dụng đội ngũ giảng viên LLCT trong các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng giảng viên LLCT ở Việt Nam hiện nay
7 Những nội dung dự án thực hiện
Phần thứ nhất: Khung phân tích thực trạng, nhu cầu sử dụng giảng
viên lý luận chính trị trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
Trang 35Phần thứ hai: Thực trạng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
Phần thứ ba: Nhu cầu sử dụng giảng viên lý luận chính trị trong các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
Phần thứ tư: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
giảng viên LLCT và hiệu quả sử dụng giảng viên lý luận chính trị trong các
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam
Trang 36Phần thứ nhất:
KHUNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NHU CẦU SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG Ở VIỆT NAM
1 Khái niệm liên quan
1.1 Khái niệm “Nhu cầu”
Nhu cầu là một khái niệm khoa học, là đối tượng nghiên cứu củanhiều nhà khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học Tùy theo mục đích, điều kiện
và góc độ tiếp cận, mỗi người có những quan niệm khác nhau về nhu cầu.Nhiều nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu nhu cầu của con người
và đưa ra những khái niệm khác nhau Theo Lê Hữu Tầng: “Nhu cầu lànhững đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của từng nhóm xã hội khácnhau hay của toàn bộ xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại
và phát triển” Khi nói về nhu cầu là nói về một nội dung cụ thể, có chứcnăng hướng dẫn sự gặp gỡ giữa chủ thể và khách thể Nhu cầu là thành tốquan trọng tạo nên nhân cách của cá nhân, cùng với các thành tố khác nhưhứng thú, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng Nhu cầu là sự bộc lộ ra bênngoài của xu hướng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện xem nhu cầu là “điều cần thiết đểđảm bảo tồn tại và phát triển Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khóchịu, căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của cá nhân, có nhu cầu của chung củatập thể, khi hòa hợp, khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầuthứ yếu, giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi”
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Nhu cầu là sự phản ánh một cáchkhách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con ngườiphù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu con người cần thỏa mãn để tồn tại vàphát triển Có nhiều loại nhu cầu: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu
Trang 37cầu xã hội Nhu cầu học tập và đặc biệt là nhu cầu học tập lý luận chính trị lànhu cầu bậc cao của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Nhu cầu chi phối mạnh mẽ mọi hoạt động của con người, nhu cầu cóđối tượng cụ thể sẽ là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm thỏa mãnnhu cầu Việc nghiên cứu nhu cầu được nghiên cứu trước tiên từ động vật do
V Koller, E Thorndike, N.E Miller (1948), rồi đến S Freud và U.Mc.Dougall đã đề cập đến nhu cầu khi nghiên cứu bản năng con người (cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX)
Nhu cầu của con người và nhu cầu xã hội là một hệ thống đa dạng,phong phú trong từng hoàn cảnh cụ thể, bao gồm nhu cầu tồn tại (ăn uống,duy trì nòi giống, tự vệ…), nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa…),nhu cầu chính trị, tôn giáo… Nhu cầu của con người xuất hiện như những đòihỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy định, đồng thời nhu cầu mang tính
cá nhân với những biểu hiện phong phú và đa dạng Nhu cầu là hình thức tồntại của con người, thể hiện mối quan hệ giữa cơ thể sống với thế giới xungquanh, là cội nguồn của sự phát triển Nhu cầu là trạng thái cảm nhận được sựcần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại và phát triển của mình Khi nhu cầuđược đáp ứng thì con người hoặc xã hội phát triển và nhu cầu mới ở trình độcao hơn tiếp tục nảy sinh Nhu cầu là yếu tố, động lực bên trong kích thích,thúc đẩy con người hoạt động; là tiền đề và là kết quả của hoạt động, của sựphát triển
Trong dự án này, nhu cầu được hiểu là một thuộc tính tâm lý con
người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần để tồn tại, phát triển; là yếu tố, là động lực bên trong kích thích, thúc đẩy con người hành động Việc chỉ ra đặc điểm cơ bản của nhu cầu là rất
quan trọng để xác định những yêu cầu của đội ngũ giảng viên lý luận chínhtrị Nhu cầu có những đặc điểm cơ bản như sau:
Tính đối tượng: khi hiểu “nhu cầu là một thuộc tính tâm lý con người;
là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần”, có
Trang 38nghĩa “nhu cầu” luôn cần có đối tượng A.N Lêônchiep khẳng định: “nhu cầuthực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó” Đối tượng của nhucầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãn nhucầu Trần Thị Minh Ngọc cho rằng: “Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầuluôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể có cảmgiác thiếu hụt hay đòi hỏi Đối tượng đáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thểtiến hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng” Tìm ra được đốitượng của nhu cầu là yếu tố có ý nghĩa quyết định để thỏa mãn nhu cầu Tínhđối tượng khẳng định nhu cầu góp phần hình thành động cơ và thúc đẩy hoạtđộng của con người chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Tính khách quan: nhu cầu của con người chịu sự quy định của những
điều kiện kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định; nó xuấthiện từ những đòi hỏi của xã hội, của điều kiện vật chất trong giai đoạn đó.Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi, yêu cầu xã hội đối với các cá nhâncũng thay đổi, nhu cầu của cá nhân và nhu cầu xã hội cũng sẽ thay đổi
Tính chủ quan: nhu cầu xuất hiện do tác động của điều kiện, hoàn cảnh
bên ngoài nhưng còn do trạng thái bên trong của chủ thể Cá nhân con ngườikhông bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu, mà những nhu cầu luôntăng lên, hoàn thiện hơn, hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ Bởi vậy,nhu cầu luôn mang tính chủ quan
Tính lịch sử - xã hội: bên cạnh việc chịu những tác động chung của xã
hội, nhu cầu còn bị chi phối bởi những tác động riêng như điều kiện sinhsống, yếu tố gia đình, trình độ, khả năng nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý…Tính lịch sử- xã hội vừa mang đặc điểm chung vừa mang sắc thái cá nhân
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, đã có nhiều nghiên cứu mới về nhucầu con người do K Levin về lý thuyết động cơ, tiếp theo là A Maslow, G.Allport, H.A Murray
Theo Murray nhu cầu là một tổ chức cơ động, có chức năng tổ chức vàhướng dẫn các quá trình nhận thức, tưởng tượng và hành vi
Trang 39Cuối thế kỷ XX các lý thuyết về nhu cầu được chia làm 2 loại là nhucầu xã hội và nhu cầu nhân văn.
