1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo sáng kiến DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

10 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Truyện Ngắn “Hai Đứa Trẻ” Theo Đặc Trưng Loại Thể
Tác giả Nguyễn Kim Hội
Trường học Trường THPT Thụng Nụng
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại báo cáo sáng kiến
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 118,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực trạng trên đã đặt ra trăn trở cho mỗi giáo viên văn THPT làm thế nào để khai thác các văn bản theo đúng đặc trưng loại thể để phục vụ công việc giảng dạy và nghiên cứu. Trong quá trình giảng dạy, xuất phát từ như cầu thực tế của bản thân và qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp tôi đã chọn đề tài: “ Dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ” theo đặc trưng loại thể” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” THEO ĐẶC TRƯNG LOẠI THỂ

I TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Họ và Tên: Nguyễn Kim Hội

Ngày sinh: 14/10/1987

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị: Tổ Văn – Địa – Tin – Trường THPT Thông Nông – Cao Bằng.

II LĨNH VỰC ÁP DỤNG

Sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng cho giáo viên bộ môn văn trong giảng dạy tác phẩm “Hai đứa trẻ” nói riêng và việc dạy học các văn bản văn học nói chung

Hỗ trợ học sinh học và khám phá các tác phẩm văn học trong nhà trường

III THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

1 Đối với giáo viên bộ môn ngữ văn:

- Việc thay đổi sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay hướng nhiều vào dạy học kĩ năng tạo

lập các kiểu văn bản thông qua việc vận dụng các thao tác tư duy và lĩnh hội văn bản bám sát đặc trưng loại thể Nhiều GV đã ý thức được rõ yêu cầu và tiến hành thực hiện,

đạt kết quả tốt

Qua thực tế dự giờ của một số đồng nghiệp ở một số trường, cũng như xem qua giáo

án, thiết kế bài giảng của nhiều giáo viên, chúng tôi nhận thấy rằng, cho đến nay, giáo viên dạy học tác phẩm văn chương phần lớn chỉ quan tâm đến thể loại, không quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức “tính chất của loại thể trong thể” Ngay cả sách tham khảo, những tài liệu hướng dẫn cũng chưa chú ý đến loại thể trong quá trình phân tích tác phẩm văn học, đặc biệt là vấn đề “chất của loại” trong thể Bên cạnh đó, tình trạng người thầy là “cái máy phát thanh” của người soạn sách (học trò dù có chủ động đến đâu cũng khó có thể “qua mặt” sự chủ động của thầy) dẫn đến việc nhiều tác phẩm văn học chưa được khai thác “đúng” và “trúng”

- Đặc biệt, với những văn bản có sự phức tạp trong việc xác định loại thể của nó như truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam – Một truyện ngắn trữ tình – đôi khi vẫn tồn tại việc khai thác như một tác phẩm tự sự bình thường mà không chú ý tới đặc trưng của văn bản là tập trung vào diễn biến tâm trạng nhân vật chính, vào thế giới cảm xúc nhân vật

Đối với những GV đã xác định đúng đặc trưng truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thi cũng gặp không ít khó khăn trong thiết kế giáo án và việc truyền tải đến cho HS nắm vững nội dung bài học

2 Đối với học sinh:

- Phân môn đọc hiểu văn bản là phân môn khó đối với đa phần HS Bởi để hiểu

được đúng, đủ nội dung văn bản, HS cần đọc nghiêm túc, phát hiện được những chi tiết

và chỉ ra được ý nghĩa của những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng văn bản

- Thói thụ động trong học tập là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng dạy – học Ngữ văn chưa đạt với yêu cầu HS không đọc văn bản, lười soạn bài, đến lớp không tập trung nên càng khó khăn trong việc theo dõi bài học, hiểu nội dung văn bản Đặc biệt, với những tác phẩm văn xuôi dài

- Nhiều HS có ý thức học hơn, có chuẩn bị bài thì thường tư duy theo thói quen, lối mòn Cứ thơ thì chú ý tới cảm xúc nhân vật trữ tình, văn xuôi là phân tích nhân vật, kịch thì xung đột kịch Bởi vậy, khi gặp những văn bản có tính vấn đề về mặt thể loại sẽ

Trang 2

gặp lúng túng hoặc hiểu sai nội dung tư tưởng tác phẩm; trong số đó có truyện ngắn

