Tài liệu dành cho các học viên học lớp cao cấp lý luận chính trị tín ngưỡng và tôn giáo tham khảo và hiểu biết nắm rõ về nhưng lý luận và chính trị tôn giáo và tín ngưỡng THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG, VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 3.1 Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng thời gian qua Công tác tôn giáo trong việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng cũng vẫn còn có những hạn chế, yếu kém. 3.1.1 Những thành tựu và nguyên nhân Thành tựu của công tác tôn giáo trong việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng như sau: 1. Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc … hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước ,xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ 2. Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước. 3. Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến Pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. 4. Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.
Trang 1THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG, VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỊNHHƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
3.1 Thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng thời gian qua
Công tác tôn giáo trong việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo, tínngưỡng ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng cũngvẫn còn có những hạn chế, yếu kém
3.1.1 Những thành tựu và nguyên nhân
Thành tựu của công tác tôn giáo trong việc thực hiện chính sách tôn giáo, tínngưỡng như sau:
1 Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc
… hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước ,xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ
2 Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước
3 Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phươngchâm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến Pháp, phápluật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đôngđảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹpđạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước
4 Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chínhsách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững anninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làmthất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.Nguyên nhân của các thành tựu trên đây là:
1 Do Đảng ta đã đề xướng đường lối đổi mới đúng đắn; đã lãnh đạo quátrình thực hiện đường lối đổi mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng
2 Đảng và nhà nước ta đã hết sức nhạy bén đưa ra các chủ trương, chínhsách tôn giáo theo tinh thần đổi mới và kịp thời ; đã chủ động, sáng tạo trongquá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách đó
3 Công tác tôn giáo đã tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn bộ máy và độingũ cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng theo yêu cầu của tình hình mới3.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Trang 2Bên cạnh những thành tựu như trên, việc thực hiện hóa chính sách tôn giáo,tín ngưỡng trong thời gian quan còn có một số hạn chế, yếu kém Đó là:
1 Tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta còn có nhiều diễnbiến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định
2 Một số hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng của tổ chức tôn giáo, của cá nhânngười có tôn giáo, tín ngưỡng chưa triệt để tuân thủ pháp luật, ở một số địaphương vẫn để xảy ra hiện tượng tổ chức truyền đạo trái phép; còn lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan
3 Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai và cơ sở vật chất củatôn giáo ở một số nơi có biểu hiện tăng lên, thậm chí có nơi diễn biến phức tạp
4 Ở một số nơi, nhất là vùng dân tộc thiểu số, miền núi một số phần tử đãlợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để tiến hành những hoạt động lôi kéo chống đối,kích động tín dồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối, làm mấttrật tự an ninh xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân,tiềm ẩn nguy cơ gây ra mất ổn định chính trị
Những hạn chế trên đây của công tác tôn giáo ở nước ta trong quá trìnhthực thi chính sách tôn giáo, tín ngưỡng là do các nguyên nhân cơ bản sau:
1 Công tác tôn giáo chậm đổi mới nội dụng và phương thức hoạt động ,trong khi các thế lực thù địch ráo riết tranh thủ, giành giật, lôi kéo quần chúngtín đồ, chức sắc tôn giáo
2 Một số cấp ủy , chính quyền các cấp, một số cán bộ có trách nhiệm chưnhận thức thấu đáo, quán triệt đầy đủ chủ trương, chính sách tôn giáo, tínngưỡng Có nơi chủ quan nóng vội , giản đơn trong giải quyết vấn đề liên quanđến tôn giáo; có nơi lại hữu khuynh, thụ động, đùn đẩy , buông lỏng quản lý
3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tín ngưỡng tôn giáochậm được thể chế hóa
4 Tổ chức, bộ máy làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị , nhất là cơquan quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng chưa xác định rõ về mô hình,chức năng, quyền hạn, cơ chế phối hợp, thiếu quan tâm đầu tư bảo đảm cácđiều kiện hoạt động; đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và hệ thống chính trị
