1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ môn luật tố tụng dân sự Phân tích QĐPL Tố tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ

15 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự Hiện Hành Về Nguồn Chứng Cứ
Tác giả Hoàng Minh H
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Dân Sự
Thể loại bài tập học kỳ
Năm xuất bản năm ...
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 629,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng trong Tố tụng dân sự. Mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của Tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ. Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các cơ quan tiến hành tố tụng cũng xem xét được tính đúng đắn của sự việc để bảo vệ lợi ích của công dân và bảo vệ pháp luật. Một trong những vấn đề khá quan trọng về chứng cứ là nguồn chứng cứ. Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng để rút ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ để chứng minh, làm sáng tỏ vụ việc, dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng có thể đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầy đủ đối với vụ việc dân sự. Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự, bài tập học kỳ này của em lựa chọn phân tích đề số …: “Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ”. 3 NỘI DUNG Chương 1 NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm nguồn chứng cứ Nguồn là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái gì, điều gì. Do đó, nguồn chứng cứ được hiểu là nơi chứa đựng chứng cứ. Ví dụ 1: Hợp đồng vay là nguồn chứng cứ còn nội dung ghi trong hợp đồng vay mới là chứng cứ. Tòa án chỉ có thể thu thập nguồn chứng cứ, từ đó rút ra chứng cứ. Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng nằm trong nguồn chứng cứ nhất định, nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào thì đó nhất thiết trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ. Như vậy có thể hiểu khái niệm nguồn chứng cứ như sau: “Nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự được hiểu là nơi chứa đựng những thông tin tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến vụ việc dân sự, được các chủ thể có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chứng cứ đối với mỗi vụ việc cụ thể, nhằm giúp giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”. 2. Mối quan hệ giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những gì đương sự cung cấp thì chỉ là căn cứ, bằng chứng, nếu muốn được coi là chứng cứ thì phải qua một quá trình chứng minh điều tra và phải được thẩm phán hoặc hội thẩm gọi chung là người tiến hành tố tụng ra quyết định. 4 Nguồn chứng cứ bao gồm người, vật, tài liệu mang các thông tin về vụ việc dân sự. Như vậy nguồn chứng cứ có hai loại chủ yếu là người, vật và tài liệu. Việc phân biệt các nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị chứng minh của mỗi loại chứng cứ. Thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các vật, tài liệu thì việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng bị chi phối bởi ngoại cảnh. Trường hợp chứng cứ rút ra từ con người như đương sự, người làm chứng việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức tạp. Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi phối rất lớn bởi yếu tố lợi ích, tâm lí, khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại những gì họ thấy, sự quan tâm của họ đói với sự kiện,… Tất cả những yếu tố này đều phải tính đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự, người làm chứng. Ví dụ 2: Ông A chết đi để lại một bản di chúc ghi với nội dung để lại cho cháu nội 100 triệu đồng. Trong ví dụ này, chúng ta xác định nguồn chứng cứ và chứng cứ như sau: Nguồn chứng cứ: bản di chúc của ông A chết đi để lại. Chứng cứ: nội dung trong bản di chúc thể hiện nội dung để lại cho cháu nội 100 triệu đồng. Chứng cứ và nguồn chứng cứ là hai mặt không thể tách rời. Chứng cứ bắt buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn và thu thập bằng biện pháp do pháp luật quy định. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ. Đối với những thông tin không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự. 3. Mối quan hệ giữa nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. 5 Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau tuy nhiên trên thực tế chúng thường được hiểu là một. Vì trong một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ…, nó cũng chính là nguồn chứng cứ. Ví dụ 3: Ông A có 3 người con, trước khi chết A ghi lại chia tài sản cho các con trong băng ghi hình. Trường hợp này, khi chia thừa kế xác định phương tiện chứng minh, nguồn chứng cứ và chứng cứ như sau: Phương tiện chứng minh và nguồn chứng cứ là một (trùng nhau) là: Băng ghi hình; Chứng cứ: nội dung trong băng ghi hình thể hiện việc chia tài sản cho các con như thế nào. Để phân biệt nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh, cần phân tích trên các phương diện và những góc độ khác nhau như nơi rút ra chứng cứ hay công cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự. Bản thân nguồn chứng cứ chỉ thể hiện khả năng chứa đựng chứng cứ, nếu không có sự tác động của các chủ thể nhất định thì chứng cứ tiềm ẩn trong đó không được phát hiện và như vậy, nguồn chứng cứ chưa thể sử dụng vào việc chứng minh. Tuy nhiên, khi đã có sự xem xét, đánh giá, khai thác chứng cứ trên cơ sở nguồn chứng cứ, thì lúc này những nguồn chứng cứ đó được sử dụng như một công cụ dùng vào việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, góp phần giải quyết vụ việc; nói cách khác, lúc này nguồn chứng cứ được nhìn nhận là phương tiện chứng minh. 6 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ 1. Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ Hiện nay theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguồn chứng cứ bao gồm: “1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử. 2. Vật chứng. 3. Lời khai của đương sự. 4. Lời khai của người làm chứng. 5. Kết luận giám định. 6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ. 7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản. 8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập. 9. Văn bản công chứng, chứng thực. 10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định”. So với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định bổ sung 03 loại nguồn chứng cứ mới là: Dữ liệu điện tử; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng, chứng thực. Cùng với việc quy định bổ sung như trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã không quy định tập quán là một loại nguồn chứng cứ nhằm phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Việc mở rộng thêm các loại nguồn chứng cứ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của đương sự, góp phần giải quyết vụ việc dân sự một cách khách quan. Không phải bất kỳ nguồn chứng cứ nào cũng được xác định là chứng cứ mà các nguồn chứng cứ phải đáp ứng được các điều kiện riêng quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xác định chứng cứ như sau: “1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác 7 nhận. 2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. 3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. 4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐỀ SỐ

Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện

hành về nguồn chứng cứ

Hà Nội, Tháng … năm …

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 3

1 Khái niệm nguồn chứng cứ 3

2 Mối quan hệ giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ 3

3 Mối quan hệ giữa nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh 4

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ 6

1 Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ 6

2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tố tụng dân sự về nguồn chứng cứ 11

KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

MỞ ĐẦU

Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng trong Tố tụng dân sự Mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của Tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các cơ quan tiến hành

tố tụng cũng xem xét được tính đúng đắn của sự việc để bảo vệ lợi ích của công dân và bảo vệ pháp luật Một trong những vấn đề khá quan trọng về chứng cứ là nguồn chứng cứ Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu quan trọng để rút ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh

sự thật khách quan của vụ việc dân sự Nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ để chứng minh, làm sáng tỏ vụ việc, dẫn đến việc các

cơ quan tiến hành tố tụng có thể đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầy đủ đối với vụ việc dân sự Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự, bài tập học kỳ này của

em lựa chọn phân tích đề số …: “Phân tích các quy định của pháp luật tố

tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ”

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1 NGUỒN CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 Khái niệm nguồn chứng cứ

Nguồn là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái

gì, điều gì Do đó, nguồn chứng cứ được hiểu là nơi chứa đựng chứng cứ Ví

dụ 1: Hợp đồng vay là nguồn chứng cứ còn nội dung ghi trong hợp đồng vay

mới là chứng cứ

Tòa án chỉ có thể thu thập nguồn chứng cứ, từ đó rút ra chứng cứ Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng nằm trong nguồn chứng cứ nhất định, nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào thì đó nhất thiết trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ Như vậy có thể hiểu khái niệm nguồn chứng cứ như sau:

“Nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự được hiểu là nơi chứa đựng những thông tin tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến vụ việc dân sự, được các chủ thể có thẩm quyền thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chứng cứ đối với mỗi vụ việc cụ thể, nhằm giúp giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”

2 Mối quan hệ giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ

Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Chứng cứ trong vụ

việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp” Tuy

nhiên, cần lưu ý rằng những gì đương sự cung cấp thì chỉ là căn cứ, bằng chứng, nếu muốn được coi là chứng cứ thì phải qua một quá trình chứng minh điều tra và phải được thẩm phán hoặc hội thẩm gọi chung là người tiến hành tố tụng ra quyết định