“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Trước thực trạng trên đã đặt ra trăn trở cho mỗi giáo viên văn THPT làm thế nào

để khai thác các văn bản theo đúng đặc trưng loại thể để phục vụ công việc giảng dạy

và nghiên cứu

Trong quá trình giảng dạy, xuất phát từ như cầu thực tế của bản thân và qua trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp tôi đã chọn đề tài:

“ Dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ” theo đặc trưng loại thể” làm đề tài nghiên

cứu

Thông qua việc nêu lên những lưu ý khi xác định loại thể văn bản “Hai đứa trẻ”, người viết đưa ra định hướng tìm hiểu đúng đắn và trình bày một giáo án thể nghiệm

II BẢN CHẤT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Nội dung:

1.1.Một số vấn đề về loại thể văn học

1.1.1 Quan niệm về loại thể và việc phân chia loại thể

Trong quá trình phát triển lâu dài của văn học, loại thể là một yếu tố mà bên cạnh mặt biến động đổi thay lại có những yếu tố tương đối ổn định Các tác phẩm của nhiều tác giả, ở nhiều thời đại, quốc gia đều khác nhau về nội dung, tư tưởng nhưng có những mặt gần gũi về điệu cảm xúc của tâm hồn, về ý thức biểu hiện thế giới nội tâm của nhà thơ Những yếu tố tương đồng và tương đối ổn định đó trong văn học biểu hiện nhiều mặt và loại thể văn học là một yếu tố quan trọng

Loại thể văn học là phạm trù phân loại các tác phẩm văn học vốn đa dạng, đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, theo một số dấu hiệu nhất định Theo Trần Thanh Đạm, loại thể bao gồm loại (loại hình) và thể (thể tài) Theo Nguyễn Thị Dư Khánh, loại thể gồm loại (loại hình) và thể (thể thơ, thể văn) Từ đây, chúng ta có thể hiểu một cách thống nhất về loại thể Chúng gồm các nhóm lớn nhất là loại, mỗi loại có những nhóm nhỏ hơn là thể (hoặc thể loại, thể tài)

Sáng tác văn học hết sức đa dạng, phong phú, vì thế để thưởng thức, nghiên cứu, phê bình, nắm bắt các qui luật của văn học, người ta có nhu cầu phân loại các thể loại của các tác phẩm văn học Đó là một công việc vì hai nguyên nhân Một là bản thân thể loại rất phức tạp và hai là có nhiều cách phân loại khác nhau

Các thể loại văn học đã nhiều lại luôn ở trong sự vận động, thay đổi, pha trộn vào nhau Trong tiến trình đời sống, một số thể loại do không thích hợp đã bị loại bỏ, một số thể loại mới nảy sinh và thay thế Các hiện tượng đó làm khó cho công việc phân loại Tiêu chí phân loại cũng rất nhiều Phân loại về ngôn ngữ, về phương thức cấu tạo hình tượng, về dung lượng dài ngắn Các tiêu chí làm cho việc phân loại không khỏi chồng chéo, và nhìn chung sự phân loại chỉ có thể mang tính chất tương đối

Đó là vì, một là mọi khái quát về loại thể văn học xưa nay nói chung không bao giờ đầy đủ Thứ hai không một tiêu chí phân loại văn học nào có thể loại trừ được các tiêu chí khác Thứ ba, các thể loại và các loại văn học không ngừng xâm nhập vào nhau, tạo thành các loại trung gian Chọn cách nào đều nhằm một mục đích tiện lợi nào đó trong việc giảng dạy

Theo chúng tôi thì việc chia ba loại: tự sự, trữ tình, kịch là tương đối ổn định Ở mỗi loại có các thể nhỏ:

- Loại tự sự

+ Tự sự dân gian: gồm các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,

Trang 3

truyện cười.

