1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Phân tích vị thế quản lý rừng thuộc quyền sử dụng của thôn/bản ở các tỉnh miền bắc việt nam " docx

103 510 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vị thế quản lý rừng thuộc quyền sử dụng của thôn/bản ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý rừng và phát triển nông nghiệp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ nghiên cứu dự thảo bổ sung, sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã đề nghị: thôn/bản cũng là một trong các đối tượng được giao đất lâm nghiệp như hộ gia đình, cá nân và tổ chức.. i

Trang 1

Phân tích vị thế quản lý rừng thuộc quyền sử dụng

của thôn/bản ở các tỉnh miền bắc việt nam

Phần giới thiệu chung

1 Đặt vấn đề

Theo kết quả của 2 cuộc Hội thảo quốc gia năm 2000 và 2001 về LNCĐ do Tổ công tác quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng (WG-CFM) tổ chức, cho thấy rừng thôn/bản với các kiểu quản lý khác nhau đã xuất hiện, tồn tại trên thực tế từ lâu như một thực thể khách quan và đã đóng góp một phần nhất định vào quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam Nhưng về mặt pháp lý, hiện nay thôn/bản chưa được Nhà nước xác định là đối tượng được giao đất lâm nghiệp

Tổ nghiên cứu dự thảo bổ sung, sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã đề nghị: thôn/bản cũng là một trong các đối tượng được giao đất lâm nghiệp như hộ gia đình, cá nân và tổ chức

Vì vậy một nghiên cứu, phân tích vị thế và các loại hình/kiểu quản lý rừng thôn/bản (RTB) trong quá trình phát triển lâm nghiệp Việt Nam là cần thiết, có ý nghĩa để góp phần minh chứng cho đề xuất “thôn/bản là đối tượng được giao đất lâm nghiệp” là khách quan, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu thế phát triển quản lý rừng Việt Nam Và cung cấp thêm thông tin có sở khoa học và thực tiễn góp phần phát triển khuôn khổ chính sách nhằm khuyến khích phát triển các hình thức quản lý rừng thích hợp, bao gồm cả quản lý rừng thôn/bản

Trang 2

2 Mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục đích

Phân tích cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) về các vấn đề sau:

1 Vị thế của quản lý rừng thôn bản trong tổng thể cấu trúc quản lý rừng ở Việt Nam (cùng với các loại hình quản lý rừng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) Và chứng minh được hiệu quả của quản lý rừng thôn/bản

2 Đánh giá các kiểu quản lý rừng thôn/bản phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương (đặc điểm về tự nhiên, kinh tế-xã hội, bao gồm cả tập quán dân tộc ) Và tác động cụ thể của các chính sách trung ương và địa phương

3 Tính tất yếu, khách quan việc thôn/bản là một trong các đối tượng được Nhà nước giao đất lâm nghiệp (chứng minh được trong những điều kiện nhất định nào đó quản lý rừng thôn/bản là có hiệu quả)

2.2 Nội dung nghiên cứu

A Vị thế của rừng thôn bản

1 Tỷ trọng diện tích rừng thôn bản đang quản lý trong tổng diện tích lâm nghiệp địa phương? (xã, huyện, tỉnh điều tra) tỷ lệ so với rừng do hộ gia đình được giao, khoán và rừng do các tổ chức khác được giao quản lý? Loại rừng gì: phòng hộ, đặc dụng, sản xuất? Rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống? Vị trí phân bố phổ biến các khu rừng thôn bản?

2 Lý do vì sao lại không chia/giao những khu rừng này cho hộ gia đình? (khó chia cho công bằng; mục đích sử dụng vì lợi ích công cộng: nguồn nước, chống gió bão, hỗ trợ lâm sản gia dụng, gỗ dùng cho các công trình công cộng; kinh doanh công cộng tập quán truyền thống, tín ngưỡng, tâm linh )

Trang 3

3 So sánh ưu nhược điểm của quản lý rừng thôn bản với các kiểu quản lý rừng hiện có ở địa phương: rừng hộ gia đình, lâm trường, Ban QLR, rừng còn do kiểm lâm quản lý Trong những điều kiện nào thì hình thức quản lý rừng cộng đồng có ưu thế: tự nhiên, kinh tế xã hội, nhân văn, tập quán

4 Quan điểm, chính sách của huyện, tỉnh đối với quản lý rừng thôn bản

5 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu điểm về Rừng thôn bản của WG-CFM, tài liệu hội thảo về lâm nghiệp cộng đồng và của các dự án đã có, đối chiếu, so sánh với nghiên cứu thực tế ở 1 tỉnh để rút ra các nhận định chung về vị thế quản lý rừng thôn bản ở nước ta

6 Xu thế phát triển/diễn biến quản lý rừng thôn bản: + những nhân tố chính hình thành rừng thôn bản; + dự báo những xu thế biến động của những nhân tố đó, như: vị trí cấp thôn bản, năng lực cán bộ thôn bản, nhận thức của cư dân đối với rừng, chính sách của trung ương và địa phương đối với kiểu quản lý rừng thôn bản

B Các kiểu quản lý rừng thôn bản

1 Tổng hợp, phân loại các kiểu quản lý rừng thôn/ bản qua nghiên cứu điểm

2 Đề xuất tiêu chí phân loại kiểu quản lý rừng thôn/ bản ở nước ta

3 Những điều kiện thích hợp với quản lý rừng thôn/ bản

4 Cách thức quản lý: quy chế, tổ chức, giám sát thực hiên, năng lực thực thi

Trang 4

2.3 Phương pháp nghiên cứu:

i) Điều tra điển hình: ở 1 tỉnh (Cao bằng):

Thu thập, phân tích các thông tin đã có liên quan đến rừng thôn/ bản của tỉnh, dùng bảng câu hỏi và biểu thu thập số liệu và ý kiến cán bộ chủ chốt và chuyên gia về quản lý rừng thôn bản Đối tượng tiếp xúc: UBND tỉnh, huyện, Sở NN&PTNT, Chi cục kiểm lâm, Chi cục PTLN, Hạt kiểm lâm, Phòng địa chính huyện và chuyên gia địa phương

- Chọn 3 huyện đại diện (mẫu) để nghiên cứu:

1 Thông Nông Tiểu vùng núi đá, phía đông, đân tộc Tày là chính

2 Quảng Uyên Tiểu vùng núi đá, phía tây, dân tộc Nùng là chính

3 Nguyên Bình Tiểu vùng núi đất phía Tây nam, dân tộc Dao là chính

ở mỗi huyện lấy từ 1- 2 xã khảo sát điển hình;

