Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu nội dung toàn diện của cả nước đối với áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, đó là: Thực trạng sử dụng, kế hoạch
Trang 1Họ và tên: Hoàng Nghĩa Tùng Mã sinh viên: 2073402011210 Khóa/Lớp(tín chỉ): CQ58/09.2LT2 (niên chế):CQ58/09.03
BÀI THI MÔN: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
ĐỀ BÀI: HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
BÀI LÀM
Trang 2Như chúng ta đã biết, hoạt động bảo vệ môi trường của con người đa phần thực hiện một cách thụ động như giữ cho môi trường đang ở trong lành, giữ cho khu vực hoạt động sạch đẹp, Vì vậy, để các hoạt động môi trường mang tính chủ động, thiết thực, trở thành một trong các công cụ để kiến thiết và xây dựng
xã hội mới thì cần phải quản lí môi trường Nhận thức được vấn đề đó, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta bằng những biện pháp và chính sách khác nhau đã và đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức xã hội để bảo
vệ môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường Trong những biện pháp thì công cụ kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội nhập nền kinh tế thế giới ở nước ta diễn ra ngày càng mạnh mẽ, và nó cũng kéo theo hàng loạt những thách thức về môi trường Từ đó tạo ra những xung đột giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Mà quản lý môi trường bằng công cụ kinh
tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với
Trang 32
mục đích điều hòa xung đột trên Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp
luật Vì những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện các công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu thực trạng các công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường tại Việt Nam
- Mục tiêu cụ thể:
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
• Phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam Từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế
và nguyên nhân
• Đề xuất một số kiến nghị, các giải pháp với nhà nước nhằm thúc đẩy nhằm hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu nội dung toàn diện của cả nước đối
với áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, đó là: Thực trạng sử dụng, kế hoạch phát triển; pháp luật và chính sách liên quan đến các công cụ kinh tế
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000-2020 Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Trang 43
- Áp dụng các phương pháp cụ thể khác như: Logic, thống kê, tổng hợp, so sánh, và các chuẩn mực lý luận về quản lý nhà nước đối với công cụ kinh tế để phản ánh trung thực thực tế quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này
- Tiến hành so sánh, kiểm chứng thực tế giữa quản lý nhà nước với việc nghiên cứu Trên cơ sở đó rút ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong công tác quản
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Nhận thức chung về quản lí nhà nước và quản lý môi trường
1.1.1 Quản lý nhà nước:
Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường: là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, phục hồi
và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
Khái niệm quản lí nhà nước về môi trường: là tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, các chính sách kinh tế, các giải pháp kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo
vệ môi trường sống và phát triển bền vững nền kinh tế đất nước
Trang 54
1.1.2 Quản lý môi trường:
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và
sử dụng hợp lí tài nguyên
Công cụ quản lí môi trường là các biện pháp hành động nhằm thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm:
• Hướng công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường ∙ Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường
• Quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công
cụ tổng hợp thích hợp
• Phòng chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường
• Người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô nhiễm môi trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi phục môi trường bị ô nhiễm Người sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng gây ra ô nhiễm đó
Công cụ quản lý môi trường bao gồm: Công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ khoa – giáo
1.2 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
1.2.1 Khái niệm công cụ kinh tế:
Trang 65
Công cụ kinh tế: Là những công cụ nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường
1.2.2 Mục tiêu của các công cụ kinh tế:
Một là, nhằm tác động tới các chi phí và lợi ích trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, bảo đảm hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
Hai là, giúp hạn chế tối đa các hoạt động gây bất lợi cho môi trường sống, đồng thời khuyến khích đổi mới trang thiết bị, sử dụng hiệu quả các nguồn nguyên, nhiên liệu trong sản xuất
