Năm 1990, đề tài cấp Nhà nước “ Đánh giá giá trị tài nguyên thực vật rừng, chọn và phát triển một số loài cây đặc sản có giá trị” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện đã thu th
Trang 1Điều tra bổ sung thμnh phần loμi, phân bố vμ một số đặc điểm sinh
thái các loμi tre chủ yếu ở Việt Nam
Lê Viết Lâm
Phòng Tài nguyên Thực vật rừng
1 Đặt vấn đề
Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae) trong họ Cỏ (Poaceae) Trên thế giới có khoảng 1.200 loài thuộc 70 chi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Tổng diện tích rừng tre trên thế giới (cả thuần loại và hỗn giao) ước tính khoảng 20 triệu hecta Trung Quốc và ấn Độ
là 2 nước có thành phần loài tre phong phú và diện tích rừng tre lớn nhất thế giới
Tre có nhiều công dụng được sử dụng rộng rãi từ lâu đời để làm nhà, nhất là ở các vùng nông thôn, sử dụng làm thuyền và cầu phà Trong khai thác mỏ, tre được dùng để chèn hầm lò Trong nông nghiệp tre được sử dụng làm nông cụ Rất nhiều đồ dùng thông thường như giường, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đũa ăn, được làm bằng tre Hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ sản xuất từ tre ngày càng nhiều và đã trở thành nhu cầu lớn Tre còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến ván thanh, ván dăm, ván sợi, bột giấy Rất nhiều loài tre cho măng ăn ngon,
có giá trị dinh dưỡng cao và là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước
Năm 1990, đề tài cấp Nhà nước “ Đánh giá giá trị tài nguyên thực vật rừng, chọn và phát triển một số loài cây đặc sản có giá trị” do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện đã thu thập được 130 bộ tiêu bản thực vật tre và một số ảnh minh hoạ Nghiên cứu cơ bản về tài nguyên tre của ta còn ít đã sơ bộ giám định tên khoa học đến loài được 37 loài (62 bộ tiêu bản) còn lại 68 bộ tiêu bản chưa được giám định tên khoa học
Như vậy đối với tài nguyên còn tồn tại một vấn đề lớn trong điều tra phân loại Nhằm thu thập được đầy đủ các loài tre chủ yếu trong phạm vi toàn quốc, năm 2001, Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam tiếp tục thực hiện đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một
số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” nhằm góp phần từng bước hoàn hệ thống phân loại tre Việt Nam
2 Mục tiêu, Nội dung vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp luận
Tre là một trong những Taxon thực vật khó giám định nhất Để tiến hành điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam chúng tôi
đã thực hiện theo các bước:
Bước 1: Điều tra mô tả ngoài thực địa
Bước 2 : Tra cứu tài liệu
Bước 3 : Thảo luận tập thể, sử dụng chuyên gia
Bước 4: Hội thảo kết quả phân loại
2.1.2 Ngoại nghiệp
- Dựa vào các thông tin đã thu thập được, đề tài xác định các điểm và các tuyến để điều tra khảo sát thu thập mẫu vật, ghi chép theo phiếu điều tra đã được hoàn thiện bằng hội thảo
2.1.3 Nội nghiệp
2.1.3.1 Giám định tên khoa học
- Sử dụng chủ yếu hình thái các đặc điểm bên ngoài để làm cơ sở giám định, qua phân tích, so sánh các mẫu vật trong phòng và kết hợp với những quan sát ghi chép cụ thể ngoài thực
địa
- Sử dụng chuyên gia trong nước để sơ bộ giám định tên khoa học
- Sử dụng chuyên gia nước ngoài cùng với chuyên gia trong nước để giám định tên khoa học bằng các tiêu bản đã thu thập và kiểm tra ngoài thực địa
Trang 2- Thống nhất kết quả giám định thông qua hội thảo
2.1.3.2 Nghiên cứu giải phẫu: theo phương pháp nghiên cứu ấn Độ
2.1.3.3 Nghiên cứu một số tính chất cơ vật lý: theo phương pháp xác định tính chất vật lý và cơ
học của tre cho xây dựng của INBAR và tiêu chuẩn Việt Nam về phương pháp thử tính chất cơ lý của gỗ
3 kết quả vμ thảo luận
3.1 Điều tra thu thập mẫu vật, xây dựng bộ sưu tập
Qua quá trình điều tra bổ sung ở 26 tỉnh đã thu thập thêm được 93 bộ mẫu vật, đưa tổng số mẫu vật hiện đã thu thập cho đến nay là 223 bộ Toàn bộ tiêu bản thân, lá, hoa, mo, đã được xử lý
và lưu giữ tại Tài nguyên Thực vật rừng – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Ngoài mẫu vật 1.315 ảnh
3.2 Nghiên cứu về mặt phân loại tre
3.2.1 Kết quả giám định mẫu vật
Sau khi đã sơ bộ giám định bởi nhóm chuyên gia trong nước, đề tài đã mời giáo sư Hạ Niệm Hoà (Xia Nianhe), chuyên gia phân loại tre thuộc Viện Nghiên cứu thực vật Hoa Nam - Trung Quốc, đã cùng kiểm tra từng loài trên tiêu bản và ngoài thực địa Kết quả đã giám định
được 22 chi, 122 loài (tên khoa học đến loài là 65 và đến chi 57 loài) trong đó có: 13 loài được chỉnh lý tên khoa học, 6 chi và 22 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam, 22 loài là loài mới
3.2.2 Kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học
Qua kết quả định loại, chúng tôi đã chỉnh lý tên khoa học cho 13 loài như ghi trong bảng 1
Bảng 1: Tên khoa học được sửa đổi của một số loài
T.T Tên Việt
Nam Tên khoa học trước đây đã dùng Tên khoa học được sửa đổi
Số
ĐK
3 Trúc vuông Chimonobambusa quadrangularis C yunnanensis Hsuch W P Zhang 388
4 Tre mỡ lạng
sơn
Dendrocalamus farinosus D minor (McClure) Chia et H L
Fung
99
5 Luồng Dendrocalamus membranaceus D barbatus Hsueh et D Z Li 55
7 Diễn trứng Dendrocalamus latiflorus D parigemmiferus sp nov 76
8 Giang Dendrocalamus patellaris Maclurochloa vietnamensis sp
nov
81
9 Vầu đắng Indosasa sinica, I amabilis Indosasa angustata McClure 80
10 Trúc cần câu Phyllostachys bambusoides P sulphurea (Carr) A et O Riv 145
11 Trúc sào Phyllostachys pubescens P edulis (Carr) H de Leh 141
12 Nứa lá to Neohouzeaua dullooa Schizostachys funghomii McClure. 51
13 Nứa lá nhỏ Neohouzeaua dullooa Schizostachys pseudolima
McClure
77
3.2.3 Các chi và loài tre lần đầu ghi nhận ở Việt Nam
Qua giám định chúng tôi đã phát hiện có 6 chi và 22 loài lần đầu được ghi nhận ở Việt Nam (Bảng 2)
Bảng 2: Những chi và loài được ghi nhận lần đầu ở Việt Nam
Trang 3TT Tên khoa học Tên Việt Nam
2 Bambusa subgen Dendrocalamopsis Chi tre chi phụ bạc mày
B Các loài:
Tên Việt Nam
Tên thường gọi Tên khác
Số ĐK chuẩn
1 B burmanica Gamble Mạy bói Nó bói, Tre miến điện 392
3 B gibba McClure Hóp sào Hóp nước, Luồng mây 203
4 B guangxiensis Chia et H L Fung Tre quảng tây Vầu leo, Vầu dây 220
5 B intermedia Hsueh et Yi Tre lạt Mạy tuý, Tre dây 84
6 B mutabilis McClure Hóp củ chi Trúc cần câu 353
7 B.papilata (Q D Dai) Q H Dai Hóp nước Hóp cần câu, Hóp cài 66
8 B piscatorum McClure Hóp cần câu Hóp cẩm xuyên 237
9 B polymorpha Munro Lồ ô quảng nam Lồ ô 376
11 D farinosus (Keng et Keng f.) Chia
et H L Fung
12 D.minor (McClure) Chia et H L
Fung
Tre mỡ lạng sơn Mạy nhùng, Mạy pì 133
13 D semiscandens Hsueh et D Z Li Hốc dựa Mạy hốc 91
14 D sikkimensis Gamble ex Oliv Bương xích kim Mạy púa ma 395
15 D sinicus Chia et J L Sun Bương lớn Mạy púa 401
16 D tomentosus Hsueh et D Z Li Diễn da báo Hào vàng pên 153
17 D yunnanicus Hsueh et D Z Li Mai dây Mai ống 71
18 I parvifolia C S Chao et Q H Dai Vầu ngọt Hào cam 155
20 S funghomii McClure Nứa lá to Nứa ngộ 51
3.2.4 Các loài được ghi nhận là loài mới
Trong số các mẫu vạt thu thập được, đề tài đã phát hiện có 22 loài tre chưa tong được đề cập và cho rằng đó là những loài mới của Việt Nam (Bảng 3) Những loài này cần được tiến hành làm thủ tục công bố trong thời gian tới
Bảng 3: Danh lục các loài đ∙ được xác định là loài mới
Tên Việt Nam
Tên thường gọi Tên khác
Trang 42 206 *Bambusa longissima sp nov Lùng Vầu
6 365 Bambusa sp nov Tre gai dóng dài
10 121 Bambusa sp nov Tre hơi vàng
11 383 Chimonocalamus sp nov Tre nhỏ Trúc tím
12 75 *Dendrocalamus parvigemmiferus sp nov. Diễn trứng
15 96 Dendrocalamus sp nov Bương hoa lớn
16 79 *Ferrocalamus auriculatus sp nov Mạy lênh lang Mạy lang
20
235 Schizostachyum sp nov Nứa tép Nứa lá nhỏ
*Những loài đã cùng chuyên gia sơ bộ đặt tên để chuẩn bị công bố trong thời gian tới
3.3 Phân bố và một số đặc điểm sinh thái học của các loài tre chủ yếu
3.3.1 Phân bố
Theo kết quả của đề tài, hiện nay Việt Nam có 22 chi và 122 loài tre, phân bố ở hầu hết
các tỉnh, các vùng và các độ cao khác nhau
* Phân bố theo độ cao: Từ độ cao ngang mặt biển đến những núi cao nhất của Việt Nam
như Hoàng Liên, Tây Côn Lĩnh, Chư Jang Sinh, Ngọc Linh… đều có tre mọc Nhưng về phân bố
của tre có thể chia làm 2 đai độ cao rõ rệt: đai độ cao trên 700 - 800m và đai độ cao dưới 700 -
800m ở đai độ cao trên 700 - 800m hầu hết là các loài tre mọc tản tiêu biểu cho khí hậu á nhiệt
đới như các chi: Sặt (Arundinaria), Vầu (Indosasa), Trúc (Phyllostachys), Trúc vuông
(Chimonobambusa)… ở đai dưới 700 - 800m hầu hết là các loài tre mọc cụm tiêu biểu cho khí
hậu nhiệt đới thuộc các chi như: Tre (Bambusa), Luồng (Dendrocalamus) Cá biệt có những
loài tre mọc cụm leo lên đến độ cao 1000m như tre Mai ống (Dendrocalamus aff giganteus),
hoặc loài tre mọc tản phân bố xuống đến độ cao 400 - 500m như Vầu đắng (Indosasa angustata)
* Phân bố theo các vùng sinh thái: ở Việt Nam, các loài tre phân bố theo vùng sinh thái
thể hiện rất rõ Nhiều loài tre là các loài đặc hữu hoặc đặc trưng của vùng như : Vùng Tây Bắc
có: Mạy sang (Dendrocalamus membranaceus), Mạy bông (Bambusa tulda), Mạy bói (Bambusa
burmanica), Mạy púa cai na (Dendrocalamus aff pachystachys) …Vùng Đông Bắc có: Vầu đắng
(Indosasa angustata), Trúc sào (Phyllostachys edulis), Trúc cần câu (Phyllostachys sulphurea)…
Vùng Trung tâm có: Giang (Macclurochloa vietnamensis), Diễn trứng (Dendrocalmus
parvigemniferus), Diễn đá (Dendrocalamus longgivaginus), Lộc ngộc (Bambusa bicorniculata),
Là ngà (Bambusa sinospinosa)… Vùng Bắc Trung Bộ có: Lùng (Bambusa longissima), Mạy cần
(Thyrostachys oliveri), Luồng (Dendrocalamus barbatus) Vùng Nam Trung Bộ có Lồ ô trung
Trang 5bộ (Bambusa balcooa), Tre quả thịt (Schizostachyum sp.nov)… Vùng Tây Nguyên có Le (Gigantochloa sp), Lồ ô (Bambusa procea), Le cỏ (Vietnammosasa pusilla) Vùng Đông Nam Bộ có: Lồ ô (Bambusa procea), Mum (Gigantochloa mum) Vùng Tây Nam Bộ có Tre mỡ (Bambusa vulgaris), Tre gai (Bambusa blumeana)
3.3.2.Đặc điểm sinh thái
Hỗu hết các loài tre ưa sáng và ẩm Một số ít loài cũng chịu được khô hạn như các loài tre
ở vùng Tây Bắc Việt Nam: Mạy sang (Dendrocalamus membranaceus), Mạy bông (Bambusa tulda) Những loài tre không chịu được khô hạn thì khi gặp điều kiện khô hạn kích thước của
chúng bị giảm rất nhiều Một số loài tre ưa các điều kiện đặc biệt của môi trường như loài Trúc
dây (Ampelocalamus sp.) chỉ mọc tren vùng núi đá vôi Một số loài tre có thể chịu ngập khá lâu như : Tre gai (Bambusa blumeana), Là ngà (Bambusa sinospinosa) và Lộc ngộc thái lan (Bambusa bambos) Hầu hết các loài tre không chịu được tác động thường xuyên Nếu bị tác
động không hợp lý chúng sẽ giảm kích thước rất rõ rệt như: Loài Nứa lá to (Schizostachyum funghomii), Nứa lá nhỏ (Schizostachyum pseudolima) Nhiều loài tre có hiện tượng nâng búi khi
bị tác động không hợp lý
Tre ra hoa theo chu kỳ, nhiều loài tre có chu kỳ ra hoa rất dài như Tre gai, Là ngà có chu
kỳ ra hoa từ (50-100 năm) Tuy vậy trong rừng tre vẫn có thể gặp 1, 2 bụi ra hoa Lợi dụng đặc
điểm này ta có thể tiến hành thu mẫu để nghiên cứu
Nhìn chung, tre có rễ chùm ăn nông, khoảng 30-40cm
3.4 Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu
Nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu thân tre nhằm phục vụ cho định tên, phân loại tre và nghiên cứu đặc tính thân tre
Kết quả nghiên cứu giải phẫu 6 loài tre cho thấy: 4 loài tre mọc cụm là Luồng, Tre gai, Mạy sang, Diễn trứng có bó mạch loại 3 và loại 4 Trong khi đó 2 loài tre mọc tản là Trúc sào và Vầu đắng có bó mạch thuộc loại 2
Hai loài mọc cụm có vách thân dày là Tre gai và Mạy sang có phần biểu bì cutin hoá dầy
Điều này giúp cho thân tre có khả năng chịu tác động tốt và bền với tự nhiên, khó bị côn trùng phá hoại
Diễn trứng có sợi dài, tỷ lệ các bó mạch, bó sợi không lớn, bó cương mô không to nên thích hợp với việc làm hàng thủ công và làm giấy, tuy nhiên tỷ lệ sợi không cao Khi bảo quản phải chú ý cả trong và ngoài
3.5 Nghiên cứu tính chất cơ vật lý
Xác định một số tính chất cơ học và vật lý cho 6 loài tre: Luồng, Trúc sào, Tre gai, Mạy sang, Diễn trứng, Vầu đắng cho kết quả như sau:
- Khối lượng thể tích của Luồng, Trúc sào, Tre gai, Mạy sang và Diễn trứng được xếp vào loại nặng và rất nặng có thể sử dụng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy và ván nhân tạo Vầu đắng có khối lượng thể tích xếp vào loại trung bình, nếu dùng làm nguyên liệu cho sản xuất ván nhân tạo thì khi ép tỷ suất cao, tiêu tốn nhiều nhiên liệu, giá thành sản phẩm cao hơn so với các loài có khối lượng thể tích cao
- Khả năng co rút của Luồng, Trúc sào, Tre gai, Mạy sang và Vầu đắng được đánh giá vào loại trung bình, nên trong công nghệ sấy và xử lý bảo quản tre chỉ cần chọn chế độ sấy hoặc chế độ hong phơi bình thường; riêng đối với Diễn trứng do khả năng co rút được xếp vào loại nhiều nên cần chọn chế độ nhiệt phù hợp trong quá trình xử lý và bảo quản để tránh nứt nẻ
- Độ bền nén dọc của Luồng, Trúc sào, Tre gai, Mạy sang, Diễn trứng và Vầu đắng được xếp vào loại trung bình đến khoẻ nên cả 6 loài này đều có có thể sử dụng vào các kết cấu kiện chịu lực nén dọc như cột nhà, giàn giáo, cột chống…
- Giới hạn bền khi kéo dọc của 6 loài ở mẫu lóng đều được xếp vào loại cao nên có thể sử dụng loại này vào đan lát Luồng, Mạy sang và Vầu đắng ở phần đốt khả năng chịu kéo rất thấp
đến trung bình không nên sử dụng phần đốt làm hàng đan lát; Tre gai và Diễn trứng tuy có khả năng chịu kéo rất cao ở phần lóng nhưng phần đốt chỉ xếp vào loại khá nên dùng để đan lát vật
Trang 6dụng thông thường như rổ rá; còn Trúc sào ở cả mẫu đốt và mẫu lóng đều được xếp vào loại rất cao có thể sử dụng làm nguyên liệu đan lát hàng cao cấp
- Giới hạn bền khi uốn tĩnh của Luồng, Trúc sào, Tre gai, Mạy sang, Diễn trứng và Vầu
đắng theo các hướng truyền lực ở cả mẫu đốt và mẫu lóng đều được xếp vào loại trung bình đến khoẻ Vì vậy chúng có thể được dùng làm đòn tay, dui mè, xà ngang của mái nhà, sàn nhà, sàn cầu…
- Sức bền khi trượt dọc của cả 6 loài tre trên đều xếp vào loại rất thấp đến trung bình Vì vậy không nên sử dụng các loài tre này trong các trường hợp chịu lực trượt thớ Trong trường hợp bắt buộc thì nên đặt lực tác động theo chiều trượt dọc vào vị trí đốt
3.6 Bản thảo sách một số loài tre chủ yếu ở Việt Nam:
Quyển sách được soạn thảo có tiêu đề: "Một số loài tre chủ yếu ở Việt Nam", đã giới thiệu về 40 loài tre chủ yếu của Việt Nam, được biên tập theo hình thức của “Thụ mộc chí”, ngoài trang viết còn có các hình vẽ và ảnh màu minh hoạ
3.7 ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng chương trình tra cứu các loài tre chủ yếu ở Việt Nam
Chúng tôi đã xây dựng một chương trình để tra cứu nhanh các loài tre để muốn biết một loài tre là kết quả của đề tài
4 Kết luận vμ khuyến nghị
4.1 Kết luận
- Đề tài đã thu thập bổ sung 93 bộ tiêu bản, nâng tổng số của bộ sưu tập tre của phòng tiêu bản Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam lên 223 bộ tiêu bản
- Giám định tên khoa học 22 chi, 122 loài (tên khoa học đến loài là 65 và đến chi là 57)
- Chỉnh lý tên khoa học cho 13 loài Tre
- Giám định mới được 6 chi và 22 loài tre cho hệ thực vật Việt Nam
- Phát hiện 22 loài tre mới cho khoa học
- Bản thảo cuốn sách và chương trình tra cứu về “Một số loài tre chủ yếu ở Việt Nam” cho 40 loài
- Nghiên cứu giải phẫu thân và một số tính chất cơ vật lý cho 6 loài tre có giá trị kinh tế
để đưa vào sử dụng
4.2 Khuyến nghị
- Tiếp tục nghiên cứu về thành phần loài và phân bố của tre trong phạm vi toàn quốc
- Tiếp tục nghiên cứu để chính thức công bố các loài tre mới của Việt Nam
- Tiếp tục củng cố vườn tre mẫu tại Cầu Hai (tỉnh Phú Thọ)
- Tiếp tục nghiên cứu về giải phẫu và tính chất cơ lý của tre một cách có hệ thống
- Thành lập phân hội tre hoặc trung tâm nghiên cứu về tre
- Tăng cường tham gia các tổ chức quốc tế về tre
- Hợp tác chặt chẽ với các Viện nghiên cứu Thực vật và Lâm nghiệp của các tỉnh phía Nam Trung Quốc để trao đổi thông tin về tre
Tμi liệu tham khảo Tài liệu tiếng Việt
1 Ban thực vật chí rừng, 1973 Bambusoideae trong lưu vực các sông Lô - Gâm - Chảy
2 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 1996 Sách đỏ Việt Nam – Phần thực vật Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
3 Cộng hoà XHCN Việt Nam, 1997 Tiêu chuẩn Việt Nam Gỗ-Phương pháp thử cơ lý Nhà xuất bản Hà Nội
4 Đỗ Đình Sâm, 2000 Báo cáo tài nguyên tre Việt Nam Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
5 Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000 Thực vật rừng Nhà xuất bản nông nghiệp
Trang 77 Nguyễn Đình Hưng, 1995 Báo cáo đề tài KN03-12 Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
8 Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001 Bảo tồn một số loài tre trúc quý hiếm ở Việt Nam Thông tin khoa học kỹ thuật lâm nghiệp số 6/2001
9 Nguyễn Văn Dưỡng và Trần Hợp, 1971 Kỹ thuật thu hái mẫu vật làm tiêu bản cây cỏ Nhà xuất bản Nông thôn
10 Nguyễn Tử Kim,1998 Báo cáo khoá đào tạo về nghiên cứu giải phẫu và phân loại tre Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
11 Phạm Hoàng Hộ, 1999 Cây cỏ Việt Nam – Tập III Nhà xuất bản trẻ
12 Viện Điều tra Qui hoạch rừng, 1991 Tóm tắt một số công trình 30 năm điều tra qui hoạch rừng 1961-1991
13 Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 2001 Kết quả Tổng kiểm kê rừng toàn quốc
14 Võ Văn Chi- Dương Đức Tiến,1978 Phân loại học thực vật NXB đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
15 Vụ khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm, 2000 Tên cây rừng Việt Nam Nhà xuất bản nông nghiệp
Tài liệu nước ngoài
16 C.R.Metcalfe, 1960 Anatomy of the Monocotyledons Oxford
17 Dietger Grosser and Walter Liese, 1971 On the Anatomy of Asian Bamboos – Springer-Verlag
18 Lecomte H 1907 – 1937 Flore génerale de L Indochine
19 Li - Dezhu, 1998 Taxonomy and Biogeography of the Bambuseae Kunning Institute of Botany China
20 F A McClure, 1993 The Bamboos Smithsonian Institution Presss Washington and London
21 INBAR,2001 Determination of physical and mechanical properties of bamboo Draft International Standard
22 K K Seethalakshmi, 1998 Bamboos of India Bamboo Information Centre -Indian
23 K M Wong, 1995 The Bamboos of peninsular Malaysia Forest research institute Malaysia
24 K.S Chua, B.C.Soong and H.T.W Tan, 1996 The Bamboos of Singapore International Plant Resources Insititute
25 M.L Sharma, Inderjit Dua và Raj Kumar, 1987 Leaf epidermal studies in some Bamboos Báo cáo khoa học
26 PROSEA, 1995 Plant Resources of South-East Asia Bamboos Vol 7 Bogor Indonesia
27 Paul Pui-Hay But, 1985 Hong Kong Bamboos An urban council publication
28 Peter NiemzHolz Anatomie – Chemie – Physik des Holzes und des Holz-werkstoffe
29 The Chinese Flora, 1996 Gramineae (Poaceae) Bambusoidea Vol 9, Book 1 Reipublicae popularis sinica
30 Yi Tongpei, 1997 Bamboos Flora of Shichan China Forestry publishing House
31.W Liese, Y.Ding, 1991 Structure and Functions of the Nodes in Bamboo – Báo cáo tại hội thảo quốc tế về tre tại Bangkok – Thái Lan
32 Zhu Zhaohua, 2001 Sustainable development of the Bamboo and Rattan sectors in tropical China China Forestry Publishing House
33 Zhu Shilin Ma Naixun Fu Maoyi, 1994 A compendium of Chinese Bamboo China Forestry publishing House