H'Mông

Trang 5

ii) Thu thập phân tích các kết quả nghiên cứu điểm về rừng cộng đồng của CFM và các dự án, tài liệu Hội thảo về lâm nghiệp cộng đồng

WG-iii) áp dụng PRA, ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học

iv) Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Quản lý rừng thôn/ bản là một trong những loại hình của quản lý rừng cộng đồng/lâm nghiệp cộng đồng:

Loại rừng cộng

đồng

Quyền sử dụng đất

Nhận giao khoán BVR + trồng

rừng

Tư cách chủ rừng

- Nhận khoán với chủ rừng Nhà nước,

- nhận khoán với chủ dự án LN, Kiểm lâm ( không phải là chủ rừng)

Không

3 Rừng dòng tộc Tự xác lập - Nhận khoán với chủ rừng nhà

nước,

Không

Trang 6

- nhận khoán với chủ dự án LN, Kiểm lâm (không phải là chủ rừng)

Không

5 Rừng nhóm

hộ

được giao đất - nhận khoán với chủ dự án LN,

Kiểm lâm ( không phải là chủ

- nhận khoán với chủ dự án LN, Kiểm lâm ( không phải là chủ rừng)

Không

Trang 7

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Rừng thôn/ bản (loại1)

3 Nội dung báo cáo:

Ngoài phần thứ nhất: Giới thiệu chung và tài liệu tham khảo, báo cáo gồm các phần sau đây:

- Phần thứ hai: Thực trạng rừng thôn/ bản ở tỉnh Cao Bằng

- Phần thứ ba: Đánh giá vị thế rừng thôn/ bản ở các tỉnh Miền Bắc Việt nam

- Phần thứ tư: Kết luận và khuyến nghị

Dân số năm 2000 là 494.724 người, mật độ dân số bình quân 74 người/km2(huyện cao nhất là Hoà An: 108, thấp nhất: 46, Thạch An) Tỷ lệ dân số nông thôn

Trang 8

chiếm 86,7% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,3% Có hơn 10 dân tộc cùng sinh sống: Tày chiếm tỷ lệ 42,58%, Nùng: 32,8%, Dao: 9,6%, H'Mông: 8,4%, Kinh: 4,67% và một số dân tộc khác như: Sán chỉ, Lô lô, Mường Dân tộc Tày, Nùng, Kinh phân bố

ở tất cả 11 huyện thị Trong đó huyện Hoà An có số lượng người Tày đông nhất, người Nùng ở huyện Quảng Hoà, và người Kinh tập trung ở thị xã Dân tộc H'mông

cư trú tập trung nhiều nhất ở Bảo Lạc, dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở huyện Nguyên Bình

Nền kinh tế của Cao Bằng vẫn là nông nghiệp, cơ cấu kinh tế ngành theo GDP, năm 2000, như sau: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nghiệp 46,31%, dịch vụ 37,69%, công nghiệp, xây dựng cơ bản 16,06% GDP bình quân đầu người thấp, đạt 2,328 triệu ng/năm (1999), sản lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người: 332kg/năm

Tuy là một tỉnh miền núi, vùng cao, nhưng vấn đề môi trường cũng cần quan tâm Do một thời gian dài không ngăn ngừa tệ nạn đốt rừng làm nương rãy, khai thác lạm dụng và hậu quả chiến tranh biên giới, thảm che phủ rừng chỉ còn hơn 30%, không bảo đảm cân bằng môi trường sinh thái Một số nơi đầu nguồn, dốc lớn đất bị sói mòn rửa trôi mạnh, diện tích đất sói mòn trơ sỏi đá chiếm tới 13,9% diện tích tự nhiên

1.2 Tình hình lâm nghiệp và giao đất giao rừng

1.2.1 Quy hoạch lâm nghiệp

- Diện tích rừng hiện có: 208.586 ha, độ che phủ rừng 31,2 %

Trong đó: - rừng tự nhiên: 199.973 ha, chiếm tỷ lệ 95,67%

+ rừng gỗ : 199.9173 ha (chủ yếu là rừng non: 188.678 ha)

Trang 10

Như vậy: diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ 56,35% diện tích tự nhiên tòan tỉnh, trong đó rừng phòng hộ và đặc dụng: 20,7%, rừng sản xuất: 35,65%1 Nhưng theo Sở NN&PTNT và Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng thì rừng lại được quy hoạch 100% là rừng phòng hộ?!

1.2.2 Giao đất giao rừng:

Tỉnh Cao Bằng bắt đầu giao đất giao rừng từ năm 1990, nhưng chỉ sau khi có NĐ02/CP thì giao đất lâm nghiệp mới thực sự được đẩy mạnh, đến 12/2001 đã giao được 319.435,9 ha ( 94,7% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh), chủ yếu giao cho hộ gia đình và " tập thể"( 55.362 hộ và tập thể) Đất lâm nghiệp giao cho các tổ chức lâm nghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ rất nhỏ vì tỉnh không tổ chức Ban QLRPH, có 3 lâm trường quốc doanh (Thạch An, Hoà An, Nguyên Bình), theo NĐ388/CP được quản lý 73.297ha, nhưng khi tiến hành giao đất các huyện đã giao tất cả diện tích rừng tự nhiên của lâm trường cho hộ gia đình (không có quyết định thu hồi đất của tỉnh) Ví

dụ lâm trường Nguyên Bình, theo NĐ388, quản lí 16.638 ha, trong đó có 15.989 ha rừng tự nhiên và 649 ha rừng trồng Nhưng hiện nay chỉ còn được quản lý 500 ha rừng trồng (thông mã vĩ) Lý do khách quan là các lâm trường từ khi chuyển đổi cơ chế (1990) đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, không có vốn sự nghiệp bảo vệ

và trồng rừng, sau đó chỉ còn làm nhiệm vụ quản lý dự án 327 Lâm trường Hoà An tuy chưa giải thể nhưng đã bị thu hồi con dấu từ năm 1997 ở huyện Nguyên Bình chỉ

có Ban quản lý dự án Nông lâm huyện hoạt động, Ban quản lý và kinh doanh luôn diện tích rừng trồng của lâm trường Nguyên Bình (giám đốc lâm trường đang nghỉ chờ xin việc đã 2 năm nay nhưng lại giữ con dấu của lâm trường)

Trong diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho hộ gia đình và tập thể- theo báo

cáo của Chi cục Kiểm lâm- diện tích giao cho "tập thể" là 84.782 ha, chiếm tỷ lệ

26,54% Theo giải thích của kiểm lâm, "tập thể" bao gồm các tổ chức chính trị xã hội như Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh vv tổ chức trường học, lực lượng vũ trang và

1

Nguồn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp, 2001- Bộ NN&PTNT

Trang 11

thôn bản Trong quyết định giao đất của huyện thường ghi là: Giao cho tập thể xóm

theo nghĩa: tập thể xóm = cộng đồng/đơn vị xóm, cũng như "tập thể cựu chiến binh xã= đơn vi hội cựu chiến binh xã " Tập thể" không phải là kinh tế tập thể hay HTX nông nghiệp Diện tích rừng do " tập thể" tham gia quản lý năm 2000, như sau:

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ

Diện tích được giao đất, giao rừng

Diện tích do cộng đồng quản lý theo truyền thống

Diện tích được giao khoán BVR

Trang 12

( Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Cao bằng 7/2001)

Như trên đã nêu, do ở tỉnh Cao Bằng không có Ban QLR phòng hộ và đặc dụng nào và diện tích rừng tự nhiên của các lâm trường không còn được quản lý, nên diện tích rừng các tập thể được giao khoán bảo vệ rừng không theo NĐ 01/CP, mà các chủ dự án khoán cho các tập thể bảo vệ rừng đã được giao đất lâm nghiệp hoặc tự

Trang 13

xác lập quyền của lý của tập thể Vì vậy theo chúng tôi, con số diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý cần được điều chỉnh lại , bằng diện tích rừng được giao cộng với diện tích tự quản lý theo truyền thống, tức là: 97.829,85 ha, chiếm 31,1% diện tích đất lâm nghiệp đã giao của toàn tỉnh

2 Thực trạng rừng thôn/ bản tỉnh Cao Bằng

2.1 Rừng thôn/ bản ở huyện Thông Nông

2.2.1 Tình hình chung của huyện Thông nông

Huyện Thông Nông nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Cao Bằng, cách tỉnh lỵ 50km theo tỉnh lộ 204, có đường biên giới với Trung Quốc dài 12,2 km Diện tích tự nhiên

là 36.409 ha (4,7% diện tích toàn tỉnh) Huyện hoàn toàn nằm trên các dãy núi đá vôi, địa hình chia cắt, hiểm trở, giao thông rất khó khăn Khí hậu ôn hoà, nhiệt độ bình quân 20,200C, lượng mưa 1.736,9mm/năm, thuận lợi cho tái sinh rừng

Dân số 22.732 người, mật độ dân số 62,4 ng/km2, với 4330 hộ, gồm 8 dân tộc, trong đó các dân tộc có số người đông là: Nùng 8118 người (35,7%), Dao 5638 , (25,8%), Tày 5457 (24%), H'Mông 3086 (13,57%), còn lại là Kinh, Hoa Các dân tộc thường quần cư ở các xóm riêng biệt, nhất là dân tộc Dao, H'Mông, mỗi xóm có từ 20-30 hộ, sinh sống lâu đời, ít di biến động Tỷ lệ tăng dân số: 2% (2000)

Hiện trạng sử dụng đất huyện Thông Nông

Trang 14

50,6

Biểu đồ: Cơ cấu sử dụng đất Huyện Thông nông

Trang 15

Bi ểu đồ cơ cấu sử dụng đất Huyện thông nông

Đất chuyên dụng, 167.07, 0%

Đất lâm nghiệp, 14888.93, 41%

Đất nông nghiệp, 2690.37, 7%

III Đất chuyên dụng

V Đất chưa sử dụng

IV Đất ở

(Nguồn: Thống kờ đất đai của huyờn Thụng Nụng - UBND huyờn,12/2001)

- Sản xuất nụng nghiệp chiếm 91% giỏ trị sản xuất toàn huyện Tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạt 10.138 tấn, sản lượng lương thực bỡnh quõn đầu người đạt 411kg (năm 2000), nụng sản hàng hoỏ chớnh là ngụ, lõm sản hàng hoỏ cú trỳc sào Chăn nuụi trõu bũ chưa phỏt triển, mới bảo đảm sức kộo cho nụng nghiệp

Huyện Thụng nụng tuy cú diện tớch rừng khỏ lớn: 11.309 ha, hầu hết là rừng

gỗ tự nhiờn ( rừng nỳi đỏ), chỉ cú vài chục ha rừng trồng thụng mó vĩ Tổng trữ lượng gỗ: 331.200m3, chỉ cú ở rừng non Từ năm 1980 trở về trước tài nguyờn rừng cũn phong phỳ, nhưng sau này do việc khai thỏc bất hợp lý và phỏ rừng lấy đất làm nụng nghiệp nờn hiện nay khụng cũn rừng già, chỉ cũn lại một ớt rừng nghốo kiệt, đại bộ

Trang 16

phận là rừng non phục hồi Diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch toàn bộ là rừng phòng hộ (?) Ngoài ra còn 16.829 đất đồi núi và núi đá chưa sử dụng, chắc chắn sẽ được quy hoạch là đất lâm nghiệp, như vậy đất lâm nghiệp sẽ chiếm tỷ lệ trên 90% diện tích của huyện (31.717,9ha) Trước đây có thành lập lâm trường Thông nông, nhưng hoạt động không có hiệu quả, nên đã giải thể Mặc dù đất lâm nghiệp được quy hoạch là rừng phòng hộ nhưng không có ban QLRPH nào được thành lập Thời

kỳ chương trình 327, huyện không có dự án ( vì không có người xây dựng dự án!?), đến nay(2002) đã có dự án 5 triệu ha rừng, với quy mô 8000 ha khoanh nuôi và trồng mới rừng phòng hộ, Ban QLDA huyện được thành lập Như vậy, lâm nghiệp ở huyện Thông nông từ trước đến nay là lâm nghiệp nhân dân- do dân thực hiện là chính, có một điển hình về trồng rừng ở vùng cao là HTX Cao thượng ( người H'Mông) ở xã

Đa thông được nhà nước đầu tư trồng rừng thông mã vĩ từ những năm 1970 Nhưng

vì chỉ lấy việc trồng rừng làm mục tiêu mà không có giải pháp về kinh tế, tiêu thụ sản phẩm nên không phát triển được Dân đã kêu: rừng trồng tốt, nay dân ôm cây thông

mà đói! Hơn nữa đất trồng rừng lại chính là đất làm nương rãy luân canh của đồng bào, nên khi trồng được gần 100 ha thì dân không còn đất sản xuất lương thực Khi HTX tan rã, rừng đã bị phá một phần để lấy lại đất trồng lương thực