1.2.3 Các công cụ kinh tế sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ và quản lí môi
trường:
1.2.3.1 Thuế tài nguyên:
• Khái niệm: Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
• Các đối tượng phải nộp thuế: các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động hay cố định, có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước
Trang 76
cư trong lĩnh vực khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và các thành phần khác của môi trường
• Ý nghĩa của thuế tài nguyên:
- Là khoản chi phí thể hiện trách nhiệm tài chính của các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên đối với chủ sở hữu
- Khuyến khích và buộc các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên phải trân trọng vai trò và giá trị của tài nguyên đối với quá trình phát triển - Là khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước
• Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: Thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế khai thác rừng, thuế tiêu thụ năng lượng thuế khai thác tài nguyên khoáng sản…
• Căn cứ vào từng loại tài nguyên cụ thể, từng địa bàn cụ thể, từng thời kì cụ thể để xác định mức thuế thích hợp Việc xác định thuế tài nguyên phải tuân thủ theo nguyên tắc:
- Hoạt động càng gây nhiều tổn thất về tài nguyên, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường càng nghiêm trọng thì càng phải chịu thuế cao
- Thuế tài nguyên phải khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị
kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất và nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm tổn thất tài nguyên
1.2.3.2 Thuế ô nhiễm môi trường:
• Khái niệm: Thuế ô nhiễm môi trường là công cụ kinh tế có tác dụng hạn chế tối đa các tác động gây ô nhiễm môi trường, nhằm đưa chi phí môi trường vào
giá thành sản phẩm theo nguyên tắc: “người gây ô nhiễm phải trả tiền”
• Mục đích: Thuế ô nhiễm môi trường nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm phải tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng các chất thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Sử dụng công cụ thuế này có rất nhiều ưu việt trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi trường như: Tăng hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản
Trang 87
xuất thông qua tiết kiệm các chi phí; Khuyến khích quá trình đổi mới tổ chức và quản lý doanh nghiệp
• Các nguyên tắc đánh thuế:
- Hướng vào mục tiêu phát triển bền vững và chính sách, kế hoạch môi trường
cụ thể của quốc gia
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền
- Mức thuế và biểu thuế phải căn cứ vào các tiêu chuẩn môi trường của quốc gia
và các thông lệ quốc tế
• Hình thức đánh thuế ô nhiễm môi trường:
Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: Đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường; được xác định dựa trên chi phí ngoại ứng
Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: được áp dụng với các sản phẩm gây tác hại tới môi trường khi chúng được sử dụng trong sản xuất, tiêu dùng hay loại
bỏ chúng Tính thuế căn cứ vào khối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ; đôi khi tính dưới dạng phí
1.2.3.3 Giấy phép (quota) phát thải:
• Khái niệm: Giấy phép (quota) chất thải là loại giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép doanh nghiệp được thải một lượng chất thải nhất định trong một khoảng thời gian nhất định
• Thường được áp dụng cho nguồn tài nguyên môi trường khó quy định quyền
sở hữu dẫn đến việc bị sử dụng bừa bãi (không khí, đại dương,…)
• Trong quản lý môi trường Nhà nước sử dụng công cụ cấp giấy phép xả thải thích hợp với một số điều kiện nhất định sau:
- Chất ô nhiễm cần kiểm soát được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau nhưng gây tác động tới môi trường tương tự nhau
- Có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp do nhiều yếu tố (công nghệ, tuổi thọ máy móc thiết bị, quản lý )
Trang 91.2.3.4 Đặt cọc và hoàn trả:
• Nguyên tắc áp dụng: Quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền đặt cọc khi mua hàng nhằm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm trả lại cho đơn vị thu gom phế thải hoặc địa điểm tái chế đã quy định Nếu thực hiện đúng sẽ được hoàn lại tiền Nếu vi phạm thì số tiền đặt cọc được xung vào quỹ bảo vệ môi trường
• Mục đích của hệ thống đặt cọc và hoàn trả: thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường
• Phạm vi Nhà nước sử dụng các hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm:
• Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm có thể gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng, song có thể xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng
• Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu hủy
• Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân trong khu vực
1.2.3.5 Ký quỹ môi trường:
• Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường
Trang 109
• Nguyên tắc áp dụng: Yêu cầu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi thực hiện 1 hoạt động kinh tế phải ký gửi 1 khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý,…) tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nhằm cam kết sẽ thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
• Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc bằng kinh phí cần thiết để khắc phục ô niễm môi trường nếu doanh nghiệp gây ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
• Mục đích: làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ Từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường
1.2.3.6 Trợ cấp tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường:
• Mục tiêu: duy trì và từng bước mở rộng quy mô các doanh nghiệp Trợ cấp tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải tương xứng với các lợi ích tăng thêm về môi trường do tác động ngoại ứng tích cực tới môi trường mà doanh nghiệp đó tạo ra
• Áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Giá trị trợ cấp phải tương đương với lợi ích môi trường mà hoạt động này mang lại
• Hình thức: Trực tiếp, miễn, giảm thuế, hỗ trợ công nghệ, đào tạo,…
- Các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đến môi trường
- Các sản phẩm có tác động tích cực tới môi trường
Trang 1110
1.2.3.8 Qũy môi trường:
Quỹ môi trường là một loại quỹ được hình thành để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường Đây là một công cụ quản lý môi trường có tính mở cao, nhằm huy động và tận dụng mọi nguồn lực của mọi đối tượng muốn tham gia, đóng góp nhân tài, vật lực cho sự nghiệp quản lý môi trường
Các nguồn thu chủ yếu của quỹ môi trường bao gồm:
- Phí, lệ phí môi trường
- Đóng góp tự nguyện của cá nhân, doanh nghiệp
- Tài trợ bằng tiền, hiện vật của chính quyền địa phương, ngành, tổ chức xã hội trong nước và Chính phủ
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế
- Tiền lãi và các khoản lợi thu được từ hoạt động của quỹ
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định bảo vệ môi trường - Tiền thu được từ các hoạt động văn hóa, thể thao, từ thiện, xố số, phát hành trái phiếu…cho sự nghiệp bảo vệ môi trường
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tổng quan chung về quản lý môi trường tại Việt Nam trong thời gian qua:
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam phải
giải quyết cùng một lúc hai vấn đề: nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững
là kiểm soát được mức độ ô nhiễm ngày càng tăng do công nghiệp hóa và đô thị hóa, đồng thời phải có được những chính sách tối đa chi phí cho bảo vệ môi trường cả từ phía các doanh nghiệp lẫn Nhà nước trên cơ sở công bằng xã hội
Trang 1211
Để đáp ứng được yêu cầu đó thì việc tìm kiếm các biện pháp cũng như công cụ kinh tế cần áp dụng là cần thiết Trong thời gian qua, việc áp dụng các công cụ kinh tế nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta đã đạt được những hiệu quả nhất định Phần lớn những công cụ này đã kích thích những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn thành các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện
có hiệu quả, chi phí hiệu quả nhất, giúp giảm thiểu chất thải, góp phần bảo vệ môi trường với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng lợi phải trả tiền” Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường vẫn bộc lộ một số hạn chế, cần
sớm đề ra phương án khắc phục
2.2 Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam
2.2.1 Những thành tựu, kết quả đạt được:
2.2.1.1 Thuế tài nguyên:
Hiện nay, thực hiện theo Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ ngày 01/7/2010 do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua Chính sách thuế tài nguyên nói chung và việc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên nói riêng là một trong những công cụ cho thấy được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển bền vững nói chung Theo đánh giá của Bộ Tài chính, về cơ bản các quy định về mức thuế suất thuế tài nguyên đã đạt được mục tiêu đề ra Đó là: khắc phục những tồn tại, hạn chế
về mức thuế suất thuế tài nguyên trong quá trình thực hiện biểu thuế trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nói chung và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia nói riêng; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có khoáng sản được khai thác; đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan Thuế
Trang 1312
Bảng 1: Mức thuế áp dụng đối với từng loại tài nguyên thiên nhiên
Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng phương pháp thu thuế tài nguyên dựa trên giá trị tài nguyên, là phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ ở các nước đang phát triển Các chính sách thuế tài nguyên đã tạo nguồn thu góp phần đáng
kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước, nhất là dầu khí Số thu về thuế tài nguyên chủ yếu từ dầu thô và khí thiên nhiên khai thác từ các hợp đồng dầu khí, chiếm
từ 60% đến 61% trên tổng số thu về thuế tài nguyên Số thuế tài nguyên khai thác nội địa chiếm tỷ trọng khoảng 5-6% tổng thu ngân sách nhà nước Mặc dù
tỷ trọng số thu thuế tài nguyên còn nhỏ so với tổng số thu thuế và phí nội địa, nhưng tỷ trọng tăng dần qua các năm Thuế tài nguyên là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương vì đây là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương (trừ dầu khí) theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước Với mức thuế suất thuế tài nguyên từ 3-35% tuỳ theo từng nhóm, loại tài nguyên, khoáng sản không những đã góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước và bình
ổn thị trường, mà còn góp phần tăng cường quản lý tài nguyên; khuyến khích bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên
2.2.1.2 Thuế ô nhiễm môi trường:
Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XII thông qua và ban hành ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012 Chính sách thuế bảo vệ môi trường được ban hành đã thể hiện nỗ lực mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện cam kết quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trường
Trang 1413
Chính sách thuế còn góp phần tăng thu ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có nhiệm vụ chi cho bảo vệ môi trường
Kết quả thống kê thu thuế bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2014-2018 của Bộ Tài chính cho thấy, tổng số thu thuế bảo vệ môi trường tăng trưởng ổn định kể từ năm 2012 - năm đầu tiên thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường, đạt 11.160 tỷ đồng; đến năm 2018 đã tăng hơn 4 lần đạt 47.923 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng khoảng 1,48% - 4,27% tổng thu Ngân sách Nhà nước và chiếm tỷ trọng khoảng 0,34%-0,98% trên GDP hàng năm; tỷ trọng thu thuế bảo vệ môi trường trên tổng thuế nội địa tăng từ 2,654% năm 2012 lên 5,35% năm 2016 và 4,17% năm 2018; trong đó, số thu thuế bảo vệ môi trường đối với nhóm hàng xăng dầu chiếm chủ yếu (hơn 74%) tổng số thu thuế bảo vệ môi trường qua các năm
Bảng 2: Số thu thuế bảo vệ môi trường qua các năm
2.2.1.3 Giấy phép phát thải:
Việt Nam hiện đang triển khai Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Chuẩn bị sẵn sàng cho xây dựng thị trường cacbon tại Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, tại Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 22/10/2015 Từ năm 2021, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện giảm phát thải theo cam kết tại Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu Hơn nữa, phát triển thị trường tín chỉ carbon trong nước là một trong những công cụ kinh tế đã được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua
Trang 1514
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định sử dụng giấy phép môi trường thay cho các giấy phép “con” trong đó có giấy phép phát thải từ đó tạo ra nhiều đột phá
2.2.1.4 Ký quỹ môi trường:
Biện pháp ký quỹ môi trường ở Việt Nam được quy địnhtrong Luật bảo vệ môi trường (2005) Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường đề cập rất ít và chung chung đối với biện pháp này, chưa nêu rõ được các lĩnh vực, ngành nghề nào phải tuân thủ biện pháp này trước khi tiến hành khai thác hay sản xuất Biện pháp này chưa được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực khai thác tài nguyên ở Việt Nam mà mới chỉ được áp dụng trong hoạt động khai thác khoáng sản
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 2008 đến nay Bộ
và các tỉnh, thành phố đã duyệt 1.420 dự án cải tạo, phục hồi môi trường, với tổng số tiền ký quỹ trên 1.360 tỷ đồng Tính đến thời điểm 30/6/2019, Quỹ Bảo
vệ môi trường Việt Nam đã tiếp nhận ký quỹ của 261 đơn vị khai thác khoáng sản với tổng số tiền nhận ký quỹ là 163,51 tỷ đồng, đã hoàn trả cho các đơn vị hoàn thành dự án cải tạo môi trường với số tiền là 10,79 tỷ đồng Riêng trong giai đoạn 2014 – tháng 6/2019 đã tiếp nhận ký quỹ với tổng số tiền 79,62 tỷ đồng, đã hoàn trả cho các đơn vị đã hoàn thành dự án cải tạo môi trường tiền ký quỹ 8,64 tỷ đồng
Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam không được giao thực hiện nhiệm vụ nhận ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu đối với các tổ chức và cá nhân trong nhập khẩu phế liệu
2.2.1.5 Thực trạng áp dụng trợ cấp tài chính trong bảo vệ môi
trường:
Tính đến 31/12/2017, dư nợ cho vay của Ngân hàng phát triển đối với lĩnh vực cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải là 12.888 tỷ đồng; lĩnh vực năng lượng là 118.945 tỷ đồng Nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước đã góp phần