Mục lục Phần Mở đầu 3 Tính cấp thiết của đề tài 3 Mục đích nghiên cứu 4 Chương 1 Cơ sở lý luận 4 1 1 Khái niệm stress, lịch sử nghiên cứu 4 1 1 1 Khái niệm về stress 4 1 1 2 Lịch sử nghiên cứu về stre[.]
Trang 1Mục lục
Phần Mở đầu 3
Tính cấp thiết của đề tài: 3
Mục đích nghiên cứu: 4
Chương 1: Cơ sở lý luận 4
1.1 Khái niệm stress, lịch sử nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm về stress 4
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về stress 6
1.2 Nguồn gây Stress 6
1.2.1 Khái niệm nguồn gây 6
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về nguồn gây Stress 7
1.3 Tổng quan về mức độ Stress ( Dựa trên thang đo DASS21) 9
1.3.1: Thang đo DASS21 9
1.3.2 Cách tính kết quả của thang đo DASS21 9
1.3.3 Các mức độ Stress trong bài nghiên cứu 11
1.4 Nghiên cứu tổng quan về giải trí 12
1.4.1 Khái niệm “Giải trí”: 12
1.4.2 Thực trạng việc giải trí phục vụ nhu cầu giải tỏa stress 13
1.4.3 Lịch sử nghiên cứu về giải trí 13
1.4.4 Nhận xét việc sử dụng đa dạng các loại hình vui chơi giải trí hiệu quả hơn so với việc tập trung thời gian vào một loại hình cụ thể 14
Chương 2: Giả thiết nghiên cứu- Câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 14
Phạm vi nghiên cứu: 14
Giả thuyết nghiên cứu: 14
Phương pháp nghiên cứu: 14
2.1 Mục đích ( mục tiêu nghiên cứu) 15
Trang 22.2 Thiết kế nghiên cứu 15
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung lí thuyết 15
2.2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 15
2.2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 15
2.2.1.3 Khung lý thuyết ( xem thêm ở teencode) 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
( thêm vào ) 15
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 15
3.1 Nhận thức của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng về stress và về các hình thức vui chơi giải trí 15
3.1.1 Hiểu biết chung về Stress 15
3.1.2 Hiểu biết chung về tầm quan trọng của việc giải trí nhằm giải tỏa stress .15
Chương 4; Đề xuất giải pháp, kết luận và kiến nghị 15
Chương 5:Hạn chế và hướng giải quyết, và ứng dụng 15
5.1Hạn chế: 15
5.2Hướng giải quyết: 16
5.3 Ứng dụng 16
Trang 3Phần Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài:
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại luôn đòi hỏi con người ta phải bắt kịp xu hướng , bắt kịp thời đại Chúng ta buộc phải thay đổi để trở thành một phiên bản tốt hơn so với xã hội cũ Nhưng sự thay đổi không phải lúc nào cũng là một điều tốt, đôi khi chúng lại kéo theo những hệ lụy nguy hại mà chúng ta khó nhận thấy Việc thay đổi của xã hội đã gây ra những sức ép tưởng chừng là vô hình với thế hệ trẻ, nhưng dần dà cũng đủ để bóp nghẹt một con người Có thể thấy rằng, thế hệ học sinh cấp 3 hiện nay đã và đang chịu rất nhiều áp lực từ gia đình, xã hội hay thậm chí là trong lối sống và học tập Stress từ lâu đã là một khái niệm quen thuộc trong đời sống của con người, được sử dụng để chỉ tình trạng căng thẳng tiêu cực về mặt tâm lý và sinh lý khi con người phải đối mặt với những tình huống nguy hiểm hay những tình huống đòi hỏi phải nỗ lực để thích ứng hoặc vượt qua
Khi phải đối mặt với bất kì vấn đề nào trong cuộc sống, hiển nhiên chúng ta cần phải tìm ra biện pháp để giải quyết nó, đối với vấn đề stress hiện nay cũng như vậy Stress sẽ gây ra rất nhiều hậu quả khó lường về mặt sức khỏe thể chất, tinh thần, cũng như xã hội nếu chúng ta không thể giải quyết triệt để Stress hiện nay là một đề tài bàn tán rất được cộng đồng quan tâm và mọi người cũng đưa ra rất nhiều lời khuyên về giải pháp cho vấn đề này, các bạn học sinh cũng không ngoại
lệ Hơn hết, điều chúng ta cần phải quan tâm ở đây là các bạn học sinh cấp 3 đang không thực hiện tốt được những điều ấy Hiện nay, hầu hết những bạn học sinh muốn giải tỏa stress thường sẽ tập trung vào các hoạt động vui chơi giải trí để nghỉ ngơi, thư giãn Tuy nhiên, việc các bạn vui chơi giải trí không đúng cách sẽ dẫn đến những hệ quả rất nguy hiểm và càng làm cho triệu chứng stress ngày càng nặng Trong một thế giới với sự phát triển của khoa học công nghệ 4.0, các bạn học sinh hầu hết đều quá phụ thuộc vào các nền tảng mạng xã hội, các thiết bị điện tử,
Trang 4và tình trạng mọi người chỉ chăm chú vào chiếc điện thoại hàng giờ liên tục sẽ không hề giúp sự khó chịu và áp lực giảm đi, hơn nữa nó sẽ liên tục lặp đi lặp lại
sự chán nản của mọi người và tạo ra một vòng lặp khiến các bạn học sinh không thể thoát khỏi vấn đề stress của bản thân Bên cạnh đó, những thói vui giải trí xấu cũng ra đời Ngoài ra, vẫn còn số đông các bạn học sinh vẫn xem nhẹ về việc giải quyết vấn đề stress của bản thân, để rồi tình trạng stress ngày càng nặng đến các giải pháp thông thường cũng khó giải quyết được Hơn nữa, một số bạn trẻ vẫn chưa nhận ra tầm quan trọng của việc cân bằng giữa học tập, cuộc sống và vui chơi giải trí, từ đó cũng phát sinh ra nhiều rắc rối, cũng như áp lực lên chính bản thân họ
Nhận ra sự nguy cấp này, nhóm nghiên cứu chúng em đã bắt tay vào tiến hành nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu lần này là thực trạng stress ở nhóm học sinh cấp 3 từ đó tìm ra được phương pháp giải trí điều độ, hiệu quả nhằm giải quyết mầm mống của stress, tránh việc phát triển quá mức gây hại đến tâm sinh lí giới trẻ
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng stress của học sinh cấp THPT trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến stress ở các bạn học sinh Ngoài ra bài nghiên cứu còn theo dõi tình hình vui chơi giải trí của các bạn học sinh để phục vụ cho việc giải tỏa stress Thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm lấy đề tài đó làm cơ
sở khoa học và thực tiễn để đề xuất những phương pháp vui chơi giải trí phù hợp, hiệu quả nhằm giải quyết phần lớn mầm mống stress, tránh cho stress tiến triển nặng, gây ảnh hưởng về lâu về dài cho sức khỏe tinh thần của học sinh
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm stress, lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về stress
Định nghĩa từ : "Stress" là 1 từ tiếng Anh được bắt nguồn từ chữ "Strictus" và
từ "Stringere" trong tiếng La tinh, có hàm nghĩa là sự bất hạnh, căng thẳng Ban đầu, để chỉ sức nén mà một loại vật liệu phải chịu trong vật lý, người ta sử dụng từ stress Sang thế kỷ XVII, thuật ngữ stress đã được ứng dụng vào cả ngành y học và tâm lý học Khi ấy, stress có nghĩa là sức ép hoặc một sự xâm phạm ảnh hưởng đến con người gây nên một loại phản ứng gọi là căng thẳng (Lưu Thị Liên, 2020) Stress là trạng thái thần kinh bị căng thẳng do nhiều nguyên nhân gây ra như
áp lực công việc, học tập, thi cử, , đây cũng chỉ là định nghĩa sơ bộ về stress Bởi
Trang 5cho đến ngày nay , stress vẫn chưa có 1 định nghĩa cụ thể , rõ ràng nào.Hầu như các khái niênh về stress đều được đúc kết từ những công trình nghiên cứu lí luận
và thực tiễn khác nhau Điển hình có thể kể đến là học thuyết về stress của Hans Seyle Trong học thuyết của mình , ông đã chỉ ra rằng Stress là 1 phản ứng về mặt sinh lí , tâm lí , và xã hội của cá nhân đối với các yếu tố bất lợi của môi trường ( trong và ngoài ) nhằm tạo được trạng thái thích nghi mới cho cơ thể Khái niệm
về Stress mà ông đưa ra bao gồm 3 yếu tố chính
Thứ nhất, stress được hiểu như là một tác nhân đến từ môi trường gây nên phản ứng tâm - sinh lý ở cơ thể, có thể là stress trong cuộc sống, stress trong gia đình, stress trong học tập, công việc, ;
Thứ hai, stress là một đáp ứng tâm - sinh lý, ở đây stress được nhấn mạnh là phản ứng tâm - sinh lý của cơ thể đối với tác nhân gây ra nó là từ môi trường xung quanh nói đến các trạng thái tâm lí về trải nghiệm, sự đau khổ, bất hạnh từ chính bản thân họ Trên thực tế, stress luôn tương ứng và liên quan đến sự phản ứng của con người và môi trường xung quanh Bên cạnh đó, theo thuyết nghiên cứu về stress của Hans Selye, một nhà nghiên cứu người Canada, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể
Thứ ba, là sự kết hợp của 2 định nghĩa trên, coi stress là tương tác giữa tác nhân kích thích từ môi trường và phản ứng cơ thể đối với những tác nhân đó
Ngoài ra, theo ý kiến của Giáo sư Tô Như Khuê, một người đã có thâm niên trong việc nghiên cứu sự căng thẳng cảm xúc của các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến đấu đã cho rằng: "Stress tâm lý cũng chính là những phản ứng tâm lý không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc đe dọa, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó."
Được dựa theo những thông tin ở trên, trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi cho rằng: Stress là sự tương tác đặc biệt giữa con người và môi trường, stress là sự thích nghi của tâm-sinh lý và tâm lý xã hội với môi trường xung quanh, cũng như tác nhân gây nên stress
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về stress
-Trên thế giới
+ Vấn đề stress trong đời sống của cá nhân và xã hội đã được các bác sĩ, thầy
thuốc quan tâm từ khá lâu Ngay từ cuối thế kỉ XIX một số bác sĩ đã nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa đặc điểm tâm sinh lí với các trạng thái bệnh của bệnh nhân Năm 1812 Corvisart một trong những người đặt nền móng cho việc nghiên
Trang 6cứu các về đề liên quan tới tâm lí đã kết luận rằng: “ Những bệnh liên quan tới tim mạch phụ thuộc” phụ thuộc vào cấu trúc sinh học của tim và trạng thái cảm xúc ( lo âu, sợ hãi, hụt hẫng và sung sướng, hoặc hạnh phúc của người bên Nối tiếp Corvisart là William Osler (1910) đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự nặng nhọc, căng thẳng, tính trách nhiệm của công việc với bệnh việm họng và triệu chứng đau ngực của các bệnh nhân người Do Thái Tiếp theo đó là Walter Cannon, Han Selye người đầu tiên đặt nền tảng khoa học cho nghiên cứu về stress
-Trong nước
+Tô Như Khuê là người đầu tiên nghiên cứu stress ở Việt Nam dưới góc độ sinh lý học và y học Năm 1976 ông đã tiến hành nghiên cứu vấn đề “Phòng chống trạng thái căng thẳng (stress) trong đời sống và lao động” Nối tiếp ông là hai nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm đã nghiên cứu stress trong đời sống xã hội và cho xuất bản tác phẩn “Stress trong thời đại văn minh” Tiếp đó
là các nhà nghiên cứu như Nguyễn Khắc Viện và Đặng Phương Kiệt nghiên cứu năm 1990, Nguyễn Thu Hà và đồng nghiệp với đề tài “ điều tra stress nghề nghiệp
ở nhân viên y tế”(2006), Đặng Viết Lương và đồng nghiệp với đề tài “ Nghiên cứu đánh giá trạng thái stress của nhân viên vận hành điện lực”(2006),…
1.2 Nguồn gây Stress
1.2.1 Khái niệm nguồn gây
Tuy không phải chịu những sức ép lớn từ đời sống kinh tế, những gánh nặng cơm áo gạo tiền, chăm lo cho gia đình như người lớn Nhưng lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi vừa chia tay thế giới trẻ thơ cũng đang chịu hàng tá những áp lực vô hình, những áp lực ấy tuy không quá lớn nhưng khi tích tụ dần chúng cũng gây ra các bệnh về tâm lí cho các bạn trẻ.Và căn bệnh dễ bắt gặp đó là stress Qua thực tế khám chữa bệnh, bác sĩ Lê Quốc Nam – công tác tại Phòng khám Tâm lý y khoa -Tâm thần kinh Quốc Nam nhận thấy stress ở lứa tuổi thanh thiếu niên thường xuất hiện trong các hoàn cảnh như bệnh nhân học hành quá nhiều, hay gặp phải các thất bại trong quá trình học tập, bị áp lực từ phía cha mẹ, có mâu thuẫn với bạn bè, rắc rối trong tình yêu Hoặc các bạn trẻ gặp các vấn đề trong gia đình : bạo lực, sự bỏ
bê, cha mẹ bất hòa hay li dị….Tệ hơn cả vậy, chỉ một vài dòng suy nghĩ tiêu cực
về hình dáng cơ thể hay khả năng của bản thân cũng đủ làm cho những “người lớn trẻ em” này bị stress
Từ những thông tin trên, chúng tôi xin được phân loại nguồn gây stress thành ba nguồn chính như sau
Trang 7*Nguồn thứ nhất : Các yếu tố gây ra stress đến từ quá trình học tập
*Nguồn thứ hai :Các yếu tố gây ra stress đến từ đời sống, xã hội
*Nguồn thứ ba: Các yếu tố gây ra stress đến từ cuộc sống gia đình
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về nguồn gây Stress
Để sẵn sàng đi sâu vào những nguồn gây ra stress, chúng ta hãy điểm lại qua khái niệm sơ bộ của stress Stress là trạng thái thần kinh bị căng thẳng do nhiều nguyên nhân gây ra,là sự phản ứng của cơ thể trước các tác nhân gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh giao cảm và tâm sinh lí,và các nguyên nhân ấy sẽ được sáng tỏ qua bài nghiên cứu của chúng tôi Trước hết hãy cùng tìm hiểu về quá trình học tập đã gây ra những gì mà khiến cho các bạn trẻ vị thành niên mắc phải stress Được biết , đây là nguyên nhân chính gây ra stress ở lửa tuổi vị thành niên ,bởi tại Tp.HCM ghi nhận stress do việc học chiếm đến 62% Thực trạng hiện nay cho thấy lượng kiến thức học quá tải, thời gian học đã tăng từ 35 lên 37 tuần, lượng kiến thức mà học sinh THPT tiếp nhận quá nhiều dẫn đến tình trạng học nhồi nhét, học không hiểu Bản thân giáo viên đứng lớp giảng dạy cũng gặp không ít khó khăn, lúng túng khi áp dụng chương trình và sách giáo khoa mới Mục tiêu đặt ra là giảm tải chương trình nhưng một số môn còn quá nặng, dẫn đến việc học sinh bị hạn hẹp
về thời gian chuẩn bị và rèn luyện kiến thức Đồng thời, ngoài dành thời gian cho các tiết học trên trường lớp, các bạn học sinh còn phải tham gia các lớp học thêm, luyện thi, khiến cho lịch học của các bạn ngày một dày đặc thêm Nhức nhối hơn
