A. MỞ ĐẦU 1.Lý do lựa chọn đề tài. Phong trào dân chủ 1936 đến 1939 là phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.Phong trào này buộc Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Quần chúng nhân dân được giác ngộ về chính trị, trở thành lực hùng hậu của cách mạng.Các cán bộ được tập hợp và tích lũy, trưởng thành từ những bài học kinh nghiệm. Phong trào dân chủ 1936 đến 1939 còn là một cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.Nhân dân được giác ngộ về chính trị và trở thành lực hùng hậu của cách mạng Phong trào dân chủ 1936 – 1939 ở Việt Nam có điểm mới so với phong trào cách mạng 1930 – 1931 là Kết hợp hình thức đấu tranh công khai và bí mật, hợp kj và bất hợp pháp. Vì vậy đây là một đề tài được nhiều người quan tâm đó cũng chính là lý do tôi sẽ lựa chọn đề tài này để phát triển thêm, giúp các hiểu rõ hơn về phong trào dân chủ 19361939 . 2.Mục đích nghiên cứu Hiểu được thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chính quyền do Đảng ta lãnh đạo (1936 – 1939). Đây là phong trào đấu tranh khác hẳn thời kì 1930 – 1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức và phương pháp đấu tranh.Biết được những nét chính về tình hình Việt Nam trong những năm 1936 – 1939 có nhiều thay đổi đã ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và tính chất của phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì này. Hiểu rõ những hình thức đấu tranh mới mẻ, phong phú được Đảng tiến hành trong phong trào dân chủ 1936 – 1939.Thấy được kết quả phong trào đạt được là rất to lớn, chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách của quần chúng. 3.Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu rõ được phong trào dân chủ 19361939 là một cuộc tập dược. Đánh giá được vai trò của Đảng lãnh đạo và quần chúng nhân dân.Nêu lên được hình thức đấu tranh của phong trào, những điểm đổi mới trong hình thức lãnh đạo của phong trào 19361939. 4.Phương pháp nghiên cứu Ở đây tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu là : phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp 5.Kết cấu của đề tài Kết cấu của đề tài gồm 3 mục : Chương I: Hoàn cảnh lịch sử. Chương II : Chủ trương của Đảng và Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình (19361939). Chương III: Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của cuộc vận động dân chủ (19361939).
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
Đề tài:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DÂN CHỦ
(1936 – 1939)
Trang 2
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 3
1.1 Tình hình thế giới 3
1.2 Tình hình trong nước 3
CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ, CƠM ÁO, 6
HÒA BÌNH (1936-1939) 6
2.1 Sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới 6
2.2 Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình 10
CHƯƠNG III KẾT QUẢ ,Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ (1936-1939) 19
3.1.Kết quả,ý nghĩa 19
3.2.Bài học Kinh nghiệm 22
KẾT LUẬN 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3A MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn đề tài.
Phong trào dân chủ 1936 đến 1939 là phong trào quần chúngrộng lớn, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.Phong trào này buộcPháp phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ
Quần chúng nhân dân được giác ngộ về chính trị, trở thành lựchùng hậu của cách mạng.Các cán bộ được tập hợp và tích lũy, trưởngthành từ những bài học kinh nghiệm
Phong trào dân chủ 1936 đến 1939 còn là một cuộc tổng diễntập, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.Nhân dân đượcgiác ngộ về chính trị và trở thành lực hùng hậu của cách mạng
Phong trào dân chủ 1936 – 1939 ở Việt Nam có điểm mới so vớiphong trào cách mạng 1930 – 1931 là Kết hợp hình thức đấu tranh côngkhai và bí mật, hợp kj và bất hợp pháp
Vì vậy đây là một đề tài được nhiều người quan tâm đó cũngchính là lý do tôi sẽ lựa chọn đề tài này để phát triển thêm, giúp cáchiểu rõ hơn về phong trào dân chủ 1936-1939
2.Mục đích nghiên cứu
Hiểu được thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chínhquyền do Đảng ta lãnh đạo (1936 – 1939) Đây là phong trào đấu tranhkhác hẳn thời kì 1930 – 1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức vàphương pháp đấu tranh.Biết được những nét chính về tình hình ViệtNam trong những năm 1936 – 1939 có nhiều thay đổi đã ảnh hưởngtrực tiếp đến nội dung và tính chất của phong trào cách mạng Việt Namtrong thời kì này
Hiểu rõ những hình thức đấu tranh mới mẻ, phong phú đượcĐảng tiến hành trong phong trào dân chủ 1936 – 1939.Thấy được kết
Trang 4quả phong trào đạt được là rất to lớn, chính quyền thực dân phảinhượng bộ một số yêu sách của quần chúng.
3.Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
rõ được phong trào dân chủ 1936-1939 là một cuộc tập dược.Đánh giá được vai trò của Đảng lãnh đạo và quần chúng nhândân.Nêu lên được hình thức đấu tranh của phong trào, những điểm đổimới trong hình thức lãnh đạo của phong trào 1936-1939
4.Phương pháp nghiên cứu
Ở đây tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu là : phương phápnghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp
5.Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 3 mục :
Chương I: Hoàn cảnh lịch sử
Chương II : Chủ trương của Đảng và Phong trào đấu tranh đòi tự
do, dân chủ, cơm áo, hòa bình (1936-1939)
Chương III: Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của cuộcvận động dân chủ (1936-1939)
Trang 5B.NỘI DUNG CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1.1 Tình hình thế giới
Sau chiến tranh thế giới I (nhất là 1929 trở đi), làm những kếtquả nặng nề của hệ thống quản trị kinh tế, giai cấp sản xuất trị giá ởnhiều nước không thể duy trì nền tảng của chúng tôi bằng đề nghị vàchế độ dân chủ tư sản như cũ Chúng tôi đã tổ chức hát nên chuyênphát xít, một nền chuyên chính độc tài, tàn bạo, hiếu chiến, dã man, Sơvanh, xóa mọi quyền tự do dân chủ dù là đơn sơ, thực thi khủng bốtrắng đối với Bất cứ cá nhân nào, lực lượng nào cũng chống lại nó, tựbóc ra khỏi hệ thống giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Những năm 30 của thế kỷ XX, thế lực phát xít cầm quyền ở Đức,
Ý, Nhật Bản chạy đua vũ trang, để giải quyết những hậu quả của cuộckhủng hoảng kinh tế 1929-1933.Chủ trương dùng bạo lực đàn áp phongtrào đấu tranh trong nước và chuẩn bị phát động chiến tranh thế giới đểchia lại thị trường.Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và tạm thời thắng thế ởmột số nơi.Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới đe doạnghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế
Tháng 7/1935, Đại hội lần VII - Quốc tế Cộng sản xác địnhnhiệm vụ chống chủ nghĩa phát xít, đấu tranh giành dân chủ, bảo vệhòa bình, thành lập Mặt trận nhân dân rộng rãi
Tháng 6/1936, Mặt trận nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, thihành cải cách tiến bộ ở thuộc địa: Đối với Đông Dương, Pháp cử pháiđoàn sang điều tra tình hình, cử Toàn quyền mới, nới rộng quyền tự dobáo chí … tạo thuận lợi cho cách mạng Việt Nam
1.2 Tình hình trong nước
Tác dụng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 và khủng bố trắngkéo dài sau Cao trào cách mạng 1930-1931 cùng với những người làm thủcông bóc trần nặng nề của đế quốc Pháp làm cho nhân dân lao động nước ta
Trang 6phải chịu những tai họa trên tất cả các mặt của đời sống Các tầng lớp dânnghèo, tiểu thương, tiểu chủ, công chức nhỏ cũng rất lao đao Cả đến cácnhà tư sản, địa chỉ vừa và nhỏ, làm chính sách kinh doanh độc quyền của tưbản Pháp và vụ vay nặng lãi của nhà băng Đông Dương, nên buôn bán cũng
bị lỗ, không trả nợ được Nhà băng, bị tịch biên gia sản Trong khi đó, cầmnắm Đông Dương, tay chân phát ra tiếng Pháp, bắt buộc mọi quyền tự do củadân chủ, kéo dài chính sách áp lực của nhân dân ta
Đối với Đông Dương, Chính phủ Pháp cử phái viên sang điều tratình hình, cử Toàn quyền mới, sửa đổi đôi chút luật bầu cử vào ViệnDân biểu, ân xá một số tù chính trị, nới rộng quyền tự do báo chí v.v
Lúc này, ở Việt Nam, nhiều đảng phái chính trị hoạt động, trong
đó có đảng cách mạng, đảng theo xu hướng cải lương, đảng phản độngv.v Các đảng tận dụng cơ hội đẩy mạnh hoạt động, tranh giành ảnhhưởng trong quần chúng Tuy nhiên, chỉ có Đảng Cộng sản ĐôngDương là đảng mạnh nhất, có tổ chức chặt chẽ và có chủ trương rõràng
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933), thực dânPháp ở Đông Dương tập trung đầu tư khai thác thuộc địa để bù đắp sựthiếu hụt cho kinh tế “chính quốc”
Về nông nghiệp, chính quyền thực dân tạo điều kiện cho tư bảnPháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, làm cho 2/3 nông dân không córuộng hoặc chỉ có ruộng Phần lớn đất nông nghiệp độc canh trồng lúa.Các đồn điền của tư bản Pháp chủ yếu trồng cao su, sau đó là cà phê, chè,đay, gai, bông v.v
Về công nghiệp, ngành khai mỏ được đẩy mạnh Sản lượng cácngành dệt, sản xuất xi măng, chế cất rượu tăng Các ngành ít phát triển
là điện, nước, cơ khí, đường, giấy, diêm v.v
Về thương nghiệp, chinh quyền thực dân độc quyên bán thuốcphiện, rượu, muối Thu được lợi nhuận rất cao; nhập khẩu máy móc và
Trang 7hàng công nghiệp tiêu dùng Hàng xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản,nông sản.
Nhìn chung, nhưng năm 1936 – 1939 là giai đoạn phục hồi vàphát triển của kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫnlạc hậu và lệ thuộc vào kinh tế Pháp
Đời sống các tầng lớp nhân dân vẫn gặp khó khăn do chính sáchtăng thuế của chính quyền thuộc địa Số công nhân thất nghiệp vần cònnhiều Những người có việc làm được nhận mức lương chưa bằng thời
Đời sông của đa số nhân dân khó khăn, cực khổ Chính vì thế họhăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do, cơm áo dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Đông Dương
Tình hình trên đây làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm nhiềugiai cấp, có các quyền lợi khác nhau, càng có thêm các đơn vị thựchiện, tư bản độc quyền Pháp và đều có nguyện vọng chung trước mất
về các quyền lợi dân sinh dân chủ, trừ một nhúm tr sản xuất bản và đạiđịa chủ cam tâm làm tôi cho bọn cướp nước Vì thế, yêu cầu cải tiến vàcải thiện đời sống nhân dân là người yêu cầu bức thiết đối với mọi tầnglớp và tầng xã hội, kể cả bộ phận tầng lớp trên Đây là Đảng cơ sở vàquần áo chúng tôi đã được khôi phục dựa trên chiến lược mạng cơ sởđược tạo ra khá vững chắc trong thời kỳ 1932 – 1935 Đây là một yếu
Trang 8tố rất quan trọng, quyết định bước phát triển Cách mạng thành một caotrào mới.
Trang 9CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ PHONG TRÀO ĐẤU
TRANH ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ, CƠM ÁO,
và sai tay chứ không phải là thực thi dân pháp nói chung và toàn bộ giaicấp kiến trúc chủ sở hữu
Về nhiệm vụ và mục tiêu: Nhiệm vụ chiến lược đánh chủ nghĩa
đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ, tổ chức dân tộc và người cày córuộng do Đảng ta ra vẫn không thay đổi Nhưng căn cứ vào tình hình
cụ thể, nhiệm vụ trên không phải là nhiệm vụ trước khi mất Hội nghịquyết định tạm thời không ghi nhãn hiệu đánh đổ đế Pháp và cấp địachủ, quốc gia độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, mà chi tiết mụctiêu trực tiếp trước khi mất cách mạng Việt Nam đấu tranh chống bọnphản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, dân chủ,cơm áo và hòa bình Việc xác định đúng kẻ thù và nhiệm vụ trước khimất cách mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tác dụng định đoạtlợi ích của mạng nghiệp vụ Qua đó, Đảng giúp ta có những sách lượcdẻo hóa hàng ngũ kẻ thù, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu trướcmắt, tranh thủ lôi kéo một bộ phận trong hàng ngũ hệ thống Pháp luật
Trang 10có xu hướng chống phát xít , chống chiến tranh và một bộ phận tronggiai đoạn địa chủ tán thành đấu tranh cho dân sinh, dân chů Đây làsách lược nhằm mục đích tranh thủ đồng minh; kẻ thù, tăng cườnghiệu lực mạng của Đảng Mặt khác, mục đấu tranh trên hoàn toàn phùhợp với mục tranh đấu của nhân dân thế giới mà Đại hội VII Quốc tếCộng sản ra mắt Điều đó không thể hiện trung thành với Nghị quyếtcủa Quốc tế Cộng sản mà còn chứng nhận Đảng ta luôn coi cách mạngViệt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, tranh thủ những điềukiện thuận lợi của thế giới để thúc đẩy cách mạng trong nước góp phầnthúc đẩy mạng thế giới Hội nghị quyết định thành lập mặt trận rộngrãi, lúc đầu gọi là Mặt trận nhân dân phản hồi đế Đông Dương, sau đóthay đổi là Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương để tập hợp lựclượng thực hiện mục tiêu trước mất nói trên Mặt trận bao gồm cácloại mạng, các môn phái, dân tộc và cá nhân có xu hướng dân chủ, kể
