Luận án sử dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử, khái quát hoá, hệ thống hoá, so sánh, trừu tượng hoá để làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài; đồng thời sử dụngkhái quát ho
Trang 1ĐẶNG CÔNG THÀNH
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: HỒ CHÍ MINH HỌC
HÀ NỘI - 2023
Trang 2ĐẶNG CÔNG THÀNH
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu đã nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ
Đặng Công Thành
Trang 41.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 71.2 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những vấn đề đặt ra luận án
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 312.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 312.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội 38
Chương 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP
DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở
3.1 Thực trạng vận dụng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong công
3.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 107
Chương 4: NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
4.1 Nhân tố tác động đến việc thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
4.2 Phương hướng và giải pháp cơ bản thực hiện độc lập dân tộc và chủ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 5Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin (CNMLN) về mối quan hệgiữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH), được
sự soi sáng, cổ vũ của thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga và xuất phát từ điềukiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có quan điểm sáng tạo, độc đáo về kếthợp nhuần nhuyễn giữa giữa vấn đề dân tộc với giai cấp, ĐLDT với tự do, ấm no,hạnh phúc của nhân dân Nhờ đó, đã tập hợp được lực lượng, tạo sức mạnh to lớn đểgiải phóng dân tộc (GPDT) và đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào giải quyết cóhiệu quả mục tiêu ĐLDT và CNXH ở một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến.Đây chính là sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh trong vận dụng lý luận của CNMLN vềvấn đề dân tộc và giai cấp, ĐLDT và CNXH trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.Người khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cảnhững điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [155, tr.65] Mục đích caođẹp này là tất cả ý nghĩa của cuộc sống, là khát vọng thiêng liêng của người thanhniên Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài đi tìm đường cứu nước, giành lại độc lậpcho dân tộc và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp mang lại hạnh phúc, ấm no cho nhândân Muốn vậy, theo Người, ở Việt Nam phải tiến hành cách mạng GPDT và cáchmạng ruộng đất để tiến tới xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn
Trong quá trình hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minhchỉ rõ: ĐLDT và CNXH là khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam, là mục tiêu, lý tưởngcủa Đảng và của Người - điều này là hợp quy luật, thuận lòng dân, ý Đảng Tuy nhiên,ĐLDT và CNXH không tự nhiên mà có được mà phải chiến đấu, xây dựng và bảo vệvới sức mạnh tổng hợp to lớn, do Đảng ta lãnh đạo Đích đến cao nhất là làm sao đấtnước Việt Nam được độc lập hoàn toàn, người dân được ăn no, mặc ấm, sung sướng và
tự do Để thực hiện được đích đó, theo Hồ Chí Minh “Chúng ta phải xây dựng một xãhội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc…Chúng ta phải biến mộtnước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”[116, tr.92] Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐLDT và CNXH là hai mục tiêu lớngắn quyện vào nhau và đó cũng chính là vấn đề dân tộc và giai cấp gắn quyện vào nhautheo bản chất và lập trường của giai cấp công nhân
Trang 7Thực tiễn chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã kết hợp giảiquyết đúng đắn giữa hai mục tiêu ĐLDT và CNXH, góp phần to lớn đưa cách mạngViệt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Điều này tỏ rõ tư tưởng Hồ ChíMinh về ĐLDT và CNXH vừa có tầm vóc và giá trị to lớn đối với đất nước, vừa là
cơ sở trực tiếp để Đảng ta đề ra chủ trương, giải pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng
và phát triển đất nước Việt Nam phú cường, hạnh phúc suốt hơn chín thập kỷ qua
Sau 25 năm đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênCNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng củanhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh,phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử Từ thực tiễn phong phú của cách mạng,trực tiếp là mấy chục năm thực hiện công cuộc đổi mới, Cương lĩnh rút ra bài họchàng đầu là: Nắm vững ngọn cờ ĐLDT và CNXH - ngọn cờ vinh quang mà Người
đã trao cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau
Hiện nay, bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới và khu vực có nhữngbiến đổi dữ dội, nhanh chóng và đầy kịch tích, làm nảy sinh nhiều suy nghĩ của con người
về tương lai của mình cũng như hướng đi của lịch sử nhân loại và con đường phát triển củamỗi quốc gia - dân tộc Những biến đổi đó đã làm cho ĐLDT và CNXH vốn đã phức tạp lạicàng trở nên phức tạp hơn, rất nhiều vấn đề mới xuất hiện đòi hỏi phải được vận dụng vàgiải quyết một cách thấu đáo Nếu chúng ta không có phương cách phù hợp, thì khó có thểkết hợp giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn đang đặt ra Vì vậy, việc tìm hiểu,nghiên cứu, khai thác và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH luônluôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh mới
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Nhìn tổng thể, qua gần
40 năm đổi mới, “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa” [41, tr.25], đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN Quy mô, trình độ phát triển của nền kinh tế được nâng lên Đời sống cả về vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế được nâng cao Những thành tựu đó đã khẳng định con đường đi lên CNXH của Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn phát triển Việt Nam và xu thế của
Trang 8thời đại; thực tế đó chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam
là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện ĐLDT vàCNXH còn bộc lộ những hạn chế nhất định: “Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một
bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộcđổi mới Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quảhoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ… Niềm tin của cán bộ,đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút” [39, tr.67-68] Điềunày, đòi hỏi sự nghiệp đổi mới vì dân cường, nước thịnh phải tiếp tục nhận thức sâusắc và cần tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước phát triển nhanh và bềnvững theo định hướng XHCN nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết của thực tiễnđang đặt ra để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc đúng như mong muốn củaChủ tịch Hồ Chí Minh Điều này đã thôi thúc chúng ta tiếp tục nghiên cứu và vậndụng sáng tạo tư tưởng của Người về ĐLDT và CNXH với những giá trị cao đẹp đãđược kiểm chứng và khẳng định trong thực tiễn cách mạng Việt Nam (CMVN), đểtìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết những vấn đề hiện tại, trước mộtbối cảnh mới nhưng đầy biến động, thuận lợi luôn song hành với khó khăn và tháchthức, lợi ích đi liền với ràng buộc
Từ những vấn đề trên cho thấy, việc nghiên cứu có hệ thống và làm sâu sắcthêm tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH, vừa góp phần làm phong phú tưtưởng, vừa làm nổi bật tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn nữa, nghiêncứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH để vận dụng vào thực tiễn đang đặt
ra của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và con đường phát triển của các quốc gia - dântộc trên thế giới trong bối cảnh hiện nay, là vấn đề thời sự có giá trị và ý nghĩa cấpthiết, đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyết thấu đáo trên nền tảng CNMLN và
tư tưởng Hồ Chí Minh Với những lý do chủ yếu trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề:
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2 1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá, luận giải và làm sâu sắc thêm những nội dung chủ yếu trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH và sự vận dụng tư tưởng này ở Việt Nam hiện nay
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài luận án
- Chỉ ra, hệ thống hoá, phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ ChíMinh về ĐLDT và CNXH
- Đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới đất nước; chỉ rõ những vấn đề đặt ra hiện nay khi vận dụng tư tưởng này của Người.
- Phân tích các nhân tố tác động, đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản thực hiện ĐLDT và CNXH ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH và sự vận dụng tư tưởng này ở Việt Nam.
3 2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ
Chí Minh về ĐLDT và CNXH và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về tưtưởng này trong quá trình cách mạng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới
Tuy nhiên, trong luận án tác giả chỉ tập trung làm rõ hệ thống quan điểm của
Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH và việc giải quyết mối quan hệ này được thể hiệntrong các tác phẩm của Người cùng với thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của
Hồ Chí Minh ở Việt Nam Trên cơ sở đó hệ thống hoá, làm sâu sắc thêm nội dung tưtưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH; đồng thời làm rõ sự vận dụng của ĐảngCộng sản Việt Nam về tư tưởng này của Người trong công cuộc đổi mới
- Về thời gian: Toàn bộ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh và hơn 90 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tập trungvào gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước
- Về không gian: Những nơi mà Hồ Chí Minh tham gia hoạt động cách mạng,
tập trung chủ yếu ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của phép biện chứng duy vật
và duy vật lịch sử của CNMLN, đặc biệt là mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn
Trang 10đề giai cấp, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và giai cấp, ĐLDT
và CNXH và việc giải quyết mối quan hệ này qua các thời kỳ cách mạng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của CNMLN, luận án sử dụng tổng hợp phương pháp liên ngành và chuyên ngành Hồ Chí Minh học để thực hiện đề tài Trong đó, tập trung chủ yếu là phương pháp logic kết hợp với lịch sử, khái quát hoá, hệ thống hoá; so sánh, phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, phương pháp chuyên gia Tuy nhiên, tuỳ từng nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của từng chương mà luận án ưu tiên các mức độ khác nhau khi sử dụng các phương pháp.
Luận án sử dụng phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu và đánh giá số liệu cóliên quan của các tài liệu, công trình được công bố của các học giả ở trong và ngoàinước; dùng phương pháp logic kết hợp với lịch sử để đánh giá tổng quan tình hìnhliên quan đến đề tài luận án
Luận án sử dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử, khái quát hoá, hệ thống hoá,
so sánh, trừu tượng hoá để làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài; đồng thời sử dụngkhái quát hoá, hệ thống hoá - cấu trúc, so sánh, phân tích văn bản và nghiên cứu giá trị đểluận giải, nhận định làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH.Luận án sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn, so sánh,thống kê để nhận định, đánh giá khách quan thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới và chỉ rõ những vấn đề đặt ra hiện nay
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp như: tổng kết thực tiễn, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, so sánh, phương pháp chuyên gia để luận giải các nhân tố tác động, đề ra phương hướng, giải pháp thực hiện ĐLDT và CNXH dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay.
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đưa ra và phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT vàCNXH; khái niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH; khái quát vàtrình bày một cách có hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH đốivới CMVN; chỉ rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việchoạch định chủ trương, đường lối, chính sách về giải quyết mối quan hệ này qua các thời
kỳ cách mạng
- Luận án đánh giá thực trạng vận dụng ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổimới đất nước dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh; chỉ rõ những vấn đề đặt ra hiệnnay khi vận dụng tư tưởng này của Người
Trang 11- Luận án phân tích nhân tố tác động, đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản để thực hiện ĐLDT và CNXH ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận
án 6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần khái quát hoá, hệ thống hoá lý luận và luận giải quan điểm
về ĐLDT và CNXH dưới góc độ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chính sách vận dụng ĐLDT và CNXH trong tình hình mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Thông qua đó, luận án góp phần bổ sung vào kho tàng tri thức ngành Hồ Chí Minh học, đồng thời khẳng định công lao to lớn và tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đạt được của luận án cung cấp những luận cứ khoa học cho việc kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH ở Việt Nam, góp phần đấu tranh, phê phán những quan điểm, nhận thức sai trái và những luận điệu phủ nhận, xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về Hồ Chí Minh và CMVN, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Kết quả luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học,vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH trongđiều kiện mới Qua đó hiện thực hoá di sản của Người vào cuộc sống nhằm xây dựng
và phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc
Luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở các học viện, nhà trường trong cả nước
7 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu: Mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong mấy chục năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh,
đề cập đến hầu hết các lĩnh vực, một trong những vấn đề mà các công trình đề cập dùtrực tiếp hoặc gián tiếp đều khẳng định, việc nhận thức và vận dụng, phát triển sángtạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH là cơ sở để Đảng ta xác lập đượcđường lối cách mạng đúng đắn, đưa CMVN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Trong số các công trình đó, với các góc độ tiếp cận khác nhau, có khá nhiều côngtrình đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH:
Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh - Tinh hoa và khí phách của dân tộc [44] Tác
giả chỉ rõ, Hồ Chí Minh là con người của lịch sử, sự nghiệp và cuộc đời của Ngườikết tinh quá khứ với bao thành quả của Việt Nam và loài người, giúp giải đáp cácvấn đề của hiện tại, định hướng cho tương lai của Việt Nam và góp phần vào sựnghiệp cách mạng của loài người Ở đây, tác giả muốn nhấn mạnh sự nghiệp Hồ ChíMinh, người anh hùng của ĐLDT, người đặt nền móng cho CNXH ở Việt Nam; chủyếu là sự nghiệp lãnh đạo cả dân tộc chiến đấu vì độc lập, tự do cho đến thắng lợihoàn toàn Thực tiễn CMVN đã chứng minh, Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Namđến gặp thời đại, làm nên sự nghiệp ĐLDT gắn với CNXH - sự thể hiện đúng đắn tưduy và phong cách của Hồ Chí Minh khi vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLNgắn với thực tiễn Việt Nam, đề xướng đường lối ĐLDT gắn với CNXH, sau nàyđược đúc kết trong khẩu hiệu nổi tiếng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” Thôngqua cuốn sách, tác giả đi đến khẳng định, những cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minhvới tư cách là một lãnh tụ của đất nước đã giải quyết thành công những vấn đề lớncủa sự nghiệp ĐLDT và CNXH ở Việt Nam Đồng thời nhấn mạnh, ĐLDT vàCNXH chính là xu thế tất yếu của CMVN và cũng là xu thế đã và đang diễn ra dướinhiều hình thức khác nhau của nhiều nước trên thế giới
Trần Văn Giàu, Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh [50] Tác giả khẳng định, khi Hồ Chí Minh đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về
Trang 13vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã
chuyển biến nhiều về phía cách mạng, và dần dần từng bước Người đi đến kết luận:cách mạng GPDT muốn thành công phải đi theo con đường cách mạng vô sản Đồngthời tác giả cho rẳng, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành về cơ bản trong giaiđoạn lịch sử 1920 - 1930, và sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệpcách mạng nước ta là Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930
Với Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị, trong đó có
quan điểm “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng tiến tới xã hộicộng sản”, nghĩa là Người xác định con đường CMVN chỉ có thể là ĐLDT gắn liềnvới CNXH Thực hiện theo con đường ĐLDT gắn liền với CNXH, CMVN đã đi từthành công này tới thành công khác
Nguyễn Đức Bình, Giương cao ngọn cờ cách mạng và sáng tạo của tư tưởng
Hồ Chí Minh [9] Tác giả khẳng định, Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu sáng ngời
và trọn vẹn nhất cho sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, ĐLDT
với CNXH Đồng thời, tác giả nhấn mạnh CMVN qua các thời kỳ, giương cao ngọn
cờ tư tưởng Hồ Chí Minh là giương cao ngọn cờ cách mạng và sáng tạo củaCNMLN, thực hiện thành công lý tưởng ĐLDT và CNXH trên Tổ quốc Việt Namthân yêu và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới
Nguyễn Đức Bình, Chủ thuyết cách mạng và phát triển Việt Nam [8] Trong bài
viết ĐLDT và CNXH - mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc ở Việt Nam từ trang 43đến trang 59 của cuốn sách, tác giả đã khẳng định, hai vấn đề này trong tư tưởng HồChí Minh có quan hệ lôgíc hữu cơ, bên trong Nói về dân tộc và giai cấp là để đi đếnkết luận ĐLDT và CNXH; còn ĐLDT và CNXH là kết quả tự nhiên từ lôgíc củaquan hệ dân tộc và giai cấp Tác giả đã phân tích, chứng minh rõ, ngọn cờ ĐLDT vàCNXH là bài học lớn góp phần làm nên thắng lợi xuyên suốt của CMVN, do đótrong mọi điều kiện và hoàn cảnh thì toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần tiếp tụcnắm vững và giương cao ngọn cờ vinh quang ĐLDT và CNXH mà Hồ Chí Minh đểxây dựng đất nước dân cường, nước thịnh
Hoàng Chí Bảo, Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh [5] Trong công trình
nghiên cứu, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề thuộc về phương pháp cách mạng HồChí Minh, trong đó khẳng định, ĐLDT và CNXH là tư tưởng chủ đạo trong triết lý
Trang 14Hồ Chí Minh; phương pháp mà Người và Đảng ta vận dụng để đem đến thắng lợi tolớn cho cách mạng Việt Nam là thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn giải quyết tốt mốiquan hệ giữa ĐLDT và CNXH.
E.Côbêlép, Đồng chí Hồ Chí Minh [47] Tác giả đã đưa ra những hiểu biết về
cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, gắn với một thời kỳ lịch sử huy hoàng của dântộc và những biến cố lớn lao của thời đại, giúp người đọc khẳng định tư tưởng củaNgười về con đường CMVN từ khi Người tiếp thu CNMLN, tìm ra con đường giànhđộc lập của dân tộc cho đến khi Người qua đời Tác giả chỉ rõ, Hồ Chí Minh là conngười mang trong mình tư tưởng của một lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại củaCMVN, Người vẫn sống mãi trong tâm trí của người cộng sản và nhân loại tiến bộtrên thế giới với tư cách là nhà hoạt động lỗi lạc trong phong trào cộng sản và phongtrào công nhân quốc tế, nhà mácxít - lêninnít kiên định
William J Duiker, Hồ Chí Minh - Một cuộc đời [191] Dưới góc độ tiếp cận sử
học gắn liền với điều kiện lịch sử cụ thể, tác giả đã phần nào phác họa được chân dung
Hồ Chí Minh với tư cách một nhà CMVN đã rất khéo léo trong giải quyết các mối quan
hệ chính trị phức tạp của thời cuộc không chỉ để giành ĐLDT, mang lại tự do, dân chủ,
ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam mà còn cho cả nhân loại tiến bộ
Võ Nguyên Giáp (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam [49] Tập thể tác giả đã luận giải một cách có hệ thống những luận điểm
sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh về phương pháp, đường lối chiến lược và sách lượccách mạng; về tổ chức lực lượng; về tư tưởng quân sự, nhân văn, đạo đức, văn hoá
và phương pháp luận Hồ Chí Minh Thông qua đó, các tác giả khẳng định rõ nhữngcống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đối vớiCMVN và tính cấp thiết của ĐLDT và CNXH ở Việt Nam Đồng thời, các tác giảtrình bày một cách tổng quát nội dung và giá trị lớn tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT
và CNXH mang tính gợi mở để người đọc tiếp tục nghiên cứu
Nguyễn Thị Thanh Dung, Tư duy chính trị Hồ Chí Minh [16] Tác giả đã nghiên cứu
có hệ thống về sự nghiệp chính trị, những năng lực và tố chất của lãnh tụ chính trị Hồ ChíMinh; không chỉ giúp chúng ta có thể giải mã được cội nguồn những sáng tạo đặc sắc trongsuy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo CMVN, mà còn
Trang 15cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho sự nghiệp đổi mới đất nước vì mụctiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” hiện nay.
Nguyễn Bá Linh, Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh [101] Tác giả đã lập luận khoa học, Hồ Chí
Minh là vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, đã cốnghiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giành ĐLDT, tự do hạnh phúc cho nhândân; cho hoà bình, dân chủ và công bằng xã hội và tình hữu nghị giữa các dân tộc.Đồng thời, tác giả cũng khằng định rõ, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐLDTgắn liền với CNXH là nội dung cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp củaNgười Tác giả không chỉ luận giải rõ ĐLDT gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt mà còn khẳng định, đó chính là sức mạnh vô tận của CMVN, bởi ĐLDT vàCNXH có sức mạnh to lớn và sức mạnh đó sẽ được tăng lên do sự tác động biệnchứng giữa hai yếu tố dân tộc và thời đại Xét ĐLDT hoặc CNXH một cách riêng rẽthì không những không thấy đầy đủ sức mạnh của mỗi yếu tố, mà còn có nguy cơphạm sai lầm tả hoặc hữu khuynh Do đó, việc kết hợp đúng đắn ĐLDT và CNXH làvấn đề có ý nghĩa lớn về cả lý luận và thực tiễn
Mạnh Hà và Quang Chuyên, Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Quan điểm nhất quán của Đảng ta [54] Hai tác giả đã chứng minh ĐLDT gắn liền
-với CNXH là con đường duy nhất đúng mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đãlựa chọn Đây là con đường dẫn dắt CMVN đến thành công, từ cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân tới cách mạng XHCN; sự kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền vớiCNXH tiếp tục được Đảng ta thấu suốt và thực hiện sáng tạo trong điều kiện đấtnước thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên CNXH đạt được những thành tựu to lớn;
từ đó rút ra trong điều kiện hiện nay, thấu suốt nội hàm ĐLDT và CNXH trong điềukiện mới, làm cơ sở để xác định nội dung và những bước đi phù hợp bảo đảm conđường đi lên CNXH của dân tộc ta không bị lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào
Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay [58] Trong phần 1 của Kỷ yếu - Di sản Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH có 33 bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài
viết đều khẳng định ĐLDT và CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ ChíMinh Việc hình thành tư tưởng này để định hướng, thành quan điểm và đường lối
Trang 16chính trị đối với Hồ Chí Minh là một quá trình Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũngcho rằng, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là conđường XHCN, gắn ĐLDT và CNXH bằng cách quá độ đi lên CNXH, bỏ qua chế độTBCN Những luận giải hàm súc, cô đọng của Hồ Chí Minh cho thấy ĐLDT là tiền
đề, là điều kiện của CNXH, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc của CNXH.Mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH là mối quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắcquan điểm thực tiễn, phát triển và đổi mới của Hồ Chí Minh
Vũ Đình Hòe, Bùi Đình Phong (Đồng chủ biên), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [69] Tập thể tác giả đã phân tích nêu bật được phẩm chất và vai trò của Hồ Chí Minh trong tổ chức, lãnh đạo sự
nghiệp GPDT và sự nghiệp đấu tranh giành tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam;phân tích rõ hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về CNXH và vai trò của Ngườitrong lãnh đạo và tổ chức sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam; từ đó các tác giảđưa ra một số giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH Nội dung côngtrình gợi mở nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
Hellmut Kapfenberger, Hồ Chí Minh biên niên sử [81] Tác giả không chỉ làm
rõ tầm vóc, giá trị to lớn và đóng góp vĩ đại của Người ở phạm vi quốc gia mà còntrên bình diện quốc tế Tác giả khẳng định: cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh khôngchỉ soi sáng cho sự nghiệp CMVN mà còn là nguồn cổ vũ, động viên, thôi thúc chonhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên GPDT, giải phóng giai cấp, giải phóng xãhội và giải phóng con người trên thế giới
Trần Hữu Tiến, Vấn đề độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh [158] Theo
tác giả, Hồ Chí Minh coi GPDT là mục tiêu, mục đích của cách mạng, đồng thời là conđường giải phóng xã hội, giải phóng con người Tác giả phân tích, sự gặp gỡ giữa chủnghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh với CNMLN là sự gặp gỡ tự nhiên, tất yếu, hợp với xuthế của thời đại GPDT, giành ĐLDT và đi lên CNXH; khẳng định quan hệ dân tộc vàgiai cấp, ĐLDT và CNXH là vấn đề cơ bản, cốt yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợichỉ đỏ xuyên suốt quá trình CMVN Đó cũng là vấn đề cơ bản của thời đại ngày nay
Lại Quốc Khánh, Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội [86].
Tác giả bằng lăng kính tư duy biện chứng, đã khẳng định rõ tính tất yếu khách quan củaĐLDT và CNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc hoạ rõ nét con đường GPDT, giành
Trang 17ĐLDT ở Việt Nam tất yếu phải theo con đường cách mạng vô sản Nội dung công trình
có gợi mở cho người đọc tiếp tục nghiên cứu tầm vóc và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minhtrong giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH qua các thời kỳ cách mạng
Jean Lacouture, Hồ Chí Minh [82] Cuốn sách Hồ Chí Minh được xuất bản
ngay từ khi Người còn sống, kết cấu 15 chương, với 270 trang, đã khái quát khá đầy
đủ về cuộc đời của nhà cách mạng Hồ Chí Minh, đặc biệt đã khắc họa chân dung củamột lãnh tụ mà tác giả đánh giá là một trong những nhà Quốc tế Cộng sản lỗi lạcnhất, có công lao to lớn đối với sự nghiệp GPDT Việt Nam và các nước yếu thế
Phan Ngọc Liên, Trịnh Vương Hồng (Đồng chủ biên), Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế [97] Các tác giả bằng lý luận và thực tiễn phong phú, đã làm nổi
bật vai trò, công lao của Hồ Chí Minh như một người lãnh đạo phong trào GPDT vàphong trào cộng sản quốc tế Nội dung cuốn sách tập trung làm nổi bật công lao củaNgười với tư cách một chiến sĩ cách mạng quốc tế, thông qua việc giải quyết các mốiquan hệ phức tạp của thời cuộc, qua đó có đề cập tới sự linh hoạt, sáng tạo của HồChí Minh trong giải quyết các mối quan hệ giữa CMVN và cách mạng thế giới choviệc thực hiện mục tiêu cao cả là GPDT, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội vàgiải phóng con người ở Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ
Đinh Xuân Lý (Chủ biên), Tìm hiểu vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam [103] Các tác giả với những góc độ tiếp cận khác nhau, đã làm
rõ vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với CMVN trên hầu hết các phươngdiện và các lĩnh vực xã hội Đề cập đến công lao của Hồ Chí Minh với tư cách làlãnh tụ của CMVN, trong đó ở một mức độ nhất định, các tác giả đã chứng minh,phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh trong thực hiện mục tiêu ĐLDT vàCNXH ở Việt Nam với tư cách là người lãnh đạo cao nhất
Trần Nhâm, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng thiên tài [132] Tác giả đã phân tích sự
cống hiến của Hồ Chí Minh trong giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với ấm
no hạnh phúc trên cả phương diện dân tộc và quốc tế Mặc dù, tác giả tiếp cận vấn đề
từ góc độ phân tích tư tưởng, nhưng công trình đã đề cập đến phương pháp giảiquyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH của Hồ Chí Minh thông qua những vấn đềchiến lược, sách lược của CMVN Tác giả gợi mở cho người đọc những vấn đề cầntiếp tục nghiên cứu để giải quyết thấu đáo ĐLDT và CNXH ở Việt Nam
Trang 18Bùi Đình Phong, Bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh [136] Tác giả tuy không bàn trực
tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH, nhưng ở nhiều khía cạnh đã đề cập đếncách thức giải quyết để đạt mục tiêu này của Hồ Chí Minh, thông qua đó khẳng định bảnlĩnh chính trị của Người trong việc kiên định con đường ĐLDT gắn liền với CNXH
ở những thời điểm mang tính bước ngoặt nhằm đem đến thắng lợi cho CMVN
Bùi Đình Phong, Hồ Chí Minh tìm đường, mở đường, dẫn đường, thiết kế tương lai [137] Tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống toàn diện cơ sở lý luận, thực tiễn của quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu
nước cho đến khi Người về với thế giới người hiền, khẳng định vai trò vĩ đại củaNgười ở những thời điểm khó khăn mang tính bước ngoặt của dân tộc, của đất nước.Tác giả phân tích sâu sắc và nhấn mạnh tư tưởng của Người về ĐLDT và CNXHkhông chỉ là ánh sáng chỉ đường, là sức mạnh thôi thúc hành động đối với nhân dân
ta mà còn đối với tất cả những ai đang tranh đấu cho tự do, độc lập, cho hòa bình,công lý, cho cơm áo và hạnh phúc của con người - lý do khiến cho tư tưởng Hồ ChíMinh vẫn nguyên vẹn giá trị thời đại khi mà thế giới đã, đang và luôn thay đổi
Phùng Hữu Phú, Bí quyết thành công Hồ Chí Minh [143] Trong công trình, tác
giả đã nêu bật được thành công của Hồ Chí Minh trong việc xử lý mối quan hệ giữacác lực lượng, các thành phần trong dân tộc để xây dựng được khối đại đoàn kết toàndân, trên nền tảng liên minh công - nông - trí do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Qua đó, công trình đã đã bàn ở một mức độ nhất định những yếu tố có liên quan trựctiếp đến giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Jean Sainteiny, Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ [53] Đây là công
trình ghi lại những cảm nghĩ và đánh giá của tác giả về CMVN nói chung và Hồ ChíMinh nói riêng Qua những đánh giá của Jean Sainteiny, nghiên cứu sinh thấy toátlên được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của ông dành cho Hồ Chí Minh thông qua việcNgười vận dụng giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp, ĐLDT và CNXH ở Việt Nam
và cách thức giải quyết các mối quan hệ đó đối với quốc tế
Song Thành, Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc [168] Tác giả dưới các góc độ
tiếp cận khác nhau, đã đúc rút, tổng kết, khẳng định công lao to lớn của Người đối với
sự nghiệp ĐLDT và CNXH của Việt Nam, đồng thời gợi mở nhiều vấn đề cần tiếp tụcnghiên cứu, làm rõ Về cuốn sách, trong Chương 4 từ trang 99 đến trang 140, tác giả đi
Trang 19sâu phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường CMVN: từ ĐLDT đi lên CNXH,CMVN tất yếu phải theo con đường cách mạng vô sản, quá trình hình thành tư tưởng HồChí Minh về con đường CMVN và mối quan hệ biện chứng giữa ĐLDT và CNXH.Trong đó chỉ rõ mối quan hệ giữa ĐLDT với hạnh phúc, ấm no của nhân dân.
Lê Văn Tích, Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại [159] Tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
những cống hiến của Hồ Chí Minh đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ củanhân loại, tư tưởng về một nền hòa bình chân chính, quan hệ hòa bình giữa các dântộc; những quan điểm và hoạt động của Hồ Chí Minh về xây dựng một nước ViệtNam tiến bộ góp phần tích cực vào sự phát triển của nhân loại Qua đó, người viết đãgóp phần thể hiện được cách giải quyết các mối quan hệ giữa độc lập, tự do cho dântộc mình với hòa bình và tiến bộ của nhân loại của Hồ Chí Minh
Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (Đồng chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [174] Các tác giả đã trình bày
một cách khái quát những vấn đề lý luận cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh vềĐLDT gắn liền với CNXH; đã khái quát cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tưtưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT gắn liền với CNXH ở Việt Nam, từ năm 1920 đếnnăm 1969; phân tích những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT gắnliền với CNXH Qua đó, thấy được những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh trên cảphương diện lý luận và thực tiễn đối với CMVN nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyễn Thế Nghĩa (Chủ biên), Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh [127] Đây là
một công trình chuyên khảo, trình bày công phu và có hệ thống về tư tưởng chính trị
Trang 20Hồ Chí Minh, với tư cách là một bộ phận cốt lõi, tác động, chi phối xuyên suốt các
tư tưởng khác và quán xuyến toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người Công trình đãcung cấp nhiều nội dung quan trọng, góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ĐLDT vàCNXH của nhà chính trị Hồ Chí Minh trên bình diện tư tưởng lý luận, qua đó thểhiện được những khía cạnh quan trọng về tư tưởng GPDT, giải phóng xã hội, giảiphóng con người của Hồ Chí Minh
Nguyễn Hữu Lập, Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn
[93] Tác giả tập trung khẳng định, với tính cách là những giá trị phổ quát mang tínhChân, Thiện, Mĩ của chính trị do Hồ Chí Minh sáng tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của đờisống chính trị Việt Nam, văn hóa chính trị Hồ Chí Minh được cấu thành và biểu hiện ởnhân cách, phương pháp, phong cách chính trị và các sản phẩm về tư tưởng và hành vichính trị Những giá trị đó góp phần quyết định đến việc giành và giữ ĐLDT và đi lênCNXH cho nhân dân Việt Nam và đưa đến cho dân tộc Việt Nam những điều kiện cần và
đủ để thiết lập một nền chính trị dân chủ, nhân văn, thực sự là tiền đề cho sự phát triểnbền vững đất nước trong tương lai Tác giả tuy không bàn trực tiếp về ĐLDT và CNXHtrong tư tưởng Hồ Chí Minh, song có những gợi mở quan trọng và là tài liệu tham khảohữu ích cho nghiên cứu sinh thực hiện đề tài luận án của mình, vì giá trị của ĐLDT vàCNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt tới tầm văn hóa, kết tinh các giá trị văn hóa
Nguyễn Văn Nguyên, Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với dân chủ và hạnh phúc của nhân dân trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh [128] Tác giả khẳng định,
tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh đặc biệt nổi bật ở các giá trị ĐLDT, Dân chủ, Hạnhphúc của nhân dân Những giá trị đó được Hồ Chí Minh luận giải một cách sâu sắc,
có tính hệ thống và quan hệ biện chứng trong phát triển xã hội Cả cuộc đời hoạtđộng cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ có một mục đích tối cao là làm sao cho nước ViệtNam được hoàn toàn độc lập, nhân dân Việt Nam được hoàn toàn tự do, người dânnào cũng có cơm ăn, áo mặc và đều được học hành Mục đích đó chính là: độc lậpcho Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân Chính mục đích ấy đã thôi thúc Hồ ChíMinh ra đi tìm đường cứu nước, GPDT, mang lại dân chủ và hạnh phúc cho nhândân Mặc dù luận án không đề cập trực tiếp về ĐLDT và CNXH, song nội dung luận
Trang 21án đã đề cập đến các khía cạnh cần thiết về giải quyết mối quan hệ này để đạt mụctiêu cách mạng của Hồ Chí Minh.
Đinh Ngọc Quý, Tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo xã hội [146] Tác giả đã
chứng minh trong quá trình cách mạng, để có sự lãnh đạo đúng đắn, hiệu lực và hiệuquả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng nhiều phương cách khác nhau nhằm pháthuy tối đa phẩm chất năng lực của các chủ thể lãnh đạo và sự nhiệt tình cách mạng,sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân lao động để đạt hiệu quả cao trong thựctiễn Với nhãn quan chính trị sâu sắc, Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn quan trọng,trực tiếp vào hoạt động lãnh đạo xã hội, từ cách mạng GPDT đến cách mạng XHCN,góp phần to lớn vào những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo
xã hội thực hiện mục tiêu ĐLDT và CNXH của cách mạng Việt Nam
Yên Ngọc Trung, Triết lý hành động Hồ Chí Minh [179] Tác giả khẳng định,
nội dung triết lý hành động Hồ Chí Minh thể hiện rõ mục tiêu, động lực, phươngpháp hành động Mục tiêu hành động Hồ Chí Minh là ĐLDT, tự do, hạnh phúc chonhân dân, là GPDT, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con ngườitriệt để Mục tiêu của mọi hành động đều vì dân, coi độc lập của dân tộc, tự do, ấm
no, hạnh phúc của nhân dân là cao nhất, duy nhất Hướng tới dân, vì nhân dân thểhiện rõ trong các quan điểm về phát huy các động lực để phát triển, hình thành triết
lý về động lực hành động Hồ Chí Minh Mặc dù nghiên cứu dưới góc độ triết lý,nhưng công trình cũng đã thể hiện giá trị cốt lõi tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT vàCNXH Vì suy đến cùng, triết lý hành động Hồ Chí Minh luôn hướng tới “độc lậpcho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân”
Cùng với những công trình trên, một số luận án cũng đã đề cập đến vấn đề trên
như: Luận án tiến sĩ lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc giải quyết vấn đề dân tộc
- dân chủ trong cách mạng Việt Nam của Chu Đức Tính [160]; Luận án Tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội của Trần Quang Nhiếp [134];….
Những công trình trên đây được các tác giả nghiên cứu một cách công phu,nghiêm túc, nhiều cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, thể hiện rõ tính cáchmạng, khoa học của ĐLDT và CNXH trên nền tảng CNMLN, tư tưởng Hồ ChíMinh, đồng thời phê phán những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đối với
Trang 22sự tiến bộ đi lên của lịch sử loài người Đặc biệt, một số công trình trên bằng cácluận cứ khoa học đã chỉ ra khả năng và tương lai phát triển của nhân loại vẫn làCNXH và ĐLDT gắn liền với CNXH trên cơ sở nền tảng của CNMLN, tư tưởng HồChí Minh vẫn là tính tất yếu của lịch sử, phù hợp với xu thế của thời đại mới Trênđây thực sự là các tài liệu tham khảo rất hữu ích cho nghiên cứu sinh thực hiện mụctiêu và nhiệm vụ của Luận án đặt ra.
1.1.2 Nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa và Trần Hữu Tiến (Đồng chủ biên), Góp phần nhận thức thế giới đương đại [7] Các tác giả đã nhận định tình hình thế giới
đương đại vẫn tiếp tục diễn ra các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự chủ của các dântộc nhỏ yếu trong bối cảnh mới hiện nay Các tác giả chứng minh, vấn đề ĐLDT củamột số quốc gia- dân tộc có chủ quyền vẫn tiếp tục bị đe dọa, thậm chí còn tăng lênsau khi Liên Xô sụp đổ Bước vào thế kỷ XXI, chính giới tư bản, nhất là đế quốc
Mỹ, ngày càng bộc lộ rõ nét tính chất hiếu chiến, phản động Biểu hiện rõ ràng nhất
là cuộc xâm lược tàn bạo của Mỹ và NATO ở Nam Tư, Irac, Libi,… Từ thực tiễn đócho thấy trong bối cảnh mới của hội nhập quốc tế, các mâu thuẫn về quan hệ dân tộc
và giai cấp trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, độc lập chủ quyền của các quốc gia
- dân tộc vẫn tiếp tục bị đe dọa Những đặc điểm đó vừa phản ánh tính phức tạp, khólường của thế giới hiện nay, vừa thể hiện vấn đề độc lập, chủ quyền và sự lựa chọn conđường phát triển của các dân tộc đang bị đe dọa, chi phối bởi rất nhiều nhân tố
Vũ Viết Mỹ, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [122] Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở
lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vềCNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam Qua đó, thấy được những đóng góp tolớn của Hồ Chí Minh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đối với CMVN về CNXH
và quá độ đi lên CNXH ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến có điểm xuất phát thấp
Lê Duy Sơn, Sự phát triển mối quan hệ giữa giai cấp công nhân Việt Nam và dân
tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa [149] Trong
Luận án, tác giả đã đề cập và hướng trọng tâm vào xử lý và giải quyết những vấn đề cótính quy luật của mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong quá trình đổi mới
Trang 23ở Việt Nam trên nền tảng CNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đã nêu lênnhững kiến nghị về việc giải quyết mối quan hệ về giai cấp và dân tộc, ĐLDT và CNXHtrong thực tiễn đổi mới ở đất nước ta hiện nay.
Lê Hữu Nghĩa, Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới [124] Tác giả khẳng định, nguyên nhân quan trọng làm nên những thành tựu của
CMVN trong 20 năm đổi mới là, Đảng luôn kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXHtrên nền tảng CNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới; khẳng định
sự kết hợp ĐLDT và CNXH là con đường tất yếu khách quan của dân tộc, là chân lýlớn, là động lực xuyên suốt của CMVN hiện nay
Lê Hữu Nghĩa, Tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong
tình hình mới [125] Tác giả khẳng định trong suốt tiến trình lãnh đạo CMVN, Đảng ta đã
rút ra năm bài học lớn; trong đó, bài học số một là “nắm vững ngọn cờ ĐLDT và CNXH”.Đây là sự tổng kết sâu sắc về lịch sử và lý luận, “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối cáchmạng nước ta, được thể hiện sâu sắc trong Cương lĩnh chính trị và các Văn kiện đại hộiĐảng Bài học đó, đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc XHCN mà văn kiện trình Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định; từ đó rút ra trongbối cảnh phức tạp, diễn biến nhanh của tình hình thế giới và trong nước hiện nay, việc kiênđịnh mục tiêu ĐLDT và CNXH lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trần Xuân Trường, Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện nay [192] Tác giả khẳng định, đường lối kết hợp ĐLDT với
CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối CMVN ĐLDT và CNXH là động lực vĩđại của CMVN, là cơ sở, điều kiện tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng mọi kẻ thù,trở thành dân tộc đi tiên phong trong thời đại mới, ghi dấu ấn đậm nét của mình vàothế kỷ XX Qua đó khẳng định sức sống bền vững của CNMLN, tư tưởng Hồ ChíMinh trong thời đại mới
Trần Xuân Trường, Về định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam - lý luận và thực
tiễn [185] Tác giả đã luận giải tính tất yếu và khẳng định sự lựa chọn con đường XHCN
của nước ta là duy nhất đúng và phù hợp xu thế của thời đại, từ những góc độ tiếp cậnkhác nhau để làm nổi bật vai trò to lớn của Hồ Chí Minh đối với CMVN trên tất cả cácphương diện và các lĩnh vực xã hội Mặc dù đề cập đến công lao của Hồ Chí
Trang 24Minh với tư cách là lãnh tụ của CMVN, nhưng tác giả không luận giải có tính hệthống việc vận dụng tư tưởng về ĐLDT và CNXH ở nước ta hiện nay mà chỉ gợi
mở, định hướng về sự cần thiết ở Việt Nam phải xây dựng và phát triển đất nướctheo con đường ĐLDT gắn liền với CNXH dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyễn Duy Quý, Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam [145] Tác
giả tuy không đề cập trực tiếp đến ĐLDT và CNXH, nhưng một số nội dung đã bànđến vấn đề đổi mới tư duy về mối quan hệ này trong đổi mới và hội nhập quốc tế.Tác giả đã lập luận khoa học, tường minh, thực hiện ĐLDT và CNXH dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh chính là động lực chủ yếu cho thành công của sự nghiệp đổimới ở nước ta hiện nay Các nội dung được đề cập trong cuốn sách là những gợi ý cógiá trị cho nghiên cứu sinh trong thực hiện mục đích và nhiệm vụ luận án đặt ra
Phạm Văn Đức (Chủ biên), Định hướng chính trị cho sự phát triển của Việt Nam và một số giải pháp thực hiện giai đoạn 2011 - 2020 [45] Các tác giả lập luận, định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước luôn là vấn đề cốt lõi đối với bất kỳ
quốc gia nào Bởi, đó là sự soi đường, chỉ lối cho sự phát triển của đất nước trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà không bị chệch khỏi đường hướng, mục tiêu
đã xác định Định hướng chính trị ở nước ta hiện nay, nhất quán và xuyên suốt làkiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH Để định hướng chính trị ở nước ta thực hiệnđược đúng đắn, sáng tạo, vững chắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, theocác tác giả thì trước hết cần phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT
và CNXH trong tình hình mới, cần giải quyết hài hòa lợi ích giữa dân tộc và giai cấp,giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Cuốn sách gợi mở cho nghiên cứu sinhnhiều vấn đề mới trong thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Trần Hữu Tiến, Một số vấn đề về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [157] Tác giả đã luận giải làm rõ về sự gắn bó hữu cơ giữa ĐLDT và CNXH
qua các thời kỳ cách mạng, và nhấn mạnh trong thời kỳ đất nước đổi mới thì sự gắn
bó mật thiết giữa ĐLDT và CNXH cũng không ngoại lệ; mối quan hệ biện chứnggiữa bảo vệ nền ĐLDT với mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Qua nội dung của cuốnsách, tác giả muốn gợi mở cho người đọc vấn đề ĐLDT và CNXH đã và đang đặt ranhiều thách thức cần phải giải quyết ở nước ta trên nhiều khía cạnh như: sự yếu kémcủa nền kinh tế; việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập; vấn đề tự diễn
Trang 25biến, tự chuyển hoá nội bộ Cuốn sách là một công trình tham khảo hữu ích cho vấn
đề nghiên cứu của nghiên cứu sinh
Trần Thị Phúc An, Tư tưởng Hồ Chí Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam [1] Tác giả khẳng định, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con
đường đi lên CNXH ở Việt Nam là một nhiệm vụ to lớn, là yêu cầu vừa cơ bản, vừacấp bách, góp phần làm sáng tỏ hơn công lao to lớn của Hồ Chí Minh trong việc lựachọn con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, với điểm xuất phát là một nước nôngnghiệp lạc hậu, có nền kinh tế kém phát triển, nhấn mạnh giá trị lý luận và thực tiễncủa những tư tưởng đó trong tình hình đất nước và thời đại không ngừng biến đổi
Học viện Chính trị Quân sự, Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới [67] Đây là cuốn sách tập hợp một số bài
viết của các nhà khoa học nghiên cứu về khoa học xã hội nhân văn nhằm phê phán,đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận về CNMLN, tưtưởng Hồ Chí Minh Trong đó nhấn mạnh, CNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh có mốiquan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, chính bản chất cách mạng khoa học củaCNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở cho Đảng ta định ra đường lối cách mạngđúng đắn, đã tập hợp và phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vàbản sắc truyền thống của văn hoá Việt Nam đánh bại kẻ thù xâm lược, thống nhất đấtnước, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới,
đó là minh chứng hùng hồn đập tan âm mưu đen tối của kẻ thù chống phá con đườngĐLDT gắn liền với CNXH ở nước ta
Nguyễn Văn Sáu (Chủ biên), Chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển nền
kinh tế độc lập, tự chủ hội nhập quốc tế thời kỳ đổi mới [148] Tác giả đã phân tích chủ
trương của Đảng ta về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong công cuộc đổi mới vàhội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế Tác giả chứng minh, đây là một yêu cầucấp thiết trong tình hình hiện nay để nhằm khẳng định vị thế, thực lực của nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay Tác giả nhấn mạnh, để xây dựng vàphát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ của quốc gia cần huy động tối đa nguồn lực nộisinh của toàn thể dân tộc, nhất là nguồn lực trong nhân dân để phát triển kinh tế
- xã hội Quá trình đó cũng là quá trình bảo đảm giữ vững ĐLDT và định hướng XHCN, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao trong quá trình đổi mới ở nước ta
Trang 26Mạch Quang Thắng (Chủ biên), Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng sáng tạo [170].
Tác giả và các cộng sự đã nghiên cứu một cách có hệ thống những đặc điểm, bảnchất, sự vận dụng sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn CMVN, qua đócho thấy sức sống mãnh liệt, những giá trị lý luận quý báu và định hướng thực tiễn tolớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH Tuy không đi vào nghiên cứutrực tiếp sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH một cách hệ thống,nhưng các tác giả đã góp phần làm rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong giải quyếthai mục tiêu này của CMVN qua các thời kỳ, nhất là trong công cuộc đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Mạch Quang Thắng (Chủ biên), Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [171] Tác giả đã khái quát những nội
dung cơ bản, giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở ViệtNam; quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về CNXH vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, và đưa ra những cơ sở
lý luận, thực tiễn, kiến nghị cho việc vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng HồChí Minh về CNXH hiện nay
Nguyễn Phú Trọng (Chủ biên), Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta [176] Tác giả đã đề cập
nhiều vấn đề hết sức phong phú cả về lý luận và thực tiễn, luận giải và làm rõ támmối quan hệ chủ yếu cần giải quyết tốt trong đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam,đồng thời gợi mở nhiều vấn đề mới cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết trêncác lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Những mối quan hệ được đề cập là rất quan trọng và cấp thiết, đã và đang diễn ratrên bình diện thực tiễn của đất nước hiện nay như: “giữa đổi mới, ổn định và pháttriển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướngXHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan
hệ sản xuất XHCN; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN;giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ” [176, tr.6] Đây là tài liệu tham khảo có giá trị, gợi mở cho nghiêncứu sinh nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn, nội dung và phương pháp để thựchiện đề tài luận án
Trang 27Nguyễn Văn Thế, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [173] Tác giả với góc tiếp
cận khoa học và thực tiễn, đã chứng minh ĐLDT gắn liền với CNXH không chỉ làsợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà quan trọng hơn tư tưởng đóluôn thể hiện nhất quán mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng, Hồ Chí Minh vànhân dân ta đã lựa chọn đáp ứng được yêu cầu bức thiết của dân tộc và khát vọngđộc lập, tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân, có giá trị lâu dài chỉ đạo đường lốiCMVN và ngày nay đang là nguồn sức mạnh to lớn của dân tộc ta trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh
uỷ Nghệ An, Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc [62] Cuốn sách là tập hợp nhiều bài viết của các học giả, các nhà nghiên cứu,
các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng vĩ đạicủa Hồ Chí Minh đối với CMVN, hầu hết các bài viết đều khẳng định giá trị tưtưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về ĐLDT và CNXH nói riêng
là cơ sở nền tảng để Đảng ta vận dụng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triểnđất nước vì một Việt Nam cường thịnh Các bài viết tập trung thể hiện rõ niềm tin,con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đườngXHCN, vì vậy rất cần thiết phải phát triển sáng tạo tư tưởng của Người về ĐLDT vàCNXH vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh mới
Phạm Hồng Chương, Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước [12] Tác giả trên cơ sở phân tích khoa học, bản chất cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên CNXH và sự vận
dụng của Việt Nam, đã khẳng định chắc chắn niềm tin đối với chúng ta, kiên định đitrên con đường đó, hướng theo tiêu chí Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, nhân dân tanhất định sẽ gặt hái nhiều thành công trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.Tác giả gợi mở những giá trị trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyếtmối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH ở nước ta trong đổi mới và phát triển hiện nay
Nguyễn Bá Dương, Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội - Mục tiêu, lý tưởng và lẽ sống của chúng ta [19] Tác giả chứng minh, trong
Trang 28hoàn cảnh hiện thời, việc đẩy mạnh tuyên truyền và lan tỏa về mục tiêu, con đường
đi lên CNXH đã được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta lựa chọn có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Đây là cơ sở khoa học để xây dựng, củng cố niềm tin tấtthắng của đường lối xây dựng CNXH ở nước ta Đồng thời, tỏ rõ thái độ kiên quyết,kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chínhtrị; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là CNMLN, tư tưởng Hồ ChíMinh, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững và thực hiện tốt chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phấn đấu để nước tasớm trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng XHCN Cùng vớithời gian, cuộc sống sẽ có nhiều đổi thay, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảngcách mạng kiên trung trước sau như một, kiên định ĐLDT gắn liền với CNXH theo
tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu màNghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành
uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ Cao Bằng, Hồ Chí Minh với hành trình thực hiện
khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội [63] Đây là cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa
học cấp Quốc gia nhân kỷ niệm 110 năm ngày Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứunước và 80 năm Người về nước trực tiếp lãnh đạo CMVN Các tác giả với 62 bài viếtnghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã thể hiện sâu sắc về hành trình thực hiện khát vọngĐLDT và CNXH của Hồ Chí Minh Nội dung các bài viết đã chỉ rõ, dấu ấn nổi bật củaNgười đối với sự nghiệp CMVN trên con đường hiện thực hoá khát vọng cao cả đó; đãchứng minh thuyết phục cho người đọc những giá trị trường tồn về tư tưởng, đạo đức,phong cách mà Người để lại cho Đảng, cho nhân dân, cho dân tộc và nhân loại tiến bộ;
đã khẳng định tính cấp thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người về ĐLDT vàCNXH vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm hiện thực hoá khát vọng pháttriển đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra Từ đó, các tác giả đi đến thống nhất
và khẳng định: tư tưởng về ĐLDT và CNXH của Người đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị,
mở đường đổi mới, soi sáng tương lai, trường tồn cùng dân tộc và nhân loại
Vũ Văn Hiền (Chủ biên), Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng [80] Các tác giả với 18 bài viết đã tập trung
khẳng định, vấn đề ĐLDT gắn liền với CNXH luôn là một trong những chủ đề nóngbỏng nhất mà các thế lực thù địch công kích với những luận điệu ngang trái, giả dối và
Trang 29hằn học Họ cho rằng, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đi theo con đường tư bảnnên Việt Nam không thể giữ mãi định hướng XHCN Những luận điệu này ít nhiều cónhững tác động nhất định đến một số người nhẹ dạ, cả tin Do đó mà rất cần giải thíchcặn kẽ hơn việc Việt Nam kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH Với lập luận khoa học,các tác giả chứng minh, Việt Nam đi theo con đường ĐLDT và CNXH không chỉ đúngvới trước đây, hiện nay mà đúng với cả mai sau, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào ViệtNam cần phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo CNMLN, tư tưởng Hồ ChíMinh; kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH” Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạtđộng đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch đã góp phần quan trọng trongbồi dưỡng nhận thức đúng đắn cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, khẳng định nhữngnguyên tắc cơ bản của công cuộc đổi mới Nhờ đó nền tảng tư tưởng của Đảng được giữvững Điều này khẳng định chân lý, dù thế giới nhiều biến động trong quá trình toàn cầuhoá và xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, với sự tác động hai chiều “thuận - nghịch”, có
cả tích cực và tiêu cực, phức tạp, khó đoán định thì hệ giá trị ĐLDT và CNXH, trong ýthức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn là mục tiêu lý tưởng, phù hợpvới thực tiễn đi lên của đất nước
Hội đồng Lý luận Trung ương, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [73] Các tác giả đã khẳng định nguyên nhân chủ đạo dẫn đến thành công của công cuộc đổi mới là do Đảng ta đã đề
ra được đường lối đổi mới đúng đắn trên cơ sở kiên định và vận dụng sáng tạoCNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn đất nước Đồng thời nhấnmạnh, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiênđịnh mục tiêu ĐLDT và CNXH Các tác giả đã chứng minh, dù thực tiễn luôn vậnđộng biến đổi song ĐLDT đi lên CNXH là con đường hoàn toàn đúng đắn
Hội đồng Lý luận Trung ương, Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc
đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về chính trị trong Đảng [71] Các tác giả đã khẳng định, cuộc đấu tranh
bảo vệ CNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững mốiquan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với nhân dân là tất yếu phải làm Đồng thời nhấnmạnh, trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nướcXHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép Mô hình CNXH ở Việt Namkhông phải là mô hình xôviết của Liên Xô, bởi sự khác biệt
Trang 30cơ bản là, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ ĐLDT đi lên Do
đó nhầm lẫn mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình xôviết là một sự sailầm lớn Và thực tiễn đổi mới đất nước gần 40 năm qua đạt được nhiều thành tựu tolớn đã minh chứng, con đường ĐLDT đi lên CNXH là đúng đắn, không phải đi theovết xe đổ của Liên Xô như các thế lực thù địch rêu rao
Bùi Đình Phong, Khát vọng Hồ Chí Minh Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, phồn vinh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu [139] Tác
giả tập trung phân tích sâu sắc về khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của Hồ ChíMinh Trên cơ sở nghiên cứu các Văn kiện của Đảng trong thời kỷ đổi mới, nhất làVăn kiện Đại hội XIII, tác giả khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa khát vọng HồChí Minh với khát vọng được trình bày trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng vềkhơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, bước tớiđài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu Khát vọng - Kỳ vọng -Quyết tâm - Đồng tâm - Tín tâm - Sáng tạo - Đổi mới là những điểm nhấn trong disản Hồ Chí Minh và Đại hội XIII của Đảng Để thực hiện khát vọng đó, Đảng phảibằng những hành động và việc làm cụ thể, lấy hiệu quả làm thước đo, với tư duysáng tạo, đổi mới trên cơ sở “bốn kiên định”: Kiên định CNMLN, tư tưởng Hồ ChíMinh; kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH; kiên định đường lối đổi mới; kiên địnhnhững nguyên tắc về công tác xây dựng Đảng Đây là tài liệu có giá trị tham khảo tốtcho nghiên cứu sinh thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
Đỗ Xuân Tuất, Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội [163] Tác giả chứng minh, ĐLDT gắn
-liền với CNXH - đó là con đường phát triển, là mục tiêu, là bước đi của cách mạngnước ta, và cũng là triết lý phát triển Việt Nam trong thời đại mới Trong công trìnhmặc dù tác giả không đi sâu bàn về ĐLDT gắn liền với CNXH trong tư tưởng HồChí Minh và vận dụng của Đảng ta hiện nay, song với cách tiếp cận từ thực tiễn ViệtNam, tác giả khẳng định: Kiên định con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc đãchọn, thực hiện khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh,hạnh phúc chính là tiền đề và điều kiện tiên quyết để giữ vững thành quả cách mạng,
để ổn định và phát triển bền vững đất nước, giúp cho nhân dân ta có cuộc sống tự do,
ấm no, hạnh phúc như mong ước, khát vọng của Người lúc sinh thời
Trang 31Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng [64] Các tác giả không chỉ
thể hiện nhất quán quan điểm về sự lựa chọn mục tiêu ĐLDT và CNXH là tất yếukhách quan của CMVN mà còn khẳng định, trong bối cảnh mới phải kiên định mụctiêu trên và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhậnĐLDT và CNXH ở Việt Nam Đây là công trình có nhiều gợi mở, đa dạng về hướngtiếp cận, luận giải khoa học về tính tất yếu của sự kiên định mục tiêu ĐLDT vàCNXH ở Việt Nam và kiên quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái xuyên tạc, bác
nhìn thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tác giả đi đến kếtluận, muốn cho dân giàu, nước mạnh, một trong những vấn đề cần phải nhận thức vàvận dụng đúng đắn là tính khoa học và cách mạng triệt để của CNMLN, tư tưởng HồChí Minh - những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theođuổi và thực hiện Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong bối cảnh mới.Tác giả yêu cầu, nội dung ĐLDT và CNXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần đượctiếp tục nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới nhằm đưa nước ta đếngiữa thế kỷ XXI, cơ bản trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN
Ngoài những công trình chủ yếu trên đây, còn có khá nhiều các công trình khácnghiên cứu sự vận dụng ĐLDT và CNXH tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, hầu hếtcác công trình đều có sự thống nhất và chỉ rõ, phải đứng vững trên lập trường củaCNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh mới giải quyết thấu đáo ĐLDT với ấm no, tự do, hạnhphúc của nhân dân; trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng, có nhữngchuyển biến sâu sắc trong quan hệ quốc tế, vấn đề chủ quyền và lợi ích quốc gia dân tộccũng như việc lựa chọn con đường phát triển (CNXH hay TBCN) vẫn hết sức phức tạphơn bao giờ hết, nhất là khi CNXH hiện thực sau một thời gian lâm vào khủng khoảng
Trang 32thoái trào thì hiện nay ở một số nước đi theo CNXH đang đạt được những thành tựu
to lớn và triển vọng phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch đang tìm mọicách phủ nhận, chống phá các nước theo con đường CNXH Do vậy, ĐLDT vàCNXH vẫn là vấn đề cấp thiết cần tiếp tục được nghiên cứu một cách toàn diện, sâusắc, có hệ thống trên cả về lý luận và thực tiễn ở phạm vi rộng lớn hơn
Các công trình trên đã góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ lý luận vàthực tiễn về tư tưởng Hồ Chí Minh, về con người Hồ Chí Minh, vị trí, nội dung tưtưởng Hồ Chí Minh, về mối quan hệ biện chứng giữa ĐLDT và CNXH trongCMVN: từ cách mạng GPDT đến cách mạng XHCN Bên cạnh đó còn thể hiện ýnghĩa và ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH đối với thời đại,với lịch sử phát triển của nhân loại Đồng thời, các công trình trên cũng cho thấy sựvận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH trong sự nghiệp đổi mới ởnước ta hiện nay một cách khái quát Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, mặc dù đã córất nhiều công trình nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau về ĐLDT vàCNXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh, song đến nay chưa có công trình nào trực tiếp
bàn về “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” một cách toàn diện và có hệ thống.
1.2 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả nghiên cứu đã đạt được
Những công trình khoa học trên đây tiếp cận dưới nhiều góc độ nghiên cứukhác nhau, đã phân tích, đề cập đến các nội dung mà luận án nghiên cứu:
Thứ nhất, các công trình đã tập trung nghiên cứu, làm rõ được những nhận
thức cơ bản về ĐLDT, về CNXH; giải quyết vấn đề ĐLDT và CNXH; mối quan hệkhông thể tách rời giữa ĐLDT và CNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Đồng thời các công trình cơ bản đã thống nhất nhận định: nhận thức đúng vàvận dụng sáng tạo về ĐLDT và CNXH và giải quyết mối quan hệ của của hai mụctiêu này chính là cơ sở để Hồ Chí Minh đề ra được đường lối và phương pháp cáchmạng đúng đắn, đưa CMVN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Thứ hai, các công trình cơ bản đều thống nhất khẳng định, ĐLDT và CNXH
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất yếu khách quan, là mục tiêu nhất quán xuyên suốt
Trang 33của CMVN Và đặc biệt nhấn mạnh việc giải quyết đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt mốiquan hệ này là một đột phá về mặt lý luận của Hồ Chí Minh đối với CMVN.
Thứ ba, sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH
ở Việt Nam hiện nay
Nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềĐLDT và CNXH của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng để hoạch định chủ trương,đường lối, chính sách nhằm đưa CMVN đến thắng lợi Các công trình có sự thống nhất
và khẳng định: vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH là nhiệm vụ thườngxuyên, tất yếu của CMVN, nếu không kết hợp đúng đắn, nhuần nhuyễn hai mục tiêu nàymột cách linh hoạt, sáng tạo thì cách mạng sẽ gặp khó khăn, thử thách Do đó, trongcông cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toànĐảng, toàn dân và toàn quân ta cần phải nhận thức đúng đắn, vận dụng và phát triển mộtcách sáng tạo tư tưởng của Người về ĐLDT và CNXH trong tình hình mới
Thứ tư, một số công trình khác liên quan đã đề cập đến những khía cạnh khác
nhau, hay những biểu hiện cụ thể của ĐLDT và CNXH ở Việt Nam trong công cuộcđổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời đưa ranhững cách tiếp cận, lý giải về hai mục tiêu này cũng như mối quan hệ của nó
1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục làm rõ và tập trung nghiên cứu
Qua các tài liệu tác giả thu thập được, có thể thấy chưa có một công trìnhchuyên biệt nào trực tiếp nghiên cứu một cách thấu đáo vấn đề vận dụng tư tưởng HồChí Minh về ĐLDT và CNXH ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ của chuyên ngành
Hồ Chí Minh học Nghĩa là đề cập một cách toàn diện, hệ thống đến việc vận dụng tưtưởng của Người về thực hiện hai mục tiêu này hiện nay Đây là lý do mà nghiên cứusinh lựa chọn đề tài Do đó, những vấn đề chưa được phân tích và làm rõ trong cáccông trình nêu trên sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án
Một là, xây dựng “khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH” và
“vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH” một cách khoa học và phântích, làm rõ nội hàm hai khái niệm này làm cơ sở cho thực hiện các nhiệm vụ tiếptheo của luận án
Hai là, làm rõ thêm nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và
CNXH trong CMVN; qua đó tập trung làm rõ việc giải quyết thấu đáo mối quan hệ
Trang 34này từ năm 1930 đến năm 1969 Sợi chỉ đỏ ĐLDT và CNXH đưa CMVN đi từ thắnglợi này đến thắng lợi khác là sự đột phá, sáng tạo lớn về mặt lý luận của Hồ ChíMinh, là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định đường lối cách mạng; đồngthời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện về mục tiêu cũngnhư mối quan hệ này.
Ba là, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng việc Đảng ta vận dụng giải
quyết vấn đề ĐLDT và CNXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới,đẩy mạnh công ngiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế vànguyên nhân của hạn chế đó, qua đó chỉ rõ những vấn đề đặt ra để tiếp tục kiên định
và phát triển sáng tạo trong thời gian tới
ĐLDT và CNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được các học giả trong vàngoài nước đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau, khá phong phú và toàn diện.Trong chương tổng quan tình hình nghiên cứu, nghiên cứu sinh tập trung vào nhữngcông trình cơ bản, tổng quan tình hình nghiên cứu trên hai mặt: Tình hình nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH và tình hình nghiên cứu sự vận dụng tưtưởng của Người về ĐLDT và CNXH Các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, ĐLDT
và CNXH ở Việt Nam khác rất nhiều so với các nước mà CNMLN đã đề cập Trongquá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở nắm vững phép biện chứng duy vật của
Trang 35CNMLN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo ĐLDT vàCNXH, từng bước đưa CMVN đi từ thắng lợi này dến thắng lợi khác, mở ra một kỷnguyên mới cho dân tộc Việt Nam, hòa với dòng chảy của thời đại trong quá trìnhphát triển đi lên của xã hội loài người.
Vấn đề cơ bản nhất của ĐLDT và CNXH trong CMVN, đặc biệt là trong gần
40 năm của công cuộc đổi mới, với sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ ChíMinh đã đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, hướng đến đích “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã đề ra
Do đó, tiếp thu và phát triển sáng tạo những thành quả nghiên cứu đã đạt được
để thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ của luận án đã đề ra là hếtsức quan trọng và cần thiết
Trang 36Chương 2
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1.1 Khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH được hình thành, kếttinh từ quan niệm về ĐLDT và CNXH
Quan niệm về độc lập dân tộc
ĐLDT được hiểu là: “Trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền
về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác: Nền độc lập dântộc” [181, tr.325] Như vậy, ĐLDT là quyền, chủ quyền, không phụ thuộc vào nướckhác hay dân tộc khác của một quốc gia - dân tộc
ĐLDT gắn với chủ quyền quốc gia Do đó, để làm rõ vấn đề ĐLDT, cần làm rõvấn đề chủ quyền quốc gia và mối quan hệ giữa ĐLDT và chủ quyền quốc gia:
Chủ quyền quốc gia là “quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đầy đủ
về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ củaquốc gia đó” [6, tr.135] Theo đó, chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị, pháp lýthiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong mọi hoạt động của các cơ quannhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia Tôn trọng chủ quyền quốc gia là mộtnguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định,nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Không một quốc gia nào đượccan thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia độc lập
ĐLDT là chủ quyền về mặt pháp lý, hay chủ quyền về danh nghĩa trên tất cảcác lĩnh vực: Lãnh thổ, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, anninh…, phản ánh trạng thái không bị phụ thuộc, lệ thuộc, không chịu sự khống chếcủa các thế lực khác bên ngoài Tự chủ quốc gia là chủ quyền trên thực tế, phản ánhnăng lực thực hiện chủ quyền cũng như sức mạnh tiềm năng, thế và lực của quốc gia.ĐLDT là thành quả của cuộc cách mạng GPDT ĐLDT phải bảo đảm quyềnlàm chủ của nhân dân, xoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch của dân tộc này vớidân tộc khác về kinh tế, chính trị và văn hoá, tinh thần
ĐLDT cần được xem xét một cách toàn diện trên toàn bộ các nội dung cấu thành,các yếu tố tạo nên ĐLDT ĐLDT phải gắn liền với vận mệnh quốc gia, dân tộc, chủ
Trang 37quyền, con đường phát triển của dân tộc, cũng như cuộc sống tự do, hạnh phúc củacon người trong quốc gia - dân tộc ĐLDT đối lập với mọi sự nô dịch, lệ thuộc vàphụ thuộc ĐLDT phải gắn với cuộc đấu tranh, giành, bảo vệ, giữ gìn, củng cố vàphát triển dân tộc theo con đường và mục tiêu mà dân tộc đã lựa chọn, được dẫn dắtbởi một lực lượng xã hội, một giai cấp tiến bộ của dân tộc.
Với Hồ Chí Minh, Người có những kiến giải riêng về ĐLDT Theo Người,
ĐLDT trước hết phải bảo đảm cho dân tộc đó quyền tự quyết, quyền lựa chọn chế độchính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển độc lập cả về chính trị, kinh tế,văn hoá… ĐLDT đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch của dân tộcnày với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và văn hoá tinh thần
ĐLDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bao hàm những vấn đề dân tộctrên phương diện vĩ mô là độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong điều kiệnlịch sử mới; mà còn biển hiện sâu đậm ở phương diện vi mô, tức là tư tưởng về vấn
đề dân tộc, GPDT ở Việt Nam, thực hiện độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, thựchiện bình đẳng, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc anh em trong đạigia đình các dân tộc Việt Nam Tư tưởng đó thể hiện sâu sắc mối quan hệ giữa vấn
đề dân tộc và vấn đề giai cấp; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước vớichủ nghĩa quốc tế vô sản; giữa vấn đề ĐLDT với CNXH, thực hiện sự nghiệp GPDT,giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người
Quan niệm Hồ Chí Minh về ĐLDT có nội dung rất rộng lớn với nhiều vấn đề quan
hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên chỉnh thể thống nhất trong tư tưởng của Người TheoNgười, để có độc lập, tự do, các quốc gia - dân tộc cũng như nhân dân lao động của họphải biết đấu tranh giành lại quyền cho mình, phải dựa vào sức mình là chính Sau khigiành được ĐLDT phải đưa đất nước đi lên CNXH nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng con người, xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, vươn tới cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc cho mọi người dân Làm cách mạng là để giành độc lập tự do cho Tổquốc thì đồng thời cũng phải đem lại tự do ấm no hạnh phúc cho nhân dân; xây dựngCNXH là đưa nhân dân lao động lên làm chủ nước nhà và đứng ra tổ chức xây dựng xãhội mới, làm cho nhân dân và dân tộc đều sung sướng và tự do
Như vậy, ĐLDT bao gồm những vấn đề rất cơ bản có quan hệ chặt chẽ, thống nhất
với nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh: ĐLDT bao hàm trong đó nội dung dân tộc và dânchủ Đó là nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập giả
Trang 38hiệu, độc lập nửa vời, độc lập hình thức Vì vậy, ĐLDT là quyền tự chủ, tự quyết định
về đường lối chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… củamột dân tộc - quốc gia trong phạm vi chủ quyền của mình, phù hợp với luật pháp quốc
tế, không bị tác động, chi phối, thao túng của các thế lực chính trị, quân sự nước ngoài
Quan niệm về chủ nghĩa xã hội
CNXH được hiểu là: “Hình thái kinh tế xã hội được coi là giai đoạn thấp của xã
hội cộng sản chủ nghĩa, dựa trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuấtchủ yếu, xoá bỏ đối kháng giai cấp và bóc lột” [189, tr.394]
CNXH là “trào lưu tư tưởng, học thuyết chính trị ra đời từ thế kỷ XVI, XVII Lúcđầu mang tính chất không tưởng, nên gọi là CNXH không tưởng, chủ trương xây dựngmột xã hội công bằng, không có áp bức, không có tư hữu về tư liệu sản xuất, nhưng chỉbằng cách cải cách pháp luật đương thời bằng cách giáo dục và các biện pháp cải lương
Những năm 40 thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ănghen đã tiếp thu những yếu tố lýluận của CNXH không tưởng, xây dựng học thuyết XHCN trên quan điểm duy vậtlịch sử và lý luận về giá trị thặng dư, từ đó xác lập học thuyết về CNXH khoa học.Theo nghĩa rộng CNXH khoa học cũng đồng nghĩa với chủ nghĩa Mác Theo nghĩahẹp, CNXH khoa học chỉ là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác.Theo C.Mác và Ph.Ănghen, CNXH khoa học trước hết là một trào lưu tư tưởng, trên
cơ sở đó xây dựng thành chế độ xã hội Đó thật sự là một xã hội lý tưởng, cao đẹpnhất trong lịch sử loài người” [70, tr.517]
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã biến CNXH từ lý luận thành hiện thực
Như vậy, CNXH là một học thuyết, một phong trào cách mạng; một chế độ xã
hội, là giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa, dựa trên cơ sở chế độ sở hữucông cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu, xoá bỏ đối kháng và giai cấp bóc lột Cáchmạng Tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử xã hội loài người:thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, CNXH trở thành một hệ thống trên thế giớivới quốc gia đứng đầu là Liên bang Xô viết
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quan niệm về CNXH: “là một xã hội dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến
Trang 39đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiệnphát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôntrọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghịhợp tác với các nước phát triển trên thế giới” [177, tr.24] Đây là một quan niệm rấttoàn diện, làm nổi bật nội hàm về CNXH đã đề cập đầy đủ trên các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, trong đó thể hiện rõ sự quan tâm đầy
đủ của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện đường lối, quan điểm, chính sách phát triểnđất nước gắn với thực hiện no ấm, hạnh phúc của nhân dân và công bằng xã hội
Với Hồ Chí Minh, tuỳ từng hoàn cảnh lịch sử, Người có nhiều luận giải khác
nhau, nhưng tựu trung lại, nói một cách tóm tắt, mộc mạc thì CNXH theo quan niệmcủa Hồ Chí Minh là một chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ; một xã hộicông bằng, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, hạnh phúc; nhà máy, xe lửa,ngân hàng thuộc về của công; các dân tộc trong nước đều bình đẳng, đoàn kết, tươngtrợ lẫn nhau; đoàn kết, hữu nghị, bình đẳng với tất cả các dân tộc trên thế giới
Từ những phân tích trên, Nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
về ĐLDT và CNXH như sau: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH là hệ thống
những quan điểm cơ bản về vai trò và thực chất của ĐLDT và CNXH ở Việt Nam, về mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm mục tiêu giành độc lập cho dân tộc và đem lại
tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; tư tưởng của Người về ĐLDT và CNXH có giá trị vô cùng to lớn và quý giá cho Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường, định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giành thắng lợi.
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH được thể hiện trên banội dung chính sau:
Thứ nhất, về mặt kết cấu và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và
CNXH là một hệ thống những quan điểm lý luận cơ bản về tính tất yếu, vị trí, vai trò
và thực chất của ĐLDT và CNXH; về mối quan hệ biện chứng giữa ĐLDT vàCNXH ở Việt Nam nhằm hướng tới xây dựng đất nước độc lập, hoà bình, dân chủ,giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
Trang 40Thứ hai, về nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH là kết quả
của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể củanước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm thực hiệnmục tiêu giành độc lập cho dân tộc và tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
Thứ ba, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH đóng vai trò là nền
tảng tư tưởng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
2.1.2 Khái niệm “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Vận dụng là “Đem tri thức lý luận dùng vào thực tiễn” [181, tr.1067]
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐLDT và CNXH ở Việt Nam được hiểu làtrên cơ sở nội dung chủ yếu trong tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc và vấn đề giaicấp, ĐLDT và CNXH ở Việt Nam thì qua các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản ViệtNam đã giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, ĐLDT với ấm
no, tự do, hạnh phúc của nhân dân trong thực tiễn cách mạng Việt Nam như thế nào.Cách thức giải quyết những vấn đề đó ra sao để đạt được mục đích cuối cùng là nướcViệt Nam được hoàn toàn độc lập, người dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc.Việt Nam trở thành đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh có thể sánh vai với cáccường quốc trên thế giới như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời
Trong tình hình hiện nay, có thể khẳng định, ĐLDT và CNXH là hai mục tiêuquy định hai nhiệm vụ chiến lược của CMVN là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốcXHCN Hai mục tiêu và hai nhiệm vụ đó cũng quy định luôn mục tiêu, nội dung của sựnghiệp đổi mới đất nước là ĐLDT và CNXH Tuy nhiên, sự phát triển biện chứng đãdẫn đến chỗ nội dung của ĐLDT và CNXH ngày nay cũng gắn bó khăng khít đến mứchầu như hoà chung, quyện chặt vào nhau “tuy hai mà một, tuy một mà hai” ĐLDT vàCNXH là điều kiện của nhau: muốn xây dựng được CNXH thì phải giữ vững được nềnĐLDT và ngược lại, muốn giữ vững được nền ĐLDT thì phải xây dựng CNXH thắng lợitrên khắp các mặt trận Cương lĩnh năm 2011 (bổ sung và phát triển) chỉ rõ:
“Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và mai