+ Tự sự cổ trung đại và hiện đại: gồm các thể loại truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí

- Loại trữ tình

+ Trữ tình dân gian: gồm các thể loại tục ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đố

+ Trữ tình cổ trung đại và hiện đại: gồm các thể thơ cổ thể truyền thống và thơ tự do

- Loại kịch

+ Sân khấu dân gian: gồm các thể loại chèo, tuồng, múa rối

+ Kịch hiện đại: gồm các thể loại bi kịch, hài kịch

1.1.2 Những mâu thuẫn và tồn tại

Cách phân loại trên là cần thiết khi bước đầu tiếp cận các tác phẩm văn học trong nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế, một số tác phẩm thuộc thể loại này nhưng lại mang tính chất của loại khác Tức là tồn tại vấn đề “chất của loại” trong thể Chẳng hạn như một truyện ngắn giàu chất trữ tình, một bài thơ giàu chất tự sự, hay một truyện ngắn giàu chất kịch… Chúng ta cần thận trọng với ba loại tính chất (tính chất trữ tình, tính chất tự sự, tính chất kịch) ở từng tác phẩm Nói cách khác, chúng ta cần chú ý đến

“chất của loại” trong thể khi phân tích tác phẩm văn học Vì chính “tính chất loại thể” làm ra diện mạo tinh thần của tác phẩm Nó giúp ta tiếp nhận “đúng”, “trúng” với tác phẩm cụ thể Làm thành “loại” và thể hiện “loại” phải nhờ các “thể” Nhưng không ít

“thể” của tác phẩm thuộc loại này nội dung lại mang tính chất ở loại kia Ví dụ như Hai đứa trẻ là truyện (thuộc loại tự sự), nhưng mang chất trữ tình Vì vậy chúng ta không

thể dạy theo loại tự sự thuần túy được Nếu chỉ chú ý vào thể mà quên đi tính chất loại trong thể trong tác phẩm, chúng ta rất dễ phân tích tác phẩm một cách rập khuôn, sai lệch Như vậy, Việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt trong dạy học tác phẩm văn chương

Trước khi tìm hiểu một tác phẩm, chúng ta cần xác định loại thể, xác định “chất của loại” trong thể trong tác phẩm Để nhận biết “chất của loại” trong thể trong một tác

phẩm, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm của loại Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm

hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, sau đây, xin giới thiệu một số đặc điểm của loại tự sự

và trữ tình

- Loại tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan (tương đối) của nó- qua con

người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó

Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian và thời gian Nó có thể

kể về những khoảnh khắc hay những sự kiện xảy ra hàng trăm năm Tầm bao quát cuộc sống trong tác phẩm rộng lớn Nhịp điệu trong tác phẩm nhìn chung là khoan thai

Nhân vật tự sự được khắc họa đầy đặn nhiều mặt: bên trong, bên ngoài, cả điều nói ra và không nói ra, cả ý nghĩ và cả cái nhìn, cả cảm xúc, tình cảm, ý thức và vô thức, cả quá khứ, hiện tại và tương lai

Hệ thống chi tiết nghệ thuật của tác phẩm tự sự phong phú, đa dạng, bề bộn hơn hai loại trữ tình và kịch

Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật của nó Hình tượng người trần thuật, kể chuyện rất đa dạng: khách quan, ngôi thứ nhất, thông suốt, thông suốt có chọn lựa… và cũng có khi người kể chuyện như một nhân vật… khi nhập thân, khi gián cách, khi đứng ngoài, khi hòa nhập… ít nhiều ta vẫn nhận ra thái độ của họ

Lời văn của loại tự sự có thể là văn vần hay văn xuôi nhưng luôn hướng người đọc ra thế giới đối tượng, khác hẳn lời trữ tình hướng sự chú ý tới cảm xúc, ý định chủ quan của người nói, khác hẳn lời thoại trong kịch

Trang 4

Lời nói của nhân vật tự sự là một thành phần, một yếu tố của văn tự sự Nó xuất hiện gắn liền với sự miêu tả Trong tự sự, không có chỗ cho những lời thổ lộ trữ tình độc lập, hay tự biểu hiện một cách trực tiếp, cái đó chủ yếu dành cho nhân vật Chính vì vậy mà trong tự sự vẫn chấp nhận ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa, nửa trực tiếp, nủa gián tiếp

Văn tự sự có chức năng tái hiện, phân tích sự vật qua miêu tả và thuyết minh Việc khẳng định loại tự sự phải căn cứ trên cả nội dung và nghệ thuật Nó cũng mang những chủ đề: lịch sử dân tộc, thế sự đạo đức và đời tư

- Loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Trong tác

phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình

mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào

Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng

trước vấn đề gì Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống

khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động Những chi tiết chân thật, sinh động

trong đời sống dễ khêu gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ Có điều những chi tiết trong tác phẩm trữ tình bao giữ cũng hết sức cô đọng, súc tích

Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ Ðó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín nhưng khi sáng tác nhà thơ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một loại người, một thế hệ và cả những chân lí phổ biến Người ta thường nói đến từ chân trời của cái "tôi" đến chân trời của cái "ta", "từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả" cũng trên ý nghĩa này

Trong tác phẩm trữ tình có nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư về lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những tình cảm, tâm trạng, suy tư của chính bản thân nhà thơ Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai

Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây

ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong tác phẩm trữ tình là giàu nhạc tính Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, được biểu hiện khác nhau

Bên cạnh việc nắm vững các đặc điểm của mỗi loại, chúng ta có thể dựa vào thi pháp tư tưởng, phong cách, cái “tạng” riêng của từng nhà văn để khám phá ra “chất của loại” trong tác phẩm cụ thể Thạch Lam là một tác giả văn xuôi lãng mạn Cái

riêng của ông là thể hiện vẻ đẹp tình người kín đáo, đằm thắm, khẽ khàng, sâu xa, lắng

Trang 5

đọng Chất “thơ văn xuụi”, “chất trữ tỡnh hiện thực” tràn đầy trong cỏc tỏc phẩm của ụng Chỳng ta phải dạy học tỏc phẩm của Thạch Lam theo hướng với tỏc phẩm trữ tỡnh cho dự nú là truyện

1.2 Truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” - truyện ngắn trữ tỡnh

Đõy là truyện cú cốt truyện đơn giản, một kiểu truyện ngắn trữ tỡnh cú nhiều chi tiết cứ ngỡ như vụn vặt, vụ nghĩa nhưng được chọn lọc và sắp xếp một cỏch chặt chẽ

đẻ diễn tả tõm trạng nhõn vật Truyện chủ yếu đi sõu vào thế giới nội tõm nhõn vật, khơi dũng ý thức, tõm trạng con người trước cỏc mảng hiện thực đời sống Hơn thế nú lại là những cảm xỳc mong manh, mơ hồ, bõng khuõng, thoỏng nhẹ được miờu tả qua ngũi bỳt tinh tế, khụng dễ tiếp thu nếu khụng cú một tõm hồn nhạy cảm Mặt khỏc, niềm xút thương và thỏi độ trõn trọng của nhà văn đối với những kiếp người tàn tạ chỉ cú thể được cảm nhận qua giọng điệu tỏc phẩm, mà trực tiếp là giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh, lắng sõu Để giải quyết khú khăn này, GV phải tạo được khụng khớ văn chương trong giờ học, phải giỳp HS thõm nhập sõu vào thế giới hỡnh tượng đặc thự của tỏc phẩm, từ đú cảm nhận, suy nghĩ

1.3 Giỏo ỏn thể nghiệm:

Căn cứ vào đặc điểm riờng của tỏc phẩm, nhận thức được những khú khăn khi tiếp cận văn bản, Tụi mạnh dạn ỏp dụng cỏch khai thỏc văn bản “Hai đứa trẻ” thụng qua giỏo ỏn thể nghiệm sau:

Tiết 32-33-34: Hai đứa trẻ

Thạch Lam

-I Mục đích yêu cầu

1 Kiến thức

* Kiến thức chung: - Hiểu đợc sự cảm thông sâu sắc của Thạch Lam đối với cuộc sống quẩn quanh, buồn tẻ của nh ngời nghèo phố huyện và sự trân trọng của nhà văn trc mong ớc của họ về 1 cuộc sống tơi sáng hơn

- Thấy đc vài nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật Thạch Lam

* Kiến thức trọng tâm: - Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chọ tàn, những kiếp ngời tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ

- Niềm xót xa thơng cảm của nhà văn trớc cuộc sống quẩn quanh tu đọng của những

ng-ời lao động nghèo nơi phố huyện và sự trân trọng nâng niu những kahst vọng nhỏ be, tơI sáng của họ

- Tác phẩm đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất thơ

2 Kĩ năng: - Đọc hiểu tác phẩm theo đặc trng thể loại

- Phân tích tâm trạng nhân vật trong tp tự sự

3 T tởng: Giáo dục lòng nhân hậu và ý thức: Biết ớc mơ và có niềm tin trong cuộc sống

II Ph ơng pháp dạy học

- Phơng pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, kết hợp trao đổi thảo luận nhóm

- Phơng pháp phân tích, bình giảng, kết hợp so sánh, liên tởng

- Tích hợp phân môn Làm văn Tiếng Việt Đọc văn

III Đồ dùng dạy học

- SGK - SGV Ngữ văn 11

- Thiết kế bài học ,

- Các tài liệu tham khảo

IV Tiến trình giờ học.

1 ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra vở soạn

3 Bài mới

tg Hoạt động của GV & Hs Nội dung bài học

* Hoạt động 1

HS đọc và tóm tắt tiểu dẫn I Đọc hiểu tiểu dẫn.1 Tác giả

Trang 6

15

15

SGK ? Phần tiểu dẫm SGK

trình bày những nội dung chính

nào?

HS đọc SGK, trả lời

GV chuẩn xác kiến thức

? Trong chơng trình ngữ văn

THCS em đã đợc học những tác

phẩm nào của Thạch Lam?

* Hoạt động 2: Đọc và phân

chia bố cục

GV hớng dẫn HS đọc

* Hoạt động 3 Tìm hiểu văn

bản

? Cảnh vật trong truyện đợc

miêu tả trong thời gian và

không gian nh thế nào?

HS tìm chi tiết

? Em có cảm nhận gì về khung

cảnh ngày tàn đợc miểu tả ở

phần đầu truyện ngắn?

HS cảm nhận

? Có quan điểm cho rằng: đoạn

văn tả cảnh thiên nhiên là một

đoạn văn giàu chất thơ, thể hiện

tài dựng cảnh điêu luyện của

nhà văn ý kiến của em thế

nào? (Gợi ý: nhịp điệu câu văn,

hình ảnh, cảm xúc)

HS phân tích, bình giá

GV bình giảng thêm giúp HS

cảm nhận

- Thạch lam: 1910-1942 Tên khai sinh Nguyễn Tờng Vinh, sau đổi là Nguyễn Tờng Lân Bút danh Việt Sinh

- Tuy là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn ( em ruột của Nhất Linh - Hoàng Đạo), nhng văn chơng của Thạch Lam lại hớng về cuộc sống của tầng lớp tiểu t sản, tri thức nghèo và ngời lao

động

- Sở trờng viết truyện ngắn: Loại truyện tâm tình, truyện không có truyện Hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình luôn đan cài, xen kẽ vào nhau tạo nên nét đặc thù khó lẫn trong phong cách nghệ thuật của ông

- Thế giới nhân vật thờng là tầng lớp tiểu t sản nghèo tầng lớp nông dân với cuộc sống vất vả, cực nhọc, bế tắc Vì vậy nhân vật thờng mang tâm trạng cảm xúc, cảm giác nhiều hơn là t duy

- Thạch Lam là ngời đem chất thơ vào văn xuôi Hầu hết các tác phẩm của ông đều đợc viết với tấm lòng đôn hậu, nhậy cảm , tinh tế với mọi biến thái tâm trạng của lòng ngời

- Các tác phẩm chính: SGK - 94

2 Giới thiệu tác phẩm: Hai đứa trẻ.

- Xuất xứ: In trong tập Nắng trong vờn 1938

- Bút pháp: Hiện thực và lãng mạn trữ tình

II Đọc hiểu văn bản.

1 Đọc

2 Bố cục:

- P1: Phố huyện lúc chiều tàn

- P2: Phố huyện về đêm

- P3: Phố huyện về khuya

3 Tìm hiểu:

3.1 Phố huyện lúc chiều tàn:

a Cảnh thiên nhiên:

+ Thời gian trong truyện: Buổi chiều tối

+ Không gian trong truyện: Phố huyện

+ánh sáng trong truyện: Ngọn đèn dầu

- Mọi cuộc sống sinh hoạt diễn ra đều đợc cảm nhận qua con mắt của Liên Cuộc sống nơi đây

đều gợi sự tàn tạ, hiu hắt:

+ Cảnh ngày tàn: Tiếng trống, phơng đông đỏ rực, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve bóng tối bắt

đầu tràn ngập trong con mắt Liên

* Nhận xét : Một bức tranh thiên nhiên quen thuộc, đẹp nhng tĩnh lặng và đợm buồn

- Nghệ thuật : + Những câu văn êm dịu, có nhịp điệu chậm rãi, giàu hình ảnh, nhạc điệu, uyển chuyển, tinh tế + Mỗi câu văn nh gợi dậy đợc cái hồn của cảnh vật, cái thần thái của thiên nhiên

+ Câu văn ở câu trớc nh mở ra cảnh vật ở câu tiếp theo

4 Củng cố:

Trang 7

- Tác giả

- Nội dung : Cảnh thiên nhiên lúc chiều tàn

5 Hớng dẫn về nhà : Soạn tiếp bài

V

Rút kinh nghiệm

………

………

………

………

Tiết 33: Hai đứa trẻ

(Tiếp) Thạch Lam

-IV Tiến trình giờ học.