cả một bộ phận tầng lớp trên, thậm chí cả những người Pháp có xuhướng dân chủ ở Đông Dương nhằm vào hệ thống nhất là đấu tranhchống phản động thuộc địa và tay sai “những dân chủ đơn sơ”
Hội nghị còn chủ trương trong lúc tập trung vào nhiệm vụ đấutranh chống phản động thuộc địa, quyền của dân chủ, Không phải taphải kết hợp mật thiết với giai cấp vô sản và Đảng Cộng sản Pháp màphải đưa ra khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp và ủng hộ Chínhphủ nhân dân Pháp
Các nghị quyết lần thứ ba (3-1937) và lần thứ tư (9-1937) Banchấp hành Trung ương Đảng bàn sâu hơn về công tác tổ chức củaĐảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về tổ chức và hoạt độngphương pháp động để tổ hợp quần đảo chúng ta trong trận đấu chốngphản ứng thuộc địa, tự động đo lường, đân chủ, cơm áo, hòa bình Hộinghị Ban chấp hành Trung ương Đảng 3-1938 nhân mạnh “Hệ thống
Trang 11dân chủ nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiệnnay.
Cùng với chủ đề ra chương trình cụ thể, trước mắt để lãnh đạophong trào dân chủ 1936-1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặtvấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản hồi và điệnđịa Chỉ thị của Ban Trung ương Gửi các tổ chức của Đảng (26-7-1936) chỉ rõ ràng, “ở một xứ thuộc địa như Đông Dương, trong hoàncảnh, nếu chi quan tâm đến cuộc đấu tranh phát triển giai cấp, có thể sẽnảy sinh những khó khăn để mở rộng phong trào dân tộc
Trong sự kiện Chung quanh vấn đề mới chiến lược (tháng 1936), Đảng nêu quan điểm: “Dân tộc giải phóng nhất định phải kếthợp với cách mạng điền địa Nghĩa là không thể nói rằng: muốn đánh
10-đổ đế quốc thì phải phát triển mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đềđiền địa thì cần phải đánh địa chỉ Lý thuyết có chỗ không xác định
“Nói lại, nếu phát triển cuộc đấu tranh chia đất mà ngăn trở cuộc tranhđấu phản hồi thì phải chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyếttrước Nghĩa là lựa chọn đối thủ nhân chính, nguy hiểm nhất, để tântrung lực lượng của một dân tộc được đánh giá là toàn thắng “ Vớivăn kiện này, Trung ương Đảng đã nêu cao tính thân đầu tranh, phêduyệt điểm thần trong Cưrơng lĩnh vực đầu tiên của Đảng tại Hội nghịthành lập Đảng (2- Cộng sản Đông Dương tháng 10-1930 Đó cũng làđịnh thức mới, phù hợp với tinh không đúng và bước đầu phục chếtrong Luận cương chính trị của Đảng 1930) và luận giải cách mạng dântộc của Nguyễn Ái Quốc
Đảng còn lưu ý khi lãnh đạo đấu tranh cải cách, cơ bản phảitránh sai lầm sở hữu khuynh hướng rất nguy hiểm, cho rằng đấu tranhcho cải cách là “tất cả”, là mục đích cuối cùng, xa rời mục tiêu, nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng Cần phải nhận thức rõ những biện pháp
và thủ đoạn đấu tranh trong những hoàn cảnh và điều kiện nhất định
Trang 12nhằm mục đích đưa đông đảo quần chúng vào các hoạt động sinh hoạtchính trị để chuẩn bị cho quần chúng tiến lên sử dụng những hình thứcđấu tranh cao hơn, không hợp pháp, lật đổ chế độ thực dân phong kiến giành lấy chính quyền cách mạng về tay nhân dân khi thời cơ đến Hộinghị quyết định thay đổi tổ chức hình thức và đấu tranh phương phápcủa quần chúng, từ tổ chức bí mật, đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếuchuyển sang tổ chức và đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp
là chủ yếu, làm cho hệ thống liên kết với Đảng đông đảo nhân dân, tổchức giáo dục phát triển rộng rãi quần chúng đấu tranh
Về công tác xây dựng Đảng, hội nghị chủ trương "không phải làĐảng bỏ cách bí mật mà theo chủ nghĩa công khai Đảng vẫn cung cấpchức năng và công tác bí mật của Đảng hơn xưa trong quần thể tổ chức
mà chúng tôi phát triển và phong trào vận chuyển rộng rãi, Đảng lạihết sức lực nạp và củng cố hàng ngũ của mình”
Những người quyết định của Hội nghị đánh dấu bước trưởngthành mới của Đảng ta trong công việc chỉ đạo chiến lược và sách lược,giải quyết định đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược vớimục tiêu cụ thể trước trước mắt của cách mạng, mối quan hệ giữa mụctiêu đấu tranh với tổ chức và hình thức đấu tranh, mối quan hệ giữanông nghiệp liên minh và mặt trận, mối quan hệ giữa phong trào cáchmạng Đông Dương với phong cách mạng Pháp và thế giới Hội nghịcung cấp nhận thức được tầm quan trọng của dân tộc tiền tố ở một nướcthuộc địa, bước đầu giải quyết đúng mối quan hệ quan hệ giữa các vấn
đề giai cấp và vấn đề cho dân tộc
Cuối năm 1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về TrungQuốc Ở nước ngoài, Người vẫn theo dõi rất sát phong trào cách mạngtrong nước, có nhiều ý kiến chỉ đạo đúng đắn đối với Đảng ta và cáchmạng Đông Dương, đặc biệt là mục tiêu của cách mạng, việc giác ngộ
và tập hợp rộng rãi lực lượng quần chúng Về mục tiêu và khẩu hiệu
Trang 13đấu tranh, Người khẳng định: “Lúc này, Đảng không nên đưa ra nhữngdòi hỏi quá cao chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự dohội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trịphạm”), Về vấn để Mặt trận, Người chỉ rõ: “phải ra sức tổ chức mặttrận dân tộc, dân chủ rộng rãi Mặt trận ấy không những chỉ có ngườiĐông Dương mà bao gồm cả những ngưoi Pháp tiến bộ ở Đông Dương,không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dântộc”), về Đảng, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị: “Đảng không thể đòi hỏi mặttrận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phậntrung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh
và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sáchđúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địađiểm lãnh đạo "), Về mối quan hệ quốc tế, Người lưu ý:" Mặt trận dânchủ Đông Dương phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp,
vì mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền dân chủ và có thể giúprất nhiều cho ta " Những tư tưởng chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, cùngvới chủ trương mới của Đảng có ý nghĩa quyết định đưa ra cách mạngphát triển mạnh mẽ trong hầu hết mọi tầng lớp nhân dân, trên các miềnđất nước, ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội
2.2 Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Dưới sự lãnh đạo áo của Đảng, cuộc vận động dân chủ diễn ratrên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia vớinhững hình thức đấu tranh phong phú phú:
Phong trào Đông Dương đại hội:Sau khi được thành lập, chính
phủ Mặt trận nhân dân tiến bộ Pháp quyết định sẽ thả chính trị phạm,thi hành một số cải cách xã hội cho lao động và thành lập một ủy banđiều tra tình hình Đông Dương Nhân việc Quốc hội Pháp cử phái đoànsang điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương phát động một
Trang 14phong trào đấu tranh công khai, mở đầu bằng hình thức vận động thiếtlập “Ủy ban trù bị Đông Dương đại hội” nhằm mục đích thu thậpnguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, tiến tới triệu tập Đại hộiĐông Dương Một mặt, Đảng kêu gọi các môn phái và tổ chức chính trị
- xã hội thống nhất hành động, từng bước hình thành mặt trận; mặtkhác, Đảng cùng các tổ chức đó động viên các tầng lớp nhân dân nêunguyện vọng, lập thành bản dân nguyện gửi tới phái đoàn điều tra, nhàcầm quyền phải mở rộng quyền tự do dân chủ và thực hiện các biệnpháp bảo vệ quyền lợi, cải thiện đời sống nhân dân Trong một thờigian ngắn, ở khắp các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, từ thành thị đếnnông thôn đã lập ra các “Ủy ban hành động” để tập hợp quần chúng.Riêng ở Nam Kỳ có 600 ủy ban hành động
Tháng 1-1937, Chính phủ Pháp cử Giuytxtanh Gôda làm pháiviên điều tra sang Đông Dương Tiếp đó toàn quyền mới là Brêviê đếnĐông Dương nhậm chức, nhân cơ hội đó Đảng phát triển quần chúngđấu tranh, đưa ra những yêu cầu quyền dân tộc sinh, dân chủ dướidanh nghĩa “ đón rước”, mít tinh, đưa đơn “ dân nguyện” Đây là dịp đểtập hợp, biểu dương lực lượng, đưa quần áo lên mặt trận đấu tranh.Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng, giới cầmquyền Pháp buộc phải nhượng bộ Nhượng bộ lớn nhất của chính phủPháp là ra sắc lệnh ơn xá Chính trị phạm ở Đông Dương Ngay từ cuốinăm 1936 hàng nghìn chính trị phạm được ra khỏi nhà tù
Từ năm 1937 đến năm 1939: nhiều cuộc mít tinh và biểu tình đòiquyền sống tiếp tục diễn ra Nhân ngày Quốc tế lao động 01/05/1938,nhiều cuộc mít tinh được tổ chức công khai tại Hà Nội, Sài Gòn vànhiều nơi khác Được đông đảo quần chúng tham gia
Phong trào đấu tranh nghị trường:
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp cho cải tổ và lập
ra một số cơ quan “dân cử” ở cả ba kỳ nhằm lừa bịp, mị dân Trên thực
Trang 15tế, các Viện dân biểu ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Hội đồng quản hạt ở Nam
Kỳ lúc đó vốn chỉ là những cơ quan tư vấn, không có quyền quyết địnhnhững vấn đề chính trị, xã hội ở nước ta Về bản chất, nó là một loạihình “đặc biệt”, không giống như Nghị viện ở bất kỳ một nước dân chủnào, mặc dù báo giới đương thời vẫn gọi là “Nghị trường”, “ Nghịviện” Không ảo tưởng vào kẻ thù, song Đảng chủ trương tận dụng tối
đa các khả năng có thể để hoạt động của Đảng có kết quả cao TheoĐảng, vô luận là cuộc tuyển cử gì ,nếu có thể tham gia được là nêntham gia Các Đảng bộ tương đương phải dự bị những người ra ứng cửtrong các Viện dân biểu, các Hội đồng thành phố để bênh vực quyền lợicho quần chúng lao động và các lớp dân chúng bị áp bức
Trong thời kỳ 1936 – 1939, dựa trên sức mạnh của phong tràoquần chúng, Đảng chủ trương tham gia Tổng tuyển cử các Viện dânbiểu, Hội đồng quản hạt, Hội đồng thành phố do thực dan Pháp đặt ra,nhưng như vậy không phải là Đảng ta hy vọng giành chính quyển bằngcon đường Nghị viện Đảng cho rằng, chúng ta cần lợi dụng các thời kỳtranh cử mà tuyên truyền khẩu hiệu của ta, phải lợi dụng viec tham giacác cơ quan lập hiến của địch mà bênh vực quyền lợi cho quần chúnglao động và các tầng lớp dân chúng bị áp bức Trong năm 1938, Đảng
ta và Mặt trận dân chủ giành đuoc nhiều thắng lợi trong các cuộc tranh
cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ Hoi đồng kinh tế lý tài Đông Dương là
cơ quan “dân cử” cao nhất ở Đông Dương lúc đó, bác bỏ dự án tăngthuế thân và thuế điển thổ của Viện dân biểu Trung Kỳ Cuối năm
1937, Đảng chủ trương phát động phong trào truyền bá quốc ngữ Đảng
đã vận động cụ Nguyễn Văn Tố, một trí thức có tinh thần yêu nước,đứng ra xin phép lập Hội truyền bá quốc ngữ Qua những cuộc đấutranh đó đã thu hút được hàng vạn quần chúng tham gia, Đảng và quầnchúng trưởng thành nhanh chóng qua thực tiễn đấu tranh, đồng thờibiểu dương sức mạnh vĩ đại của nhân dân Ngày 1-9-1939, Chiến tranh