Bêncạnh đó, không thể phủ nhận những lợi ích mà thương mại điện tử có thểmang lại cho doanh nghiệp, đó là cơ hội cạnh tranh bình đẳng với các công ty lớn, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận không
Trang 1I.Phần mở đầu:
1 Lý do lựa chọn đề tài
Internet xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1997, và chỉ trong vòngmười năm đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, trở thành một “Thánh Gióng thời công nghệ cao” với tỷ lệ phát triển nhanh nhất thế giới,theo dự kiến của Bộ Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 số người sử dụnginternet chiếm 35%- 40% dân số cả nước Với những yêu cầu mang tínhđặc thù của phương thức kinh doanh mới, là những yêu cầu về cơ sở hạtầng, về chính sách, luật pháp, về trình độ nhận thức thương mại điện tửchỉ mới có mặt ở Việt Nam cách đây không lâu, từ chỗ hình thành các trangweb chỉ với chức năng duy nhất là cung cấp thông tin một cách sơ sài vềdoanh nghiệp đến nay đã phát triển lên một tầm cao mới Các mô hìnhthương mại điện tử lần lượt ra đời, đó là các trang web B2B, B2C, các sàngiao dịch, chợ điện tử, các siêu thị trực tuyến, các cổng thông tin hỗ trợdoanh nghiệp…với những trang web đang hoạt động có hiệu quả nhưchodientu.com, raovat.com, vnet.com.vn, vietnamtrade.org…Những kếtquả trên chứng tỏ một điều rằng tiềm năng thị trường trực tuyến tại ViệtNam rất nhiều hứa hẹn, đặc biệt hơn nữa là giờ đây Việt Nam đã trở thànhthành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, cơ hội kinhdoanh được mở rộng trên khắp thế giới “ Ngay cả khi bạn không định bánhàng trực tuyến thì một trang web được thiết kế tốt vẫn hết sức quan trọng.Tôi không nói rằng bạn phải dồn mọi nỗ lực để bán hàng qua mạng, ngay
cả khi sản phẩm của bạn được coi là dễ bán trực tuyến thì bạn cũng phảinhớ điều này Vấn đề ở chỗ ít nhất bạn cũng phải có trang web để kháchhàng, nhân viên và các đối tác kinh doanh tiềm năng, thậm chí có thể cảnhà đầu tư tương lai của bạn nữa, có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm hiểu
về doanh nghiệp của bạn cùng hàng hóa và dịch vụ mà bạn cung cấp”, đó làlời khuyên của Tim W Knox- người sáng lập, chủ tịch và giám đốc điềuhành của bốn công ty công nghệ thành công: B2Secire Inc., một công ty
Trang 2phần mềm quản trị; Digital Graphiti Inc., một công ty phát triển phần mềm;Sidebar Systems, một công ty viết phần mềm cho các đại lý truyền thông;
và Online Profits 4U, một doanh nghiệp điện tử có mục tiêu giúp đỡ cácchủ doanh nghiệp trực tuyến khởi nghiệp và phát triển Như vậy, dù muốnhay không, việc xây dựng một website phục vụ cho hoạt động kinh doanh
là một việc làm hết sức cần thiết trong điều kiện kinh doanh ngày nay Bêncạnh đó, không thể phủ nhận những lợi ích mà thương mại điện tử có thểmang lại cho doanh nghiệp, đó là cơ hội cạnh tranh bình đẳng với các công
ty lớn, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô doanhnghiệp…
Nhận thức được tầm quan trọng của website trong quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng của một số website củacác doanh nghiệp Việt Nam hiện nay từ đó đề xuất những biện pháp đểkhắc phục và hoàn thiện với đề tài có tên “ Nâng cao khả năng thu hútkhách hàng trực tuyến trên website của các doanh nghiệp Việt Nam”
2.Đối tượng nghiên cứu:
Website của một số doanh nghiệp Việt Nam
3.Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu có chọn lọc một số website
Trang 3II Phần nội dung:
1.Khả năng thu hút khách hàng trực tuyến của website:
1.1 Website và tầm quan trọng của websie đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngày nay trên thế giới có hàng triệu Website đang hoạt động Gần 17 nămtrước, “cha đẻ” của mạng toàn cầu Tim Burners-Lee đã tạo ra trang webđầu tiên trên thế giới và nó đã đánh dấu sự ra đời của một kỷ nguyên mới –
kỷ nguyên Internet Ngày mùng 6 tháng 8 năm 1991, website đầu tiên trênthế giới đã ra đời tại địa chỉ: http://info.cern.ch/ (giờ đây địa chỉ này chỉcòn trong lưu trữ) Tại địa chỉ này, Tim Burners-Lee đã miêu tả tỉ mỉ vềmột công nghệ mới – công nghệ World Wide Web (WWW), được tạo radựa trên biên bản truyền dữ liệu dạng HTTP, hệ thống xác lập địa chỉ URI
và ngôn ngữ siêu văn bản HTML Ở Việt Nam, Internet chính thức xuấthiện năm 1996, khi đó đặt dưới sự quản lý duy nhất của một IPX là Tổngcông ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam: VNPT Dịch vụ Internet ở VNđược Nhà nước cho phép thực hiện từ ngày 5/3/1997 Nhưng phải đến19/11/1997, "cánh cổng" mở ra với thế giới mới chính thức khai trương,sau 8 tháng chuẩn bị.Trước đó, việc thử nghiệm Internet đã tiến hành rấtsớm ở 4 đơn vị khác nhau Cụ thể:
- Mạng Varenet: (năm 1994) của Viện CNTT thuộc Trung tâm Khoa học tựnhiên và Công nghệ quốc gia được kết nối với mạng Internet qua cổngmạng AARnet của Đại học Quốc gia Australia
- Mạng Toolnet: (năm 1994) của Trung tâm thông tin Khoa học công nghệQuốc gia thuộc Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường kết nối với mạngToolnet của Amsterdam (Hà Lan)
- Mạng HCMCNET: (năm 1995) của Trung tâm Khoa học và công nghệthuộc Sở Khoa học công nghệ và Môi trường TP HCM kết nối qua nútmạng ở Singapore
Trang 4- Mạng Sprintnet: (năm 1996) của Công ty Điện toán và truyền số liệuVDC thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông VNPT tại hai địa điểm HN
và TP HCM qua hai cổng quốc tế 64 Kb/giây kết nối Internet Sprintlink(Mỹ)
Từ khi Internet ra đời, các doanh nghiệp đã nhanh chóng nhận ra lợi íchcủa việc sử dụng nó để quảng bá thông tin, hỗ trợ việc thực hiện giao dịchthông qua mạng Internet và họ đã triệt để khai thác thế mạnh của Internetvào kinh doanh Từ đó, khái niệm thương mại điện tử ra đời thương mạiđiện tử bao gồm các giao dịch nhờ vào Internet giữa các đối tác trong kinhdoanh, ví dụ giữa nhà cung cấp và khách hàng, giữa các đối tác kinh doanhv.v
Thương mại điện tử đã làm thay đổi cách thức kinh doanh truyền thống từbao đời nay, đó là:
Người mua nay có thể mua dễ dàng, tiện lợi hơn, với giá thấp hơn, có thể
so sánh giá cả một cách nhanh chóng, và mua từ bất kỳ nhà cung cấp nàotrên khắp thế giới, đặc biệt là khi mua sản phẩm điện tử download được(downloadable electronic products) hay dịch vụ cung cấp qua mạng
- Internet tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì mối quan hệ một-đến-một(one-to-one) với số lượng khách hàng rất lớn mà không phải tốn nhiềunhân lực và chi phí
- Người mua có thể tìm hiểu, nghiên cứu các thông số về sản phẩm, dịch vụkèm theo qua mạng trước khi quyết định mua
- Người mua có thể dễ dàng đưa ra những yêu cầu đặc biệt của riêng mình
để nhà cung cấp đáp ứng, ví dụ như mua CD chọn các bài hát ưa thích, mua
nữ trang tự thiết kế kiểu, mua máy tính theo cấu hình riêng
- Người mua có thể được hưởng lợi từ việc doanh nghiệp cắt chi phí dànhcho quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, thay vào đó, giảm giáhay khuyến mãi trực tiếp cho người mua qua mạng Internet
- Người mua có thể tham gia đấu giá trên phạm vi toàn cầu
Trang 5- Người mua có thể cùng nhau tham gia mua một món hàng nào đó với sốlượng lớn để được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua nhiều
- Doanh nghiệp có thể tương tác, tìm khách hàng nhanh chóng hơn, tiện lợihơn, với chi phí rất thấp hơn trong thương mại truyền thống
- Những trung gian trên Internet cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích kinh tế(giảm giá, chọn lựa giá tốt nhất ) cho người mua hơn là những trung giantrong thương mại truyền thống
- Cạnh tranh toàn cầu và sự tiện lợi trong việc so sánh giá cả khiến chonhững người bán lẻ phải hưởng chênh lệch giá ít hơn
- Thương mại điện tử tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ởcác nước đang phát triển có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
- Nhà cung cấp hàng hóa trên mạng có thể dùng chương trình giới thiệu tựđộng những mặt hàng khác hay mặt hàng liên quan cho khách hàng củamình, dựa trên những thông tin đã thu thập được về thói quen mua sắm,món hàng đã mua của khách hàng
- Ngành ngân hàng, giáo dục, tư vấn, thiết kế, marketing và những dịch vụtương tự đã, đang và sẽ thay đổi rất nhiều về chất lượng dịch vụ, cách thứcphục vụ khách hàng dựa vào Internet và Thương mại điện tử
- Internet giúp giảm chi phí cho các hoạt động thương mại như thông tinliên lạc, marketing, tài liệu, nhân sự, mặt bằng
- Việc liên lạc giữa đối tác ở các quốc gia khác nhau sẽ dễ dàng, nhanhchóng, kinh tế hơn rất nhiều
- Mô hình cộng tác (affiliate) tương tự việc hưởng hoa hồng khi giới thiệukhách hàng đang bùng nổ Ví dụ Amazon.com có chương trình hoa hồngcho các website nào dẫn được khách hàng đến website Amazon.com vàmua hàng, mức hoa hồng từ 5% đến 15% giá trị đơn hàng
Theo số liệu thống kê, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn thế giớitrong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm 2001 là gần 480 USD, năm 2002
là gần 825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm 2004 là gần 2.400
Trang 6tỉ USD và ước tính trong năm 2005 là gần 4.000 tỉ USD Các số liệu nàycho thấy thương mại điện tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm Có nhiều cấp
độ thực hiện Thương mại điện tử Ở cấp độ cơ bản, doanh nghiệp có thể chỉmới có website trưng bày thông tin, hình ảnh, tìm kiếm khách hàng quamạng, liên hệ với khách hàng qua email mà thôi Cấp độ cao hơn doanhnghiệp đã có thể thực hiện một số giao dịch trên mạng như cho khách hàngđặt hàng thẳng từ trên mạng, quản lý thông tin khách hàng, đơn hàng bằng
cơ sở dữ liệu tự động trên mạng, có thể xử lý thanh toán qua mạng bằng thẻtín dụng v.v Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, thương mại điện tử nênđược xem là một công cụ hỗ trợ thương mại truyền thống Khi tham giathương mại điện tử các doanh nghiệp sẽ có cơ hội được hưởng những lợiích như sau:
- Quảng bá thông tin và tiếp thị cho một thị trường toàn cầu với chi phí cực thấp : chỉ với vài chục đô-la Mỹ mỗi tháng, doanh nghiệp đã có
thể đưa thông tin quảng cáo của mình đến với vài trăm triệu người xem từcác nơi trên thế giới Đây là điều mà chỉ có Thương Mại Điện Tử làmđược Thử so sánh với một quảng cáo trên báo Tuổi Trẻ với vài triệu độcgiả, mỗi lần quảng cáo doanh nghiệp phải trả ít nhất 50 đô-la Mỹ, còn nếu
có một website của mình, doanh nghiệp có thể quảng cáo thông tin 24 giờmỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, và lượng độc giả là hàng trăm triệu người từmọi nơi trên thế giới Chi phí cho website của doanh nghiệp mỗi tháng ướctính (kinh tế nhất), theo mức chi phí tối thiểu là: 5 đô-la Mỹ chi phí lưu trữtrực tuyến (hosting), 10-20 đô-la Mỹ trả cho chi phí quảng cáo (liệt kê địachỉ web của doanh nghiệp trên một dạng danh bạ doanh nghiệp điện tử).Tất nhiên tuỳ thuộc vào tiềm lực tài chính và mục tiêu của mình, doanhnghiệp có thể thuê quảng cáo với chi phí cao hơn để mong quảng cáo tốhơn
Trang 7- Dịch vụ tốt hơn cho khách hàng : với Thương Mại Điện Tử, doanh
nghiệp có thể cung cấp catalogue, brochure, thông tin, bảng báo giá cho đốitượng khách hàng một cách cực kỳ nhanh chóng, có thể tạo điều kiện chokhách hàng mua hàng trực tiếp từ trên mạng v.v… Nói tóm lại, ThươngMại Điện Tử mang lại cho doanh nghệp các công cụ để làm hài lòng kháchhàng, bởi trong thời đại ngày nay, yếu tố thời gian thực sự là vàng bạc,không ai có đủ kiên nhẫn phải chờ đợi thông tin trong vài ngày Hơn nữa,ngày nay chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ là những yếu tố rất quantrọng trong việc tìm và giữ khách hàng
- Tăng doanh thu : với Thương Mại Điện Tử, đối tượng khách hàng của
doanh nghiệp giờ đây đã không còn bị giới hạn về mặt địa lý, hay thời gianlàm việc Doanh nghiệp không chỉ có thể bán hàng cho người dân trongthành phố, mà còn có thể bán hàng ở trên khắp cả nước hoặc các nướckhác Doanh nghiệp không ngồi chờ khách hàng tự tìm đến với mình màphải tích cực và chủ động đi tìm khách hàng cho mình Vì thế, chắc chắnrằng số lượng khách hàng sẽ tăng lên đáng kể dẫn đến tăng doanh thu Đó
là điều mà doanh nghiệp nào cũng mơ ước Tuy nhiên, chất lượng và giá cảsản phẩm hay dịch vụ phải tốt, nếu không, Thương Mại Điện Tử cũngkhông giúp gì được cho doanh nghiệp
- Giảm chi phí hoạt động : với Thương mại điện tử, doanh nghiệp khôngphải tốn kém nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, đông đảo nhân viênphục vụ, cũng không cần phải đầu tư nhiều cho kho chứa Chỉ cần khoảng
10 triệu đồng xây dựng một website bán hàng qua mạng, sau đó chi phí vậnhành website mỗi tháng không quá một triệu đồng Nếu website của doanhnghiệp chỉ là trưng bày thông tin, hình ảnh sản phẩm, thì có thể tiết kiệmđược chi phí in ấn brochure, catalogue và cả chi phí gửi bưu điện những ấnphẩm này Và đặc biệt nếu doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu, doanh nghiệp
Trang 8có thể ngồi ở nhà và tìm kiếm khách hàng qua mạng, không cần phải tốnkém nhiều cho những chuyến “xuất ngoại”.
- Lợi thế cạnh tranh : việc kinh doanh trên mạng là một “sân chơi” cho sự
sáng tạo, nơi đây, doanh nghiệp tha hồ áp dụng những ý tưởng hay nhất,mới nhất về dịch vụ hỗ trợ, chiến lược tiếp thị v.v…Và một khi tất cả cácđối thủ cạnh tranh đều áp dụng Thương Mại Điện Tử, thì phần thắng sẽthuộc về ai sáng tạo hay nhất để tạo ra nét đặc trưng cho doanh nghiệp, sảnphẩm, dịch vụ của mình để có thể thu hút và giữ được khách hàng
Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy sự ra đời và phát triển của thương mạiđiện tử là một xu thế tất yếu, các doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn theokịp sự phát triển chung đó, không thể không bắt tay vào xây dựng kế hoạchhành động, ngay từ những kế hoạch nhỏ nhất nhưng vô cùng quan trọngcho nền tảng phát triển thương mại điện tử của riêng doanh nghiệp, đó làthực hiện một website thật hiệu quả phục vụ cho mục đích kinh doanh mộtcách lâu dài của mình
1.2 Khách hàng trực tuyến và khả năng thu hút khách hàng trực tuyến của website.
Công nghệ thông tin đang ngày càng được xã hội hoá một cách mạnh mẽ
và sâu rộng trên khắp thế giới, kết quả là số lượng người sử dụng internet
đã tăng lên một cách nhanh chóng, hiện nay trên thế giới có khoảng 1,1 tỉngười sử dụng các dịch vụ internet Bên cạnh đó, sự bùng nổ và phát triểncủa công nghệ thông tin đã kéo theo đó là sự thay đổi của nhiều lĩnh vực và
sự phát triển của nhiều ngành nghề mới Một sự phát triển mang tính bướcngoặt trong lĩnh vực kinh doanh, làm thay đổi phương thức kinh doanh củanhân loại từ hàng ngàn thế kỷ qua đó là sự phát triển của thương mại điện
tử Thương mại điện tử theo định nghĩa của UNCITRAL ( Luật mẫu về
Trang 9Thương mại điến tử) là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua cácphương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào củatoàn bộ quá trình giao dịch Sự ra đời của phương thức kinh doanh này đãđáp ứng những nhu cầu tất yếu của cuộc sống hiện đại ở những nước pháttriển, cung cấp một phương tiện, phương thức tiếp cận thông tin một cáchnhanh chóng, tiện lợi mà hiệu quả, tiết kiệm được thời gian và các chi phítrong hoạt động của con người Thương mại điện tử, phát triển phù hợp vớiquy luật khan hiếm các nguồn lực, cùng với những lợi ích thiết thực mà nómang lại, dự báo sẽ còn phát triển rộng rãi với mức độ và quy mô ngàycàng lớn Như vậy, trong tương lai, tiềm năng thu hút khách hàng trựctuyến của các website là rất lớn Riêng ở Việt Nam, tuy mới xuất hiệnnhưng sau 2 năm kết quả hoạt động TMĐT rất khả quan Nhà nước đã rấtchú trọng và khuyến khích đầu tư cho TMĐT, cụ thể là sự ra đời của LuậtGiao dịch điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2006, cácvăn bản như Nghị định số 57/2006NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2006 củaChính phủ về thương mại điện tử, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịchđiện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số…Bên cạnh đó, sựphát triển của công nghệ thông tin ở Việt Nam và cơ sở hạ tầng phục vụcho các hoạt động bưu chính viễn thông đang tưng bước cải thiện và nângcấp Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Chiến lượcphát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020 thì mục tiêu phát triển đến năm 2010 như sau :
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông trong các ngành,lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế Hình thành, xây dựng và phát triểnViệt Nam điện tử với công dân điện tử, Chính phủ điện tử, doanh nghiệpđiện tử, giao dịch và thương mại điện tử để Việt Nam đạt trình độ trungbình khá trong khu vực ASEAN.Công nghiệp công nghệ thông tin và
Trang 10truyền thông trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng
20 - 25%/năm, đạt tổng doanh thu khoảng 6-7 tỷ USD vào nãm 2010.Cơ sở
hạ tầng thông tin và truyền thông phủ trên cả nước, với thông lượng lớn,tốc độ và chất lượng cao, giá rẻ Đến nãm 2010 mật độ điện thoại cả nướcđạt 32 - 42 máy/100 dân; mật độ thuê bao Internet đạt 8 - 12 thuê bao/100dân (trong đó 30% là thuê bao băng rộng), với tỷ lệ sử dụng Internet đạt 25