cả, dường như từ phía phụ huynh các bạn, các đơn vị giáo dục có liên quan vẫn chưa chú trọng vào việc rèn luyện kĩ năng sống cho các bạn trẻ , trong khi đó, việc giáo dục kĩ năng sống đối với lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi đang có chuyển biến trong tâm sinh lý là rất cần thiết Khi tiến hành nghiên cứu về nguyên nhân gây ra stress trong học tập ở học sinh THPT chúng tôi nhận thấy sự tương đồng từ bài nghiên cứu “Ứng phó với stress trong học tập của sinh viên” rằng có 12 nguồn nguyên nhân đã được xác định: (1) áp lực từ gia đình/giáo viên/bạn bè/bản thân, (2) bài tập quá nhiều/quá khó/có thời hạn hoàn thành gấp, (3) chương trình/môn học/kiến thức nhàm chán/khó/nặng, (4) giáo viên và phương pháp dạy không hiệu quả, (5) kết quả và hiệu quả học tập không như mong muốn, (6) khó cân bằng thời gian giữa học tập và hoạt động khác, (7) khó khăn trong thích ứng với môi trường cấp 3, (8) kiểm tra và đánh giá dồn dập/quá khó, (9) kỹ năng và giao tiếp chưa tốt, (10) làm việc nhóm không hiệu quả/xảy ra mâu thuẫn, (11) lịch học/thời gian học dày đặc/không hợp lý, (12) thiếu tài liệu cho học tập
Từ những nguồn trên, chúng tôi đã sắp xếp ra hai nguồn nguyên nhân chính
là nguyên nhân khách quan và chủ quan
Trang 8*Khách quan : (1) áp lực từ gia đình/giáo viên/bạn bè/bản thân, (2) bài tập quá nhiều/quá khó/có thời hạn hoàn thành gấp, (3) chương trình/môn học/kiến thức nhàm chán/khó/nặng, (4) giáo viên và phương pháp dạy không hiệu quả, (8) kiểm tra và đánh giá dồn dập/quá khó, (11) lịch học/thời gian học dày đặc/không hợp lý, (12) thiếu tài liệu cho học tập
*Chủ quan: (5) kết quả và hiệu quả học tập không như mong muốn, (6) khó cân bằng thời gian giữa học tập và hoạt động khác, (9) kỹ năng và giao tiếp chưa tốt, (10) làm việc nhóm không hiệu quả/xảy ra mâu thuẫn
Nguồn thứ hai :Các yếu tố gây ra stress đến từ đời sống, xã hội
+Môi trường thực : Lứa tuổi vị thành niên là một lứa tuổi khá đặc biệt, bởi có thể nói đây là lứa tuổi mà những “người lớn trẻ con” thể hiện những màu sắc, cá tính riêng của bản thân mình Các bạn trẻ không ngại va chạm, giao du, kết thân với những người bạn mới, tạo ra thật nhiều mối quan hệ để học hỏi thêm thật nhiều điều hay ho khi đã bước dần sang thành “người lớn” Bạn bè là một mối quan hệ quan trọng, là những người chia sẻ với chúng ta những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, tuy vậy nhưng cũng có đôi lúc giữa tình bạn xảy ra ganh ghét, đố kị, xích mích và bất đồng quan điểm với nhau Tệ hơn cả là những bạn trẻ bị chính bạn mình cô lập, tẩy chay và đây là một trong những nguồn gây nên stress ở lứa tuổi vị thành niên Ngoài ra, theo nghiên cứu “Áp lực xã hội đối với học sinh”, việc học sinh phải chịu những định kiến từ xã hội, hay việc học sinh nhút nhát khi hoà nhập với xã hội cũng gây nên stress ở lứa tuổi này
+ Môi trường ảo: Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ, môi trường ảo
đã trở thành một phần của cuộc sống học sinh Theo số liệu khảo sát của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, trong 3 tháng đầu năm 2023 có 89% trẻ em truy cập
và sử dụng internet, trong số này có đến 87% sử dụng internet hàng ngày Cũng vì
lẽ đó, mạng xã hội cũng đã góp phần gây nên stress ở lứa tuổi vị thành niên Các học sinh tham gia vào môi trường này không quá khó để bắt gặp tình trạng bạo lực không gian mạng Ngoài ra, mạng xã hội còn phát sinh ra nhiều xu hướng từ đó khiến học sinh bắt đầu chạy đua theo xu hướng của thời đại Việc suy nghĩ làm sao, làm thế nào để theo kịp các xu hướng cũng tạo ra những căng thẳng, lo âu cho các bạn trẻ
+Nguồn thứ ba: *Nguồn thứ ba: Các yếu tố gây ra stress đến từ cuộc sống gia đình
Ngoài hai chủ thể đã nêu trên là chủ thể Học tập và Xã hội, một số vấn đề trong gia đình cũng gây nên những sự stress, áp lực nhất định đối với các bạn trẻ
Trang 9Đầu tiên phải kể đến những lí do chủ quan đến từ những bậc phụ huynh, Jim Settle (2007) cho rằng việc các bậc cha mẹ quan tâm quá mức đến con cái của mình có những mặt tích cực, tuy nhiên, việc lấn quá sâu vào những chuyện nhỏ nhặt hay mọi thứ của con cái sẽ dẫn đến sự stress, mệt mỏi nhất định cho các bạn trẻ Theo một bài nghiên cứu của PubMed Central, lên đến 86% phụ huynh muốn con cái mình lớn lên theo cách mà họ mong muốn, từ đó lại tạo nên những áp đặt quá mức lên các bạn trẻ Bên cạnh đó, việc cha mẹ có thái độ không ủng hộ với ý kiến của con hay việc không quan tâm đến cảm xúc và suy nghĩ của trẻ cũng làm cho con cái có cảm xúc khó chịu và những suy nghĩ tiêu cực về cha mẹ mình, đặc biệt là trong trường hợp xảy ra khoảng cách thế hệ quá lớn
Thứ hai, những tình huống khác khiến hạnh phúc gia đình không trọn vẹn như cha mẹ ly hôn hay hoàn cảnh tài chính của gia đình khó khăn cũng sẽ gây nên một sự tự tin ở con cái, và từ đó dẫn đến sự căng thẳng khi các bạn trẻ tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài,
1.3 Tổng quan về mức độ Stress ( Dựa trên thang đo DASS21)
1.3.1: Thang đo DASS21
DASS-21 (Depression Anxiety and Stress Scales) là thang đánh giá được phát triển bởi các nhà khoa học thuộc Đại học New South Wales (University of New South Wales), Australia DASS-21 có thể được dùng trong tầm soát và đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress
DASS-21 là thang tự đánh giá gồm 21 mục, có thể đánh giá được cả trầm cảm, lo âu và stress Trong đó:
1.3.2 Cách tính kết quả của thang đo DASS21
1.3.2.1Nguyên tắc khi làm bài test
Cách tính điểm như sau:
0 - Không đúng với tôi chút nào cả
1 - Đúng với tôi phần, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
2 - Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
3 - Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng
Trang 10Lưu ý: Bạn nên ghi số điểm của từng câu hỏi ra sổ ghi chép Điểm được tính bằng tổng điểm các câu hỏi và nhân với 2
1.3.2.2Câu hỏi test
S 1 Tôi thấy khó mà thoải mái được 0 1 2 3
D 3 Tôi không thấy có chút cảm xúc tích cực nào 0 1 2 3
A 4 Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở gấp, khó thở dùchẳng làm việc gì nặng) 0 1 2 3
D 5 Tôi thấy khó bắt tay vào công việc 0 1 2 3
S 6 Tôi đã phản ứng thái quá khi có những sự việcxảy ra 0 1 2 3
A 7 Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay ) 0 1 2 3
S 8 Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều 0 1 2 3
A 9 Tôi lo lắng về những tình huống có thể khiến tôihoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười 0 1 2 3
D 10 Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả 0 1 2 3
S 11 Tôi thấy bản thân dễ bị kích động 0 1 2 3
D 13 Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng 0 1 2 3
S 14 Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xenvào cản trở việc tôi đang làm 0 1 2 3
A 15 Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 0 1 2 3
D 16 Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa 0 1 2 3
D 17 Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người 0 1 2 3
S 18 Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái 0 1 2 3
Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp)
0 1 2 3