Theo A Maslow, ở con người ngay từ lúc ra đời, nhu cầu con ngườixuất hiện một cách nhất quán có trật tự từ thấp đến cao cùng với sự pháttriển của con người, đó là nhu cầu sinh lý, cơ thể - nhu cầu an toàn an ninh
cá nhân - nhu cầu xã hội và giao tiếp - nhu cầu tình cảm - nhu cầu được tôntrọng - và nhu cầu tự khẳng định Cũng theo ông, các nhu cầu có tính tầngbậc này lại rất linh hoạt thường xuyên biến động theo mối quan hệ của chủthể với hoàn cảnh Trong những tình huống nhất định, với trạng thái cơ thểnhất định các nhu cầu này hoặc nhu cầu khác nổi lên hàng đầu, tức là nhucầu này đã thay đổi vị trí đẳng cấp thứ bậc cho nhau tùy theo hoạt động củachủ thể Quan niệm của A Maslow được ứng dụng rộng rãi trong quản lý ởphương Tây
Cũng vào thế kỷ XX, A.N Leonchiev (Nhà tâm lý học Liên xô cũ) chorằng trong hoạt động thực tiễn làm xuất hiện nhu cầu và nhu cầu lại được thểhiện và biến đổi trong hoạt động của con người, ông đưa ra sơ đồ sau:
Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động
Điều đó cho thấy trong chính hoạt động, trong thực tiễn công tác củamình và trong cuộc sống, người cán bộ tự nhận thấy mình còn những thiếuhụt về kiến thức, kỹ năng và những phẩm chất cần thiết để hoàn thành tốtnhiệm vụ được trao và được thành đạt trong công tác, làm xuất hiện nhu cầutham gia các khóa đào tạo và bồi dưỡng
Như vậy, có thể hiểu nhu cầu nhận thức là đòi hỏi của con người vềviệc tìm tòi, tiếp thu cái mới, cái chưa có trong kinh nghiệm cá nhân mà họcần có để phát triển và thành đạt Nhu cầu nhận thức trở thành nhu cầu đượcđào tạo, bồi dưỡng trong một khóa học nhất định khi có điều kiện cụ thể, (tức
là nhu cầu gặp đối tượng - trở thành động cơ thúc đẩy hành động thỏa mãnnhu cầu) Nhu cầu nhận thức trở thành nhu cầu học tập khi tham gia hoạtđộng học tập
Trang 40Nhu cầu đào tạo là một loại nhu cầu tinh thần của con người, nó làmong muốn hay những kỳ vọng của một người đối với khóa học mà họ thamgia Đó là những tri thức, kỹ năng và những phẩm chất nhất định họ mongmuốn, khát khao có được sau khi tham gia khóa học.
Trong dự án này, Nhu cầu sử dụng đội ngũ giảng viên LLCT được hiểu
là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam về về tri thức, năng lực, kỹ năng và những phẩm chất chính trị, đạo đức
đối với đội ngũ giảng viên LLCT
1.2 Khái niệm “Lý luận chính trị và các môn lý luận chính trị”
- Về nguồn gốc, lý luận chính trị là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu
về lý luận và thực tiễn chính trị trong việc đấu tranh giành, giữ và xây dựngchính quyền nhà nước; là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học về lýluận và thực tiễn chính trị của một giai cấp trong cuộc đấu tranh để giành, giữ
và xây dựng chính quyền nhà nước, thiết lập hệ thống luật pháp theo ý chí,nguyện vọng của mình
- Về bản chất, lý luận chính trị phản ánh tính quy luật của các mối quan
hệ kinh tế, chính trị, xã hội; mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị là quan hệ
cơ bản nhất, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với quyền lực nhà nước
- Về mục đích, lý luận chính trị trang bị thế giới quan cho nhân dân;
đồng thời thúc đẩy hành vi thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị, tạo nênniềm tin và sức mạnh cho các tổ chức, các cá nhân quyết tâm đi trên conđường đã lựa chọn Lý luận chính trị có tác dụng định hướng, soi đường cho
xã hội phát triển, tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy xã hội Lý luận chínhtrị đúng đắn, hợp quy luật, hợp lòng dân sẽ có tác dụng mở đường cho xã hộiphát triển Lý luận chính trị của giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhânloại và tổng kết kinh nghiệm của phong trào cộng sản, công nhân và phongtrào giải phóng dân tộc trên thế giới làm công cụ đắc lực cho việc giành vàgiữ chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động TheoV.I.Lênin, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: