1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong môn Tiếng Việt

27 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giúp Trẻ Lớp 2 Phát Triển Lời Nói Mạch Lạc Thông Qua Phần Luyện Nói Trong Môn Tiếng Việt
Tác giả Trần Thị Như Hoa
Trường học Trường Tiểu Học Phú Cường
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BA VÌTRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CƯỜNG ---” ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI “Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong m

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BA VÌ

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CƯỜNG

-”

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI

“Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói

trong môn Tiếng Việt”.

Người thực hiện: Trần Thị Như Hoa Giáo viên Trường Tiểu học Phú Cường

Ba Vì - Hà Nội

Trang 2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP- TỰ DO- HẠNH PHÚC

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I-SƠ YẾU LÝ LỊCH

Họ và tên : Trần Thị Như Hoa

Ngày tháng năm sinh : 20-12-1971

Năm vào ngành : 1991

Ngày vào Đảng : 02-02-2001

Chức vụ và đơn vị công tác : Tổ trưởng tổ chuyên môn Trình độ chuyên môn : Đại học

Hệ đào tạo : Khoa giáo dục Tiểu học.

Khen thưởng : - là giáo viên giỏi cấp huyện

- chiến sĩ thi đua cấp huyện

II Nội dung đề tài :

1 Lí do chọn đề tài :

Trang 3

Không biết từ bao giờ, trải qua hàng ngàn năm tiến hoá của loài người, ngônngữ- tiếng nói từ tác dụng sơ khai là trao đổi thông tin đã đóng vai trò biểu hiện tìnhcảm, trạng thái tâm lý và là một yếu tố quan trọng biểu lộ văn hoá, tính cách conngười.

Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:

“Học ăn, học nói, học gói, học mở”

“Lời nói không mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Để đánh giá một con người, chúng ta cũng phải có sự thử thách qua giao tiếphàng ngày với họ:

“Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời”

Mặt khác việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công vềnhiều lĩnh vực:

“ Khéo bán, khéo mua cũng thua người khéo nói”

Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rấtnhỏ, chúng ta đã rất chú trọng:

“Trẻ lên ba, cả nhà học nói”

Từ đó ngành giáo dục đào tạo nói chung và ngành giáo dục tiểu học nói riêng

đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục trẻ em ngay từ nhữngngày đầu bước chân tới trường Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà trường đã ápdụng phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn”

Dạy Tiếng việt không có nghĩa là chỉ dạy các em kĩ năng đọc, viết, nghe màdạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùngquan trọng Ta thử tưởng tượng một người đọc thông, viết thạo tất cả các loại văn

Trang 4

bản, song khi giao tiếp lại để ấn tượng xấu, không gây được mối thiện cảm đối vớimọi người thì con người đó có khả năng sống và làm việc có hiệu quả không?

- Như chúng ta đã biết chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung

và lớp 2 nói riêng yêu cầu coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói , đọc , viết trong dạyhọc Tiếng Việt Trong đó 2 kĩ năng nghe- nói đã được quan tâm một cách thoả đáng Thông qua luyện nói sẽ giúp các em mạch dạn hơn, tự tin hơn trong giao tiếp Biếtnói năng lưu loát rõ ràng, có nội dung, có lô gích, có hình ảnh và đúng ngữ phápTiếng Việt và giúp học sinh có khả năng sử dụng các loại câu phong phú trong lờinói Đặc biệt là kĩ năng sử dụng các trợ từ, liên từ ….lời nói có sắc thái biểu cảm.Đồng thời qua luyện nói học sinh có cơ hội để thể hiện những tâm tư tình cảm vànuôi dưỡng những ước mơ hoài bão của mình Luyện nói cho học sinh giúp học sinh

có khả năng sử dụng từ đúng nghĩa trong từng hoàn cảnh phát ngôn Thông qua đógiáo viên nắm bắt được mức độ phát triển tư duy của từng học sinh ở từng giai đoạn

cụ thể Qua luyện nói còn giúp các em có lời nói hay cử chỉ đẹp thể hiện nếp sốngthanh lịch văn minh của người Việt nam nói chung và người con của thủ đô Hà Nộinói riêng :

“ Chẳng thơm cũng phải hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp,thểhiện được nếp sống thanh lịch văn minh tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài :

“Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong môn Tiếng Việt”.

2 Mục đích của đề tài :

- GV tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơn tronggiao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giaotiếp, trong các giờ luyện nói của các tiết Tiếng Việt trong chương trình SGK lớp 2

Trang 5

- Giúp HS yêu thích môn Tiếng Việt

- Học sinh mạnh dạn trong giao tiếp với bạn bè nói chung và có ý thức tự phê, tựchữa, tự chấm …

- HS có kĩ năng trong giao tiếp và nâng cao tính tự giác trong học tập

- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 2 theo hướng lấyhọc sinh làm trung tâm

- Giúp học có lời nói hay, cử chỉ đẹp và thể hiện nếp sống thanh lịch văn minh

3 Phạm vị nghiên cứu đề tài :

Đề tài này được tham khảo từ những năm trước và tiến hành thực hiện trongnăm học 2010 - 2011 với học sinh lớp 2 tại trường Tiểu học Phú Cường

III Quá trình thực hiện đề tài :

Sau khi tôi nhận nhiệm vụ dạy lớp 2, tôi tiến hành điều tra khảo sát thực tế 81học sinh của 3 lớp : 2a,2b, 2c tại trường Tiểu học Phú Cường Qua thăm lớp dự giờtrong những năm tôi thấy học rất sợ học môn Tiếng Việt , không thích học mônTiếng Việt nhất là phần luyện nói Khi khảo sát tôi thấy số trẻ nói năng chưa mạchlạc chiếm một tỉ lệ tương đối lớn

Trang 6

Số liệu cụ thể tại lớp 2a tôi chủ nhiệm là :

- Thông qua thực tế lớp lớp mình phụ trách và các đồng nghiệp trong khốichúng tôi đều có chung một nhận xét là trẻ nói năng không mạch lạc thường rơi vàonhững trẻ trầm tính, ít nói có khi là rất ngại nói trước đông người nếu gọi trẻ nói thìthường nói nhỏ, không tự tin, ấp úng cô phải sửa rất nhiều Đây chính là cốt lõi vấn

đề vì sao phần luyện nói nói riêng và môn tiếng Việt nói chung rất khó với học sinhlớp 2 lại là khối lớp làm quen với môn Tiếng Việt gồm rất nhiều phân môn

- Xuất phát từ thực trạng trên mà tôi trăn trở phải làm như thế nào để giúp trẻkhắc phục được những khó khăn này Tôi tự tìm cho mình một giải pháp đó là :

“Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong môn

Tiếng Việt”.

2 Biện pháp thực hiện :

Theo tôi giúp trẻ nói mạch lạc phải đảm bảo yếu tố sau đây :

Trang 7

Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp;

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thực hành luyện tập

- Nhiều học sinh được thực hành

Như phần đầu tôi đã nêu thông qua phần luyện nói trẻ sẽ dần dần biết nóinăng lưu loát rõ ràng, có lôgic có hình ảnh và đúng ngữ pháp Tiếng Việt …Tóm lại là

sẽ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Để đánh giá mức độ phát triển lời nói mạch lạccủa trẻ cần dựa vào những tiêu chí cụ thể Qua thực tế giảng dạy tôi đã xây dựngđược 4 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ như sau :

+ Kĩ năng hiểu nghĩa từ

+ Kĩ năng sử dụng từ để nói thành câu

+ Kĩ năng kể lại chuyện vừa nghe

+ Kĩ năng quan sát tranh tự miêu tả bằng ngôn ngữ những hình ảnh trong tranh

Tổng số điểm 4 tiêu chí trên là 10 điểm

Trong đó: tiêu chí 1 tối đa là: 1 điểm , tiêu chí 2 tối đa là : 2 điểm , tiêu chí 3tối đa là : 3 điểm , tiêu chí 4 tối đa là: 4 điểm

Dựa vào việc phân bố các thang điểm cho từng tiêu chí nêu trên mà việcđánh giá kĩ năng phát triển lời nói mạch lạc của trẻ lớp 2 được tthực hiện theo 4 mức

độ : Rất mạch lạc là những trẻ đạt từ 9-> 10 điểm

Mạch lạc là những trẻ đạt từ : 6-> 8 điểm

Có mạch lạc là những trẻ đạt điểm 5

Chưa mạch lạc là những trẻ điểm từ 4 trở xuống

Đây chính là cơ sở để tôi có kết quả như đã nêu ở phần khảo sát thực trạng

Trang 8

- Sau đây là một số giải pháp nhằm “Giúp trẻ lớp 2 phát triển lời nói mạch lạc

thông qua phần luyện nói trong môn Tiếng Việt”.

- Quá trính dạy môn Tiếng Việt tôi luôn soáy vào 4 tiêu chí trên để dựng nền tảnggiúp các em thực hiện tốt phần luyện nói qua đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc chotrẻ

Phương pháp 1: Phương pháp quan sát:

1 Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo

dục Nhằm quan sát giờ dạy của giáo viên và học tập của học sinh trên lớp.Đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua những lời phát biểu của họcsinh trong giờ luyện nói của mỗi tiết học, qua lời nói của học sinh với mọingười xung quanh mọi nơi, mọi lúc qua các bài tập thực hành trong vở bài tậpTiếng Việt in

2 Biện pháp thực hiện:

- Ngoài những sổ sách do nhà trường quy định, giáo viên có thêm mộtquyển sổ ghi chép những điều quan sát, nhận xét từng học sinh trong lớp Đó làcuốn sổ “Theo dõi đánh giá hành vi học sinh” Trong cuốn sổ này, giáo viên ghichép những hành vi, lời nói giao tiếp, những thói quen tốt và cả những điểm cònkhiếm khuyết của học sinh, để từ đó có cái nhìn khái quát về việc sử dụng vốnngôn ngữ biểu cảm của học sinh Từ đó giáo viên dễ dàng phân loại khả năng giaotiếp của từng học sinh trong lớp, qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng cao cho họcsinh giỏi và học sinh xuất sắc, luyện kĩ năng nói sao cho đạt trình độ chuẩn chohọc sinh khá và học sinh trung bình Quan sát phản ánh khá trung thực tình trạngcủa học sinh

- Ưu điểm của phương pháp này là: Sau khi phân loại học sinh, giáo viênchọn lọc những câu hỏi, câu gợi mở sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh

để các em phát huy hết khả năng giao tiếp của bản thân trong phần luyện nói củatiết học môn tập đọc và các môn khác trong chương trình

Trang 9

Phương pháp 2: Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Qua những ghi chép cá nhân của giáo viên và những số liệu thống kê,giáo viên xử ký những thông tin ấy bằng cách phân tích, tổng hợp những mẫu lờinói thu thập được từ phía học sinh Từ đó có thể có sự đánh giá sát thực hơn vềtình trạng học sinh

- Biện pháp thực hiện:

Giáo viên tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh theo các nhóm sau:

a Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc biết thể hiện lời nói biểucảm trong giao tiếp Đây chính là những nhóm trưởng, những người dẫn chươngtrình trong các giờ luyện nói trên lớp, những nhân vật nòng cốt trong các tiểuphẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh tham gia rèn luyện kĩ năng nói trên lớp

b Nhóm học sinh có lời nói tương đối trôi chảy, rõ ràng tuy nhiên chưathể hiện được lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét

c Nhóm học sinh ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp kém, hầu như khôngbiết sử dụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp

Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinhtrong lớp, giáo viên tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đềukhắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm

Ưu điểm của biện pháp này là: Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình họctập của học sinh là việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan Như ta từngnói: “Học thày không tày học bạn’

Sự phấn khích trong qua trình học tập, đua thầy, đua bạn sẽ giúp trẻ mạnhdạn năng động hơn rất nhiều trong qua trình rèn nói

Sự cổ vũ động viên của các bạn trong nhóm, trong tổ sẽ giúp trẻ tự tin hơntrước lời phát biểu của mình

Trang 10

Phương pháp 3: Phương pháp thực hành luyện tập:

1. Với phương pháp này, học sinh thương xuyên được thực hành

luyện tập “nói” trong tất cả các tiết học Tiếng Việt Chính vì vậy khả năng giaotiếp của các em càng ngày càng được hoàn thiện Việc “nói” sao cho trôi chảy,mạch lạc, lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cáchchính xác khả năng học tập của học sinh

2. Biện pháp thực hiện:

Các bài thực hành rèn luyện kĩ năng nói ở lớp 2:

2.1.Loại bài tập luyện phát âm theo chuẩn:

Ở phần này, giáo viên chú ý đối tượng học sinh phát âm chưa chuẩn các từtiếng khó cần rèn đọc trong phần luyện đọc ở tiết 1

Lập danh sách những học sinh phát âm chưa chuẩn, để rèn cho các emtrước hết phải phát âm đúng chính xác, từ đó các em mới bình tĩnh, tự tin phátbiểu hay đưa ra những ý kiến riêng của bản thân và lời nói trong giờ luyện nói mới

có thể tự nhiên, trong sáng

Cách tiến hành: Giáo viên lựa chọn các loại âm, vần địa phương thường

phát âm sai chuẩn trong từng bài tập đọc để học sinh luyện phát âm thật đúng vàchính xác Điều quan trọng ở đây chính là bản thân giáo viên phải là người phát

Ví dụ : Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi

Trang 11

Thi đọc nhanh và đúng

Câu có âm đầu, vần, thanh dễ lẫn

Chuẩn bị : Mỗi em có thể tự nghĩ ra hoặc sưu tầm một số câu thơ, câu văn

có những cặp âm đầu, vần, thanh dễ đọc, viết lẫn lộn (do đặc điểm của cách phát

âm ở địa phương) rồi ghi vào mảnh giấy làm “ đề bài” thi đọc trong nhóm

Cách tiến hành:

- Đưa ra từng “ đề bài” để lần lượt từng người đọc to trước các bạn Nhóm

cử ra một người theo dõi và đánh giá, hoặc cả nhóm cùng nghe và thống nhất đánhgiá kết quả đọc của bạn theo tiêu chuẩn: đọc nhanh, phát âm đúng( có thể chođiểm theo thang điểm 10 hoặc xếp theo 4 tiêu chí trên )

- Khi đọc xong tất cả “đề bài”, tính tổng số điểm của từng người( hoặcthống kê từng tiêu chí ) để chọn ra các bạn đạt giải nhất , nhì , ba… Cả nhóm cóthể bình chọn để tuyên dương bạn nào sưu tầm( hoặc tự nghĩ ra) được nhiều câuhay, có nhiều tiếng mang cặp âm đầu, vần, thanh dễ lẫn

Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng + Anh ta leo lên lưng chim, chim đập cánh ba lần lên nổi.

Trang 12

b) Phân biệt ch/tr

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che Quê là đên trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài hè.

- Bên cạnh tìm câu có phụ âm đâu, vần dễ lẫn tôi giúp học sinh có kĩ năng hiểu nghĩacủa từ một cách dễ hiểu, nhớ lâu và hấp dẫn

*Ví dụ : từ “chẻ lạt” cần giải thích GV giúp HS hiểu được nghĩa của từ này nếu tôi dạy chay chỉ dùng ngôn ngữ để giải thích thì học sinh sẽ không hiểu được mà tôi phải đưa ra cho các em xem những chiếc lạt bằng tre (giang) cho học sinh quan sát Sau đó tôi lại đưa cho các em xem một thanh tre tươi và nói “Từ những thanh như tre này người ta chẻ (tôi làm động tác) thành những sợi mỏng dùng để buộc =>“chẻ lạt”