Công tác giao đất giao rừng được chính thức tiến hành từ năm 1992, nhưng sau khi có NĐ02/CP thì mới được đẩy mạnh Đến năm 2000 các xã và thị trấn đã được giao đất lâm nghiệp, nhưng chưa giao khép kín trên địa bàn xã Thiếu kinh phí

là nguyên nhân của tiến độ giao đất lâm nghiệp chậm, việc cấp sổ đỏ còn chậm hơn vì bất cập về năng lực của tổ chức địa chính huyện

Bảng tổng hợp kết quả giao đất lâm nghiệp của huyện Thông nông

đến 7/2002

Trang 17

( Nguồn: Hạt kiểm lâm Thông nông,8/2002)

Diện tích đất lâm nghiệp đã giao mới chiếm 52,54% đất lâm nghiệp toàn huyện

2.2.3 Tình hình giao đất lâm nghiệp cho thôn/ bản

Trang 18

Trong quá trình giao đất lâm nghiệp ở địa phương ngoài các đối tượng chính được giao đất là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức như trường học, tổ chức chính trị

xã hôi: Hội phụ nữ, cựu chiến binh, lực lượng vũ trang đã được quy định trong Luật, còn một đối tượng nữa có nhu cầu nhận đất lâm nghiệp là cộng đồng dân cư thôn bản đã cũng được giao đất lâm nghiệp Trong thống kê về giao đất lâm nghiệp kiểm lâm thường dùng thuật ngữ "tập thể" để chỉ nhóm đối tượng không phải hộ gia đình và ghi ghép là : hộ gia đình và tập thể Thuật ngữ "tập thể" được dùng trong các thống kê nhà nước như vậy là không chuẩn vì không có trong Luật và làm cho người

ta lầm lẫn với kinh tế tập thể ( HTX) Chúng tôi đã căn cứ vào sổ các giao đất lâm nghiệp của từng xã để bóc tách số liệu giao đất cho các thôn/ bản

Tình hình giao đất lâm nghiệp cho các thôn/ bản ở huyện Thông nông 7/2002

Tổn

g

số xó

m

Số xóm

có rừng thôn bản

% xóm

có rừng thôn bản

Diện tích rừng thôn bản

Diện tích đất

LN đã giao

% diện tích rừng thôn bản

Diện tích rừng của

tổ chức được giao

% diện tích rừng thôn bản so với tổ chức

Trang 19

2 Đa Thông 26 15 57,64 615.14 2.088,86 29,45 19,04 32,3

6 0,60

Trang 20

Tû lÖ xãm cã rõng th«n b¶n

1 2

1.- xóm có rừng thôn bản

2.- xóm không có rừng thôn bản

Biểu đồ: Cơ cấu về diện tích các loại chủ rừng

Trang 21

C¬ cÊu c¸c lo¹i chñ rõng

1 2 3

1 rừng thôn bản, 2 rừng hộ gia đình, 3 rừng của các tổ chức khác

Nhận xét:

1) Cho đến mấy năm gần đây chính sách giao đất lâm nghiệp được tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân, được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, hầu hết các hộ đều tự nguyện xin nhận đất Tổ chức thôn/ bản, không chỉ là đơn vị xin được giao đất

mà có vai trò quan trọng trong việc tổ chức chia đất cho các hộ gia đình, bảo đảm sự

đồng thuận, đoàn kết nhất trí trong nội bộ thôn bản, Hạt kiểm lâm chỉ phải làm thủ tục hành chính pháp lý về giao đất Có trường hợp thôn bản đề nghị điều chỉnh việc giao đất chưa hợp lý trước đây của một số hộ gia đình

2) Tỷ lệ số xóm có rừng thôn/ bản là 45%, với diện tích rừng thôn bản là 3.855,44, chiếm 23% diện tích đất lâm nghiệp đã giao trong toàn huyện Diện tích bình quân rừng thôn bản của một xóm là 52,08 ha, xóm có diện tích lớn nhất là176,56

ha (xóm Nà Thin xã Cầu yên), xóm có diện tích nhỏ nhất là 0,8 ha (xóm Kéo xã Bình lãng) So với diện tích rừng giao cho các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở và lực lượng

vũ trang thì diện tích rừng thôn bản lớn hơn gấp nhiều lần (11,6 lần) Như vậy rừng thôn/ bản có vị trí thứ 2 sau rừng hộ gia đình về diện tích

Trang 22

3) Đất lâm nghiệp thôn /bản chủ yếu là rừng ở trạng thái Ib,IIa,b,c , IIIc và những chòm cây cổ thụ Riêng xóm Lũng lừa và Mã pản xã Đa thông rừng thôn bản lại là rừng trồng, vốn trước đây do HTX Cao thượng trồng (78,24 ha, từ năm 1970), sau khi HTX tan rã thì xóm quản lý để sử dụng chung, hiện nay diện tích còn lại là hơn 20 ha Diện rừng giao cho xóm cũng theo lô, xóm ít nhất có 1 lô, xóm nhiều nhất

có đến 5 lô Rừng thôn bản thường bao gồm một số loại chính sau đây:

+ Rừng thiêng (tiếng Tày là đông slấn, có nghĩa là rừng thần, rừng thờ) Rừng

thiêng được hình thành từ xa xưa theo tập quán của dân tộc Tày, Nùng, ở mỗi xóm thường có 1 hay vài khu rừng thiêng, cũng có khi 2 hay vài xóm chung nhau một khu rừng thiêng Rừng thiêng là nơi cộng đồng xóm thờ thần, hàng năm tổ chức cầu cúng

để mùa màng tốt tươi, sức khoẻ cho mọi người trong xóm, các gia đình trong xóm đóng góp theo mức thoả thuận chung- thường là đơn giản ít tốn kém Mọi người tham gia cúng (chỉ có đàn ông), cùng nhau chuẩn bị cỗ cúng, do trưởng xóm làm chủ lễ Sau cúng cùng nhau ăn uống tại chỗ, cỗ còn lại chia đều cho mọi nhà Một số nơi đến nay không còn cúng (có thể họ quan niệm đó là mê tín dị đoan nên bỏ) Rừng thiêng thường có diện tích không lớn từ vài trăm m2 đến vài ha, trong rừng thiêng có nhiều cây cổ thụ Theo tập quán thì không người nào được động chạm vào rừng thiêng: không được chặt cây, lấy củi, (cây chết khô, gãy đổ cũng không được lấy), không được chăn thả trâu bò, thậm chí cả đi vào chơi Nếu ai vi phạm bị phạt rất nặng- phạt

vạ để xóm cúng tạ lỗi với thần Nguời vi phạm trong xóm không nộp phạt thì phải chịu hình phạt nặng nhất là khai trừ ra khỏi hội hiếu - nhà có đám làng xóm không viếng, đưa đám Tất cả mọi người trong xóm đều có ý thức bảo vệ rừng thiêng rất cao Rừng thiêng đôi khi cũng là rừng bảo vệ nguồn nước (tiếng Tày là cốc bó - gốc nước) Ngoài rừng riêng còn có rừng thổ thần của xóm, diện tích nhỏ hơn đông slấn,

có khi chỉ là một chòm cây to, một cây to, nơi thờ một ông thần nào đó của xóm (Người Kinh cũng có quan niệm: cây gạo trú ma, cây đa trú thần, hay đặt bát hương hoặc lập miếu thờ ở gốc những cây này.)

