1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bệnh tiểu đường Nói một cách khái quát, bệnh tiểu đường (đặc biệt là tiểu đường type 2) gây biến chứng mạch máu nhỏ (biến chứng vi mạch máu), biến chứng mạch máu lớn, hoặc cả hai.

15 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bệnh Tiểu Đường
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 598,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO, thì Đái tháo đường “là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin”. Định nghĩa của Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh tiểu đường Hoa Kỳ: “Đái tháo đường, còn gọi là bệnh tiểu đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao”. Ngày nay người ta cho rằng Đái tháo đường là một rối loạn của hệ thống nội tiết, bệnh có thuộc tính là tăng glucose máu. Mức độ tăng glucose máu phụ thuộc vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả năng hoạt động của insulin hoặc cả hai. Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về Đái tháo đường: “Là một rối loạn mãn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu; (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein; (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác”.

Trang 1

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

I MỞ ĐẦU

1 Khái niệm

Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO, thì Đái tháo đường “là một hội chứng

có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin”

Định nghĩa của Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh tiểu đường Hoa Kỳ:

“Đái tháo đường, còn gọi là bệnh tiểu đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong

cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao”

Ngày nay người ta cho rằng Đái tháo đường là một rối loạn của hệ thống nội tiết, bệnh có thuộc tính là tăng glucose máu Mức độ tăng glucose máu phụ thuộc vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả năng hoạt động của insulin hoặc cả hai Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về Đái tháo đường: “Là một rối loạn mãn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu; (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein; (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác”

2 Phân loại

Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh tiểu đường Hoa Kỳ đã phân loại bệnh tiểu đường có 3 dạng chính gồm: tiểu đường type 1, tiểu đường type 2 và tiểu đường thai kỳ

2.1 Đái tháo đường typ I: ĐTĐ phụ thuộc insulin, xảy ra khi TB  bị hủy hoại

>90% dẫn đến thiếu hụt hầu như hoàn toàn insulin

2.1.1 Lâm sàng:

 Thường gặp ở độ tuổi <40

 Hoàn cảnh phát hiện bệnh:

Trang 2

+ Khởi phát cấp tính với các triệu chứng lâm sàng rầm rộ: đái nhiều, uống nhiều, hội chứng dị hóa (sút cân trong khi thèm ăn và ăn nhiều dẫn đến mệt mỏi suy nhược, thể trạng gầy)

+ Hoặc đến viện do các biến chứng cấp tính (hôn mê toan ceton)

+ Hoặc do các nhiễm khuẩn (tiết niệu, phổi, lao ) mà phát hiện bệnh

 Tiền sử gia đình ĐTĐ hoặc các bệnh tự miễn khác (nhược cơ, Addison)

2.1.2 Cận lâm sàng:

 Đường huyết tăng cao, đường niệu cao

 Thể ceton trong máu tăng cao và xuất hiện trong nước tiểu

 Insulin máu thấp

 Peptid C thấp và không đáp ứng khi kích thích bằng glucagon (test glucagon)

 Kháng thể kháng tiểu đảo Langerhans (+) ICA (+)

 HLA DR3, HLA DR4 (+)

2.2 Đái tháo đường typ II: Không phụ thuộc insulin, do rối loại hoặc giảm

chức năng tế bào 

2.2.1 Lâm sàng:

 Tuổi >40

 Tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng cổ điển không rõ ràng, không rầm rộ như typ I Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán

 Hoàn cảnh phát hiện:

+ Xét nghiệm đường máu hệ thống cho các đối tượng có nguy cơ cao

+ Do có biểu hiện các biến chứng cấp tính và mạn tính

+ Tình cờ phát hiện đường máu tăng cao

 Thể trạng bình thường hoặc thừa cân, béo phì kiểu nam, ở Việt Nam béo ít gặp hơn

 Tiền sử gia đình béo phì, Đái tháo đường, tiền sử Đái tháo đường thai

Trang 3

 Thường kèm theo các biến chứng: vi mạch, tim mạch, mạch máu lớn, thần kinh ngoại biên, bàn chân đái tháo đường

2.2.2 Cận lâm sàng:

 Đường máu tăng cao

 Hiếm khi có ceton niệu (trừ trường hợp nhiễm khuẩn hoặc suy kiệt)

 Insulin máu bình thường, peptid C bình thường, đáp ứng với test glucagon

2.3 Đái tháo đường thai nghén: là tình trạng Đái tháo đường xảy ra ở thời lỳ

có thai đặc biệt là 3 tháng cuối, Đái tháo đường ở phụ nữ có thai gồm đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, gặp khi có thai lần đầu và thường mất

đi sau đẻ

3 Thực trạng bệnh đái tháo đường trên thế giới và ở Việt Nam

Theo tổ chức Liên đoàn tiểu đường quốc tế (IDF - International Diabetes Federation) thì trên thế giới hiện nay:

- Mỗi 6 giây có 1 người chết vì bệnh tiểu đường (tương đương với 5 triệu

ca tử vong)

- Cứ 11 người thì có 1 người lớn mắc bệnh tiểu đường (tương đương với

415 triệu người)

- Trong 7 ca sinh thì có 1 ca bị ảnh hưởng bởi tiểu đường thai kỳ

- Hiện nay trên toàn cầu có khoảng 422 triệu người đang phải đối mặt với nguy cơ bệnh đái tháo đường, con số này chiếm 8,2% dân số thế giới -theo thống kê mới nhất năm 2014

- Dự báo đến năm 2040 sẽ có khoảng 642 triệu người mắc bệnh

Tại Mỹ ước tính có khoảng 26 triệu người mắc bệnh tiểu đường, khoảng 7 triệu người có bệnh lý trong đó có quá nhiều đường trong máu

Nước Anh cũng có khoảng 3 triệu người mắc và con số này không ngừng tăng lên Tại Đức, theo số liệu mới đây nhất vào ngày Tiểu đường Thế giới (14/11/2015) thì có hơn 6 triệu người mắc bệnh

Ở Việt Nam, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ mắc tiểu đường đang ngày càng gia tăng Trong 1 hội thảo ngày 29/5/2015 của Bộ Y tế Việt

Trang 4

Nam về chủ đề “Bệnh tiểu đường trong mối quan tâm về y tế toàn cầu”, con số đáng giật mình đã được đưa ra

Bộ Y tế thống kê trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường ở nước ta tăng 211%, và với con số này, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có

tốc độ tăng bệnh nhân tiểu đường cao nhất thế giới.

Thống kê từ các cơ sở y tế từ địa phương, toàn quốc hiện có:

- Khoảng 5 triệu bệnh nhân tiểu đường

- 60% các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong

- Mỗi ngày có khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến bệnh tiểu đường

Theo PGS.TS Nguyễn Thy Khuê, Chủ tịch Hội Nội tiết và Tiểu đường Việt Nam, chính thói quen sinh hoạt không khoa học của người Việt Nam đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì dẫn tới bệnh tiểu đường

II NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Tùy theo từng dạng bệnh mà có những nguyên nhân khác nhau Như trong bệnh tiểu đường type 1 thì yếu tố di truyền rất quan trọng, bên cạnh đó có thể là yếu tố suy giảm hệ miễn dịch khiến tế bào bạch cầu tấn công tế bào beta làm tuyến tụy suy yếu, hoặc yếu tố môi trường

Tuy nhiên, do phổ biến nhất hiện nay là tiểu đường type 2 và liên quan

chặt chẽ đến lối sống - điều mà mỗi người có thể nỗ lực điều chỉnh được, nên

chúng tôi sẽ tập trung nói về nguyên nhân gây tiểu đường type 2.

1 Do di truyền:

Gen đóng một phần quan trọng trong tính nhạy cảm với bệnh tiểu đường type 2 Có gen hoặc sự kết hợp của các gen nhất định có thể tăng hoặc giảm nguy cơ phát triển bệnh của một người

Trang 5

Vai trò của các gen được các nhà khoa học đặt ra bởi họ nhận thấy các tỷ

lệ cao của bệnh tiểu đường type 2 trong gia đình và cặp song sinh giống hệt nhau, và sự biến động lớn về tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường của 1 chủng tộc

Người thừa cân hoặc béo phì có gen nhạy cảm đối với bệnh tiểu đường type 2 cũng có nguy cơ mắc bệnh hơn hẳn một người thừa cân hoặc béo phì bình thường khác

2 Béo phì và ít vận động:

Hoạt động thể chất và béo phì có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của bệnh tiểu đường type 2

Sự mất cân bằng giữa lượng calo và hoạt động thể chất có thể dẫn đến béo phì, gây kháng insulin ở những người bị bệnh tiểu đường type 2 Mỡ bụng dư thừa là một yếu tố nguy cơ lớn với tình trạng kháng insulin, tiểu đường type 2 và

cả bệnh tim mạch

3 Kháng insulin:

Kháng insulin là một tình trạng phổ biến ở những người thừa cân hoặc béo phì, có bụng mỡ dư thừa và ít hoạt động thể chất

Cơ, các tế bào mỡ và gan giảm hoặc ngừng đáp ứng đúng với insulin, buộc tuyến tụy bù đắp bằng cách sản xuất thêm insulin Miễn là các tế bào beta có thể sản xuất đủ insulin, lượng đường trong máu ở mức bình thường

Nhưng khi sản xuất insulin ngừng vì rối loạn chức năng tế bào beta, nồng

độ glucose tăng, dẫn đến tiểu đường hoặc tiền tiểu đường

4 Sản xuất glucose bất thường của gan:

Ở một số người mắc bệnh tiểu đường, tăng bất thường trong việc sản xuất glucose ở gan cũng góp phần làm tăng lượng đường huyết

Với một cơ thể bình thường, tuyến tụy tiết hoóc môn glucagon khi lượng glucose trong máu và mức insulin thấp; glucagon kích thích gan sản xuất glucose và phát tán nó vào máu, đưa lượng glucose trong máu trở lại bình thường

Trang 6

Nhưng vì lý do nào đó, người ta thấy ở rất nhiều người bị bệnh tiểu đường, nồng độ glucagon cao hơn mức cần thiết Mức độ glucagon cao làm gan sản xuất ra lượng glucose không cần thiết, góp phần vào mức độ glucose trong máu cao

Metformin, loại thuốc phổ biến nhất được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường type 2, chính là để làm giảm mức sản xuất glucose thừa ở gan

Cơ chế sinh bệnh Đái tháo đường

5 Hội chứng chuyển hóa:

Hội chứng chuyển hóa, cũng được gọi là hội chứng kháng insulin, dùng

để chỉ một nhóm các điều kiện phổ biến ở những người bị tình trạng kháng insulin, bao gồm:

- Mức độ glucose trong máu cao hơn bình thường

- Tăng kích thước vòng eo do mỡ bụng dư thừa

Trang 7

- Huyết áp cao

- Mức độ bất thường của cholesterol và triglycerides trong máu

Những người có hội chứng chuyển hóa có nguy cơ cao phát triển bệnh tiểu đường type 2 và bệnh tim mạch

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự thay đổi lối sống, chẳng hạn như chăm vận động cơ thể và giảm cân, là những cách tốt nhất để đảo ngược hội chứng chuyển hóa, cải thiện phản ứng của cơ thể với insulin, và giảm nguy cơ bệnh tiểu đường type 2 cũng như bệnh tim mạch

6 Các yếu tố nguy cơ gây tiểu đường type 2:

Những người mắc bệnh tiểu đường type 2 thường có một số hoặc nhiều đặc điểm sau đây, và đó cũng chính là những yếu tố nguy cơ gây nên bệnh tiểu đường

- 45 tuổi trở lên

- Cha mẹ hoặc anh chị bị bệnh tiểu đường

- Lịch sử sinh ra một con nặng hơn 9 pao (4,5kg)

- Lịch sử tiểu đường thai nghén

- Cao huyết áp 140/90 hoặc trên mức này, hoặc đang điều trị huyết áp cao

- Lipoprotein mật độ cao (HDL), hoặc tốt, cholesterol dưới 35 miligam mỗi decilít (mg/dL), hoặc một mức độ chất béo trung tính cao hơn 250 mg/dL

- Hội chứng buồng trứng đa nang, còn gọi là PCOS

- Tiền tiểu đường - một mức A1C của 5,7-6,4 phần trăm; một xét nghiệm đường huyết lúc đói cho kết quả 100-125 mg/dL; hoặc xét nghiệm glucose dung nạp kết quả từ 140-199, được gọi là mức dung nạp glucose

- Lịch sử của bệnh tim mạch

III TRIỆU CHỨNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Bệnh tiểu đường nhìn chung biểu hiện qua một số dấu hiệu như: thường xuyên khát nước, đi tiểu nhiều, luôn cảm thấy mệt mỏi, người bệnh bị giảm cân nhanh mà không rõ lý do với mức độ tùy thuộc đó là type 1 hay type 2

Trang 8

Ở tiểu đường type 1, triệu chứng thường xuất hiện thình lình và có thể đe dọa mạng sống, vì thế thường phải chẩn đoán khá nhanh

- Thường xuyên cảm thấy mệt mỏi khó chịu

- Khát nước: xảy ra khi nhận thấy bị khát nước quá mức so với bình thường

- Đi tiểu nhiều vào ban đêm

- Cảm giác đói quằn quại

- Giảm cân đột ngột mà không rõ lý do

Ở tiểu đường type 2, triệu chứng ít được người bệnh nhận ra, cho đến khi

phát hiện bệnh thì các biến chứng đã xảy ra rồi, vì vậy nó được cho là còn nguy hiểm hơn tiểu đường type 1

Ở người bị bệnh tiểu đường type 2 cũng thấy xuất hiện các triệu chứng tương tự với tiểu đường type 1 như luôn cảm thấy mệt mỏi, người bệnh bị giảm cân nhanh mà không rõ lý do

Ngoài ra, tiểu đường type 2 còn được biểu hiện bằng các dấu hiệu đặc

trưng sau (và phần nhiều các dấu hiệu đó là dấu hiệu của các biến chứng):

- Ăn nhiều cùng cảm giác nhanh đói: Đây là một biểu hiện đặc trưng của bệnh tiểu đường type 2 do nồng độ insulin cao trong cơ thể gây ra cảm giác nhanh đói

- Vết thương lâu lành: Do lượng đường trong máu cao khiến cho hoạt động của bạch cầu bị bất thường và giảm đi khả năng tự bảo vệ cơ thể chống lại

vi khuẩn, vi trùng xâm nhập gây hại

- Nhiễm trùng: Do hệ thống miễn dịch bị suy giảm chức năng bởi bệnh tiểu đường khiến cho cơ thể dễ bị nhiễm trùng, nấm sinh dục, nhiễm trùng da…

- Rối loạn tình dục: Biểu hiện qua các chứng bệnh ở cả nam và nữ như xuất tinh sớm, rối loạn cương dương, giảm ham muốn tình dục…

Trang 9

- Mắt nhìn mờ: Tiểu đường tác động vào những mạch máu của lớp thần kinh mắt (võng mạc) một cách âm thầm, những mạch máu bị hư hại này làm cho võng mạc sưng phồng và dày lên, gây giảm thị lực

IV CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ và Trung tâm dịch vụ y tế Quốc gia của Anh, lượng đường trong máu cao làm tổn thương các mạch máu, làm tăng khả năng thu hẹp và xơ vữa động mạch Điều này cũng dẫn đến nguồn cung cấp máu đến các dây thần kinh bị giảm thậm chí tắc nghẽn

Nói một cách khái quát, bệnh tiểu đường (đặc biệt là tiểu đường type 2) gây biến chứng mạch máu nhỏ (biến chứng vi mạch máu), biến chứng mạch máu lớn, hoặc cả hai

1.Biến chứng vi mạch máu

1.1 Các bệnh về mắt

Tiểu đường gây đục thủy tinh thể (cườm khô) và tăng nhãn áp (cườm nước) nhưng ảnh hưởng của nó trên võng mạc mới là mối đe dọa gây mù

Trang 10

Tổn thương võng mạc trên người bị bệnh tiểu đường gọi là bệnh võng mạc do tiểu đường Phần lớn các bệnh nhân có những thay đổi ở đáy mắt diễn ra sau 15-20 năm mắc bệnh tiểu đường

Tiểu đường tác động vào những mạch máu của lớp thần kinh mắt (võng mạc) một cách âm thầm, những mạch máu bị hư hại này làm cho võng mạc sưng phồng và dày lên, gây giảm thị lực

Muốn phát hiện sớm các chấn thương đầu tiên của võng mạc phải dùng phương pháp chụp động mạch võng mạc có huỳnh quang thì những tổn thương

vi mạch sẽ được phát hiện kịp thời và điều trị sớm, phòng ngừa diễn tiến của bệnh lý võng mạc

1.2 Các bệnh về thận

Tiểu đường là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp bệnh thận nghiêm trọng nhất (giai đoạn cuối), dẫn đến suy thận, suy thận mãn tính

Bệnh thận được chẩn đoán bằng xét nghiệm nước tiểu và điều trị ban đầu

là kiểm soát chặt chẽ lượng đường trong máu - như với các biến chứng bệnh tiểu đường khác

1.3 Các bệnh liên quan đến hệ thần kinh

Biến chứng thần kinh ảnh hưởng lên mọi cơ cấu của hệ thần kinh Biến chứng gây nhiều khó khăn cho bệnh nhân dù ít khi gây tử vong

Biến chứng thần kinh hay gặp nhất ở bệnh nhân tiểu đường là viêm đa dây thần kinh ngoại biên: thường bị bắt đầu ở các chi dưới gây tê nhức, dị cảm, tăng nhạy cảm và đau Đau có thể âm ỉ hoặc đau như điện giật

Do người bệnh bị mất cảm giác đối với nhiệt, lạnh hoặc đau, và thiếu sự quan tâm tới chân, nên có nguy cơ xuất hiện vết thương, mụn nước hoặc vết loét

mà không chú ý

Nếu không được xử lý kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến nhiễm trùng

và thậm chí hoại tử, phải cắt cụt chân Vì vậy người bệnh tiểu đường cần lưu ý

để bàn chân luôn sạch sẽ, khô ráo, móng tay - chân gọn sạch và mang tất phù hợp, thoải mái, tránh để bị chà xát

Trang 11

2 Biến chứng mạch máu lớn

Lượng đường cao trong thời gian dài gây ra quá trình gọi là "xơ vữa động mạch", hoặc tắc nghẽn động mạch

Việc thu hẹp động mạch có thể dẫn đến lưu lượng máu giảm xuống cơ tim (gây ra một cơn đau tim), hoặc đến não (dẫn đến đột quỵ) hoặc đến chi (dẫn đến đau và giảm khả năng chữa lành các vết nhiễm trùng)

Xét nghiệm chẩn đoán bệnh Đái tháo đường.

Để kiểm tra sơ bộ, bác sỹ có thể thử máu đầu ngón tay hoặc thử nước tiểu

- đây gọi là xét nghiệm ban đầu

- Xét nghiệm nước tiểu: Que thử được nhúng vào mẫu nước tiểu và sẽ đổi màu nếu có sự tác động của glucose hiện diện trong nước tiểu So que thử với thang màu co sẵn để biết mức glucose

Nếu mức glucose thể hiện ở que thử cao hơn bình thường, hoặc ở mức bình thường nhưng vẫn có các triệu chứng tiểu đường đi kèm, thì bác sỹ sẽ cho bạn làm xét nghiệm máu để biết chính xác

- Xét nghiệm máu đầu ngón tay: Lấy một giọt máu đầu ngón tay cho vào que thử, sau đó đưa que thử vào máy đo để đọc kết quả Mức đường huyết bình thường nằm trong khoảng từ 4-6 mmol/L

Nếu kết quả đo được cao hơn 6 mmol/L hoặc vẫn trong khoảng bình thường (4-6 mmol/L) nhưng vẫn có triệu chứng đi kèm, thì bác sỹ sẽ cho bạn làm xét nghiệm máu

Như vậy 2 xét nghiệm trên không giúp xác định chính xác 1 người bị tiểu đường hay không (nhất là trong trường hợp có một hoặc vài triệu chứng), vì chúng không thể cho kết quả cụ thể lượng glucose trong máu là bao nhiêu

Theo Hiệp hội Tiểu đường Mỹ về Tiêu chuẩn chăm sóc y tế trong bệnh tiểu đường, thì việc chuẩn đoán bệnh tiểu đường muốn chính xác bắt buộc phải được trải qua các xét nghiệm máu Bất kỳ một trong các xét nghiệm nào sau đây đều có thể được sử dụng để chẩn đoán:

Ngày đăng: 06/11/2023, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w