CỘNG HÒA XÃ H I CH T NAM Ộ Ủ NGHĨA VIỆ Độ –c lập – Tự do Hạnh phúc ⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕⁕ TRƯỜ ĐẠ ỌNG I H C SÀI GÒN KHOA NGO I NG Ạ Ữ TIỂU LUẬN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆ T NAM Đề ế tài ng cẢnh hưở ủa tri t lý Âm – D[.]
Trang 1CỘNG HÒA XÃ H I CHỘ Ủ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do Hạnh phúc –
TIỂU LUẬN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆ T NAM
Đề tài: Ảnh hưở ng c ủa tri t lý Âm – Dương ế
Sinh viên thực hiện: Dương Mỹ Hằng
Lớp: DAN1191
MSSV: 3119380083
Trang 2
NHÂN XÉT CH ẤM ĐIỂ M C UA GIANG VIÊN HƯƠNG DÂN
Tp H ô Chi Minh, ngay …… thang …… năm ……
Ky tên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
Chương 1: NGUỒN GỐC CỦA TRI T LÝ ÂM - Ế DƯƠNG 2
1 Khái ni m và b n ch t c a ệ ả ấ ủ triết lý Âm - Dương 2
2 Ngu n g c c a tri t lý Âm - ồ ố ủ ế Dương 3
Chương 2: HAI NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT LÝ ÂM - DƯƠNG 4
1 Quy lu t v Thành T ậ ề ố 4
2 Quy lu t v Quan H ậ ề ệ 5
Chương 3: TÍNH CÁCH CỦA NGƯỜI VIỆT 6
1 Tư duy lượng phân lưỡng hợp 6
2 Thế thường và quy lu t c a tri t lý Âm ậ ủ ế – Dương trong tính cách người Vi t ệ 6
KẾT LUẬN 8
TÀI LI U THAM KHỆ ẢO 8
Trang 4MỞ ĐẦU
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động th c ti n, trong sự ễ ự tương tác với môi trường t nhiên và xã hự ội” Về văn hóa Việt Nam là những gì thuộc về đời sống tinh thần, kể ả c đời sống tâm linh, là thể hiện tư duy sáng tạo, là ý th c v nhứ ề ững lĩnh vực trong đờ ối s ng của người Việt Nam cùng v i nhớ ững phương thức tiếp cận giá trị đờ ối s ng tinh th n qua quan h giao ầ ệ lưu với các dân tộc khác Môn học Cơ sở văn hóa Việt Nam giúp người học hiểu những khái niệm cơ bản c n thi t cho vi c hi u v m t nầ ế ệ ể ề ộ ền văn hóa, giúp học nắm được các đặc trưng cơ bản cùng ti n trình hình thành và phát tri n cế ể ủa văn hóa Việt Nam
Trong s nh ng ki n thố ữ ế ức mà tôi đã học được trong h c phọ ần này, điều mà tôi tâm đắc nhất đó chính là về Triết lý âm dương cũng như tính cách của người Việt có ảnh hưởng ít nhiều về triết lý này trong su t chiều dài l ch s , triết lý âm dương luôn gắn ố ị ử
bó m t thi t và sâu sậ ế ắc đố ới văn hóa Việi v t Nam Nó góp ph n t o nên b n sầ ạ ả ắc văn hóa dân t c, t o nên s c s ng d o dai, b n b cùng nhộ ạ ứ ố ẻ ề ỉ ững tính cách độc đáo Nh ng ữ điều này tạo nên bản sắc riêng chỉ có người Vi t mệ ới có Chính vì lý do đó tôi quyết
định l a chự ọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là “Ảnh hưởng của triết lý Âm - dương đến tính cách của người Việt”
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC CỦA TRIẾT LÝ ÂM - DƯƠNG
Âm - Dương có thể nói nôm na là m t khái ni m trộ ệ ừu tượng đã có từ lâu đời Nó phản ánh v hai m t hay hai thề ặ ế lực tuy luôn đố ập nhưng lại thống nh t v i nhau, i l ấ ớ dựa vào nhau để tồn tại và phát triển Âm – Dương, trong khái niệm sơ cổ, không phải
là m t vộ ật chất cụ th mà là thu c tính hiể ộ ện tượng, m i s vọ ự ật, t ng từ ế bào, t ng chi tiừ ết tồn tại trên vũ trũ này
Và trong cu c s ng tộ ố ừ thời k t tiên, các dân t c không th không va chỳ ổ ộ ể ạm đến những cặp đố ập như: “đựi l c - cái”, “nóng ạnh”, “cao - l - thấp”, Người nông dân thì,
Trang 5và không nh ng th hữ ế ọ còn có khao khát đạt được s b i thu c a mự ộ ủ ủa màng, con đàn cháu đống hay nói đúng hơn chính là sự sinh sôi n y n cả ở ủa hoa màu và con người, theo vĩ mô là cặp đố ập “Mẹ Cha” và “Đấi l - t – Trời”
Cứ thế d n dầ ần, con người đã nhận ra sự liên k t gi a các thế ữ ể đối l p và c sậ ả ự ật m thiết không th tách rể ời Theo đó, Đấ ẽ tượng trưng cho Mẹt s , Trời tượng trưng cho Cha, vi c h p nh t hay hòa tr n M - Cha cùng Trệ ợ ấ ộ ẹ ời – Đất đã tạo d ng nên nhự ững cơ
sở để tìm ra tri t lý Âm ế – Dương sau này
Từ quan ni m trên, nệ gười xưa đã dần tìm ra các quy lu t và khám phá ra r t rậ ấ ất nhiều các cặp đố ập khác đang tồi l n tại và bổ sung cho nhau, từ cơ sở này dẫn đến những cơ sổ khá trong nhiều lĩnh vực, góc cạnh; điển hình là cặp “Nóng – ạnh”, cụ L thể như sau:
- Xét về thời tiết: mùa đông trờ ại l nh sẽ thuộc dương, mùa hé trời nóng bức thuộc
âm
- Xét về phương hướng: phương Bắ ạnh nên mang tính âm, còn phương Nam ởc l phía đố ại nóng nên mang tính dươngi l
- Xét về thời gian trong ngày: ban đêm thời tiết thường lạnh, mát mẻ, trời tối đen nên xem là dương, ban ngày trờ ắng đỏi n , vàng oi bức thì xem là âm
Có giả thuyết cho r ng tri t lý Âm ằ ế – Dương đã được hình thành từ thời nhà Hán,
do Ph c Hy sáng t o và ghi chép trong kinh d ch; lụ ạ ị ại có người cho r ng Âm ằ – Dương
là công lao của “âm dương gia” – một giáo phái của Trung Qu c Tuy nhiên, c hai gi ố ả ả thiết này đều không có cơ sở khoa học bởi vì Phục Hy chỉ là một nhân vật trong truyền thuyết, và giáo phái “âm dương gia” chỉ sử dụng Âm – Dương để giải thích địa lý hay lịch sử
Theo nghiên c u khoa h c liên ngành thu c Vi t Nam và Trung Quứ ọ ộ ệ ốc đã kết lu n, ậ khái ni m c a Âm ệ ủ – Dương này được bắt nguồn từ phía Nam, tức trải từ sông Dương
Tử đến lãnh thổ Việt Nam Trong qua trình nam ti n và phát triế ển, người Hán đã học hỏi và ti p thu tri t lý Âm ế ế – Dương của cư dân phương nam, triết lý ngày càng ph ổ
Trang 6biến và theo chân những nhà du mục để ần đạt đế d n cái hoàn thi n nh t và mang ệ ấ những ảnh hưởng của nó tác động tr l i m t cách m nh m vở ạ ộ ạ ẽ ới người dân phương nam
Như đã đề ập, trong đờ ống, cư dân phương Nam rấ c i s t chú trọng nông nghi p nên ệ kim ch nam c a hỉ ủ ọ là hướng t i s sinh sôi n y n cớ ự ả ở ủa hoa màu và con người Sự sinh sôi của con ngườ ụ thểi c xu t phát t hai y u t : cha và m hay trai và gái; s n y n ấ ừ ế ố ẹ ự ả ở của hoa quả l i xuạ ất phát từ trời và đất Các cặp đố ập này đã hình thành và khái quát i l lên tri t lý Âm ế – Dương và mở ộ r ng t o nên nhi u cạ ề ặp đố ậi l p khác, t các cừ ặp đố ập i l
ấy lạ ếi ti p tục s n sinh ra và cả ứ thế tiếp nối cho đến tận ngày nay
CHƯƠNG 2: HAI NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT LÝ ÂM – DƯƠNG
Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương.
Trong âm có dương, trong dương có âm
Trong cái n ng tiắ ềm ẩn cái mưa (hơi nước bốc lên), trong cái mưa tiềm ẩn cái nắng (mây tan đi), trong lòng đất âm chứa cái nóng dương (ở tâm trái đất nhiệt độ lên tới trên 4 ngàn độ) Trong mỗi người đều tiềm ẩn chất khác giới nên giới tính có thể biến đổi bằng cơ chế thức ăn (xưa) hoặc giải phẫu (nay) Quy luật này cho th y r ng viấ ằ ệc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối, trong sự so sánh với một vật khác Chính vì v y mà v i các cậ ớ ặp đố ậi l p có s n (tẵ ừ trái nghĩa), tức là có v t so sánh tiậ ềm
ẩn, thì việc xác định âm dương có thể thực hiện rất d dàng, ễ nhưng đối với các vật đơn
lẻ thì khó khăn hơn Từ đây suy ra hai hệ quả ph c v cho viụ ụ ệc xác định b n chả ất âm/dương của một đối tượng:
Th ứ nhất, muốn xác định tính chất âm dương của một vật, trước hết phải xác định được đối tượng so sánh
Ví d : Nam so v i n thì m nh mụ ớ ữ ạ ẽ (dương), nhưng so với hùm beo thì lại yếu đuối (âm); màu tr ng so vắ ới màu đen thì dương, nhưng so với màu đỏ ại là âm… Nhờ sự l
so sánh này mà ta có th xác lể ập được những thang độ m dương cho từng lĩnh vự â c; chẳng h n, v màu sạ ề ắc ta có: đen, trắng, xanh, vàng, đỏ (từ đất đen nhú ra lá trắng,
Trang 7càng h p th ánh n ng lá càng xanh, lâu d n lá chuy n sang vàng, r i cu i cùng thành ấ ụ ắ ầ ể ồ ố
đỏ) Tuy nhiên, không phải c xác định được đối tượứ ng so sánh rồi là có thể xác định được tính chất âm dương của chúng
Th ứ hai, để xác định tính chất âm dương của một vật, sau khi xác định được đối tượng so sánh, còn phải xác định cơ sở so sánh
Đối với cùng một cặp hai v t, với các cơ sở so sánh khác nhau sẽ cho ta những k t qu ậ ế ả khác nhau (Ví d : mụ ột ngườ ữi n so v i mớ ột người nam xét về giới tính là âm nhưng xét v tính cách có th lề ể ại là dương; nước so với đất, xét về độ ứng là âm, nhưng nếu c xét về tính động thì lại là dương…)
Âm và dương luôn gắn bó mật thi t với nhau, vận động chuyển hóa cho nhau ế
Âm phát triển đến cùng c c thì chuyự ển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển hóa thành âm
Chẳng hạn, ngày và đêm, mưa và nắng, nóng và lạnh… luôn đổi chỗ cho nhau Ở
xứ nóng (dương) phát triển nghề trồng trọt (âm); ngược lại, ở xứ lạnh (âm) phát tri n ể nghề chăn nuôi (dương) Cây từ đất đen (âm) mọc lên, lá xanh sang vàng rồi hóa đã (dương) và cuối cùng trở lại đen để về với đất Người càng lành hiền (âm) thì càng hay nóng cục (dương) Từ chất nước (âm) nếu làm lạnh đến cùng chỉ thì hóa thành băng đá (dương)
Biểu tượng âm – dương phản ánh đầy đủ hai quy lu t v b n ch t hòa quy n và ậ ề ả ấ ệ quan hệ chuyển hóa c a triủ ết lí âm dương
Trong th c t ta còn có th g p nh ng c p khái ni m mà ngay cự ế ể ặ ữ ặ ệ ả sau khi đã vận dụng hai quy lu t cậ ủa triết lí âm dương, việc xác định b n chả ất âm dương của chúng vẫn không dễ dàng gì hơn bở ẽ chúng còn b chi ph i b i nh ng quan ni m xã h i i l ị ố ở ữ ệ ộ Cặp “đúng – sai”, “trái – phải” thuộc loại như thế
Trang 8CHƯƠNG 3: TÍNH CÁCH NGƯỜI VI ỆT
Triết lí âm dương là sản phẩm trừu tượng hóa từ ý niệm và ước mơ củ cư dân a nông nghi p v s sinh s n cệ ề ự ả ủa hoa mà và con người T 2 cừ ặp đố ậi l p g c m -cha, ố ẹ trời- đất, người xưa đần d n suy ra hàng lo t cầ ạ ặp đố ập như nhữi l ng thu c tính c a âm ộ ủ dương Lối tư duy đã tạo nên quan niệm “lưỡng phân h p nhợ ị”, tức là nh nguyên trong ị người Đông Nam Á thời cổ đại tuy còn thô sơ và chất phát
1 T Ư DUY LƯỢNG PHÂN LƯỠNG H ỢP:
Tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, trên cơ sở các cặp đối lập rõ nét, người Đông Nam
Á xưa hẳn đã mở ộ r ng dần ra để tìm cách xác l p b n chậ ả ất âm dương cho những khái niệm, những s v t bi t lự ậ ệ ập Quá trình này đã dẫn đến s c m nh n tính 2 m t c a âm ự ả ậ ặ ủ dương và quan hệ chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Có lẽ ý niệm còn có phần hồn nhiên và chất phác đó đã là tiền đề giúp cho tổ tiên người Hán ph m trù hóa và h ạ ệ thống chúng thành triết lí âm dương
Trong đờ ống người s i Việt, tư duy lưỡng phân lưỡng h p b c l r t m nh m và rõ ợ ộ ộ ấ ạ ẽ nét dựa trên khuynh hướng cặp đôi, cụ thể qua cách s ng hay sinh ho t xuyên suố ạ ốt theo các d u vấ ết xưa cũ đến th i hiờ ện đại Trên thế giới, v t tậ ổ thường là các động vật
cụ thể như: chim ưng, đại bàng, chó sói, bò, Người Việt cũng có một cặp trừu tượng
là “tiên ồng” Ở- r dân tộc Mường lại có cặp “chim Ây – cá Mứa”, dân tộc Tày lại có
“Bác Luông – Slao Cái”, là những ch ng c chân th c nhất về tư duy âm – dương ứ ứ ự
thời cổ đạ i
Mọi thế thường v nguyên t c âm ề ắ – dương người Việt cũng rất hài hòa và đi thành đôi thành cặp: Ông Đồng-bà Cốt, đồng Cô- ng Cđồ ậu , đồng Đức Ông-đồng Đức Bà, Khi xin âm dương lợp nhà phải viên ngửa, viên sấp; khi ghép g thì ph i 1 t m có ỗ ả ấ
gờ l i ra kh p v i tồ ớ ớ ấm kia có rãnh lõm vào… Lối tư duy âm dương khiến người Việt nói đến núi , đất thì liền nghĩ ngay tới nước Nhắc đến cha nghĩ ngay đến mẹ: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”
Trang 9Ngay c nh ng khái niả ữ ệm vay mượn đơn độc, khi nào Việt Nam cũng nhân đôi thành c p : ặ Ở Trung Hoa có ông Tơ Hồng chuyên mai m i thì sang Vi t Nam tr thành ố ệ ở cặp đôi ông Tơ - bà Nguyệt Ở Ấn Độ chỉ có Ph t ông thì vào Vi t Nam l i có th s ậ ệ ạ ể ự xuất hi n c a Phệ ủ ật Bà (người Mường gọi là Bụt Đực, Bụt Cái)
Một trong những biểu tượng âm-dương có truyền thống lâu đời của người Việt Nam ta là bi u ể tượng vuông-tròn Có vuông có tròn tức là có âm có dương; nói
“vuông-tròn” là nói đến s hoàn thiện Như câu thành ngữ “Mẹ tròn con vuông” hay ự
ca dao t c ngụ ữ có: “ Lạy trời cho đặng vuông tròn, Trăm năm cho đặng lòng son với chàng.”
Biểu tượng vuông-tròn hay tròn-vuông còn xu t hi n trên rìa ngoài c a tr ng ấ ệ ủ ố
đồng Yên B ng, l ng ghép lên nhau Có thồ ồ ể hiểu trời tròn tượng trưng cho dương, đất vuông tượng trưng cho âm, nên biểu tượng của trời là dương còn đất thì hình vuông; cũng như câu truyện bánh chưng, bánh giày mà người ta luôn kể
Người Việt cũng có những nhận th c rõ vứ ề hai quy luật của triết lý Âm – Dương Đã tồn tại trong nhân gian những quan ni m kiệ ểu “Trong r i có may, trong d ủ ở
có hay, trong họa có phúc”, “Chim sa, cá nhay chớ mừng / Nhện sa, xà đón xin đừng
có lo”….là sự diễn đạt cụ thể của quy luật “trong dương có âm” và “trong âm có dương” Quy luậ “âm dương chuyểt n hóa” được cụ thể thành những nhận thức dân gian v quan h nhân quề ệ ả kiểu: “ Sướng l m kh nhiắ ổ ều” , “Yêu nhau lắm, c n nhau ắ
đau” , “Trèo cao ngã đau”,…
Chính nh lờ ối tư duy âm-dương từ trong máu thịt mà người Việt Nam có được triết lí s ng quân bình: Trong cu c s ng hàng ngày, g ng không làm m t lòng ai; trong ố ộ ố ắ ấ
ăn ở, cố gắng gi gìn sữ ự hài hòa âm dương trong cơ thể và hài hòa với môi trường thiên nhiên xung quanh…Triết lí quân bình âm dương được v n d ng không ch cho ậ ụ ỉ ngườ ối s ng mà ngay cả người ch t: Trong chùa, h pháp có ông Thi n ông Ác( ế ộ ệ – Thiện trước, ác sau) , trong các ngôi mộ cổ ở Lạch Trường TK III TCN được gióng theo Nam Bắc, các đồ ậ v t làm b ng gằ ỗ (dương) được đặt ở phía Bắc (âm), các v t b ng ậ ằ gốm (âm ) lại được đặt ở phía Nam (dương ) – cách sắp xếp âm dương bù trừ nhau để tạo ra sự quân bình