1 ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra vở soạn

3 Bài mới

5 GV dẫn dắt vào tiết học mới.? Cảnh chợ tàn đợc hiện lên

qua những chi tiết, hình ảnh

nào?

HS phát hiện chi tiết, cảm

nhận

? Tâm trạng hai chị em Liên

tr-ớc cảnh ngày tàn, chợ tàn và

cuộc sống con ngời đợc miêu tả

nh thế nào?

b Cảnh chợ tàn

+Chợ vãn từ lâu + Ngời ra về và những ồn ào cũng mất + Trên đất chỉ còn rác rởi , vỏ bởi, vỏ thị…

+ Mùi âm ẩm bốc lên + Một vài ngời bán hàng về muộn + Mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi

Không gian vắng vẻ, im lìm, buồn xao xác của xã hội Việt Nam thời kì trớc cách mạng

c Tâm trạng hai chị em Liên

- Trớc cảnh chiều tàn, chợ tan

Thấy lòng buồn man mác trớc giờ khắc của ngày tàn

Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng ban ngày lẫn

Trang 8

10

15

Hs tìm chi tiết

? Qua những cảm xúc đó, em

thấy Liên là ngời nh thế nào?

GV dẫn dăt, chuyển ý

? : Cảnh thiên nhiên khi phố

huyện vào đêm đợc miêu tả nh

thế nào?

HS tìm chi tiết

-?: Trong quá trình tả cảnh, chi

tiết, hình ảnh nào đợc lặp lại

nhiều nhất? Nhận xét về tơng

quan giữa ánh sáng và bóng

tối?ý nghĩa?

HS lí giảI, cảm nhận

? Cuộc sống những con ngời

phố huyện đợc thể hiện qua

những hình tợng nhân vật nào?

Nhận xét?

HS tìm chi tiết, nhận xét

?: Cảnh những kiếp ngời tàn tạ

đợc miêu tả nh thế nào?

HS cảm nhận

? Qua bức tranh đời sống ảm

đạm ấy, em cảm nhận già về

thài độ cuả tác giả?

với mùi cát bụi quen thuộc quá khiến chị em Liên tởng là mùi riêng của đất, của quê hơng này.

- Nhìn những đứa trẻ con nhà nghèo: Liên trông thấy động lòng thơng nhng chính chị cũng không

có tiền để cho chúng

 Những tâm hồn tinh tế và nhạy cảm, biết yêu

th-ơng và cảm thông chia sẻ với ngời khác

Nghệ thuật khai thác tâm trạng tinh tế

2 Cảnh phố huyện về đêm

a Cảnh phố huyện

+ Đêm mùa hạ êm nh nhung và thoảng qua gió mát  Đêm yên lặng, vắng vẻ, mát mẻ

+ Đêm chứa đầy bóng tối: Đờng phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối… tối hết cả.Con đờng thăm thẳm ra sông, con đờng qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa…

+ ánh sáng le lói, yếu ớt: quầng sáng ngọn đèn dầu, chấm lửa nhỏ bếp lửa, hột sáng ngọn đèn dầu, ánh sáng những vì sao ganh nhau lấp lánh,

ánh sáng những con đom đóm

Hình ảnh bóng tối đợc lặp đi lặp lại, ánh sáng cũng đợc nhắc tới nhiều lần nhng chỉ là những hột sáng con con, làm cái nền làm nổi bật bóng tối

 Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối Bóng tối chính là hình ảnh làm nền và tợng trng cho những con ngời phố huyện, những con ngời sống cuộc

đời không chút ánh sáng

b Cuộc sống những kiếp ngời tàn tạ

+ Mẹ con chị Tí: ngày nào cũng dọn hàng dù bán chẳng đợc bao nhiêu

Những câu nói rời rạc, những động tác lặp lại, hình ảnh ngọn đèn dầu vặn nhỏ,leo lét sáng ( yếu ớt mang ý nghĩa biêu trng và đối sánh với hình ảnh bóng tối cứ lan dần, tỏa dần, đậm dần khắp không gian phố huyện nh - Nói) cuộc sống lay lắt, vật vờ của gia đình chị và những ngời nghèo trong bóng đêm của xã hội cũ

+ Gia đình bác xẩm mù với những tiếng đàn bầu bần bật và thằng con bò ra khỏi chiếu nhặt rác bẩn bên đờngnhững con ngời sống nhờ vào sự bố thí của ngời khác – Những kếp ngời tận cùng của sự nghèo khổ

+ Chị em Liên buồn lặng lẽ dọn hàng, đếm tiền, nuối tiếc thời ở Hà Nội đợc đi chơi,ăn quà

cảnh sống khó khăn, thiếu thốn, u buồn

+ Bà cụ Thi điên nghiện rợu, tiếng cời khanh khách lẫn trong đêm tối Có cái gì nh bất mãn , tăm tối, bế tắc

 Mỗi ngời, mỗi nhà một cảnh nhng tất cả đều có chung cái nghèo túng, cái buồn chán, mỏi mòn

Đó là cuộc sống đơn điệu , quẩn quanh và tẻ nhạt trong cái ao đời phẳng lặng

Tấm lòng xót thơng, đồng cảm của nhà văn

4 Củng cố: (theo đề mục)

5 Hớng dẫn về nhà : Chuẩn bị tiếp bài

V

Rút kinh nghiệm

Trang 9

Tiết 34 : Hai đứa trẻ

(Tiếp) Thạch Lam

-IV Tiến trình giờ học.

1 ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra vở soạn

3 Bài mới

Tg Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt

10

10

GV dẫn dắt vào tiết học mới

?Tâm trạng hai chị em Liên?

? Tìm những chi tiết thể hiện

tâm trạng của hai chị em

Liên?

HS tìm chi tiết

Gv liên hệ mở rộng : Toả nhị

Kiều, Quẩn quanh- Huy

Cận

-? : Qua đó em hiểu gì về

con ngời hai chị em?

HS suy nghĩ, trả lời

GV dẫn dắt, chuyển ý

? :Cảnh phố huyện lúc về

khuya đợc miêu tả nh thế

nào?

HS tìm chi tiết

? So sánh với khung cảnh

phố huyện về đêm ở trên?

HS so sánh

GV dẫn dắt, chuyển ý

? : Sự xuất hiện của đoàn tàu

đợc miêu tả nh thế nào?

HS tìm chi tiết, táI hiện sự

xuất hiện của đoàn tàu qua

cáI nhìn và tâm trạng của hai

chị em

c Tâm trạng hai chị em Liên

- T thế : + Ngớc mắt lên nhìn các vì sao để tìm s.Ngân Hà + Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ nh đầy bí mật và xa lạ làm mỏi trí nghĩ Tâm hồn ngây thơ qua những biến thái của thiên nhiên

- Suy nghĩ:

+ Trẻ con tụ họp nhau ở vỉa hè, tiếng cời nói vui vẻ khiến An cũng muốn nhập bon với bọn chúng…

nh-ng sợ trái lời mẹ dặn + Quà bác Siêu là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiên, hai chị em không bao giờ mua đợc

+ Nhớ lại khi ở HN, đợc hởng những thức quà ngon,lạ uống những cốc nớc lạnh xanh đỏ

Cuộc sống vất vả đã khiến An và Liên có những suy nghĩ già dặn khác với lứa tuổi vất vả đánh mất tuổi thơ,

3 Phố huyện về khuya- cảnh đợi tàu

a Cảnh phố huyện về khuya

+ Tiếng trống cầm canh đánh tung lên một tiếng khô khan

+ Ngời vắng mãi +Trớc kia có mấy nhà hàng cơm mở đón khách, đèn sáng đến nửa đêm, nhng bây giờ họ đóng cửa rồi, cũng im lặng tối đen nh ở ngoài phố

+ Đêm tối vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê,

Bống tối vẫn bao trùm dày đặc cả không gian, phố huyện chìm trong yên lặng

b Cảnh đợi tàu

- Dấu hiệu xuất hiện +Đèn ghi

+ Ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất nh ma trơi + Tiếng còi vang lại

+ Tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi + Làn khói trắng, tiếng hành khách khe khẽ

- Xuất hiện

Trang 10

10

? Em có nhận xét gì về cách

miêu tả đoàn tàu của tác giả?

HS nhận xét

GV dẫn dắt

- ?: Vì sao chị em Liên và

mọi ngời cố thức để đợi tàu

dù chăng đợi ai, chẳng mua

bán gì?

HS suy nghĩ, phát hiện ý

nghĩa của đoàn tàu cũng

chinh là lí giảI nguyên nhân

của hành động đợi tàu

? Từ sự kiện hai đứa trẻ cố

thức để đợi tàu, em có suy

nghĩ gì về thái độ, dụng ý t

t-ởng của nhà văn?

HS phát hiện thái độ của nhà

văn qua cách dụng cảnh,

dựng ngời (tâm trạng)

GV hớng dẫn HS tổng kết

? : Vì sao có thể nói hai đứa

trẻ là bài ca về tình yêu thiên

nhiên

- Qua cảm nhận của hai đứa

trẻ trong sáng, ngây thơ,con

ngời và thiên nhiên giao hoà,

thân mật, mơ hồ mà cụ thể,

đất nớc

? Vì sao nới, Hai đứa trẻ tiêu

biểu cho phong cách truyện

ngẵn của Thạch Lam?

HS khăng định nét đặc sắc

trong văn xuội Thạch Lam

+ Tiếng còi rít lên, tàu rầm rộ đi tới + Các toa đèng sáng trng

+ Các toa hạng trên sang trọng lố nhố những ngời,

đồng và kền lấp lánh, cửa kính sáng + Những đốm than nhỏ bay tung trên đờng sắt

Đoàn tàu xuất hiện đợc miêu tả chi tiết, tỉ mỉ với những âm thanh náo nhiệt và ánh sáng rực rỡ đối lập với cảnh sống tối tăm, buồn tẻ nơi phố huyện

- ý nghĩa

Vì đó là hoạt động sôi nổi, ầm ĩ, huyên náo cuối cùng mà một ngày buồn đã trải qua không có đợc Vì cuộc sống con Vì cuộc sống con ngời buồn chán quá, vất vả quá

 Với chị em Liên giàu mơ mộng, tởng tợng, nhạy cảm, con tàu mang đến niềm hi vọng, tởng nhớ về Hà Nội đầy ánh sáng và sang trọng mà tuổi thơ hai chị

em đã từng thụ hởng

 Con tàu là một thế giới khác hẳn, những toa tàu tràn ngập ánh sáng và sang trọng, đối lập hẳn với ngọn

đèn leo lét của chị Tí, với bóng tối đen kịt nơi này

 thể hiện niềm trọng, thơng xót đối với những kiếp ngời nhỏ bé, tăm tối mỏi mòn, buồn chán nơi phố huyện ga xép xứ thuộc địa Bắc Kì một thuở lay tỉnh những con ngời đang sống trong quẩn quanh, lam lũ , buồn chán hãy cố vuơn ra ánh sáng, không chấp nhận cái ao đời phẳng lặng, nhạt nhẽo, vô vị, tù túng để h-ớng tới những cuộc đời có ý nghĩa hơn,tốt đẹp xứng

đáng hơn với cuộc sống con ngời Giá trị nhân đạo của tác phẩm

III Tổng kết

1 Nội dung

- Bức tranh quê bình dị, thơ mộng, dịu dàng đầy chất thơ Đó chính là tình yêu quê hơng đất nơc, tình yêu thiên nhiên Đó là chất thơ của thiên nhiên Việt Nam, chất thơ của cuộc sống con ngời.Tình yêu quê hơng, tình yêu thiên nhiên, đất nớc

- Tấm lòng thơng xót,cảm thông trớc cuộc sống những con ngời nghèo khổ, quẩn quanh, mòn mỏi, sự trân trọng đối với ớc mơ đổi đời của họ

2 Nghệ thuật

- Khai thác tâm trạng tinh tế

- Lời văn nhẹ nhàng, thấm đẫm chất thơ

- Truyện không có chuyện, kết hợp trữ tình hiện thực

4 Củng cố: Câu hỏi cuối bài

5 Hớng dẫn về nhà

- Học bài

- chuẩn bị : Viết bài văn số 3

V

Rút kinh nghiệm

Ngày đăng: 06/11/2023, 15:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w