- 35%; mật độ bình quân máy tính cá nhân đạt trên 10 máy/100 dân.Đàotạo ở các khoa công nghệ thông tin và truyền thông trọng điểm đạt trình độ
và chất lượng tiên tiến trong khu vực ASEAN Đảm bảo đa số cán bộ, côngchức, viên chức, giáo viên tất cả các cấp, bác sĩ, y sĩ, sinh viên đại học vàcao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học dạy nghề và trunghọc phổ thông, 50% học sinh trung học cơ sở và trên 30% dân cư có thể sửdụng các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông và khai thácInternet
Thêm nữa, theo khảo sát mới nhất của Asia Digital Marketing Yearbook,
hiện số người sử dụng Internet tại VN đứng hạng 17 trong 20 quốc gia vàvùng lãnh thổ đứng đầu thế giới (tính đến tháng 5/2007) Theo đó, tỉ lệngười sử dụng Internet vào khoảng 17,5% dân số (trên 14 triệu người) Cóđến 72% số người trong độ tuổi 18-30 sử dụng Internet tại VN thườngxuyên tán gẫu (chat) và 81% số người trong độ tuổi 41-50 thường xuyênđọc tin tức trên Internet Với một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, lực lượnglao động trí thức chiếm tỉ lệ cao, họ là những người năng động, nhanh nhạytrong việc tiếp cận và nắm bắt các xu hướng mới, hiện đại, ta có thể khẳngđịnh tiềm năng về khách hàng trực tuyến ở Việt Nàm rất lớn Vấn đề phụthuộc vào khả năng và các chiến lược của các doanh nghiệp làm sao thu hútđược sự chú ý và dẫn đến hành vi tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp ởcác khách hàng trực tuyến tiềm năng này Mặc dù cùng mang bản chấtkinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận và hoạt động theo nhưng quy luật nhấtđịnh của nền kinh tế thị trường, nhưng thương mại điện tử, có những đặc
Trang 11trưng nhất định của nó Do đó, tuỳ theo cách tiếp cận cũng như khả năng vềnguồn lực khác nhau mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang thựchiện các hoạt động Thương mại điện tử ở các mức độ khác nhau.
2 Hiện trạng các website của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay:
2.1 Mức độ đầu tư của các doanh nghiệp vào website:
Tính đến nay khoảng 500 doanh nghiệp Việt nam có trang web trênInternet, tuy vậy website của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn
sơ sài, đơn điệu, giao diện web thiếu tính hấp dẫn, thông tin thì thiếu tínhcập nhật, một lỗi không được phép mắc phải trong thời đại bùng nổ thôngtin như hiện nay Theo ông Nguyễn Trí Thanh( Viện phát triển doanhnghiệp) phát biểu tại hội thảo “Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT phục
vụ hội nhập và phát triển” tổ chức tại Hà Nội sáng 23/3/2007, dù hạ tầngcông nghệ có thừa nhưng hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ, thậm chíkhông quan tâm đến việc xây dựng các website để tự quảng bá mình trêninternet Ông Thanh cho biết cuộc điều tra nhằm đánh giá thực trạng ứngdụng CNTT ở Việt Nam, tiến hành trên 2.233 doanh nghiệp ở 5 thành phốlớn, cho thấy dù có điều kiện nhưng việc đầu tư của các DN cho CNTT hầunhư khôngcó Một thực tế đáng báo động là dù trong thời buổi kinh tế thịtrường ngày càng cạnh tranh gay gắt, sự phát triển của CNTT gia tăng đếnchóng mặt nhưng việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanhnghiệp tại 5 thành phố được khảo sát gần như bằng con số không, cụ thể97,3% doanh nghiệp cho biết không ứng dụng thương mại điện tử nàotrong hoạt động, 2,7% doanh nghiệp có ứng dụng đều là những doanhnghiệp lớn và có hoạt động trong lĩnh vực CNTT Việc đầu tư, ứng dụngcác phần mềm trong quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành sản xuất cũngkhông được chú trọng, 91,9% doanh nghiệp không quan tâm tới việc thiết
kế, xây dựng website để quảng bá,giới thiệu về chính mình Ngay tại nhữngthành phố lớn như TPHCM cũng chỉ có chưa đầy 30% doanh nghiệp xây
Trang 12dựng website của mình Con số này ở các thành phố lớn khác như: Hà Nội,Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ lần lượt là 31,6%, 222,6%, 11,3% và14,1% Điều đáng ngạc nhiên là có tới 70% doanh nghiệp hầu như không
sử dụng dịch vụ web mặc dù hạ tầng về công nghệ có sẵn Hiện vẫn còn33,9% doanh nghiệp tại 5 thành phố nói trên vẫn sử dụng dial-up để kết nốiinternet Những trường hợp này có nhiều ở các thành phố lớn như ĐàNẵng, Cần Thơ, nơi mà ADSL đã được rất nhiều hộ gia đình sử dụng.Cũng theo ông Thanh hiện có tới 18,5% doanh nghiệp tại Cần Thơ không
sử dụng bất cứ một hình thức kết nối internet nào Con số này tại Đà Nẵng
là 12,5%; TP.HCM 6,8%, Hà Nội 10,4% và tại Hải Phòng là 8,5% “Khôngchỉ không đầu tư để quảng bá cho chính mình, mà các doanh nghiệp cũngkhông tìm hiểu hoặc sử dụng các dịch vụ tư vấn về CNTT để nâng cao hiệuquả làm việc 96,4% doanh nghiệp được hỏi cho biết không hoặc chưa từng
sử dụng các dịch vụ tư vấn”- Ông Thanh cho biết Theo ông Nguyễn VănThảo, Phó tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI) tình trạng ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp hiện nay chưacao và hiệu quả hạn chế là do sự gắn kết giữa các doanh nghiệp sử dụng vàdoanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ chưa tốt Trong thời đại Côngnghệ thông tin (CNTT) phát triển nhanh đến chóng mặt với rất nhiều phầnmềm ứng dụng khác nhau đã mang lại những tiện ích và hiệu quả cao trongmọi lĩnh vực Nếu doanh nghiệp biết ứng dụng tốt các tiện ích của CNTTvào quản lý và sản xuất sẽ đem lại lợi thế không nhỏ trong phát triển vàcạnh tranh Thế nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọngkhai thác thế mạnh của lĩnh vực này Ngày 5/6/2007, với mục đích đánh giátình hình việc ứng dụng CNTT vào hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tàu và hỗ trợ DN ứng dụng CNTT trong tiếntrình hội nhập và phát triển, Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Namphối hợp với Sở Bưu chính - Viễn thông (BCVT) tổ chức hội thảo “Hỗ trợ
DN ứng dụng CNTT phục vụ hội nhập và phát triển” Tại hội thảo, ông
Trang 13Nguyễn Văn Trừ , Giám đốc Sở BCVT đánh giá, việc ứng dụng CNTTtrong sản xuất, kinh doanh của các DN trên địa bàn tỉnh về cơ bản mớidừng lại ở kỹ năng sử dụng tin học văn phòng, quản lý tài chính, nhân sự.Tuy đã có một số doanh nghiệp xây dựng trang thông tin điện tử để quảng
bá hình ảnh và sản phẩm, sử dụng thư điện tử để trao đổi và giao dịch cácthương vụ, truy cập vào mạng Internet để tìm thông tin và thu hút đầu tưnước ngoài, cũng như ứng dụng CNTT vào các khâu quản lý và điều hànhsản xuất, kinh doanh Nhưng con số này rất ít và chủ yếu là những doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước lớn Đa số cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ chưa chú trọng vào việc đầu tư cho CNTT màchủ yếu ứng dụng CNTT hoàn toàn mang tính tự phát Việc phát triển cácứng dụng phục vụ cho thương mại điện tử còn hạn chế và chưa phát huyđược hiệu quả Nhiều DN tự nhận thấy mình mới chỉ đi “bên lề” của cácứng dụng CNTT trong các hoạt động của doanh nghiệp Trên góc độ đầu
tư, nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp nhỏ vẫnchưa xác định được mức độ cần thiết của việc ứng dụng CNTT vào quản
lý, sản xuất và tận dụng nó để nâng cao sức cạnh tranh cho chính mình.Các DN đầu tư cho CNTT còn đặt nặng vào việc quy mô cơ sở vật chất làdoanh nghiệp có bao nhiêu máy vi tính, bao nhiêu thiết bị công nghệ cao trong khi đầu tư nhân lực sử dụng CNTT lại không được chú trọng Mặtkhác, DN chưa xác định được nhu cầu thực tế của mình để đầu tư thiết bị
và con người, gây ra lãng phí Về điều này, ông Nguyễn Long, Phó Tổngthư ký Hội Tin học Việt Nam nhận xét, hầu hết các doanh nghiệp vẫn cònlúng túng về mặt nhân sự Nhân viên CNTT trong doanh nghiệp không cókinh nghiệm về quản lý và thiếu chuyên nghiệp nên đã làm hạn chế sự pháttriển của DN; các website được đầu tư bài bản, công phu từ ban đầu khôngphát huy được hết công dụng mà mới chỉ khai thác ở việc giới thiệu doanhnghiệp và sản phẩm, chỉ có một vài doanh nghiệp bổ sung thêm tính nănggiao dịch, trao đổi thông tin Ông Võ Công Hộ, Phó ban Sửa chữa thiết bị
Trang 14và đường dây (Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông thuộcXNLD Vietsovpetro) chia sẻ, là doanh nghiệp ứng dụng CNTT từ nhữngnăm 1990, XNLD Vietsovpetro đã xây dựng được cơ sở hạ tầng CNTTvững chắc và rộng khắp trong quy mô toàn xí nghiệp Đội ngũ cán bộ IT đủnăng lực sử dụng các thiết bị CNTT được đầu tư phục vụ cho sản xuất,kinh doanh, từ đó ngày càng nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnhtranh Một lời khuyên mà ông Hộ đưa ra cho các doanh nghiệp là nên chútrọng đầu tư CNTT ở chiều sâu, không nên chạy theo số lượng thiết bị vàgiá trị vượt mức cần thiết Như vậy các doanh nghiệp Việt Nam hiện nayđang bỏ lỡ một cơ hội để quảng bá hình ảnh về doanh nghiệp cũng như sảnphẩm của mình hay chính là đang làm giảm đi cơ hội tìm kiếm lợi nhuậncho mình Website của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ dừng ởmức xuất hiện trên mạng, cung cấp một số thông tin cơ bản, giới thiệuchung về doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh, địa chỉ liên hệ; một sốtrang web được đầu tư một cách kỹ càng hơn thì cung cấp thêm một vàichức năng như: công cụ tìm kiếm, bản tin, chức năng đa ngôn ngữ( thường
là tiếng Việt và tiếng Anh), chỉ có một số ít các trang web thực sự đang nỗlực để phát triển và khai thác một cách có hiệu quả các tính năng củawebsite, như trang web của công ty Nguyễn Kim Sài Gòn, công ty máytính Trần Anh, công ty bánh kẹo Bibica Những trang web này, mặc dùchưa thể so sánh với những trang web chuyên nghiệp của nước ngoàinhưng đã không chỉ dừng ở mức độ giới thiệu về công ty và sản phẩm mà
nó đã thực sự khai thác các tính năng của một trang web để phục vụ chohoạt động kinh doanh một cách hiệu quả hơn, các trang web này đã pháttriển lên cấp độ thứ ba của thương mại điện tử, là một mô hình kinh doanhB2C cùng những tiện ích hỗ trợ khách hàng
Trang 152.2 Hiệu quả của các website mang lại cho doanh nghiêp.
Theo số liệu báo cáo tổng kết thương mại điện tử năm 2006 của BộThương mại tiến hành khảo sát chọn mẫu trên 1.300 doanh nghiệp, thì hiệuquả của website đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các câuhỏi về tính năng của website và nhóm sản phẩm, dịch vụ được giới thiệutrên website cho thấy:
Tính năng của website
-Doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng các phương tiện điện tử
- Xu hướng của doanh thu từ hoạt động ứng dụng thương mại điệt tử
- Đánh giá trở ngại của doanh nghiệp trong việc triển khai ứng dụng thươngmại điện tử
- Đánh giá tác dụng của ứng dụng chiến lược thương mại điện tử đối vớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 16Trong đó hai chỉ tiêu được sử dụng chủ yếu là chi phí đầu tư và doanh thuthu được Theo báo cáo tổng kết, tỷ lệ đầu tư cho thương mại điện tử trongtổng chi phí đầu tư như sau:
Đầu tư cho TMĐT
Các tác động
Điểm bình quân
7.Tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ 2,89(Ghi chú: thang điểm từ 0 đến 4, trong đó 4 là mức tác động cao nhất)
So với năm 2005 tác động lớn nhất của triển khai thương mại điện tử tạidoanh nghiệp là tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động Nếu trong năm 2005điểm số cho lĩnh vực này là 1,90 thì năm 2006 đã tăng lên tới 2,78 Lợi íchrất lớn của thương mại điện tử là tạo ra một kênh xúc tiến thương mại hiệuquả cao với chi phí thấp Điều này phản ánh qua việc các doanh nghiệp cho
Trang 17điểm cao nhất(3,3) đối với tác động thu hút khách hàng mới, điểm cao thứ
hai là tác động mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng hiện có
Tuy nhiên, bên cạnh một số hiệu quả đạt được vẫn còn tồn tại nhiều trở
ngại cho việc ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp Sau đây là
bảy trở ngại được xếp theo thứ tự từ cao đến thấp nhất:
quân
1 Nhận thức của người dân và doanh nghiệp về TMĐT còn
2 Hệ thống thanh toán điện tử còn bất cập 3,19
5 Môi trường xã hội và tập quán kinh doanh chưa tương thích 2,45
6 Nguồn nhân lực về CNTT còn thiếu và yếu về kỹ năng 2,45
7 Hạ tầng viễn thông và CNTT chưa đáp ứng nhu cầu 2,22
Với mức độ đầu tư vào website của mình một cách hời hợt, không có kế
hoạch, chiến lược một cách bài bản nên các doanh nghiệp Việt Nam hầu
như chưa tận dụng và khai thác được những lợi ích mà các website có thể
mang lại, chưa biến website thành một “công cụ kiếm tiền” đích thực cho
doanh nghiệp
2.3 Các vấn đề cần khắc phục để nâng cao khả năng thu hút khách
hàng trên các website của doanh nghiệp Việt Nam:
Mặc dù Việt Nam đã chính trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
thương mại thế giới WTO, nền kinh tế đang dần dần mở cửa hoà nhập cùng
sự phát triển của nền kinh tế thế giới, thế nhưng vì những lý do lịch sử và
văn hoá ảnh hưởng và chi phối từ hàng ngàn năm nay, mọi hoạt động của
người dân Việt Nam, đặc biệt trong cách suy nghĩ và cách làm giàu, vẫn
chưa hoàn toàn thoát khỏi cách nghĩ của một nền kinh tế nông nghiệp, đã
Trang 18quá quen với cơ chế quan liêu bao cấp Sau khi khảo sát và nghiên cứuwebsite của một số doanh nghiệp, tôi nhận thấy những vấn đề cần khắcphục để nâng cao hiệu quả website của các doanh nghiệp Việt Nam sauđây:
- Trước tiên phải nói về nhận thức của các doanh nghiệp, những ngườichủ và chính là những người có ý tưởng, đầu tư, xây dựng , quản lý
và duy trì phát triển website Mặc dù sau một thời gian phát triểnthương mại điện tử ở Việt Nam, số lượng các website kinh doanhngày càng gia tăng, tuy vậy đó chỉ là những con số phản ánh mặtlượng Ngoài một số ít các website được xây dựng nhằm tối ưu hoáhiệu quả của hoạt động kinh doanh, thì hầu như các trang web còn lạichỉ được dựng lên chỉ để khách hàng biết rằng doanh nghiệp cũng cówebsite mà thôi, và đôi khi xây dựng website chỉ là theo phong trào,người ta có mình cũng phải có Các chủ doanh nghiệp chưa thực sựnhận thức sâu sắc về những lợi ích mà các website có thể mang lạicho công ty, do đó mức độ đầu tư vào website còn rất hạn chế, tìnhtrạng xây website xong rồi “bỏ quên” rất phổ biết Bên cạnh đó, đốitượng mà các chủ doanh nghiệp hướng tới khi xây dựng websitethường là các công ty và tổ chức, hơn là đối tượng đại chúng Mức
độ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động thương mạiđiện tử của doanh nghiệp còn ở mức độ thấp Kết quả là, tỉ lệ đónggóp vào doanh thu của việc ứng dụng CNTT-TMĐT của doanhnghiệp chưa cao.Cụ thể là, trong số những doanh nghiệp được hỏitrong một cuộc khảo sát, có tới 58,9% cho rằng ứng dụng TMĐTđóng góp dưới 5% vào doanh thu của đơn vị, và hiệu quả ứng dụngCNTT càng thấp hơn trong nhóm những doanh nghiệp vừa và nhỏ,quy mô vốn hạn chế Một nguyên nhân quan trọng khiến cho doanhnghiệp còn ít ứng dụng CNTT là họ chưa có sự am hiểu về CNTTvới một tầm nhìn chiến lược Các doanh nghiệp cần phải hiểu rằng
Trang 19sự thay đổi các phương án sản phẩm là do việc áp dụng CNTT, cáccách tiếp cận thị trường và người tiêu dùng đã thay đổi và các hìnhthức hợp tác cần thiết Để khuyến khích phổ biến và áp dụng bất kỳmột đổi mới nào, điều đòi hỏi trước tiên là phải nâng cao nhận thứccủa doanh nghiệp Thuật ngữ CNTT là một thuật ngữ rộng, do sựphát triển nhanh chóng của công nghệ này những thập kỷ gần đây, đãkhiến cho nhiều định nghĩa về nó trở nên lỗi thời Freeman và Soete(1985) định nghĩa CNTT ở mức khái quát cao: đó là một mô thứckinh tế - công nghệ mới có tác động tới quản lý và kiểm soát các hệthống sản xuất và dịch vụ ở khắp nền kinh tế dựa trên những đổi mới
cơ quan, có liên quan lẫn nhau của máy tính, phần mềm, các hệthống kiểm soát, các mạch tích hợp và viễn thông, giúp giảm đi rấtnhiều phí tổn lưu trữ, xử lý, truyền thông và phổ biến thông tin Đặctrưng của công nghệ này là ở chỗ nó là một công nghệ mang tính phổquát mà có thể được ứng dụng theo nhiều phương thức ở những hoàncảnh đa dạng Có thể ví nó giống như tập hợp các hộp rỗng mà ta cóthể chất đầy bằng bất kỳ cách nào ở đây ta coi CNTT là một đổi mớicông nghệ ở trường hợp nó được nhìn nhận như một công nghệtương đối mới đối với đối với người sử dụng Ngoài ra, có thể nêuthêm một sự khác biệt giữa CNTT và đổi mới công nghệ có liênquan đến sản phẩm là: CNTT là đổi mới công nghệ có liên quan đếnquy trình ở đây chú trọng đến đổi mới quy trình thông qua CNTT,bởi lẽ việc đổi mới quy trình là một điều trọng yếu đối với việcchuyên môn hoá của ngành công nghiệp về lâu dài, do đó phần nào
có tác dụng nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành đó so với cácngành khác Các vấn đề có liên quan đến DN là họ thiếu kiến thức vàthời gian để tiếp thu kiến thức, thiếu kỹ năng quản lý, sợ tăng trưởng
và ưa những triển vọng ngắn hạn, ít hướng ra bên ngoài mà điều đó
có nghĩa là họ không nhận thấy những tín hiệu của môi trường, cho