cơ sở ở các vùng tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số còn yếu, việc tập hợpquần chúng còn hạn chế
3.2 Vấn đề đặt ra từ việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay
Trang 33.2.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta vẫn
có yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện phù hợp với quan điểm của Đảng
Cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã xây dựng được một hệ thống chínhsách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng, song vấn đề tiếp tục hoàn thiệnchính sách, pháp luật đó luôn được đặt ra Việc này xuất phát từ tính quy địnhcủa sự vận động, phát triên không ngững của thực tiễn đời sống xã hội nướcnhà, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Chính sách, pháp luật về tínngưỡng, tôn giáo vẫn không tránh khỏi còn có những hạn chế và bất cập; chưađáp ứng kịp thời sự thay đổi đất nước và của thế giới; bên cạnh đó, hiện tượngtôn giáo mới - đạo lạ đã và đang xuất hiện khá nhanh, mạnh và có diễn biếnphức tạp nhưng chủ thể công tác tôn giáo vẫn chưa có chủ trương, quy phạmpháp quy thích hợp, cụ thể để xử lý giải quyết
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo xã hội, vì thế trong việc tronghoàn thiện chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng phải luôn phù hợpvới quan điểm, đường lối của Đảng
3.2.2 Công tác tôn giáo vẫn có yêu cầu phối kết hợp thống nhất, từ nhậnthức đến hành động, của các tổ chức trong hệ thống chính trị
Quan điểm của Đảng luôn nhấn mạnh công tác tôn giáo là trách nhiệmcủa cả hệ thống chính trị, nhưng thực tế cho thấy, có không ít vụ việc tôn giáoxảy ra do thiếu sự phối hợp và do chưa có sự phân công hợp lý giữa các tổ chứccủa Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hộicủa hệ thống chính trị, nên chưa được phát hiện kịp thời, việc giải quyết chậmtrễ Lúng túng, để kéo dài, làm tình hình phức tạp thêm
Trong lãnh đạo chỉ đạo công tác tôn giáo, vẫn còn xảy ra tình trạng e ngại,
né tránh, đùn đẩy trách nhiệm công việc cho nhau; hoặc tổ chức này chặt chẽ,
tổ chức kia lại lỏng lẻo; hoặc dành ưu ái với tôn giáo này song lại chặt chẽ với tôngiáo khác,… Tất cả đã làm hạn chế công tác tôn giáo, làm giảm hiệu quả thực thichính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng, gây ảnh hưởng xấu tới khốiđịa đoàn kết toàn dân tộc
3.2.3 Công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cácvùng tôn giáo cần được quan tâm, tạo ra những chuyển biến tích cực
Đảng ta đã rất sáng suốt khi ngay từ năm 1990 đã đưa ra những quanđiểm nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Vì
Trang 4thế, công tác vận động quần chúng tính đồ các tôn giáo luôn có ý nghĩa quyếtđịnh sự thành công của công tác tôn giáo Song ở các địa phương, công tác pháttriển, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng cốt cán, người tiêu biểu trong các vùngtôn giáo chưa được các cấp ủy đảng quan tâm thường xuyên Công tác quyhoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ vùng tôn giáo chưa có nhiều chuyể n biến tíchcực , đột phá , công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo và côngtác xây dựng các tổ chức yêu nước trong các tôn giáo chưa được quan tâm đúngmức, còn nhiều bất cập, yếu kém
Những hạn chế của công tác xây dựng lực lượng chính trị trong các vùngtôn giáo là một trong những nguyên nhân căn bản làm nảy sinh các vụ việc phứttạp và điểm nóng tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua Những hạn chế ,yếukém ấy là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng vào mục đích lôi kéo, kích độngngười dân gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị đểchống phá chế độ ta Vì thế, công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể chính trị - xã hội luôn cần phải đề cao, đẩy mạnh công tácvận động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo
3.2.4 Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định về anninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
Ổn định chính trị- xã hội là yêu cầu cao nhất để phát triển kinh tế - xã hội.Nhưng trên thực tế, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống đối chế độ của các thếlực thù địch vẫn chưa hề giảm Chúng luôn coi “ vấn đề tôn giáo – nhân quyền ởViệt Nam” là một lĩnh vực nhiều điểm nóng để thực hiện thủ đoạn lâu dài chốngphá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Vì vậy, cần chủ động phòng ngừa,kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mêhoặc, lôi kéo , kích động chia rẻ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Mặt khác , hoạt động tôn giáo ở nước ta cũng còn bị một số phần tử xấulợi dụng vào các mục đích kinh tế - buôn thần bán thánh; nhằm trục lợi cá nhân,cục bộ; mê hoặc nhân dân, … gây ra tình trạng mất trật tự an toàn xã hội, ảnhhưởng đến an ninh chính trị ở một số địa bàn
3.2 Định hướng nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách tôngiáo, tín ngưỡng
3.3.1 Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm , trách nhiệmcủa hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo
Trang 5Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thường xuyên tổ chức thông tin phổ biếnquán triệt các quan điểm , chủ trương, chính sách về tôn giáo trong cán bộ, đảngviên, nhân dân, nhất là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôngiáo Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ an nih,trật tự, an toàn , xã hội trên địa bàn khu dân cư, với chủ nghĩa xã hội,, hăng háixây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Để có sự phối hợp đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các tổ chức trong hệ thốngchính trị phải phân định chức năng, nhiệm vụ công tác tôn giáo rõ ràng, cụ thể,tránh tình trạng lấn sân Chồng chéo hoặc né đẩy cho nhau Đồng thời, cần coitrọng hơn nữa việc kiện toàn, đổi mới nội dung, phương thức làm việc của banchỉ đạo công tác tôn giáo ở các địa phương
Gìn giữ và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn nhữngngười có công với Tổ quốc và dân tộc; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống củađồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, tăng cường sự đồng thuận giữa người
có và không có tín ngưỡng , tôn giáo; giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau;nâng cao cảnh giác;, kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động tà đạo, mê tín dịđoan,lợi dụng tôn giáo làm phương tiện hại lợi ích của Tổ Quốc, dân tộc và nhândân
3.3.2 Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chínhtrị ở cơ sở
Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; đổi mới nội dung, phương thức công tác vậnđộng tín đồ các tôn giáo, phù hợp với đặc điểm của các tổ chức tôn giáo
Tăng cường hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoànthể nhân dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với chức sắc,chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo
3.3.3 Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo
Tăng cường đầu từ, thực hiện có hiểu quản các dự án, chương trình mục tiêuquốc giá, quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội – các vùngkhó khăn, đông tín đồ tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số miền núi
Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xâydựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Trong quátrình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếpthu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã
Trang 6hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập
và hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách , pháp luật về tínngưỡng, tôn giáo nói riêng
Công tác tôn giáo và đồng bào các tôn giáo cần tăng cường cảnh giác, chủđộng đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thủ địch lợi dụng vấn
đề tôn giáo, tín ngưỡng
Việc các tổ chức tôn giáo tham gia xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa,
xã hội giáo dục, … cần phải tuân thủ các nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo
có tư cách pháp nhân tham gia phù hợp với chức năng Khả năng của mỗi tôngiáo và đúng với quy định của pháp luật Tín đồ, chức sắc các tôn giáo, thamgia với tư cách công dân, được khuyến khíc, tạo điều kiện theo pháp luật
Thống nhất chủ trương xử lý vấn đề nhà, đất sử dụng mục đích tôn giáohoặc có liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng theo các quy định của pháp luật3.3.4 Tăng cường công tác tổ chức, cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡngCủng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng củaĐảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Xác địh
rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôngiáo, tín ngưỡng; xây dựng quy chế phối hợp trong công tác tôn giáo nhằm pháthuy sức mạnh và hiệu quả công tác
Xây dựng, thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
và bảo đảm chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng
Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, tínngưỡng; cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi dưỡng, huấnluyện về phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơi công tác
Như vậy, quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với tôn giáo,tín ngưỡng hiện nay nhằm thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đoàn kếttoàn dân tộc Quan điểm, chính sách tôn giáo, tín ngưỡng đã không chỉ là cơ sởcho các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam luôn ổn định, tuân tủh phápluật mà còn tạo ra động lực to lớn từ việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc,đóng góp cho sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, do
đó, là một chủ trường xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ đường lối phát triểnđất nước và luôn đáp ứng được yêu cầu phải phù hợp với tình hình quốc gia đảm
Trang 7bảo tính hiệu quả, hiệu lực của quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, tínngưỡng, hệ thống chính trị các cấp cần hết sức chủ động phát huy quyền làmchủ, cũng như tính tích cực chính trị của đồng bào có tôn giáo, tín ngưỡng trongquá trình xây dựng và thực hiện quan điểm, chính sách.
Trang 8Hệ thống chính trị Việt Nam
Khái quát mô hình
Hệ thống chính trị Việt Nam về mặt thiết chế bao gồm: Đảng Cộng SảnViệt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam , Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh,Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân ViệtNam) Nhà nước gồm có : Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân
và Viện kiểm sát nhân dân
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Nhà nước là trung tâm; Đảng Cộng sảnViệt Nam là hạt nhân của hệ thống chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của Đảng và Nhànước
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền Đảng lãnh đạo bằng cươnglĩnh , chiến lược , các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công táctuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức kiểm tra, giám sát và bằng hànhđộng gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ vàquản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú vào hoạt động trongcác cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chứcđảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị
Nhà nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm:
Quốc hội, Chủ tịch nước, chính phủ hệ thóng tư pháp ( Tòa án và việc kiểmsát nhân dân( Nhà nước đang được xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Quốc hội Việt Nam được thành lập thông qua bầu cử của nhân dân, theonhiệm kỳ, dưới sự lãnh đạo của đảng Quốc hội bầu Chủ tịch nước, Thủ tướngChính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao và một số vị trí khác của bộ máy nhà nước Quốc hội bầu và thànhlập Chính phủ
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhànước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam Chính phủ do Quốc hộibầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Trang 9Toà án nhân dân và Viện kiểm soát nhân dân
Hệ thống có tổ chức của tòa án bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, các tòa
án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh, các Toà án nhân dân cấphuyện ; các tòa án quân sự; các tòa án khác do luật định Trong tình hình đặcbiệt, Quốc Hội có thể quyết định hình thành tòa án đặc biệt
Hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sátnhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ; viện kiểm sát quân sự
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên là một
bộ phận của hệ thông chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là tổ chức lãnh đạo Mặt trận.Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thốngnhất hành động giữa các thành viên
Cơ chế và các nguyên tắc vận hành
Hệ thống chính trị Việt Nam vừa hoạt động theo những nguyên tắc phổbiến của hệ thống chính trị nói chung: nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân, nguyên tắc ủy quyền có điều kiện và thời hạn (thông qua bầu cử tự
do, bình đẳng, phổ thông trực tiếp và kín); vừa hoạt động theo các nguyên tắcđặc thù khác như: Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nguyên tắc tập thể lãnhđạo, cá nhân phụ trách
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc hoạt động cơ bản của hệthống chính trị Riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động trên nguyên tắcđồng thuận, hiệp thương dân chủ
Nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất, không phân chia,nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Nhận diện mô hình:
Theo tiêu chí số lượng đảng cầm quyền, hệ thống chính trị Việt Nam thuộc
mô hình hệ thống một đảng cầm quyền Theo tiêu chí ủy quyền và phân quyềncủa Nhà nước, hệ thống chính trị Việt Nam thuộc mô hình nghị viện Xét về mặtquyền lực trên thực tế, có thể gọi hệ thống chính trị Việt Nam là mô hình Đảng –Nhà nước, trong đó có sự song hành quyền lực giữa Đảng và Nhà nước, đặc biệttrên một số lĩnh vực như quốc phòng, an ninh, đối ngoại công tác cán bộ Hiện
Trang 10nay, Việt Nam đang tiến hành tổ chức lại bộ máy của hệ thống chính trị theohướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.
Đặc điểm mô hình hệ thống chính trị Việt Nam :
Hệ thống chính trị Việt Nam có một Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản cầmquyền, lãnh đạo
Được xây dựng trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mac- Leenin và tư tưởng Hồ ChíMinh
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc vận hành của hệ thống chính trị.Trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, có sự song trùng quyềnlực giữa các cơ quan Đảng và các cơ quan nhà nước
Do điều kiện lịch sử và một phần từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác, mặttrận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không độc lập với Đảng và Nhànước
Những điểm mạnh của hệ thống là: sự tập trung, thống nhất cao của hệthống chính trị từ mục tiêu, ý chí đền nguồn lực và hành động có thể tạo nênsức mạnh của hệ thống Nếu mục tiêu, các quyết định chính sách của Đảng vàNhà nước đúng, hợp lý sẽ tạo nên sự chuyển biến, thay đổi lớn, mạnh mẽ cho cả
để được đổi mới và đáp ứng nhu cầu của cấp chi trị Việt Nam được nhu cầu pháttriển của xã hội
Sự chuyển đổi từ “ hệ thống chuyên chính vô sản” sang hệ thống chính trị
là bước ngoặt đánh đấu sự thay đổi tư duy chính trị của Đảng trong thời kỳ đổimới Nó nhấn mạnh tới tính tương tác, thích nghi của hệ thống Điều này đòi hỏi
Trang 11tính độc lập, tự chủ của các tổ chức, bộ phần cấu thành hệ thống chính trị Hệthống chuyên chính vô sản vì vậy không còn phù hợp Đây chính là sự chuyển đổi
từ việc lấy chức năng trấn áp, cái trị là chính sang chức năng hợp tác trên cơ sởthực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam trên thực tế đã bộc lộ nhữnghạn chế Về mặt tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị còn khá cồng kềnh, nhiềutầng nấc, đầu mối trung gian Chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ của các bộphận cấu thành hệ thống chính trị giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chứcthành viên chưa được xác định rõ ràng,cụ thể, nhất là sự trùng lắp chức nănggiữa Đảng và Nhà nước Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trịchưa đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội Tệ quan liêu, lãng phí, tham ô,tham nhũng gây những hậu quả nghiêm trọng
Quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời gian qua để khắc phụ cáchạn chế trên đã đạt được những kết quả bước đầu:
Thứ nahats, đã có sự khắc phục nhất định sự trùng lắp chức năng giữaĐảng, Nhà nước thông qua cụ thể hóa chức năng lãnh đạo của Đảng, quản lý củaNhà nước, phương thức lãnh đạo, mối quan hệ của cơ quan Đảng, Nhà nước,Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội được phân định và quy định cụ thể, rõràng hơn
Thứ hai, tổ chức, bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức chính trị - xã hội được kiện toàn theo hướng hợp lý, tinh gọn hơn,dần thực hiện đứng chức năng Số lượng đầu mối các bộ, ban, ngành giảm Cụthể, trước năm 2006 có 75 đầu mối sau khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4khóa X giảm được 8 đầu mối Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm banchấp hành Trung ương khóa X, ở cấp Trung ương, trước 1-8-2007, tống số đầumối các cơ quan ngang bộ và 12 cơ quan thuộc chính phủ), hiện này còn 22 đầumối(gồm 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ) Ở cấp tỉnh từ 35 – 40 đầu mối, nay còn 17-25 đầu mối cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Ở cấp huyện từ 20 -
25 đầu mối, nay còn 8 -12 đầu mối cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
Thứ ba, tổ chức nhà nước đã có sự phân định thẩm quyền và chức năngngày càng rõ hơn giữa Quốc hội, chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sátnhân dân Hoạt động của Quốc hội đã có sự chuyển biến, tập trung thực hiệnchức năng đại diện, lập pháp và giám sát Chính phủ được cải cách theo hướng