Nhằm góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại và phục vụ áp dụng cho Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, đề tài khảo sát xây dựng Quy phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây bản địa là Keo l
Trang 1Kết quả khảo sát đánh giá vμ Xây dựng quy phạm kỹ thuật bón phân cho trồng rừng sản xuất một số loμi cây chủ yếu phục vụ
Chương trình 5 triệu ha rừng
Nguyễn Thu Hương, Lê Quốc Huy, Ngô Đình Quế
Trung tâm NC Sinh thái & Môi trường Rừng
Mở đầu
Trên thế giới, bón phân cho rừng trồng đã được áp dụng khoảng trên dưới năm mươi năm trở lại đây Đó là biện pháp kỹ thuật thâm canh quan trọng nhằm làm ổn định và tăng năng suất của rừng Thực tế cho thấy việc bón phân cho rừng trồng đã mang lại những hiệu quả rõ rệt làm nâng cao tỷ lệ cây sống, tăng sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường,
tăng sinh trưởng và nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng (FAO, 1992)
ở Việt Nam trong nhiều năm gần đây đã có nhiều những nỗ lực nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và phân bón cho cây trồng rừng nhằm tạo cơ sở đề xuất áp dụng kỹ thuật phân bón hiệu quả hợp lý cho thâm canh trồng rừng sản xuất Một số hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới bón phân cho rừng trồng đã được xây dựng đề xuất ở nhiều quy mô, phạm vi áp dụng khác nhau Tuy nhiên, các hướng dẫn này còn nhiều bất cập, chưa có cơ sở hợp lý về chủng loại, liều lượng và phương pháp bón, chưa cụ thể chi tiết trên cơ sở cho từng loài cây và từng loại đất
Nhằm góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại và phục vụ áp dụng cho Chương trình trồng
5 triệu ha rừng, đề tài khảo sát xây dựng Quy phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây bản địa là Keo lai, Bạch đàn Urophylla, Thông nhựa và Dầu nước đã được Trung tâm nghiên cứu Sinh thái
và Môi trường rừng tiến hành thực hiện Bài này trình bày những kết quả khảo sát đánh giá liên quan và đề xuất xây dựng hướng dẫn Quy phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây nghiên cứu
Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
Rừng trồng 4 loài cây: Bạch đàn Urophylla (Eucalyptus urophylla), Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis), Thông nhựa (Pinus merkusii) và Dầu nước (Dipterocarpus alatus) tại các vùng nghiên cứu: Trung tâm & Đông Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và Đông
Nam bộ được chọn cho nghiên cứu các phương thức bón phân đã và đang được áp dụng tại các vùng này
Đề tài được tiến hành thực hiện trên cơ sở các phương pháp tiếp cận nghiên cứu như sau (i) cơ sở lý thuyết dinh dưỡng khoáng thực vật, mối quan hệ dinh dưỡng đất - thực vật, chu trình dinh dưỡng N, P, K và các yếu tố ảnh hưởng, (ii) cơ sở thực tiễn nghiên cứu áp dụng, bao gồm các tài liệu Quy trình, Quy phạm và Hưóng dẫn kỹ thuật liên quan đã ban hành áp dụng, các kết quả nghiên cứu và áp dụng liên quan từ các đề tài, mô hình thử nghiệm, và kết quả khảo sát,
đánh giá đo đếm sinh trưởng trực tiếp các hiện trường rừng trồng tại các vùng lựa chọn; (iii) ý kiến chuyên gia, và (iv) phân tích đánh giá và tổng hợp xây dựng quy phạm kỹ thuật bón phân
áp dụng cho từng vùng cụ thể
Kết quả khảo sát nghiên cứu
1 Tình hình sử dụng phân bón cho rừng trồng ở Việt Nam
ở nước ta, từ những năm 70-80, các lâm trường trồng rừng sản xuất nguyên liệu gỗ, giấy
đã áp dụng bón phân cho rừng trồng, nhưng mãi cho đến gần đây kỹ thuật phân bón mới thực sự
được quan tâm Tại các điểm khảo sát rừng trồng các loài Bạch đàn Urophylla, Keo lai và Thông nhựa có bón phân, chủng loại phân bón được sử dụng là khá phong phú, liều lượng cũng như quy trình kỹ thuật bón phân cũng rất khác nhau Các rừng Dầu nước trồng đại trà cả trước kia và hiện nay thì hầu như chưa được bón phân
Trang 2Thực tế cho thấy trước năm 1990, chúng ta chưa áp dụng bón phân cho trồng rừng vàdo
đó là một trong các nguyên nhân làm năng suất rừng trồng thấp Trong những năm gần đây, các lâm trường đầu tư cao hơn cho trồng rừng sản xuất, đồng thời nhiều dự án tài trợ quốc tế về trồng phục hồi rừng đã áp dụng bón phân và cho kết quả tốt, cho nên kỹ thuật bón phân cho rừng trồng đã được quan tâm chú trọng cả về chủng loại, liều lượng và đặc tính đất, cây trồng phù hợp Các loại phân phức hợp đa yếu tố cũng đã được sử dụng
Tại các địa bàn khảo sát nghiên cứu, một số loại phân bón chủ yếu sau đây đang được sử dụng khá phổ biến cho trồng rừng:
- Phân hỗn hợp NPK 3:2:1 và NPK 5:10:3 của Hà Bắc, Lâm Thao, Sông Gianh; NPK 8:4:4 hoặc NPK 10:5:5; NPK2:1:1; NPK16:16:8; NPK tự phối trộn từ các loại đạm, lân, kali riêng rẽ
- Phân urê: 46-47%N; Phân super lân Lâm Thao hoặc Phân lân nung chảy Văn Điển chứa 15-24% P2O5tổng số; Phân kali KCl hoặc K2SO4
- Phân lân vi sinh Sông Gianh; lân vi sinh của Công ty SX phân vi sinh Yên Bái; chế phẩm Rhizobium do TT Sinh thái & MT Rừng sản xuất thử nghiệm
- Phân hữu cơ (phân chuồng hoai), than bùn
2 Tổng hợp các văn bản hướng dẫn kỹ thuật bón phân chính đã có ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, một số tài liệu hướng dẫn kỹ thuật bón phân cho rừng trồng
có liên quan đến 4 loài cây đối tượng nghiên cứu đã được soạn thảo ban hành cả ở cấp trung
ương và địa phương bao gồm 15 tài liệu chính thức (trong Tài liệu tham khảo), trong đó có 8 tài liệu liên quan đến kỹ thuật bón phân cho rừng trồng Bạch đàn Hầu hết các hướng dẫn áp dụng cho cả Keo và Bạch đàn nói chung mà không nêu rõ là áp dụng cho bạch đàn Urophylla Liên quan đến bón phân cho trồng rừng Keo có 9 tài liệu ở cấp Trung ương và địa phương, trong đó hướng dẫn cụ thể cho Keo lai chỉ có 3 tài liệu Có 6 tài liệu về hưỡng dẫn kỹ thuật trồng rừng Thông, trong đó 3 tài liệu có hướng dẫn bón phân cho Thông nhựa Đối với Dầu nước, chỉ có 3 tài liệu về hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, nhưng không đề cập đến bón phân
Các tài liệu hướng dẫn bón phân đều không đề cập rõ ràng về chủng loại, tỷ lệ thành phần phân bón và cũng chưa quan tâm đến việc bón phân trên những loại đất khác nhau Phần lớn các văn bản là do các đơn vị tự xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cho mình tuỳ theo điều kiện kinh tế và nhu cầu của đơn vị
3 Kết quả khảo sát thực tế các rừng trồng bón phân của 4 loài cây nghiên cứu
3.1 Kết quả nghiên cứu với bạch đàn
Từ những năm 1970 trở lại đây, đã có một áp dụng bón phân cho bạch đàn và cũng đã thu được những kết quả nhất định Các công thức thí nghiệm bón phân thành công với bạch đàn Urophylla ở Xuân Lộc đã áp dụng bón thúc kết hợp 3 loại phân 100g N (trong (NH4)2SO4) + 50g
P (trong super lân Lâm Thao) + 50g K (trong KCl) sau trồng 10 ngày Sau 4 năm cho kết quả tốt hơn các công thức bón phân đơn hoặc chỉ tổ hợp 2 loại phân, cây phát triển đồng đều và tăng trữ lượng 160% so với đối chứng Kết quả nghiên cứu bón phân gần đây cho bạch đàn ở Đông Nam
Bộ của Phạm Thế Dũng và Nguyễn Tiến Đại đã kết luận: trên đất xám bạc màu, nghèo dinh dưỡng và chua, cần thiết phải bón các loại phân chuồng, phân vi sinh, lân và NPK bằng cách bón lót Sau 2 năm trồng thì cần bón thúc cùng lần chăm sóc thứ 2 trong năm, trước mùa khô Loại
và liều lượng phân bón tuỳ thuộc tình trạng rừng
ứng dụng kết luận trên vào xây dựng mô hình rừng trồng trên đất feralit xám phát triển trên phù sa cổ tại Phú Bình (Bình Dương) có độ chua khá cao và độ phì trung bình, thành phần
cơ giới (TPCG) nhẹ với 2 công thức bón phân cho bạch đàn E camal, E tereticornis và Keo lai:
(i) bón lót 2kg phân chuồng hoai/gốc) và (ii) bón lót 2kg phân chuồng hoai + 100g NPK/gốc Cách bón 2 cho hiệu lực tốt hơn cách 1 và hơn hẳn đối chứng đối với bạch đàn 1,5 tuổi Mô hình trồng năng suất cao Bạch đàn và Keo lai trên đất feralit vàng đỏ phát triển trên sa thạch tại Sông
Trang 3Mây (Đồng Nai) trên đất chua, nghèo dinh dưỡng dễ tiêu và cát >60% đã áp dụng bón lót 2kg phân chuồng hoai + 100g NPK/gốc với mật độ Keo 1111 cây/ha, Bạch đàn 1666 cây/ha
Tóm lại, các kết quả bón phân cho thấy rõ hiệu quả với rừng bạch đàn, và kết hợp cả bón lót và bón thúc phân phức hợp NPK cho kết quả tốt hơn so với bón phân đơn, đặc biệt khi kết hợp với bón phân hữu cơ (phân chuồng)
Kết quả khảo sát các rừng trồng bạch đàn bón phân như sau:
Vùng Trung tâm miền Bắc: Công thức bón 200g phân NPK5:10:3/hố cho sinh trưởng rất
tốt: Hvn 2,5-3m/năm và D1.3 2,5->3cm/năm, dự đoán năng suất >20m3/ha/năm ở Lâm trường Lục yên Lâm trường Nguyễn Văn Trỗi trồng rừng Bạch đàn Urophylla thâm canh áp dụng phân bón cao gồm 3kg phân chuồng + 300g NPK16:16:8 + 100g vôi bột cho tốc độ sinh trưởng cao gần gấp đôi so với đối chứng không bón phân Kết quả thí nghiệm bón thúc 75g NPK sau 4 tháng trồng cho rừng bạch đàn đã bón lót 3kg phân chuồng thấy hiệu qủa bón thúc rõ rệt, rừng 7,5 tuổi cho sinh khối gỗ bằng 125% so với không bón thúc Với vùng Trung tâm, tần đất dày và đất khá màu mỡ, dinh dưỡng cao, nên chỉ cần bón 200g lân vi sinh hoặc NPK đã cho kết quả rất tốt
Vùng Đông Bắc Bộ: Tại Quảng Ninh, rừng bạch đàn trên đất cát pha và thịt nhẹ có sinh trưởng
kém hơn hẳn so với vùng Trung tâm Bắc bộ Tuy nhiên, khi áp dụng phân bón với các công thức bón khác nhau cho bạch đàn, đã cho kết quả phản ứng sinh trường và năng suất khác nhau Khi bón 200g nhiều loài NPK khác nhau cho Bạch đàn U6 17 tháng tuổi, NPK 5:10:3 cho kết qua tốt nhất, và khi tăng lượng phân bón lên, thí với liều lượng bón 300g/lần bón/cây cho kết quả sinh trưởng cao nhất Kết quả hiện trường cũng cho thấy rằng, kết hợp cả bón lót và bón thúc 200g NPK 5:10:3 cho kết quả tôt hơn là chỉ bón lót hoặc thúc Trung tâm Lâm nghiệp Quảng Ninh đã
đề xuất quy trình kỹ thuật thâm canh gỗ trụ mỏ cho Keo lai và Bạch đàn Urophylla, trong đó bón lót 200g NPK5:10:3 Lâm Thao/hố, bón thúc 100-200g vào lần chăm sóc thứ 1 của năm thứ 2 và bón thêm 200g NPK/gốc vào năm thứ 3 (nếu có điều kiện) Tuy nhiên, chế độ bón này cao, không phải nơi nào cũng có thể áp dụng được
Vùng Đông Bắc Bộ, đất có thành phần cơ giới nhẹ, khá nghèo dinh dưỡng nên một chế
độ bón phân hợp lý lá rất cần thiết áp dụng Tuy nhiên năng suất thấp hơn so với vùng Trung tâm
Vùng Tây Nguyên: Các rừng Bạch đàn ở Tây Nguyên không được bón phân hoặc bón rất ít (50gNPK/cây), các rừng trồng bạch đàn Camal có sinh trưởng thấp Nhiều nơi, năng suất chỉ đạt trung bình từ 7-18m3/ha/năm
Vùng Đông Nam Bộ: ở Bầu Bàng, việc áp dụng bón 100g NPK16:16:8 + 400g VS sông
Gianh đã cho sinh trưởng bạch đàn khá Bạch đàn Urophylla 3,5 tuổi dự báo có thể đạt tới năng suất 25-27 m3/ha/năm nếu mật độ còn lại 1000 cây/ha, trong khi đó tính toán với hiện trường không bón phân thì là 15m3/ha/năm
Nhìn chung bón phân cho rừng trồng bạch đàn đều mang lại những phản ứng sinh trưởng
& năng suất tốt hơn, nhưng khác nhau tuỳ thuộc điều kiện đất đai lập địa và cách thức áp dụng
Có nơi bón ít (chỉ 50g NPK) như ở Gia Lai, Kon Tum, nơi thì lại bón nhiều như ở Lâm trường Nguyễn Văn Trỗi, mặc dù đất tốt, tầng đất dày, nhưng vẫn bón tới 3kg phân chuồng + 300g NPK cho 1 cây, tuy nhiên sinh trưởng Hvn và Do không cao hơn nhiều so với nơi chỉ bón 100g NPK/cây như ở Lâm trường Việt Hưng Vơi lâp địa tốt như ở Kon Tum, chỉ cần bón 50g NPK cũng có thể đạt trữ lượng >140m3/ha với bạch đàn (8 tuổi, mật độ 1000 cây/ha)
3.2 Kết quả nghiên cứu với Keo lai
Keo lai là loài cây mới được đưa vào trồng rừng quy mô lớn, cho nên kết quả nghiên cứu
áp dụng phân bón chưa có nhiều, chủ yếu là lồng ghép với kết quả khảo nghiệm ở Đông Hà, đất
có cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng, trồng thâm canh keo lai chỉ bón 150-200g phân vi sinh đã cho năng suất >20m3/ha/năm, cao hơn nhiều so với quảng canh không bón phân Đối với keo lai,
Trang 4có thể bón 1-1,5kg phân chuồng kết hợp với bón khoảng 100-200g phân khoáng vô cơ hoặc vi sinh với là phù hợp
Kết quả khảo sát rừng trồng Keo có bón phân
Vùng Trung tâm Bắc Bộ: đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng với
tầng đất rất dày >70cm và hàm lượng dinh dưỡng khá Công thức bón lót 200g NPK được phổ biến ở vùng này Các lâm trường Yên Bình (Yên Bái) bón lót 200g NPK 5:10:3 cho sinh trưởng rất tốt (Hvn >3m/năm, D1.3 >3cm/năm) Lâm trường Tân Phong (Tuyên Quang) bón lót 200g NPK 8:4:4 trên đất thịt trung bình cho sinh trưởng keo lai Hvn 4,4m/năm và D1.3 3,78m/năm Lâm trường Việt Hưng chỉ bón 100g NPK đã cho năng suất rất cao Như vậy, ở vùng Trung tâm nơi đất có dinh dưỡng tốt thì chỉ cần bón 100-200g phân là hiệu quả
Vùng Đông Bắc Bộ: Các rừng trồng Keo của Dự án trồng rừng Việt - Đức KfW3 ở Đông
Bắc Bộ được bón lót và bón thúc phân NPK5:10:3 kết hợp với phân vi sinh sông Gianh cho kết quả tốt Các rừng Keo tai tượng 5,5 tuổi ở Bắc Giang cũng cho sinh trưởng Hvn tới >3m/năm, năng suất đạt khoảng 20m3/ha/năm hoặc cao hơn ở Quảng Ninh, trên vùng đất thịt nhẹ đến trung bình, Keo lai 17 tháng tuổi cho sinh trưởng cao nhất với công thức bón lót 200g NPK5:10:3/gốc kết hợp với bón thúc 100-200g NPK
Vùng Bắc Trung Bộ: Keo lai ở vùng này chủ yếu là được trồng theo dự án trồng rừng
Việt - Đức KfW2 trên đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, với liều lượng bón lót 1kg phân chuồng + 100g super lân; bón thúc năm thứ 2: 100g NPK 5:10:3 chia thành 2 lần Sinh trưởng Keo lai xen Thông nhựa ở Kỳ Anh đạt chiều cao 2,37m/năm và đường kính 3,47cm/năm, dự báo
đạt năng suất trên 20m3/ha/năm
Vùng Tây Nguyên: ở Tây Nguyên, Keo lai hầu như chưa được trồng, mà là Keo lá tràm
với diện tích hẹp và rải rác, trồng hỗn giao với Thông hoặc Bạch đàn Với chế độ bón phân rất ít (chỉ 50g NPK/gốc bón lót), Keo lá tràm ở đây sinh trưởng từ kém đến trung bình Rừng 5 tuổi trên đất bazan thoái hóa hoặc đất vàng đỏ trên macma axit có tầng đất mỏng ở Gia Lai chỉ đạt
đường kính 2,5cm, chiều cao 4m với năng suất khoảng 1,7-2m3/ha/năm ở nơi có tầng đất dày trung bình thì đạt đường kính 1,3-1,7cm/năm và chiều cao 1,4-1,8m/năm, năng suất trung bình 7-10m3/ha/năm
Keo lá tràm trồng thâm canh 4 tuổi ở Mangyang trên lập địa đất nâu vàng trên macma axit cát pha có tầng đất dày >100cm, được cày toàn diện và bón 75g NPK + 100g super lân cho sinh trưởng đường kính 9,6cm, chiều cao 8,6m, thể tích lâm phần 66,2m3/ha, năng suất 16m3/ha/năm Trên đất bazan thì cho D=8,2cm, H=6,3m và V=8,4m3/ha/năm bằng 60% nếu trồng trên đất granit Cần áp dụng chế độ bón phân hợp lý cho Keo ở vùng này, nên bón phối hợp cả phân khoáng và phân chuồng
Vùng Đông Nam Bộ: Trong những năm gần đây, Keo lai bắt đầu được trồng ở Đông
Nam Bộ đã cho sinh trưởng rất tốt trên loại đất trồng chủ yếu là đất xám có thành phần cơ giới
thịt nhẹ ở Mã Đà, Keo A mangium được thâm canh đạt năng suất 37,3 m3/ha/năm so với không bón phân là 30m3/ha/năm Keo lá tràm thâm canh đạt 34,4m3/ha/năm, và không bón phân thì đạt 20,2m3/ha/năm
Tại Đông Nam Bộ, Keo lai trồng rừng sản xuất chỉ bón lót 50g NPK16:16:8 cũng cho sinh trưởng Hvn 3-4,5m/năm và D1.3 2,4-3,26cm/năm ở nơi đất tốt, khi không bón phân cũng cho sinh trưởng cao Trong loạt thí nghiệm bón phân cho Keo lai của Trung tâm KH&SX Lâm nghiệp Đông Nam Bộ trên đất xám có thành phần cơ giới thịt nhẹ, công thức hiệu quả nhất là bón lót và bón thúc trong 3 năm liền liều lượng 100g NPK 16:16:8 + 100g vi sinh Sông Gianh/cây, dự đoán năng suất có thể trên 30m3/ha/năm
3.3 Kết quả nghiên cứu với Thông nhựa
Đã có một số công trình nghiên cứu về Thông nhựa, tuy nhiên nghiên cứu cụ thể về kỹ thuật bón phân cho Thông nhựa thì còn hạn chế,
Trang 5Từ năm 1977, Lâm Công Định với cuốn "Trồng rừng Thông" đã đề cập kết quả của các cơ sở sản xuất và nghiên cứu từ tạo cây con đến tỉa thưa, chăm sóc và chích nhựa… nhưng vẫn chưa đề cập nhiều đến sự cần thiết bón phân cho rừng trồng Một số công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp về Thông nhựa như của Nguyễn Xuân Quát và Ngô Đình Quế (1973-1976), dinh dưỡng khoáng, nguyên tố vi lượng, chế độ nước cây con Thông nhựa và "Tiêu chuẩn cây con đem trồng" (N.X Quát và cộng sự 1982) Hầu kết các kết quả nghiên cứu cho giai đoạn vườn ươm cây con
Ngô Đình Quế (1979-1984) nghiên cứu về đặc điểm đất trồng Thông nhựa và ảnh hưởng của rừng Thông nhựa đến độ phì đất rừng cũng kết luân về hiệu quả của bón phân cho rừng Thông nhựa, đặc biệt khi bón phân tổng hợp 460kg NPK/ha trong giai đoạn tuổi 1-5 cho tỷ lệ sống cao nhất và năng suất tăng tới 140-150% trên đất hạng III
Theo báo cáo khảo sát của dự án trồng rừng Việt - Đức KfW2 tại Hà Tĩnh, Quảng Bình
và Quảng Trị, thì đối với Thông nhựa, bón lót phân chuồng 1-2kg hoặc 100g super lân/cây trộn
đều ở đáy hố khi lấp hố là rất tốt Không dùng phân NPK tổng hợp có phân lân nung chảy không phù hợp với sinh lý cây Thông nhựa Bón NPK dễ bị hoà tan và rửa trôi nhanh chóng khi cây mới trồng chưa kịp sử dụng hết Bón thúc 100g super lân chia thành 2 lần/năm là phù hợp nhất vì Thông nhựa có nhu cầu cao và nhạy cảm với lân Cũng có thể bón 100g NPK/cây chia thành 2
đợt/năm để hạn chế rửa trôi chất dinh dưỡng dễ hòa tan trong phân bón khi cây chưa kịp sử dụng
Các nghiên cứu của Hoàng Minh Giám & CS (2001), và của Nguyễn Xuân Quát đều thấy lân rất quan trọng đối với hàm lượng nhựa ở Thông nhựa Khi bón cùng lượng 1kg phân bón/gốc với các loại phân bón khác nhau: NPK Lâm Thao hoặc vi sinh sông Gianh, hoặc hỗn hợp cả 2 loại thì thấy bón phân hỗn hợp NPK cho lượng nhựa cao hơn, đặc biệt khi có thành phần lân cao, tuy nhiên giá thành lại đắt hơn là dùng phân vi sinh nên đề tài kiến nghị dùng phân
vi sinh Bón hỗn hợp phân lân và phân chuồng thì cho kết quả cao hơn là bón riêng lân Tuy nhiên, Thông nhựa thường được trồng ở nơi có độ dốc cao, địa hình phức tạp nên việc vận chuyển phân chuồng rất khó khăn
Kết quả khảo sát các rừng trồng Thông nhựa có bón phân như sau
Thông nhựa ưa thích với các vùng đất chua Quảng Ninh, và ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Hiệu quả của phân bón đối với Thông nhựa rất rõ ràng ở các điểm trồng của các dự án Việt -
Đức KfW2, KfW3, đặc biệt tốt ở vùng Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Thông nhựa được trồng thuần loài hoặc trồng xen với Keo lai, công thức phân bón lót 60g NPK 5:10:3 + bón thúc 100g NPK 5:10:3 đều cho kết quả rất tốt trên các lập địa này Các rừng Thông nhựa ở Bắc Trung Bộ thuộc
dự án trồng rừng Việt - Đức với chế độ bón phân phù hợp đều cho kết quả khá, đặc biệt những nơi có bón phân chuồng
3.4 Kết quả nghiên cứu với Dầu nước
Dầu nước chủ yếu được trồng ở Đông Nam bộ trước năm 1990 Theo thống kê, lâm trường Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) trồng 16,6 ha rừng Dầu nước xen và thuần loài vào năm
1985, 14,2ha thuần loài năm 1986 và 45,7ha xen + thuần năm 1987
ở Đông Nam bộ, Dầu nước chủ yếu được trồng trên đất xám và trên phiến thạch sét với mật độ 500-1000 cây/ha Dầu nước trên đất xám 11 tuổi có sinh trưởng đường kính 1,3-1,6cm/năm, chiều cao 0,9m/năm
ở Tân Biên (Tây Ninh), các rừng trồng Dầu nước từ trước đến nay đều chưa được bón phân Dầu nước ở đây được trồng thuần loài hoặc xen với keo tai tượng hoặc keo lá tràm
Tỉnh Bình Dương: Phương án thiết kế kỹ thuật trồng rừng cho dầu nước đã đưa ra chế độ bón phân: bón lót 500g phân VS hoặc phân chuồng với đất mặt, hố rộng ≥ 50cm, sâu ≥ 60cm, sau 10-15 ngày thì trồng cây Tiến hành chăm sóc trong 5 năm đầu, có bón phân Năm 1: bón 1 lần vào đầu mùa mưa (tháng 10-11) 50g/gốc cùng với cày, rẫy băng, xới vun gốc, bón phân Từ
Trang 6năm 2 - năm 5: bón phân 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 6 sau khi chăm sóc lần 1) và cuối mùa mưa (tháng 10 trước khi chăm sóc lần 2) Mỗi lần bón 100g NPK/gốc
Sở Nông nghiệp & PTNT Bình Định (1999) đã đưa ra hướng dẫn kỹ thuật trồng Dầu nước, trong đó, đề xuất bón lót phân NPK hoặc vi sinh Năm thứ 2 bón phân Biffa 100g/cây
Tỉnh Quảng Ngãi trồng thử nghiệm Dầu nước theo băng 6m, băng chừa rộng 4m, theo
đường đồng mức, không bón phân, chỉ phát dọn thực bì hàng năm Dầu nước cho tỷ lệ sống khá
và tốc độ sinh trưởng nhanh
Tại hầu hết các điểm khảo sát, rừng trồng Dầu nước đều chưa được bón phân, mức sinh trưởng trung bình Mặt khác, chưa có tài liệu chính thức nào về hướng dẫn kỹ thuật bón phân cho Dầu nước, vì vậy việc xây dựng quy phạm kỹ thuật bón phân cho Dầu nước sẽ phải dựa trên
đặc tính sinh thái của loài cây này và một vài kết quả đã có ở các khu vực khác
Kết luận vμ đề xuất
Kết luận
1 Hiện tại, có rất nhiều các dự án và chương trình trồng rừng đang áp dụng bón phân cho rừng trồng Keo, Thông nhựa và Bạch đàn urophylla với nhiều hướng dẫn kỹ thuật khác nhau, chủng loại và liều lượng bón cũng khác nhau, trong đó loại phân NPK 5:10:3 và phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh được phổ biến nhất và cũng chứng tỏ hiệu quả nhất ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, còn ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên thì loại NPK 16:16:8 được dùng phổ biến hơn
2 Trong tất cả các phương thức bón phân, phương thức bón phối trộn 2 loại phân là vô cơ (Lân, NPK) với phân hữu cơ (phân chuồng, lân hữu cơ vi sinh) cho thấy hiệu quả và hiệu lực phân bón cao nhất, đặc biệt trên các lập địa bị thoái hoá nặng, đất chua axit, nghèo dinh dưỡng
3 Chỉ cần bón phân cho những loại đất thiếu dinh dưỡng mà không cần bón phân cho loại đất
đã đủ hoặc thừa dinh dưỡng Liều lượng bón phân hiệu quả nhất và kinh tế nhất đới với NPK 5:10:3 là khoảng 200g/cây/lần bón, 200g super lân, 1-1,5kg phân chuồng, 100-200g phân vi sinh
Đề xuất
1 Bạch đàn Urophylla: Nên bón phân NPK (5:10:3) cả bón lót và bón thúc, bón lót có thể thay bằng với phân chuồng hoặc phối hợp với phân hữu cơ vi sinh cho những lập địa có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng
Vùng Trung tâm nên được bón phân NPK, có thể kết hợp với phân chuồng hoặc phân lân
vi sinh, cả bón lót và bón thúc, liều lượng phân bón áp dụng thấp hơn các vùng khác
Vùng Đông Bắc Bộ: nên bón phân NPK và kết hợp phân chuồng để hấp phụ phân vô cơ tránh rửa trôi, và tăng cường hiệu lực của phân vô cơ
Vùng Tây Nguyên: nên bón riêng phân NPK hoặc kết hợp với phân vi sinh
Vùng Đông Nam bộ: nên bón phân NPK và phân vi sinh hoặc phân chuồng
2 Keo lai: Nên bón lót phân NPK (5:10:3), có thể bón phân chuồng hoặc kết hợp phân hữu cơ
vi sinh để tăng hiệu lực phân bón
Vùng Trung tâm, bón 100-200g NPK/cây cho Keo lai trên đất có thành phần cơ giới trung bình và hàm lượng dinh dưỡng trung bình là phù hợp
Vùng Đông Bắc Bộ: bón phối hợp phân NPK và vi sinh: bón khoảng 100-200g NPK + 100-200g vi sinh/gốc hoặc 100-200g NPK + 1kg phân chuồng cho loại đất thịt trung bình là thích hợp
Trang 7Vùng Bắc Trung bộ: Nên áp dụng bón phân NPK và phân vi sinh
Vùng Tây Nguyên: việc bón phân NPK và phân lân đã cho kết quả rất khả quan cho rừng trồng Keo lá tràm trên đất cát pha Kết quả sinh trưởng sẽ tốt hơn nếu thay Keo lá tràm bằng Keo lai
Vùng Đông Nam Bộ: nên bón lót cho rừng trồng Keo lai khoảng200g NPK + 100-200g phân vi sinh là thích hợp hoặc NPK với phân chuồng Nếu có điều kiện thì tiến hành bón thúc năm thứ 2 hoặc 3
3 Thông nhựa: ưa đất chua có thành phần cơ giới nhẹ, vì vậy nên bón lót phân chuồng, ở nơi
địa hình có độ dốc cao khó vận chuyển thay phân chuồng bằng phân NPK (5:10:3) kết hợp phân hữu cơ vi sinh Đặc biệt Thông chích nhựa rất ưa lân, vì vậy nên bón thúc phân super lân
ở Đông Bắc bộ và Bắc Trung bộ, rừng trồng Thông nhựa thích hợp với việc bón lót và thúc phân hóa học (NPK 5:10:3 hoặc super lân) khoảng 100-200g cùng với phân hữu cơ vi sinh hoặc phân chuồng
ở Tây Nguyên, việc bón phân cho Thông nhựa ở vùng này có thể dựa trên chế độ bón cho Thông nhựa ở các vùng trồng khác
4 Dầu nước: có thể sử dụng phân bón tổng hợp NPK hoặc kết hợp phân vi sinh hữu cơ với liều lượng có thể thấp hơn khi áp dụng cho các cây khác
Tμi liệu tham khảo
Bộ NN&PTNT, 1996 Quy phạm kỹ thuật trồng Thông nhựa
Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2001 Quy phạm kỹ thuật trồng rừng Dầu rái
Dự án Trồng rừng Việt - Đức KfW3 tại Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn 2001 Hướng dẫn kỹ thuật bón phân rừng trồng dự án KfW, Hà Nội
Đường Hồng Dật, 2002 Cẩm nang phân bón Nhà xuất bản Hà Nội
Võ Minh Kha, 1996 Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Nambiar E K S & Brown, Alan G 1995 Management of Soil, Nutrients and Water in Tropical Plantation Forests CIFOR, Indonesia
Bowen, G D & Nambiar, E K S 1984 Nutrition of Plantation Forests Academic Press, Australia
Huy, L.Q 2000 Report on Review mission to evaluate the fertilizer application of KfW1 Project and propose technical guideline for KfW3 Project KfW3, Ha Noi
Huy, L.Q 2003 Soil fertility management for plantation crop College of Forestry, Nauni – Solan, India
Lea, Peter J , Srivastava, H.S & Singh, R P 1995 Nitrogen Nutrition in Higher Plants Associated Pulishing Company, New Delhi