Trang 5

Nguồn chứng cứ bao gồm người, vật, tài liệu mang các thông tin về vụ việc dân sự Như vậy nguồn chứng cứ có hai loại chủ yếu là người, vật và tài liệu Việc phân biệt các nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị chứng minh của mỗi loại chứng cứ

Thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các vật, tài liệu thì việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng bị chi phối bởi ngoại cảnh Trường hợp chứng cứ rút ra từ con người như đương sự, người làm chứng việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức tạp Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi phối rất lớn bởi yếu tố lợi ích, tâm lí, khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại những gì họ thấy, sự quan tâm của họ đói với sự kiện,… Tất cả những yếu tố này đều phải tính đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự,

người làm chứng Ví dụ 2: Ông A chết đi để lại một bản di chúc ghi với nội

dung để lại cho cháu nội 100 triệu đồng Trong ví dụ này, chúng ta xác định nguồn chứng cứ và chứng cứ như sau:

- Nguồn chứng cứ: bản di chúc của ông A chết đi để lại

- Chứng cứ: nội dung trong bản di chúc thể hiện nội dung để lại cho cháu nội

100 triệu đồng

Chứng cứ và nguồn chứng cứ là hai mặt không thể tách rời Chứng cứ bắt buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn và thu thập bằng biện pháp do pháp luật quy định Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ Đối với những thông tin không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự

3 Mối quan hệ giữa nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh

Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân

sự

Trang 6

Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau tuy nhiên trên thực tế chúng thường được hiểu là một Vì trong một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ…, nó cũng chính là nguồn chứng cứ

Ví dụ 3: Ông A có 3 người con, trước khi chết A ghi lại chia tài sản cho các

con trong băng ghi hình Trường hợp này, khi chia thừa kế xác định phương tiện chứng minh, nguồn chứng cứ và chứng cứ như sau:

- Phương tiện chứng minh và nguồn chứng cứ là một (trùng nhau) là: Băng ghi hình;

- Chứng cứ: nội dung trong băng ghi hình thể hiện việc chia tài sản cho các con như thế nào

Để phân biệt nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh, cần phân tích trên các phương diện và những góc độ khác nhau như nơi rút ra chứng cứ hay công

cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự Bản thân nguồn chứng cứ chỉ thể hiện khả năng chứa đựng chứng cứ, nếu không có sự tác động của các chủ thể nhất định thì chứng cứ tiềm ẩn trong đó không được phát hiện

và như vậy, nguồn chứng cứ chưa thể sử dụng vào việc chứng minh Tuy nhiên, khi đã có sự xem xét, đánh giá, khai thác chứng cứ trên cơ sở nguồn chứng cứ, thì lúc này những nguồn chứng cứ đó được sử dụng như một công cụ dùng vào việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, góp phần giải quyết vụ việc; nói cách khác, lúc này nguồn chứng cứ được nhìn nhận là phương tiện chứng minh

Trang 7

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VỀ NGUỒN CHỨNG CỨ

1 Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về nguồn chứng cứ

Hiện nay theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguồn chứng cứ bao gồm:

“1 Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử

2 Vật chứng

3 Lời khai của đương sự

4 Lời khai của người làm chứng

5 Kết luận giám định

6 Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ

7 Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

8 Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập

9 Văn bản công chứng, chứng thực

10 Các nguồn khác mà pháp luật có quy định”

So với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định bổ sung 03 loại nguồn chứng cứ mới là: Dữ liệu điện tử; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng, chứng thực Cùng với việc quy định bổ sung như trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã không quy định tập quán là một loại nguồn chứng cứ nhằm phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự Việc mở rộng thêm các loại nguồn chứng cứ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của đương sự, góp phần giải quyết vụ việc dân sự một cách khách quan Không phải bất kỳ nguồn chứng cứ nào cũng được xác định là chứng cứ mà các nguồn chứng cứ phải đáp ứng được các điều kiện riêng quy định tại Điều 95 Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015 về xác định chứng cứ như sau: “1 Tài liệu đọc được

nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác

Trang 8

nhận 2 Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó 3 Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử 4 Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến

vụ việc 5 Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa 6 Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định 7 Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định 8 Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định 9 Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định 10 Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định 11 Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.”

Đối với các tài liệu nghe nhìn được: có thể là các băng, đĩa, ổ USB v.v…hay

văn bản xác nhận xuất xứ Kèm theo việc đưa ra các tài liệu nghe được, nhìn được thì người đưa ra chúng phải xuất trình văn bản xác nhận về nguồn gốc của chúng

Trang 9

Đối với dữ liệu điện tử: là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc

dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử

Đối với các vật chứng: là những vật khác nhau của thế giới vật chất có chứa

đựng những thông tin, dấu vết về vụ việc dân sự Từ những thông tin, dấu vết chứa đựng trong vật chứng cho phép Tòa án xác định được những tình tiết của

vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Các vật chứng được sử dụng với tư cách là chứng cứ nếu là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự

Đối với lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng: Đương sự,

người làm chứng là những người tham gia vào sự việc, chứng kiến sự việc Trong lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng thường chứa đựng các thông tin về vụ việc dân sự nên là nguồn chứng cứ Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo đúng thủ tục pháp luật quy định Đương sự có quyền và lợi ích liên quan đến

vụ việc dân sự nên lời khai của họ thường chứa đựng những thông tin, tình tiết,

sự kiện có lợi cho họ Vì vậy, khi sử dụng lời khai của đương sự để xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự cần xem xét thận trọng cùng các chứng cứ khác Đối với người làm chứng, không có quyền lợi liên quan đến vụ việc dân

sự Tòa án giải quyết nên việc tham gia tố tụng của họ khách quan hơn đương

sự Tuy vậy, vì nhưng nguyên nhân khác nhau như do khả năng nhận thức sự việc, khả năng nhớ và phản ánh lại sự việc, điều kiện chứng kiến sự việc v.v…Do đó, khi sử dụng lời khai của người làm chứng để giải quyết vụ việc dân sự Tòa án vẫn phải kiểm tra, đối chiếu cẩn thận với các chứng cứ khác của

vụ việc dân sự Ngoài ra, để sử dụng được lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng thì lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng phải được thể hiện dưới những hình thức nhất định như ghi bằng văn bản, băng ghi

âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình Trường hợp lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được ghi trong băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình thì cũng phải có văn bản xác nhận xuất xứ của chúng

Trang 10

Đối với kết luận giám định: là một kết luận khoa học được đưa ra sau khi đã

sử dụng các kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn để xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Tuy vậy, kết luận giám định có thể không đúng vì phụ thuộc vào trình độ, tính khách quan trong việc giám định của người giám định, các tài liệu giám định v.v…Vì vậy, việc giám định phải được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của pháp luật và khi sử dụng kết luận giám định Tòa án cũng phải đối chiếu, sử dụng cùng các chứng cứ khác

Đối với biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ: Trong những vụ việc dân sự

mà đối tượng tranh chấp là những tài sản hoặc tài liệu, vật chứng không thể di chuyển đến Tòa án được thì để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự phải tiến hành xem xét, xác minh tại chỗ để xác định đúng thực trạng tài sản tranh chấp hoặc tài liệu, vật chứng Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ là tài liệu phản ánh lại quá trình xác minh, xem xét tại chỗ tài sản tranh chấp hoặc tài liệu, vật chứng Việc lập và sử dụng biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ phải được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Đối với kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản: Đối với những vụ

việc dân sự cần xác định giá trị tài sản tranh chấp mới có thể giải quyết đúng được thì phải cho định giá tài sản hoặc thẩm định giá tài sản đó Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản có chứa đựng những thông tin về vụ việc dân

sự nên là nguồn chứng cứ Việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản phải do

tổ chức có thẩm quyền thực hiện và được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định

Đối với văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập: Về bản chất, văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có năng

lực lập cũng chỉ là các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được Căn cứ Điều

7 Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại theo

Nghị quyết 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của quốc hội, quy định như sau:

Ngày đăng: 08/11/2023, 17:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w