Trang 23

Tất cả những người được chúng tôi phỏng vấn đều biết về rừng thiêng và cho rằng rừng thiêng sẽ tồn tại lâu dài, nhưng không phát triển về diện tích nữa

Những người mới đến Cao Bằng cũng rất dễ nhận ra các khu rừng thiêng, đó

là những khu rừng hay chòm cây cổ thụ nổi lên gần các thôn xóm, thậm chí ở ngay giữa đồng ruộng, còn lại chung quanh chỉ là rừng núi đá mới phục hồi sau khoanh nuôi hay đồi trọc

+ Rừng ma: nghĩa địa của xóm, thường lập dưới tán rừng già

+ Rừng nguồn nước Để bảo vệ nguồn nước ăn, tưới ruộng mỗi xóm đã tự xác

định những khu rừng ở đầu ngọn suối hay nơi có mỏ nước (cốc bó) Có khu rừng đầu nguồn là rừng già đã được bảo vệ từ xa xưa, có nhiều cây cổ thụ, có khu chỉ mới được bảo vệ gần đây khi có chính sách giao đất giao rừng Tuy chức năng chính là để bảo vệ nguồn nước, nhưng đôi khi xóm cũng cho chặt những cây già, gãy đổ để sử dụng chung cho xóm hay chia đều cho các hộ gia đình

+ Rừng phòng hộ xóm làng Có những xóm ở vị trí đất dễ bị sạt lở, đá lăn,

luồng gió đã giữ lại một khu rừng phòng hộ, không cho phép chật cây, lấy củi

+Rừng lâm sản gia dụng Mục đích chính là để lấy gỗ, nứa làm những công

trình công cộng của xóm và hỗ trợ vật liệu làm nhà, làm ma chay cho hộ gia đình, (gỗ làm nhà hộ gia đình phải tự lo liệu, xóm chỉ hỗ trợ một phần nào) Các hộ được vào lấy củi khô, nhưng có những nơi rừng khan hiếm ngay củi khô cũng quy định số lần

và khối lượng được lấy cho các hộ, hoặc chỉ để phục vụ cho các gia đình có đám cưới, đám ma ở những xóm quản lý những khu rừng xa làng bản thì cho tự do sử dụng Không đặt mục đích kinh doanh gỗ và lâm sản cho rừng với rừng thôn bản

Diện tích rừng bảo vệ nguồn nước và gỗ củi gia dụng chiếm tỷ trong lớn trong diện tích rừng thôn bản

Trang 24

4) Huyện Thông Nông không có dự án 327 (vì không lập được dự án) do đó rừng thôn bản và hộ gia đình không được khoán bảo vệ rừng, chứng tỏ người dân ở đây nhận đất nhận rừng không phải vì tiền công khoán mà trước hết vì lợi ích của chính bản thân họ Đến năm 2001 Dự án 661 của huyện mới được triển khai, với quy mô: khoanh nuôi và trồng mới 8000ha rừng phòng hộ rất xung yếu và xung yếu, không thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Rừng phòng hộ đã được giao đến hộ gia đình và thôn xóm Theo kế hoạch kinh phí hàng năm, Ban QLDA huyện khoán bảo

vệ rừng, trồng rừng mới cho các hộ gia đình và thôn xóm Về hình thức hợp đồng giao khoán tương tự như giao khoán theo NĐ01/CP, nhưng khác về bản chất, vì các

hộ gia đình đã được giao đất ( là chủ rừng) Tiền khoán như một loại vốn hỗ trợ cho

hộ gia đình và cộng đồng thôn xóm để bảo vệ và xây dựng rừng ở đây thôn xóm đã được coi như một pháp nhân để ký hợp đồng với Ban QLDA (có xác nhận của UBND xã), trưởng thôn là đại diện của xóm, được Kho bạc chấp nhận thanh toán, chứ không phải núp bóng danh nghĩa các hộ gia đình như ở nhiều tỉnh khác

5) Các xóm được giao đất lâm nghiệp đã được Chủ tịch huyện ký quyết định giao đất, trên cơ sở hồ sơ giao đất của Hạt kiểm lâm thực hiện, nhưng không được cấp sổ đỏ, trong khi hộ gia đình thì được cấp Theo ông Định trưởng phòng NN & PTNT (bao gồm cả địa chính), thì không cấp sổ đỏ cho thôn xóm được vì không có trong Luật hiện hành, còn ý kiến riêng của ông (trả lời phỏng vấn) là nên cấp sổ đỏ cho thôn xóm được giao đất lâm nghiệp

6) Chỉ mới có hơn 50% diện tích đất lâm nghiệp được giao, còn một vài xã chưa giao xong, như vậy vẫn còn một diện tích khá lớn, chủ yếu là rừng núi đá, xa thôn bản là không có người nhận Liệu những diện tích này có thể để thôn bản quản

lý không? vì trong thực tế từ xưa đến nay thôn bản vẫn thực hiện quản lý đất đai, tài nguyên theo ranh giới thôn bản Để thôn bản quản lý là phù hợp với tập quán của đồng bào miền núi Còn hình thức quản lý nào là thích hợp thì cần phải thảo luận

Trang 25

7) Đối chiếu với số liệu Điều tra diện tích rừng và đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ do Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng thống kê năm 2001 thì

có sự sai khác rất lớn:

Cao Bằng-2000

Hạt kiểm lâm Thông nông, 7-

2002

Chênh lệch (+,-)

Diện tích được giao và cấp

(*) Khi giao đất cho thôn bản, đã hợp thức hoá rừng do thôn bản tự quản lý

- Có thể giải thích sự sai khác này như sau:

+ Chưa có sự hiểu thống nhất về khái niệm và các chỉ tiêu thống kê rừng cộng đồng đã gây nên số liệu thống kê khác nhau

+ Báo cáo thống kê trước đây được nhặt từ các báo tổng hợp hàng năm của các Hạt, không thực hiện thống kê từ tài liệu gốc là sổ giao đất của từng xã, từng năm Ví