Ví dụ 2:

- Để học sinh hiểu khi nào dùng từ “trông” khi nào dùng từ “trông thấy” Tôi phải đưa ra 2 bức tranh :

Tranh 1: Vẽ hình ảnh bà đang chơi đồ chơi với bé

Tranh 2: Vẽ hình ảnh bà đang nhìn ra xa ở đó có một đoàn tàu

Rồi tôi yêu cầu học sinh điền từ vào chỗ ….trong câu :

Bà ……cháu => Bà trông cháu

Bà … đoàn tàu => Bà trông thấy đoàn tàu

- Tóm lại : Để học sinh hiểu được nghĩa từ, dùng từ chính xác cũng như sử dụng từ

để nói thành câu, tôi phải kết hợp nhiều yếu tố như lời nói, thao tác, nết mặt, đồ dùng trực quan …

Trang 13

c) Phân biệt s/x:

Anh bộ đội xúng xính trong bộ quần áo mới, vai súng nom thật oai vệ

d) Phân biệt ac/at

+ Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

2 Đọc phân biệt các tiếng có thanh dễ lẫn(Thanh hỏi/ thanh ngã)

Còn đâu bến cũ tiễn người sông xưa

xôn xao nhớ đến những người thân ở quê.

3.Đọc phân biệt các tiếng có vần dễ lẫn

a.Phân biệt ân/âng

Dân dâng một quả xôi đầy Bánh trưng mấy cặp, bánh dầy mấy đôi

b.Phân biêt ươn/ ương

Cá không ăn muối cá ươn Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư 2.2.Loại bài tập tình huống:

Trang 14

Đây là loại bài tập để luyện tập các nghi thức lời nói và phát triển ngôn ngữnói Chương trình SGK mới đặc biệt đã tạo điều kiện cho học sinh lớp 2 đượcthực hành rất nhiều loại bài tập này Trong các phần luyện nói ở các bài học tậpđọc và kể chuyện học sinh được chơi đóng vai , đóng kịch kể lại Theo từng chủ

đề của bài học, học sinh được tham gia chơi đóng vai ông bà, cha mẹ và các cháunhỏ, người bán hàng người mua hàng để luyện tập các nghi thức lời nói ( chàohỏi khi gặp mặt chia tay; nói lời cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu đề nghị một việcgì ).Hoạt động này là một cách luyện tập phát triển ngôn ngữ qua hình thức vừachơi vừa học, vừa phát triển ngôn ngữ nói, vừa giáo dục tác phong văn minh lịch

sự Với loại bài tập này hình thức tổ chức lớp học sẽ thay đổi, không còn tính chất

“cổ điển” Chương trình Tiếng Việt Tiểu học chú trọng đến loại bài tập tình huống

để học các nghi thức lời nói và phát triển khẩu ngữ

Cách tiến hành:

Trước hết để giờ luyện nói đạt kết quả tốt, giáo viên cần dành thời giannghiên cứu nội dung của bài luyện nói để đưa ra những câu hỏi dẫn dắt sao chophù hợp với nội dung bài cũng như phù hợp với đối tượng học sinh của mình Vớitừng nội dung của bài luyện nói, giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo đưa ra những tiểuphẩm ngắn gọn phù hợp với nội dung bài để học sinh tập sắm vai thể hiện ngônngữ của bản thân thật tự nhiên, trong sáng

* VD: Trò chơi về Tập làm văn

- Chọn lời cho đúng

* Chuẩn bị:

_ 4 tranh ảnh (hoặc hình vẽ) minh hoạ 4 tình huống khác nhau có xuất hiện lời cảm

ơn và lời đáp lại lời cảm ơn:

+ Bạn gái xách 1 vật nặng, một bạn trai tới để xách giúp

+ Bạn trai chơi chạy đuổi bị vấp ngã, được một bạn khác đỡ dậy

Ngày đăng: 06/11/2023, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w