PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Lao động là phần không thể thiếu và gắn liền với đời sống để ta có thể tồn tại và phát triển trong xã hội này. Ngày nay, trong mối quan hệ lao động giữa con người với nhau đã được xác lập một cách rõ ràng và nhất định. Quan hệ lao động là hệ thống những mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện của họ với nhau và với nhà nước. Những mối quan hệ như vậy bị chi phối bởi lợi ích và xoay quanh các vấn đề phát sinh từ hoạt động thuê mướn lao động. Quan hệ lao động là điều rất cần thiết, mỗi quốc gia mỗi nền kinh tế đều hình thành nên một hệ thống lao quan hệ lao động phù hợp với nền kinh tế đó. Mỗi đất nước khác nhau sẽ xây dựng cho mình một mô hình riêng phù hợp với điều kiện, đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế mặc dù hệ thống quan hệ lao động của các nước đều được xây dựng trên những nguyên tắc chung. Việt Nam, một đất nước đang phát triển và hội nhập với thế giới. Thời gian qua, quan hệ lao động ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, góp phần đảm bảo quyền lợi và lợi ích của người lao động, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,…Nhưng bên cạnh những vấn đề đó cũng còn một số khó khăn và hạn chế. Để tìm hiểu rõ hơn em xin chọn đề tài “ Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc học phần. 2. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu, phân tích và đánh giá mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam. Từ đó đưa ra nhận xét những thuận lợi, khó khăn, và đề ra những giải pháp, khuyến nghị để phát triển hơn mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam. 3. Đối tượng nghiên cứu Mối quan hệ và các chủ thể trong mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm, lý thyết về quan hệ lao động 1.1.1 Khái niệm quan hệ lao động ở Việt Nam Khái nhiệm về quan hệ lao động thực sự được quan tâm. nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Từ đó đến nay, mặc dù có nhiều trường phái nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung chỉ tồn tại hai cách hiểu phổ biến tương ứng với hai hệ tư tưởng kinh tế là: + Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người trong quả trình sản xuất. Cách hiểu này được tiếp cận phổ biến trong những năm giữa thế kỷ XX và là một bộ phận cấu thành của hệ tư tưởng kế hoạch hoá tập trung, phổ biến ở các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Hệ tư tưởng kinh tế này không thừa nhận sự tồn tại của quan hệ mua bản sức lao động, không có quan hệ chủ thợ. Do đó, mọi người bình đẳng và làm việc vì lợi ích chung.
Trang 1MÔ HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Mã lớp: Số báo danh:
Môn: Nguyên lý quan hệ lao động
Giảng viên phụ trách: Châu Hoài Bão
QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
Tiểu luận:
Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày: 29/03/2023
Giám khảo 1 (Ký và ghi rõ họ tên)
Giám khảo 2 (Ký và ghi rõ họ tên)
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG NĂM 2023
01
X
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
Lý do chọn đề tài 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Các khái niệm, lý thyết về quan hệ lao động 4
1.1.1 Khái niệm quan hệ lao động ở Việt Nam 4
1.1.2.1 Quan hệ lao động vừa có bản chất kinh tế vừa có bản chất xã hội 5
1.1.2.2 Quan hệ lao động vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất 6
1.1.2.3 Quan hệ lao động là quan hệ vừa bình đẳng, vừa không bình đẳng 7
1.1.2.4 Quan hệ lao động là quan hệ vừa mang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất tập thể: 7
1.1.3 Phân loại quan hệ lao động 7
1.2 Nội dung của quan hệ lao động 7
1.3 Hình thức biểu hiện của quan hệ lao động 8
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 9
2.1 Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam 9
2.2 Đặc trưng của mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam 9
2.3 Thực trạng mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam 10
2.3.1 Chủ thể trong quan hệ lao động 10
2.3.1.1 Người lao động và tổ chức đại diện của người lao động 10
2.3.1.2 Người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động 13
2.3.1.3 Nhà nước trong quan hệ lao động 13
2.3.2 Giải quyết tranh chấp lao động 14
2.4 Đánh giá thực trạng mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam 14
2.4.1 Thuận lợi 14
2.4.2 Hạn chế 15
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP - KHUYẾN NGHỊ 16
KẾT LUẬN 17
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Lao động là phần không thể thiếu và gắn liền với đời sống để ta có thể tồn tại và phát triển trong xã hội này Ngày nay, trong mối quan hệ lao động giữa con người với nhau đã được xác lập một cách rõ ràng và nhất định Quan hệ lao động là hệ thống những mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện của họ với nhau và với nhà nước Những mối quan hệ như vậy bị chi phối bởi lợi ích và xoay quanh các vấn đề phát sinh từ hoạt động thuê mướn lao động Quan hệ lao động là điều rất cần thiết, mỗi quốc gia mỗi nền kinh tế đều hình thành nên một hệ thống lao quan hệ lao động phù hợp với nền kinh tế đó Mỗi đất nước khác nhau sẽ xây dựng cho mình một mô hình riêng phù hợp với điều kiện, đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế mặc dù hệ thống quan hệ lao động của các nước đều được xây dựng trên những nguyên tắc chung
Việt Nam, một đất nước đang phát triển và hội nhập với thế giới Thời gian qua, quan hệ lao động ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, góp phần đảm bảo quyền lợi và lợi ích của người lao động, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
…Nhưng bên cạnh những vấn đề đó cũng còn một số khó khăn và hạn chế Để tìm hiểu rõ hơn em xin chọn đề tài “ Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc học phần
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, phân tích và đánh giá mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam Từ đó đưa
ra nhận xét những thuận lợi, khó khăn, và đề ra những giải pháp, khuyến nghị để phát triển hơn mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ và các chủ thể trong mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm, lý thyết về quan hệ lao động
1.1.1 Khái niệm quan hệ lao động ở Việt Nam
Khái nhiệm về quan hệ lao động thực sự được quan tâm nghiên cứu từ đầu thế kỷ
XX Từ đó đến nay, mặc dù có nhiều trường phái nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung chỉ tồn tại hai cách hiểu phổ biến tương ứng với hai hệ tư tưởng kinh tế là:
+ Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung:
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người trong quả trình sản xuất Cách hiểu này được tiếp cận phổ biến trong những năm giữa thế kỷ XX và là một bộ phận cấu thành của hệ tư tưởng kế hoạch hoá tập trung, phổ biến ở các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa Hệ tư tưởng kinh tế này không thừa nhận sự tồn tại của quan hệ mua bản sức lao động, không có quan hệ chủ - thợ Do đó, mọi người bình đẳng và làm việc vì lợi ích chung
+ Trong nền kinh tế thị trường:
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra định nghĩa về quan hệ lao động (Indutrial Relations) là: "Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với nhà nước Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật” ( Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên quan -David Macdonal & Caroline Vandenabieele )
PGS,TS Nguyễn Tiếp, Trường Đại học Lao động - Xã hội cho rằng: "Quan hệ lao động là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức đại diện của người lao động với các cá nhân hay tổ chức đại diện của người sử dụng lao động hoặc giữa các
tổ chức đại diện của họ với Nhà nước và các chủ thể khác Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá trình thuê mướn lao động (Giữa người sử dụng lao động và người lao động) nhằm đảm bảo sự hài hoà và ổn định về lợi ích của các bên liên quan” ( Giáo trình quan hệ lao động - Trường Đại học Lao động - Xã hội - 2008 )
Tổng hợp các luồng tư tưởng, các định nghĩa khác nhau về hệ lao động cho thấy chúng có cùng một cách hiểu thống nhất là:
Trang 5Quan hệ lao động là hệ thống những mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện của họ với nhau và với nhà nước Những mối quan hệ như vậy bị chi phối bởi lợi ích và xoay quanh các vấn
đề phát sinh từ hoạt động thuê mướn lao động
Như vậy:
Quan hệ lao động không phải là một mối quan hệ mà là nhiều mối quan hệ phức tạp mang tính hệ thống
- Quan hệ lao động hạt nhân là mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
- Quan hệ lao động có bản chất là quan hệ giữa các nhóm lợi ích: người lao động, người sử dụng lao động; quốc gia và cộng đồng xã hội Quá trình mua bán sức lao động trên thị trường lao động đã tạo tiền đề cho việc hình thành các nhóm lợi ích Các nhóm này gọi là các nhóm chủ thể quan hệ lao động
- Nhà nước là một bên của quan hệ lao động đại diện cho lợi ích của quốc gia và lợi ích của cộng đồng xã hội, giống như công đoàn đại diện cho người lao động hay các hiệp hội đại diện cho giới chủ
- Nội dung của quan hệ lao động là những vấn đề phát sinh từ hoạt động thuê mướn lao động như: tiền lương, thời giờ làm việc, đào tạo, an toàn lao động nhưng xem xét trong khía cạnh lợi ích
1.1.2 Các thuộc tính của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1 Quan hệ lao động vừa có bản chất kinh tế vừa có bản chất xã hội
- Bản chất kinh tế của quan hệ lao động được thể hiện rõ ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, mối quan hệ này bị chi phối bởi lợi ích Trong đó, lợi ích kinh tế (Tiền lương và lợi nhuận) là cốt lõi Quả thực, mọi người lao động đi làm thuê đều nhằm tới mục đích nhận được tiền lương thỏa đáng Ngược lại, mọi chủ doanh nghiệp quyết định thuê mướn lao động đều có động lực cơ bản là lợi nhuận
Hai là, quan hệ lao động thực chất là quan hệ giữa người sở hữu sức lao động (L)
và người sở hữu tư liệu sản xuất (Vốn – K) Đây là hai nhân tố sản xuất chính của xã hội Vì vậy, quan hệ lao động hài hòa, ổn định thì nền kinh tế mới duy trì được tăng trưởng và năng suất lao động xã hội mới cao
Ba là, mối quan hệ này ảnh hưởng đến việc sản xuất ra hầu kết của cải trong xã hội Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Hầu hết của cải trong xã hội được làm ra từ các doanh nghiệp như là một sản phẩm của mối quan hệ tương tác giữa người lao động và người sử dụng lao động
Trang 6- Bản chất xã hội của quan hệ lao động được thể hiện ở những khía cạnh sau: Thứ nhất, quan hệ lao động là mối quan hệ giữa con người với con người nên dù muốn hay không cũng phải thoả mãn những nhu cầu tinh thần của con người
Thứ hai, quan hệ lao động luôn diễn ra trong một không gian nhất định với những điều kiện nhất định Cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải gặp nhau tại nơi làm việc Ở đó, luôn tồn tại mâu thuẫn giữa môi trường sống của con người với điều kiện sản xuất Người lao động cần được bảo vệ và tôn trọng như bất kỳ một thành viên nào khác của xã hội loài người
Thứ ba, quan hệ lao động liên quan đến rất nhiều người trong xã hội và gián tiếp ảnh hưởng đến đời sống của những cá nhân khác trong xã hội người lao động thường
là các thành viên chủ chốt của gia đình Vì vậy, sự ổn định của quan hệ lao động không chỉ mang lại niềm vui cho bản thân mà còn duy trì hạnh phúc của cả gia đình họ
Thứ ba, quan hệ lao động liên quan đến rất nhiều người trong xã hội và gián tiếp ảnh hưởng đến đời sống của những cá nhân khác trong xã hội người lao động thường
là các thành viên chủ chốt của gia đình Vì vậy, sự ổn định của quan hệ lao động không chỉ mang lại niềm vui cho bản thân mà còn duy trì hạnh phúc của cả gia đình họ
1.1.2.2 Quan hệ lao động vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất
Các chủ thể quan hệ lao động vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất với nhau Do đó, mối quan hệ này luôn có hai mặt: vừa mâu thuẫn vừa thống nhất
- Tính mâu thuẫn:
+ Về kinh tế: Người lao động bị chi phối bởi tiền lương (một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất), người sử dụng lao động bị chi phối bởi lợi nhuận Trong ngắn hạn (một chu kỳ sản xuất), nếu chi phi tăng sẽ làm lợi nhuận giảm và ngược lại
+ Về tinh thần: Người lao động và người sử dụng lao động có trình độ nhận thức
và vị thế khác nhau Do đó rất khó có sự tương đồng về lợi ích tinh thần Nhận thức và quan niệm khác biệt là nguồn gốc nảy sinh xung đột và tranh chấp
- Tính thống nhất:
+ Quan hệ lao động là một hệ thống: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước có mối quan hệ biện chứng Nếu thiếu sự hợp tác của bất kỳ một bên nào thì những bên còn lại sẽ không thể đạt được mục tiêu và lợi ích của mình
Trang 7+ Về kinh tế: Trong dài hạn (nhiều chu kỳ sản xuất), nếu tiền lương và các lợi ích của người lao động được đảm bảo sẽ đảm bảo ổn định sản xuất; có nhiều sáng kiến, cải tiến; tăng năng suất lao động Nhờ đó, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng + Về tinh thần: Người lao động và người sử dụng lao động sẽ có hệ tư tưởng chung nếu các bên tăng cường đối thoại xã hội tại nơi làm việc Do đó, các bên cùng thoả mãn các lợi ích tinh thần, xây dựng văn hoá tổ chức mạnh và nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu 1.1.2.3 Quan hệ lao động là quan hệ vừa bình đẳng, vừa không bình đẳng
- Quan hệ lao động bình đẳng vì: Các bên tham gia mối quan hệ nảy hoàn toàn tự nguyện dựa trên cân nhắc về lợi ích Do đó, nếu mỗi bên không hài lòng với mối quan
hệ này có thể và có quyền chủ động từ chối hay cắt đứt quan hệ
- Quan hệ lao động không bình đẳng vì: Tuỳ theo vị thế và quyền lực thực tế của các bên trên thị trường lao động (quan hệ cung cầu) mà mỗi bên có thể có lợi thế hơn trong đàm phán thương lượng Ở các nước đang phát triển, cung lao động lớn hơn cầu lao động, người lao động có trình độ thấp, luật pháp có nhiều lỗ hổng thì người lao động thường yếu thế hơn người sử dụng lao động Ở cấp quốc gia, Nhà nước là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất có quyền áp đặt pháp luật quan hệ lao động nên Nhà nước không bao giờ bình đẳng thực sự với các chủ thể còn lại
1.1.2.4 Quan hệ lao động là quan hệ vừa mang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất tập thể:
-Quan hệ lao động mang tính cá nhân vì bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Quan hệ lao động cá nhân là quan hệ hạt nhân của quan hệ lao động Quan hệ lao động mang tính tập thể vì bị chi phối bởi lợi ích tập thể
-Thị trường lao động càng phát triển thì quan hệ lao động càng có xu hướng dịch chuyển dần từ cá nhân sang tập thể Nguyên nhân là: cạnh tranh càng khốc liệt thì các bên càng có xu hướng liên kết với nhau để hình thành nên những tập đoàn lợi ích lớn
và chặt chẽ nhằm làm tăng sức mạnh trong đàm phán, thương lượng.” ( TS Nguyễn Duy Phúc )
1.1.3 Phân loại quan hệ lao động
- Phân loại các mối quan hệ lao động được căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau Dưới đây là một số tiêu chí và cách phân loại phổ biến nhất:
- Phân loại theo quá trình: có những mối quan hệ lao động trước, trong và sau quá trình mua bán sức lao động
- Phân loại theo lĩnh vực: Quan hệ về tiền lương, quan hệ về đào tạo và phát triển, quanhệ về khen thưởng lỷ luật…
Trang 8- Phân loại theo cấp quan hệ: quan hệ lao động cấp doanh nghiệp, quan hệ lao động cấp nhóm doanh nghiệp, quan hệ lao động cấp địa phương, quan hệ lao động cấp quốc gia, quan hệ lao động cấp quốc tế ( TS Nguyễn Duy Phúc )
1.2 Nội dung của quan hệ lao động
Quan hệ lao động xoay quanh các vấn đề cùng quan tâm, tuỳ theo cách tiếp cận mà các vấn đề đó mang nội dung khác nhau:
- Tiếp cận theo lĩnh vực: quan hệ lao động xoay quanh các nội dung: tuyển dụng, đào tạo, tiền lương, thời gian làm việc, kỷ luật lao động…
- Phân loại theo chuẩn mực pháp lý: quan hệ lao động xoay quanh những vấn đề về quyền và lợi ích
Nội dung của quan hệ lao động là những vấn đề các bên cùng quan tâm Do đó, quyền được hiểu là những lợi ích được quy định trong các tiêu chuẩn lao động đã có (pháp luật, thỏa ước, hợp đồng lao động, nội quy lao động…) Lợi ích là những nội dung chưa được đề cập trong tiêu chuẩn lao động hoặc những nội dung cần thay đổi trong các tiêu chuẩn lao động do các bên đã thỏa thuận (TS Nguyễn Duy Phúc)
1.3 Hình thức biểu hiện của quan hệ lao động
- Hình thức đại diện: Bao gồm: Hình thức của các thiết chế đại diện cho người lao động và hình thức của các thiết chế đại điện cho người sử dụng lao động ở các cấp, hình thức của các thiết chế đại diện cho nhà nước
- Hình thức đối thoại: Đó là cách thức tổ chức của các kênh đối thoại giữa các chủ thể
Các kênh đối thoại này có thể diễn ra ở các cấp độ dân chủ khác nhau như: Chia sẻ thông tin lẫn nhau, tham vấn và thương lượng
- Hình thức tiêu chuẩn lao động: Tiêu chuẩn lao động cũng là một biểu hiện của quan hệ lao động Các tiêu chuẩn lao động tại nơi là việc gồm: Pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động, nội quy lao động, biên bản ghi nhớ, cam kết của lãnh đạo hay có thể là các bộ quy tắc ứng xử (COC)
- Hình thức xung đột và giải quyết xung đột: Tại mỗi nơi làm việc luôn tồn tại các xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động Quan sát biểu hiện của các xung đột này có thể giúp đánh giá được tình trạng quan hệ lao động của doanh nghiệp Xung đột có thể biểu hiện và phát triẻn đến các cấp độ xử lý khác nhau như: Mâu thuẫn, khiếu nại, tranh chấp, hoà giải, trọng tài, xét xử, đình công, đình xưởng ( TS Nguyễn Duy Phúc )
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 2.1 Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam
Một xã hội hiện đại, có nền công nghệ tiên tiến và một nền kinh tế phát triển đều
có được cho mình một mô hình quan hệ lao động phù hợp Việt Nam hiện đang áp dụng mô hình quan hệ lao động chỉ có một tổ chức công đoàn trong một doanh nghiệp Công đoàn Việt Nam là tổ chức duy nhất của người lao động, có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, được vận hành trong một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến cơ sở theo Luật Công đoàn, trong đó công đoàn
cơ sở được thành lập và hoạt động trong phạm vi một doanh nghiệp Theo quy định của pháp luật, công đoàn vừa đối tác, vừa là yếu tố tích cực tác động đến phát triển của doanh nghiệp
2.2 Đặc trưng của mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển trên cơ sở của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp mà ở đó trong một thời kỳ dài các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ lao động được điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh - phục tùng, do vậy các vấn đề việc làm, tiền lương, phúc lợi,… đều được Nhà nước bao cấp toàn bộ Nên nhiều người đã từng sống và làm việc trong thời kỳ ấy không lạ lẫm gì với quan niệm coi lao động là một giá trị xã hội và tinh thần cao nhất, phi thị trường, thoát ra ngoài sự trao đổi về vật chất Từ khi đất nước chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, lao động cũng không thể nằm bên ngoài các quan hệ thị trường Hơn nữa, mô hình kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tất cả những điều đó tạo ra những nét đặc trưng của quan hệ lao động ở Việt Nam
Với khái niệm này thì có thể thấy, quan hệ lao động ở nước ta có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, chủ thể của quan hệ lao động là người lao động và người sử dụng lao động Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ
- Thứ hai, trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động
Trang 10+ Về mặt pháp lý, người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động của người lao động và người lao động phải tuân thủ Bởi người sử dụng lao động
là người có quyền sở hữu tài sản mà các yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu Bên cạnh đó, người sử dụng lao động còn bỏ tiền
ra để mua sức lao động của người lao động, muốn cho việc sử dụng sức lao động đó đạt hiệu quả đòi hỏi người sử dụng lao động phải quản lý nó một cách khoa học và phù hợp
+ Về mặt lợi ích kinh tế, giữa người sử dụng lao động và người lao động vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau Ở khía cạnh nhất định, người sử dụng lao động luôn muốn giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó có vấn đề tiền lương của người lao động để tăng lợi nhuận Tuy nhiên, tiền lương và thu nhập trong quan hệ lao động lại là nguồn sống chủ yếu của người lao động
Như vậy có thể thấy, sự phụ thuộc của người lao động là đặc điểm quan trọng để phân biệt quan hệ lao động với các quan hệ tương đồng và là căn cứ để xác định đối tượng điều chỉnh của luật lao động
- Thứ ba, quan hệ lao động chứa đồng bộ các yếu tố kinh tế và xã hội
Biểu hiện của đặc điểm này đó là quan hệ lao động không chỉ liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm đời sống của người lao động, giảm thiểu các tình trạng tệ nạn xã hội…mà còn liên quan đến nguồn nhân lực, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.3 Thực trạng mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam
2.3.1 Chủ thể trong quan hệ lao động
2.3.1.1 Người lao động và tổ chức đại diện của người lao động
* Người lao động:
Người lao động là người tham gia vào một hợp đồng lao động và theo đó họ phải thực hiện một số công việc nhất định trong một điều kiện nhất định, được cung cấp các công cụ lao động cần thiết và nhận được một khoản thù lao theo thỏa thuận từ phía người thuê lao động
Cá nhân người lao động có một số đặc trưng:
- Là người bán sức lao động một cách tự nguyện dựa trên thỏa thuận giữa họ với người mua sức lao động
- Không có tư liệu sản xuất mà sử dụng tư liệu sản xuất của chủ doanh nghiệp ( nếu sử dụng tư liệu sản xuất của mình thì họ không phải là người bán sức lao động
mà là bán dịch vụ hay hàng hóa )