Trang 26

dụ xã Đa Thông được giao đất lâm nghiêp 9 lần từ năm 1992-2001 mới xong Tài liệu gốc của Hạt kiểm lâm cũng không được cập nhật, rất khó phân tích ( khi thu thập số liệu về rừng thôn bản chúng tôi đã phối hợp với Hạt kiểm lâm phân tích, thống kê từ

sổ cái giao đất của từng xã, từng năm, cập nhật đến 12/2001)

2.3.1 Quảng Hoà là huyện miền núi biên giới phía đông nam của tỉnh Huyện

có diện tích tự nhiên 63.341 ha, được chia thành 24 xã và thị trấn (riêng Quảng Uyên

có 17 xã và 1 thị trấn) Huyện có 3 dạng địa hình: + núi đá vôi là dạng địa hình phổ biến nhất, có những thung lũng bằng phẳng dưới chân các dãy núi

+ núi đất dốc cao (400-900m), các xã phí bắc huyện + đồi thấp các xã phía nam huyện

Đất đai còn tốt, khí hậu ôn hoà nên cây rừng sinh trưởng và tái sinh rất nhanh, ngay cả trên núi đá vôi

Chảy qua huyện có 3 con sông: Sông Bằng Giang, Sông Bắc Vọng và Vị Vọng, các con sông đều được khai thác nước để tưới cho đồng ruộng và phục vụ sinh hoạt Ngoài ra còn có suối ngầm, hồ nước ngầm, mó nước phân bố rải rác ở các xã, lượng nước thường bị cạn kiệt vào mùa khô, không đáp ứng được nhu cầ sản xuất và sinh hoạt của dân Do đó việc bảo vệ rừng ở các đầu nguồn nước nhỏ trở nên rất quan trọng

1

Huyện Quảng Hoà mới tách thành 2 huyện Quảng Uyên và Phục Hoà năm 2001, nên số liệu thống kê chưa tách được, vì vậy, chúng tôi nghiên cứu ở huyện Quảng Uyên nhưng trong báo này vẫn phải dùng số liệuvề kinh tế xã hội của huyện Quảng Hoà trước đây.

Trang 27

Dân số, dân tộc: dân số của huyện năm 2000 là 63.850 nguòi với 12.418 hộ, trong đó: 11.914 hộ nông nghiệp, chiếm 95,4% số hộ, mật độ dân số 101ng/km2 (cao hơn bình quân toàn tỉnh,74 ng/km2) Có 4 dân tộc sinh sống chính: Nùng chiếm tỷ lệ 62,66% dân số toàn huyện (40.407), Tày: 34,6% (22311 ng), Kinh: 2,1% (1390 ng), H'Mông:338 người

Tình hình sử dụng đất huyện Quảng uyên: (2000)

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ% Ghi chú

39,80

Trang 28

dụng

- Nỳi đỏ khụng cõy

- khỏc

21.900,71 1.656,7

Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất H uy ện Quả ng uyên

Đất chuyên dụng, 909.8, 1%

V Đất chưa sử dụng

( Nguồn: Thống kờ đất đai của huyờn Quảng hoà - UBND huyện,12/2000)

- Diện tớch đất nụng nghiệp tương đối thấp, chỉ chiếm 17,8% diện tớch tự nhiờn Nụng nghiệp là ngành sản xuất chớnh của huyện, sản lượng lương thực quy thúc đạt 26.246 tấn, lương thực bỡnh quõn đầu người đạt 386 kg/người/năm, về cơ bản đỏp ứng được nhu cầu nhõn dõn địa phương Chăn nuụi phỏt triển, tổng đàn trõu17.199 con, bũ 10.110 con , bỡnh quõn một hộ cú 2,29 con trõu bũ, 2,8 lợn

- Huyện cú mạng lưới giao thụng khỏ phỏt triển, mật độ đường ụtụ 0,54km/km2, đường đến trung tõm cỏc xó 30% hộ dõn được sử dụng điện lưới, ngoài ra dõn tự lắp đăt thuỷ điện nhỏ, 53% số xó cú điện thoại Cỏc xó đó cú trường trung học cơ

sơ xõy kiờn cố và bỏn kiờn cố Đời sống nhõn dõn đó được cải thiện, tỷ lệ hộ đúi nghốo giảm từ 14,8% năm 1999 xuống cũn 8,57% năm 2000

-

2.3.2 Tỡnh hỡnh lõm nghiờp

Trang 29

+ Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của huyện là 20.119 ha ha chiếm 40,8% diện tích tự nhiên toàn huyện, gồm:

rừng tự nhiên : 19.929 ha rừng trồng : 190 ha

Rừng của huyện đã bị khai thác tàn kiệt, chỉ còn rừng non đang phục hồi, một vài nơi có đám cây cổ thụ mọc rải rác, đó chính là rừng thiêng (tiếng Tày gọi là "đông slấn"- rừng thờ thần) Theo quy hoạch sử dụng đất của huyện, toàn bộ rừng là rừng phòng hộ Diện tích đất chưa sử sụng là đồi núi và núi đá không cây là 23.533 ha, chắc hẳn cũng thuộc quy hoạch đất lâm nghiệp, như vậy, tỉ lệ đất lâm nghiệp sẽ chiếm 69% diện tích tự nhiên toàn huyện

+ Từ trước đến nay ở huyện Quảng Hoà không thành lập lâm trường quốc doanh, hoạt động lâm nghiệp là do dân thực hiện, Ban quản lý dự án 327 và 661 không được giao đất lâm nghiệp Đến 12/2002 đã giao đất lâm nghiệp ở 12/17 xã, còn

5 xã chưa giao vì chưa có kế hoạch kinh phí Đối tượng giao là hộ gia đình và "tập thể", diện tích giao: 17.884,7 ha, bằng 79,7% diện tích đất lâm nghiệp xã Đối tượng giao đất cho"tập thể xóm" - thực chất là rừng xóm, không giao cho các tổ chức khác, Hạt kiểm lâm Quảng Uyên cho biết, có nơi tổ chức lực lượng vũ trang có đơn xin giao đất lâm nghiệp nhưng xóm và xã không đồng ý , vì họ đã tự chia hết cho hộ và xóm rồi

2.3.3 Tình hình rừng thôn /bản

Trang 30

TT Tên xã

Tổn

g số xóm

Số xóm

có rừng thôn bản

% xóm

có rừng thôn bản

Diện tích rừng thôn bản

Diện tích đất

LN đã giao

% diện tích rừng thôn bản

Diện tích rừng của tổ chức được giao

% diện tích rừng thôn bản so với tổ chức

Trang 32

1-xóm có rừng thôn/ bản; 2- xóm không có rừng thôn/ bản

Biểu đồ: Cơ cấu về diện các loại chủ rừng

C¬ cÊu diÖn tÝch cña c¸ c chñ

rõng

1 2

1- diên tích rừng hộ gia đình 2.- diện tích rừng thôn/ bản

Nhận xét:

1) Do kinh phí giao đất có hạn nên mới giao đất lâm nghiệp cho 70% số xã trong huyện ở các xã đã giao đất thì đã giao về cơ bản hết đất lâm nghiệp của xã (79,7%), nhất là các xã giao sau này vì có sự tham gia tích cực của người dân và cộng đồng xóm ở các xã chưa giao đất giao rừng thì dân đã tự chia đất theo sự thoả thuận

Trang 33

trong cộng đồng xóm Vai trò của xóm trong việc chia đất lâm nghiệp là rất tích cực, bảo đảm công bằng và đoàn kết trong thôn xóm

2) Quản lý rừng thôn/ xóm là rất phổ biến, 92,4% số xóm có rừng thôn /xóm

3) Diện tích rừng thôn /xóm bình quân 16 ha/xóm, chủ yếu là rừng tự nhiên tái sinh (rừng non chưa có trữ lượng) ,và những đám rừng già còn sót lại rải rác

4) Rừng thôn/ bản cũng bao gồm các loại: rừng thiêng (đông slấn), rừng mó nước, rừng lấy gỗ củi gia dụng, rừng phòng hộ thôn bản, với các quy chế quản lý nội

bộ cũng tương tự như ở huyện Thông Nông Quyền sử dụng công cộng tài nguyên rừng thôn bản là rất đậm, theo thoả thuận của từng xóm Ví dụ Xóm Lũng Nhân xã Hoàng Hải năm 2000 đã quyết định thuê người khai thác 11 cây già cỗi, gãy đổ ở rừng nguồn nước của xóm để xẻ ván canh chia đều cho mỗi hộ được 13 tấm (2 cỗ áo quan), mỗi hộ phải đóng 500.000đ Nhưng ở rừng mó nước xóm Bó Mèo - nguồn nước duy nhất của xóm bảo đảm cho sinh hoạt và tưới ruộng của toàn xóm thì nghiêm cấm chặt cây kể cả cây gãy đổ, lấy củi Diện tích đất lâm nghiệp ở xóm Bó Mèo rất nhỏ chỉ có 12 ha cho 30 hộ (ông trưởng xóm chỉ được chia 200m2 rừng), dân

ở đây thiếu củi phải đun bằng cây ngô, song không ai xâm phạm vào rừng của xóm, hoặc lấy của các hộ khác Rừng thiêng là khu rừng được nhân dân tôn trọng, giữ gìn nhất, song khi quá khó khăn cũng đã từng bị xâm phạm Trong những năm từ 1960 đến 1986 để lấy gỗ,l ấy đất làm nương rãy, khu rừng thiêng lớn nhất ở xã Hoàng Hải được thiết lập từ thời kỳ Nùng chí Cao - một lãnh tụ người Tày được nhân dân kính

trọng-, nơi thờ cúng của nhiều xóm trong vùng nhưng đã bị chặt phá hoàn toàn (theo

lời kể của ông Sứ, phó chủ tịch xã Hoàng Hải)

5) Các xóm đều xây dựng quy ước xóm, thông qua bàn bạc dân chủ và tuân theo ý kiến đa số, được xã phê duyệt Trong quy ước đó có điều khoản về bảo vê rừng, song rất sơ lược Ví dụ: Quy ước thôn /xóm của Xóm Bó Mèo - xã Hoàng Hải-2000,(bản đánh máy vi tính, phôtôcopy):

Điều 1 Gây rối trật tự công cộng gây mất đoàn kết

Trang 34

Điêu 2 Quy định về tội trộm cắp

Điều 3 Quy định về bảo vệ tài sản chung

Điều 4 Quy định về bảo vệ mùa màng, hoa màu

Điều5 Quy định bảo vệ môi sinh môi trường

-

- Các khu rừng khoanh nuôi, rừng đầu nguồn, rừng mồ mả, rừng được phân chia, mọi người được chăm sóc tu bổ để bảo vệ màu xanh của rừng

- Nghiêm cấm việc đốt cháy rừng, nếu ai vi phạm thì phải phạt theo mức

độ thiệt hai và phạt thêm 50-100.000 đồng

Điều 6 Quy định về xâm chiếm đất đai

Điều 7 Quy định về luật hôn nhân

Điêu 8 Quy định về nếp sống văn hoá

Điêu 9 Quy định về sử dụng, vận chuyển, buôn bán ma tuý

Bên canh bản quy ước chính quy này ông trưởng xóm Mã văn Sĩ còn cho xem một bản Quy ước xóm bản - 1995 (viết tay), bản này cụ thể với tình hình xóm và chi tiết hơn Ví dụ:

"Điều 4 Rừng núi Cốc Bó cũng như các suối chảy chung quanh bản là của toàn dân (dân bản), trực tiếp là do bản ta quản lý bảo vệ, là đầu nguồn mó nước ăn của bản ta, ảnh hưởng xấu hoặc tốt đến môi trường của xóm Vì vậy mọi người, từ trưởng bản đều có nhiệm vụ bảo vệ lấy nó Cho nên không ai được lên núi Cốc Bó chặt cây lấy củi, phát quang bờ bụi (trừ các cây do cá nhân trồng như soan, mạy pí

Trang 35

trồng ở các khoảng trống để tăng thêm độ che phủ là tốt, nhưng không được lợi dụng phát quang)"

Trong bản quy ước này cũng nêu lên hình thức xử phạt nặng nhất với người vi phạm quy ước xóm là khai trừ ra khỏi hội hiếu (nhà có đám tang, xóm không tổ chức chôn cất, phúng viếng)- nhưng từ trước đến nay chưa ai phải chịu mức phạt này, mức phạt nặng có tính răn đe là chính

Hạt kiểm lâm Quảng Uyên đang tổ chức hướng dẫn các xã xây dựng Quy ước bảo vệ rừng xóm theo Chỉ thị số 52 ngày 7/5/2001 của Bộ NN&PTNT về việc đẩy mạnh công tác xây dựng và thực hiện Quy ước bảo vệ rừng trong cộng đồng thôn, làng, ấp, bản Bản quy ước đã có sẵn các điều, các xóm chỉ cần đọc thông quá xóm rồi trưởng xóm ký tên, gửi lên cấp xã, huyện chuẩn y Theo ý kiến chúng tôi cách làm này mang nặng tính hình thức, phổ biến các quy định cấm của pháp luật về bảo vệ rừng(nhưng không đầy đủ), chứ không cụ thể, thiết thực với điều kiện của từng thôn bản, và chắc hẳn hiệu lực thi hành cũng không cao bằng quy ước của xóm của xóm tự xây dựng

Ví dụ: "Mục II Những quy định cụ thể

1 Không phát nương làm rãy trên địa bàn thôn

2 không phá rừng trái phep, bảo vệ tốt những khu rừng đầu nguồn, rừng núi đá rừng phong cảnh

3 Không vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, kinh doanh các loại lâm sản, đặc sản động vật rừng ?? (không đúng với pháp luật hiện hành)

4 Không săn bắn, bẫy bắt động vật hoang dã (chỉ cấm loại động vật hoang dã quý hiếm !?)

5 Không chăn thả gia súc vào rừng mới trồng

Trang 36

6 Không đốt rừng, chấp hành tốt các quy định về phòng chống cháy, chữa cháy và phòng trừ sâu bệnh hại rừng

7 Không tranh chấp rừng, đất trồng rừng được giao

8 Hàng năm tích cực tham gia trồng cây gây rừng

9 Mọi các nhân, tổ chức trong xóm đều có quyền ngăn chặn, tố giác các hànhvi vi phạm quy ước đã nêu ở trên, kể cả người trong xóm cũng như ngoài xóm."

Chúng tôi cho rằng sau khi tuyên truyền sâu rộng về pháp luật bảo vệ rừng cho nhân dân, hãy để dân tự xây dựng lấy quy ước của mình, chỉ những gì là thiết thực,

cụ thể với hoàn cảnh của từng thôn bản là tốt nhất, kỳ vọng quy ước bảo vệ rừng xóm thay thế pháp luật bảo vệ rừng là không thực tế

6) Việc quản lý khai thác sử dụng gỗ củi ở rừng xóm không có một quy định thống nhất nào, tuỳ theo tình hình rừng của xóm, của các hộ gia đình, nhu cầu công cộng và nhu cầu hộ gia đình mà xóm có quy định cụ thể: Xóm Bó Mèo xã Hoàng Hải: không cho khai thác bất kể là củi hay gỗ Xóm Lũng Nhân: rất nhiều năm mới khai thác một lần để giải quyết gỗ quan tài cho các hộ trong xóm Xã Phúc Sen thì quy định 1 năm 2 lần các hộ được vào rừng thôn bản làm vệ sinh kết hợp lấy củi(1 hộ

2 gánh); gia đình nào có đám hiếu, hỷ thì mỗi hộ vào rừng xóm lấy cho một gánh củi cho gia chủ dùng Huyện thì ở xa không với tới còn xã thấy không vi phạm đến mất rừng nên cũng đồng tình, tuy nhiên có xã cũng cho biết nếu xóm nào có hành động khai thác lạm dụng thì cũng kiểm tra, giám sát

2.4 Rừng thôn/ bản ở huyện Nguyên Bình

Trang 37

2.4.1 Huyện Nguyên Bình thuộc tiểu vùng núi đất phía tây nam tỉnh Cao Bằng giáp giới với Bắc Cạn, diện tích tự nhiên 83.720 ha, gồm 18 xã và 2 thị trấn Dân số 39.081 người, dân tộc Dao có 20.018 người chiếm tỷ lệ 52,6%, Nùng: 3.604 người, chiếm tỷ lệ 4,5%, Tày: 10.453 người, chiếm tỷ lệ 0.13%, và một số dân tộc khác như: H'Mông, Kinh,

Hiện trạng sử dụng đất huyện Nguyên Bình

Trang 38

dụng

- Nỳi đỏ khụng cõy

- khỏc

Biểu đồ: Cơ cấu sử dụng đất Huyện Nguyờn bỡnh

Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất H uy ện Nguyên Bình

Đất chưa sử dụng,

46953.84, 56%

Đất lâm nghiệp, 31631, 38%

Đất nông nghiệp, 4496.32, 5%

Đất chuyên dụng, 512.05, 1%

V Đất chưa sử dụng

( Nguồn: Uỷ ban nhõn dõn huyện Nguyờn Bỡnh 1/ 2000)

Diện tớch đất nụng nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ: 5,3% diện tớch tự nhiờn toàn huyện, trong đú ruộng tỷ lệ thấp, chủ yếu là nương róy Diện tớch đất lõm nghiệp cú rừng chiếm 37,7%, đất đồi nỳi chưa sử dụng được quy hoạch cho lõm nghiệp cũn 37.641ha, như vậy, đất lõm nghiệp sẽ là 69.272 ha, chiếm tỷ lệ: 82,78% diện tớch tự nhiờn toàn huyện

Sản lượng lương thực quy thúc bỡnh quõn đầu người, năm 2000 là 272 kg/ ng, thấp nhất trong tỉnh (bỡnh quõn toàn tỉnh: 332 kg/ng) Chăn nuụi tương đối phỏt triển,

do diện tớch đất đồi nỳi lớn, số lượng trõu bũ và lợn là10.159 con, đứng thứ 5 toàn tỉnh

Trang 39

2.4.2 Theo tài liệu kiểm kê rừng năm 1999, diện tích rừng của huyện Nguyên

bình ít hơn, chỉ là 28.783 ha, gồm các loại rừng:

Với trữ lượng 967.875m3 (rừng tự nhiên: 847.593 m3, rừng

trồng:120.048m3) Về cơ bản rừng Nguyên Bình đã bị khai thác, sử dụng tàn kiệt

Huyện đã thực hiện giao đất, giao rừng cho tổ chức và hộ gia đình, từ năm

1993 đến 2001 đã giao được 43.975 ha, bằng 63,5% diện tích đất quy hoạch lâm

nghiệp Trong đó giao hộ gia đình và "tập thể" là 41.299,8 ha, chiếm 94%, với số hộ

được giao 4582 hộ Diện tích rừng giao cho các thôn bản là1.204,3 ha, ở 34 xóm

Bảng tổng hợp kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và thôn/ bản, 8/2002

T

Tổn

g số xóm

Số xóm có rừng thôn bản

% xóm

có rừng thôn bản

Diện tích rừng thôn bản (ha)

Diện tích đất

LN đã giao (ha)

% diện tích rừng thôn bản

Dân tộc chiếm

tỷ 50%

lệ>-dân số

Dân tộc chiến

tỷ lệ

30% dân số

Ngày đăng: 20/06/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và thôn/ bản, 8/2002 - Nghiên cứu khoa học " Phân tích vị thế quản lý rừng thuộc quyền sử dụng của thôn/bản ở các tỉnh miền bắc việt nam " docx
Bảng t ổng hợp kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và thôn/ bản, 8/2002 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm