1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt

13 623 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn
Tác giả Lê Thu Hiền, Nguyễn Tử Kim, Lưu Quốc Thành
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại bài báo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 297,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất pháp từ tình hình thực tế đó, đề tài “Thiết lập mô hình trồng song mật Calamus platyacanthus Warb.ex Becc và mây nếp Calamus tetradactylus Hance dưới tán một số trạng thái rừng phục

Trang 1

Thiết lập mô hình trồng song mật (Calamus platyacanthus Warb.ex Becc) vμ mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) dưới tán một số trạng

thái rừng phục hồi

Lê Thu Hiền, Nguyễn Tử Kim, Lưu Quốc Thành Phòng Nghiên cứu Tài nguyên thực vật rừng

I Đặt vấn đề:

Trong vài thập kỷ qua lâm sản ngoài gỗ đã thu hút được sự quan tâm đáng kể của giới khoa học và sản xuất kinh doanh; đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và xoá đói giảm nghèo Lâm sản ngoài gỗ có thể khai thác một cách bền vững mà ít tác động

đến tính bền vững của hệ sinh thái rừng, là nguồn thu nhập cho người dân đang sống bên trong và quanh rừng

Do có các đặc tính bền, bóng đẹp, dẻo dễ uốn nên song mây là nguyên liệu để sản xuất nhiều mặt hàng như đồ gia dụng, bàn ghế, sản phẩm mỹ nghệ dùng trong nước và xuất khẩu Hàng song mây của nước ta chủ yếu xuất sang các nước và vùng lãnh thổ như Đức, ý, Nhật, Hồng Kông, Singapo và Cu Ba Mỗi năm ước tính nhu cầu cần tới 15.000 tấn mây để làm hàng xuất khẩu (Nguyễn Quốc Dựng, 2000), [7] Thời gian vừa qua, việc khai thác song mây không được kiểm soát nên người dân vào rừng khai thác tràn lan, không đảm bảo tính bền vững, vì vậy nguồn cung cấp này ngày càng bị giảm cả về số lượng và chất lượng

Hiện nay, trong Dự án 661 Nhà nước có chủ trương khuyến khích người dân nhận khoán trồng cây đặc sản dưới tán rừng (3 loại rừng) nhằm nâng cao thu nhập Song mật và mây nếp là một trong những loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao và nằm trong danh sách các loài cây được ưu tiên tuyển chọn gây trồng

Xuất pháp từ tình hình thực tế đó, đề tài “Thiết lập mô hình trồng song mật (Calamus platyacanthus Warb.ex Becc) và mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi” được triển khai tại Trung tâm thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai và

Trạm nghiên cứu môi trường và rừng phòng hộ sông Đà

II phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu:

• Việc điều tra, đách giá các các mô hình trồng song mật và mây nếp đã có được tiến hành trên các ô tiêu chuẩn tạm thời, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500-1000m2 Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính thân (cây cao trên 3m

đối với song mật và trên 2m đối với mây nếp) hoặc đường kính gốc, chiều cao thân, số cây/khóm; dung lượng mẫu quan sát n≥30 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại và các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của song mật và mây nếp như loại đất, thực bì, độ tàn che, các kỹ thuật được áp dụng Việc điều tra, đánh giá các mô hình đã có được tiến hành trên hai loại đối tượng đó là song mật, mây nếp trồng dưới tán rừng trồng và dưới tán rừng phục hồi tại Cầu Hai, Lương Sơn, Cúc Phương, Ba Rền, Kon Hà Nừng và Tuy Hoà

• ứng dụng các tiến bộ đã có (các hướng dẫn kỹ thuật và kết quả đánh giá hiện trường của các đề tài nghiên cứu trước đây), từ đó lựa chọn các biện pháp kỹ thuật để xây dựng mô hình ở Cầu Hai, mây nếp được trồng dưới tán rừng sau khai thác kiệt, kiểu IIIA1, có độ tàn che khoảng 0,5 ở độ cao 80m so với mực biển Nhiệt độ trung bình 23,50C, lượng mưa bình quân từ 1700-1900mm Đất feralit vàng đỏ, độ pH KCL từ 5,5 đến 6, tỷ lệ mùn 3-% Đối tượng lựa chọn để xây dựng mô hình trồng song mật và mây nếp ở Hoà Bình là trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt, kiểu IIB có độ tàn che 0,4-0,5, độ cao

so với mực nước biển 400m Nhiệt độ trung bình 240C, lượng mưa bình quân từ

Trang 2

1500-1800mm Đất feralit vàng đỏ, độ pH từ 5,5-6, hàm lượng mùn trên 3%

• Tiêu chuẩn cây con mây nếp đem trồng: Cây con được cấy trong bầu, có từ 3-4 lá, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh Tại Cầu Hai tuổi của cây con là 12 tháng, có chiều cao trung bình đạt 15 cm, ở Hoà Bình cây con được 18 tháng tuổi, chiều cao trung bình là 20

cm Các biện pháp kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình trồng mây được tổng hợp vào bảng sau:

Bảng 1: Các biện pháp kỹ thuật trồng mây nếp dưới tán rừng

Các biện pháp kỹ thuật Công thức Địa điểm

Xử lý thực bì, làm đất khi trồng Chăm sóc

Xử lý thực bì theo lỗ trống (cụm) có

đường kính 3m Mật độ 750 cây/ha (250 cụm/ha, 3 hố/cụm, 1 cây/hố)

Làm đất cục bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm Bón lót 1kg phân chuồng hoai và 0,1kg NPK

Hai năm đầu 3lần/năm, hai năm sau 2lần/năm Bón thúc 0,05kg phân NPK/gốc vào năm thứ 2

Cầu Hai và Hoà Bình

CT 1

Xử lý thực bì theo lỗ trống (cụm) có

đường kính 3m Mật độ 1000 cây/ha (250 cụm/ha, 2 hố/cụm, 2 cây/hố)

Làm đất cục bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm Bón lót 1kg phân chuồng hoai và 0,1kg NPK

Hai năm đầu 3lần/năm, hai năm sau 2lần/năm Bón thúc 0,05kg phân NPK/gốc vào năm thứ 2

Cầu Hai và Hoà Bình CT2

CT 3

(HDKT

năm1996)

Xử lý thực bì: Phát luỗng toàn bộ dây leo, cây bụi theo băng có chiều rộng 2m, băng cách nhau 5m Mật độ 1000 cây/ha (500 hố, 2 cây/hố) Làm đất cục

bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm

Hai năm đầu 3 lần/năm Những năm sau chăm sóc

1 lần

Hoà Bình

CT 4 Xử lý thực bì: Phát luỗng toàn bộ dây

leo, cây bụi theo băng có chiều rộng 1,5m, băng cách nhau 4m Mật độ 4950 cây/ha (1650 hố, 3 cây/hố) Làm đất cục bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm

Hai năm đầu 3 lần/năm Những năm sau chăm sóc

1 lần

(HDKT

năm 1992) Hoà Bình

• Tiêu chuẩn cây con song mật đem trồng: Trồng bằng cây con có bầu, được 24 tháng tuổi, chiều cao trung bình đạt 34cm, có từ 4-5 lá, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh Các biện pháp kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình được tổng hợp vào bảng sau:

Bảng 2: Các biện pháp kỹ thuật trồng song mật dưới tán rừng

Các biện pháp áp dụng Công thức

Xử lý thực bì, làm đất khi trồng Chăm sóc

Xử lý thực bì theo lỗ trống (cụm) có đường kính 4m Mật độ 750 cây/ha (250 cụm/ha, 3 hố/cụm, 1 cây/hố) Làm đất cục bộ theo hố,

đào hố 40x40x40cm Bón lót 1kg phân chuồng hoai và 0,1kg NPK

Hai năm đầu 3lần/năm, hai năm sau 2lần/năm Bón thúc 0,05kg phân NPK/gốc vào năm thứ 2

và 3

Công thức 1

Xử lý thực bì theo lỗ trống (cụm) có đường kính 4m Mật độ 500 cây/ha (250 cụm/ha, 2 hố/cụm, 1 cây/hố) Làm đất cục bộ theo hố,

đào hố 40x40x40cm Bón lót 1kg phân chuồng hoai và 0,1kg NPK

Hai năm đầu 3lần/năm, hai năm sau 2lần/năm Bón thúc 0,05kg phân NPK/gốc vào năm thứ 2

và 3

Công thức 2

Công thức 3

(theo HDKT

Xử lý thực bì: Phát luỗng toàn bộ dây leo, cây bụi theo băng có chiều rộng 2m, băng cách Hai năm đầu 3 lần/năm

Trang 3

năm 1996) nhau 8m Mật độ 624 cây/ha (312 hố, 2

cây/hố) Làm đất cục bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm

Công thức 4 Xử lý thực bì: Phát luỗng toàn bộ dây leo, cây

bụi theo băng có chiều rộng 2m, băng cách nhau 8m Mật độ 356 cây/ha (178 hố, 2 cây/hố) Làm đất cục bộ theo hố, đào hố 30x30x30cm

(theo HDKT

• Thu thập số liệu theo cách định vị hàng và cụm Các chỉ tiêu đo đếm gồm có đường kính

gốc, chiều cao của cây, theo dõi tình hình sâu bệnh hại, số lượng nhánh Số liệu được thu

thập định kỳ 6 tháng/lần và xử lý theo phương pháp thống kê sinh học áp dụng trong lâm

nghiệp

III Kết quả nghiên cứu vμ thảo luận:

3.1 Điều tra, đánh giá các mô hình trồng song mật và mây nếp của các đề tài

nghiên cứu trước đây:

3.1.1 Điều tra, đánh giá các mô hình trồng song mật:

* Những thông tin chung về các mô hình trồng song mật:

ư Các mô hình trồng song mật được tiến hành tại các địa điểm: Cầu Hai, Lương Sơn,

Cúc Phương, Ba Rền và Kon Hà Nừng

ư Song mật đã được trồng thí nghiệm trên tổng diện tích 11,8 ha; trong đó 10,7 ha

trồng dưới tán rừng phục hồi và 1,1 ha trồng dưới tán rừng trồng Diện tích trồng

song mật dưới tán rừng trồng ít nên rất khó khăn cho việc đánh giá

ư Các mô hình này được trồng thí nghiệm sớm nhất vào năm 1990 và muộn nhất là

năm 1993

* Khái quát về điều kiện thự nhiên nơi xây dựng mô hình trồng song mật: Các địa điểm

trồng song mật có điều kiện tự nhiên như nhiệt độ trung bình 21,60C-23,10C, lượng mưa từ

1800mm đến 2100mm, độ cao 150-400m so với mực nước biển, loại đất và địa hình phù hợp

so với yêu cầu sinh thái của Song mật Tuy nhiên, độ tàn che ở rừng phục hồi cao (>0,6) vượt

quá ngưỡng sinh thái của song mật

* Tình hình sinh trưởng của song mật ở các mô hình:

Tổng hợp kết quả điều tra, đánh giá về các biện pháp kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô

hình và tình hình sinh trưởng của song mật ở các mô hình được ghi vào bảng 3

Bảng 3: Các kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình và tình hình sinh trưởng của song

mật

Kỹ thuật trồng Tình hình sinh trưởng

Địa điểm Xử lý thực bì, làm

đất

Mật độ (hố/ha)

Số cây/hố

T (%)

C/k

h

H (m)

D (cm)

Phát băng 2m; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

Cầu Hai

L26/K1

Cầu Hai

L17/K3

Phát băng 1m; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

Lương Sơn

L17/K3

Phát băng 2m; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

Lương Sơn Phát băng 1m; làm 830 1 7 40 1 0,8 1,8 ít

Không điều tra vì tỷ lệ sống thấp

(2-3 khóm/ha)

Trang 4

L17/K3 đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm Phát băng 2m; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

Lương Sơn

L12/K7

Phát luỗng phát toàn

bộ dây leo cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

Cúc Phương

L22/KA

Ba RềnL2/

K19C làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm Phát luỗng phát toàn

bộ dây leo, cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

Kon Hà

Nừng

L1/K6

(T: Tỷ lệ sống; C/kh: Số cây có trong một khóm; H: Chiều cao cây; D: Đường kính thân; SB:

Sâu bệnh)

Từ kết quả ở bảng 5 kết hợp với quan sát thực tế có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Các mô hình đều áp dụng biện pháp làm đất cục bộ theo hố, kích thước hố

30x30x30cm Có hai nhóm biện pháp kỹ thuật chính khác nhau được áp dụng để trồng là: Xử

lý thực bì theo băng rộng 1m, mật độ 830 hố/ha, trồng 1 cây/hố (830cây/ha) và xử lý thực bì

theo băng rộng 2m, mật độ 1100 hố/ha , trồng 2 cây/hố (2200 cây/ha) Ngoài ra, ở Cúc

Phương và Kon Hà Nừng tiến hành xử lý thực bì theo phương pháp luỗng phát toàn bộ dây

leo, cây bụi

- Phương pháp xử lý thực bì theo băng hoặc phát luỗng toàn bộ dây leo cây bụi và

trồng song mật với mật độ cao tác động mạnh, làm thay đổi cấu trúc của lâm phần

- Do không được chăm sóc và bảo vệ nên tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng ở các mô

hình thấp

3.1.2 Điều tra, đánh giá các mô hình trồng mây nếp:

* Những thông tin chung về các mô hình trồng mây nếp: Mây nếp được trồng thí nghiệm

ở 6 địa điểm (Cầu Hai, Lương Sơn, Cúc Phương, Ba rền, Kon Hà Nừng, Tuy Hoà) với tổng

diện tích là 26,1ha Trong đó, mây được trồng dưới tán rừng phục hồi là 18,8 ha, trồng dưới

tán rừng trồng là 7,3 ha Nơi trồng sớm nhất là năm 1990 và sau cùng là năm 1995

* Khái quát về điều kiện thự nhiên nơi xây dựng mô hình trồng Mây nếp: Nhiệt độ trung

bình từ 21,60C đến 26,60C, lượng mưa 1800mm-2100mm, độ cao 80-400m so với mực nước

biển, loại đất và địa hình là phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mây nếp Độ tàn che ở các

mô hình trồng mây nếp dưới tán rừng trồng từ 0,45 đến 0,6 là phù hợp với nhu cầu sinh thái

của cây ở các mô hình trồng mây nếp dưới tán rừng phục hồi có độ tàn che cao (0,6-0,8),

vượt quá ngưỡng sinh thái của mây nếp

* Tình hình sinh trưởng của mây nếp ở các mô hình:

Bảng 4: Các kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình và tình hình sinh trưởng của

mây nếp

Kỹ thuật trồng Tình hình sinh trưởng

Địa điểm Xử lý thực bì, làm

đất

Mật độ (hố/ha)

Số cây/hố

T (%)

C/k

h

H (m)

D (cm)

Cầu Hai Luỗng phát toàn bộ

dây leo, cây bụi;

L19/K3

Trang 5

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm Lương Luỗng phát toàn bộ

dây leo, cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

Sơn

L9/K1

Lương Sơn Luỗng phát toàn bộ

dây leo, cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

L3/K4

Cúc Phương Luỗng phát toàn bộ

dây leo, cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

L22/ khuA

Ba Rền

L13,14/K26

Luỗng phát toàn bộ dây leo, cây bụi;

làm đất cục bộ; đào

hố 30x30x30cm

Kon Hà

Nừng

Luỗng phát toàn bộ dây leo cây bụi; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

1,5-2 1,16 ít LG1/K6

Kon Hà

Nừng

Luỗng phát toàn bộ dây leo cây bụi; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

1,5-2 1,16 ít LG3/K9

Kon Hà

Nừng

Luỗng phát toàn bộ dây leo cây bụi; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

Lv1/K6

Tuy Hoà

LM1

Luỗng phát toàn bộ dây leo, cây bụi; làm

đất cục bộ; đào hố 30x30x30cm

1,5-2 1,12 ít

Tuy Hoà

LM1

Luỗng phát toàn bộ dây leo, cây bụi; làm

đất cục bộ;

2-2,5 1,26 ít

đào hố 30x30x30cm (T: Tỷ lệ sống; C/kh: Số cây có trong một khóm; H: Chiều cao cây; D: Đường kính thân; SB:

Sâu bệnh)

Các biện pháp kỹ thuật áp dụng khi trồng mây nếp dưới tán rừng phục hồi và rừng

trồng bao gồm: Luỗng phát toàn bộ dây leo cây bụi, làm đất cục bộ, hố trồng có kích thước

30x30x30cm và mỗi hố trồng 2 cây Mây nếp được trồng với hai công thức mật độ: 2200

cây/ha (1100 hố/ha) và 6600 cây/ha (3300 hố/ha)

ở các mô hình trồng mây nếp dưới tán rừng phục hồi có độ tàn che cao (0,6-0,8) và

kéo dài là nguyên nhân chính làm mây nếp bị chết hoặc sinh trưởng kém

Xử lý thực bì theo phương pháp phát luỗng toàn bộ dây leo, cây bụi và trồng mây nếp

với mật độ cao (>2200cây/ha) tác động mạnh đến cấu trúc của rừng

Do không được chăm sóc và bảo vệ nên tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng ở các mô

hình thấp

Trang 6

3.2 Kết quả xây dựng mô hình:

Kết quả xây dựng mô hình được tổng hợp vào bảng sau:

Bảng 5: Diện tích mô hình trồng song mật và mây nếp

Năm trồng Địa điểm Loài cây Công thức Diện tích (ha)

Công thức 3 0,12 Mây nếp

Công thức 4 0,08

Năm 2002 Hoà Bình

Công thức 3 0,3 Song mật

Công thức 4 0,5

3.3 Đánh giá tình hình sinh trưởng của song mật và mây nếp:

3.3.1 Sinh trưởng của mây nếp ở Cầu Hai:

a) Tình hình sinh trưởng của mây nếp ở Cầu Hai:

Sau 42 tháng (3,5 năm) xây dựng mô hình, kết quả đánh giá về tình hình sinh trưởng

của mây nếp được trình bày vào bảng 6

Bảng 6: Sinh trưởng của mây nếp sau 42 tháng

136±4 121±5

H (cm) TB

Chiều cao

09±0,1 1,0±0,1

Do (cm) TB

Đường kính gốc

Từ kết quả ở bảng 6 có thể rút ra một số nhận xét sau:

ắ Tỷ lệ sống của mây nếp ở hai công thức thí nghiệm là rất cao, trong đó ở công thức 1 có tỷ lệ

sống là 97% cao hơn so với công thức 2 (93%) Một trong những nguyên nhân làm cây chết

là do khi cây còn nhỏ bị lá khô rụng phủ lên ngọn cây

ắ Sinh trưởng về chiều cao ở hai công thức thí nghiệm có sự chênh lệch Công thức 1 có chiều

cao trung bình đạt 136cm; còn công thức 2 con số đó là 121cm Sự sai khác về trị số trung

bình này đã được khẳng định qua kiểm định thống kê ngang bằng về phương sai

(Ftính=1,116<F05=1,304) và sai dị về chiều cao trong tổng thể (ttính=2,353>t05=1,966)

ắ Hệ số biến động về chiều cao ở cả hai công thức là khá lớn ở công thức 1 hệ số biến động

44,5%, cây có chiều cao cao nhất đạt tới 350cm và chiều cao thấp nhất chỉ đạt 42cm; ở công

thức 2 các giá trị tương ứng là 47,3%, 332cm và 35cm Như vậy, trong cả 2 công thức, mây

nếp sau hơn 3 năm trồng đã có sự phân hoá đáng kể về chiều cao Sở dĩ có hiện tượng phân

hoá về chiều cao như vậy có thể do nguồn giống vẫn dựa vào thu hái tự nhiên, chưa được

Trang 7

chọn lọc và cải thiện

ắ Sinh trưởng về đường kính gốc ở công thức 1 là 0,9cm và ở công thức 2 là 1cm Qua kiểm

định thống kê cho thấy sự khác nhau về đường kính gốc giữa hai công thức thí nghiệm không

có ý nghĩa trong tổng thể (ttính=1,548<t05=1,966), với trị số phương sai ngang bằng nhau (Ftính=1,155<F05=1,304)

ắ ở cả hai công thức thí nghiệm sinh trưởng về đường kính là tương đối đồng đều Hệ số biến

động về đường kính ở công thức 1 là 13% và ở công thức 2 là 13,5%; cây có đường kính gốc lớn nhất là 1,2cm và đường kính gốc nhỏ nhất là 0,7cm

ắ Trong suốt quá trình theo dõi mô hình chưa thấy hiện tượng mây nếp bị sâu bệnh phá hoại Tuy nhiên, do công tác bảo vệ chưa được tốt nên một số cây ở phía chân đồi của công thức 1

đã bị trâu ăn lá

Tăng trưởng về chiều cao của song mây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá tốc độ sinh trưởng của cây Trên cơ sở số liệu thu thập định kỳ về sinh trưởng có thể tính toán được lượng tăng trưởng hàng năm và lượng tăng trưởng bình quân Kết quả tính toán lượng tăng trưởng hàng năm

được trình bày ở biểu đồ sau:

5

22.6

55

38

3.5

18

48

36

0 10 20 30 40 50 60

Biểu đồ 1: Tăng trưởng hàng năm về chiều cao của mây nếp ở Cầu Hai

Số liệu ở Biểu đồ 1 cho thấy:

• Tốc độ sinh trưởng về chiều cao của mây nếp ở Cầu Hai có chiều hướng tăng dần theo tuổi ở tuổi 1 mây nếp sinh trưởng là rất chậm, tăng trưởng về chiều cao ở công thức1

là 5cm và công thức 2 là 3,5cm; tuổi 2 và tuổi 3 tăng trưởng về chiều cao đã khá hơn ở cả hai công thức; đến sáu tháng đầu của tuổi 4 tăng trưởng về chiều cao ở công thức 2

là 36cm và công thức 1 đạt 38cm

• Tăng trưởng bình quân trong 3 năm đầu ở công thức 1 là 27,5cm/năm và công thức 2 là 23cm/năm So với nghiên cứu về sinh trưởng ở Đảo Hải Nam và Quảng Đông - Trung Quốc (từ tuổi 1 đến tuổi 3, chiều cao trung bình là dưới 30cm/năm) thì sinh trưởng của mây nếp ở cả hai công thức được đánh giá vào loại trung bình ở tuổi 3, tăng trưởng về chiều cao của mây nếp trồng ở Đảo Hải Nam và Quảng Đông chỉ đạt 50cm tương

đương với tăng trưởng về chiều cao của mây nếp trồng ở Cầu Hai (công thức 1 đạt 55

cm và công thức 2 là 48 cm)

• Tăng trưởng hàng năm về chiều cao của mây nếp ở công thức 1 (tuổi 1 là 5 cm, tuổi 2

là 22,6 cm, tuổi 3 là 55 cm và 6 tháng đầu của tuổi 4 là 38cm) luôn cao hơn so với công thức 2 (3,5; 18; 48 và 36cm) Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu của tuổi 4 sự chênh lệch về tăng trưởng chiều cao giữa hai công thức dường như đã được rút ngắn Để có được kết luận chính xác về vấn đề này cần có thêm thời gian theo dõi

b) Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Cầu Hai:

Kết quả tính toán tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp trồng theo hai công thức mật độ ở Cầu Hai được thể hiện trong bảng 7

Trang 8

Bảng 7: Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Cầu Hai

Tỷ lệ đẻ nhánh của CT1 (%) Tỷ lệ đẻ nhánh của CT 2 (%) Thời điểm

theo dõi 1 nhánh 2 nhánh 3 nhánh ∑ 1 nhánh 2 nhánh 3 nhánh ∑

Như vậy, sau khi trồng 12 tháng, cả hai công thức thí nghiệm mây đều chưa đẻ

nhánh Khi được 18 tháng tuổi, mây đã đẻ 1 nhánh, lúc này tỷ lệ đẻ nhánh ở công thức 1 là

5,3% và công thức 2 mới chỉ có 1% số cây

Tỷ lệ đẻ nhánh ở công thức 1 luôn cao hơn công thức 2 Công thức 1, tỷ lệ đẻ nhánh

tăng từ 5,3% (18 tháng tuổi) đến 65,3% (42 tháng tuổi); còn ở công thức 2, tăng tương ứng

từ 1% lên 37,2%

Số lượng nhánh đẻ tăng dần theo thời gian Khi được 30 tháng tuổi bắt đầu xuất hiện

nhánh thứ 2, công thức 1 đã có 4,1% mây đẻ 2 nhánh và ở công thức 2 con số đó là 1,5%

Đến 36 tháng tuổi, tỷ lệ đẻ 3 nhánh ở công thức 1 đạt 2,1% và tăng lên 4,6%; cùng thời điểm

theo dõi, ở công thức 2 vẫn chưa xuất hiện mây đẻ nhánh thứ 3

3.3.2 Sinh trưởng của mây nếp ở Hoà Bình:

a) Sinh trưởng của mây nếp ở Hoà Bình:

Kết quả đánh giá tình hình sinh trưởng của mây nếp sau 30 tháng tuổi (2,5 năm) trồng

tại Hoà Bình được trình bày ở bảng 8

Bảng 8: Sinh trưởng của mây nếp sau 30 tháng

Các chỉ tiêu Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4

201±10,4 190±9,3 112±5,5 79±4,6

H (cm) TB

Chiều cao

1,0±0,02 1,1±0,03 1,0±0,03 1,0±0,02

Do (cm) TB

Đường kính

gốc

Từ số liệu ở bảng 12 cho biết tỷ lệ sống của mây nếp trồng tại Hoà Bình là tương đối

cao Tỷ lệ sống của các công thức từ 1 đến 4 là 91%, 83%, 94% và 87% Nguyên nhân chính

làm cây chết là do lá rụng vào ngọn cây khi cây còn nhỏ và do người dân đi lấy củi phát cụt

ngọn cây Chưa thấy có hiện tượng sâu bệnh hại mây nếp trong suốt quá trình theo dõi

Sinh trưởng về chiều cao của mây nếp có sự khác biệt nhau Sử dụng tiêu chuẩn phi

tham số của Kruskal và Wallis để kiểm định sự khác nhau này Kết quả tính toán như sau:

H=32,73>χ205=7,81 Như vậy, sự khác biệt về chiều cao ở 4 công thức đã khẳng định Sinh

trưởng về chiều cao giảm dần từ công thức 1 (201cm), công thức 2 (190cm), công thức 3

(112cm) và công thức 4 (79cm)

Sau hơn 2 năm trồng, mây nếp ở Hoà Bình đã có sự phân hoá về chiều cao Cây có

chiều cao thấp nhất của bốn công thức chênh lệch nhau không đáng kể, giá trị tương ứng của

Trang 9

các công thức từ 1 đến 4 là 60cm, 53cm, 58cm và 46cm Tuy nhiên, cây có chiều cao lớn nhất ở 4 công thức lại khác xa nhau ở công thức 1, cây cao nhất vươn tới 368cm, cây thấp nhất là 60cm và hệ số biến động là 38,8% Cây có chiều cao lớn nhất của công thức 4 chỉ đạt 123cm, chiều cao nhỏ nhất là 46cm và hệ số biến động là 23,7%

Sinh trưởng về đường kính gốc của 4 công thức thí nghiện là tương đương nhau

Đường kính gốc của các công thức từ 1 đến 4 là: 1,0cm; 1,1cm; 1,0cm và 1,0cm Qua kiểm

định thống kê bằng tiêu chuẩn phi tham số của Kruskal và Wallis cho thấy H=4,47<χ2

05=7,81 Như vậy, sinh trưởng về đường kính gốc ở các công thức thí nghiệm là

đồng nhất

ở cả bốn công thức, cây có đường kính gốc lớn nhất giao động từ 1,2cm đến 1,4cm

và đường kính gốc nhỏ nhất là 0,8-0,9cm Sự chênh lệnh giữa cây có đường kính gốc cao nhất và thấp nhất của cả bốn công thức là không đáng kể nên hệ số biến động của chúng không cao Hệ số biến động cao nhất là ở công thức 2 (16%) và thấp nhất công thức 4 (11,9%)

Số liệu tính toán về lượng tăng trưởng về chiều cao của mây nếp trồng tại Hoà Bình

được thể hiện trong biểu đồ 3

19

69

94

15

63

92

7

30

55

5

23

32

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Biểu đồ 3: Tăng trưởng hàng năm về chiều cao của mây nếp ở Hoà Bình

Tăng trưởng hàng năm về chiều cao của tất cả các công thức tăng dần từ tuổi 1 đến tuổi 2,5 Công thức 1, lượng tăng trưởng tăng dần từ 19cm ở tuổi 1, 69cm đến 94 cm trong thời gian 6 tháng đầu năm thứ 3; công thức 2, tăng dần từ 15cm, 63cm đến 92cm; công thức

3, tuổi 1 đạt 7cm, tuổi 2 là 15cm, sáu tháng đầu của tuổi 3 đạt 55cm và các giá trị đó ở công thức 4 tương ứng là 5cm, 23cm và 32cm

Tốc độ sinh trưởng về chiều cao ở các tuổi đều giảm dần từ công thức 1 đến công thức

4 So sánh với nghiên cứu của Trung Quốc (ở tuổi 3 tăng trưởng về chiều cao chỉ đạt 50cm) thì công thức 1 (tuổi 2 là 69cm và 6 tháng đầu của tuổi 3 đạt tới 94cm) và công thức 2 (tuổi 2

là 63cm và 6 tháng đầu của tuổi 3 đạt tới 92cm) xếp vào loại sinh trưởng rất nhanh; công thức 2 xếp vào loại sinh trưởng khá (sáu tháng đầu năm tuổi 3 là 55cm) và công thức 4 xếp vào loại trung bình (sáu tháng đầu năm thứ 3 là 32cm)

b) Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Hoà Bình:

Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp được theo dõi định kỳ 6 tháng/lần, kết quả tính toán tỷ lệ

đẻ nhánh được tổng hợp vào bảng 9

Biểu 9: Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Hoà Bình

Trang 10

Tỷ lệ đẻ nhánh (%)

Số lượng nhánh

6 tháng

Sau

12 tháng

Sau

18 tháng

Sau

24 tháng

Sau

30 tháng

Công thức 1

Công thức 2

Công thức 3

Công thức 4

Sáu tháng sau khi trồng thì tất cả các công thức đều chưa thấy hiện tượng đẻ nhánh

Đến tháng thứ 12, công thức 1 đã có tới 8,6% và công thức 2 có 3,4% mây đẻ nhánh, lúc này

công thức 3 và 4 chưa để nhánh Vào tháng thứ 18, ở công thức 3 và 4 mới thấy hiện tượng đẻ

nhánh (công thức 3 được 2% và công thức 4 được 1,3%)

Trong suốt quá trình theo dõi ở công thức 3 và 4 chưa thấy mây đẻ 2 đến 3 nhánh

Bên cạnh đó, công thức 1 có tới 9,3% và công thức 2 có 1,2% mây đẻ 2 nhánh vào 18 tháng

tuổi; tỷ lệ đẻ nhánh thứ 3 ở công thức 1 và 2 tương ứng là 8% và 4,2% vào 24 tháng tuổi

Tính đến 30 tháng tuổi, tỷ lệ đẻ nhánh của mây ở các công thức tăng dần từ công thức

4 (7,8%), công thức 3 (15,8%), công thức 2 (55,3%) và đến công thức 1 (68,1%) Trong đó,

công thức 1 đã có 20,2% mây đẻ 2 nhánh và 17,1% mây đẻ nhánh thứ 3; ở công thức 2, các

con số đó là 17,4% và 11%

Nhận xét chung:

♦ Mây nếp trồng dưới tán rừng phục hồi có độ tàn che 0,4-0,5, gần mặt nước lòng hồ Hoà

Bình là rất phù hợp; thêm vào đó, cây giống đem trồng đã được 18 tháng tuổi, chiều cao

đạt 19,6cm nên tốc độ sinh trưởng của chúng ở cả 4 công thức được xếp vào loại từ trung

bình đến rất nhanh Sinh trưởng về chiều cao nhanh nhất là công thức 1 (3 hố/cụm, trồng

1 cây/hố) đạt 201cm, đến công thức 2 (2 hố/cụm, trồng 1 cây/hố) đạt 190cm; còn công

thức 3 (2 cây/hố) là 112cm và công thức 4 (3 cây/hố) là 79cm xếp vào loại trung bình

♦ So sánh sinh trưởng về chiều cao của mây nếp trồng ở Cầu Hai thì sinh trưởng chiều cao

của mây nếp trồng tại Hoà bình có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn và ở cả 2 địa bàn nghiên

cứu công thức 1 luôn tỏ ra vượt trội hơn so với công thức 2 Công thức1 (3 hố/cụm, trồng

1 cây/hố) sau 42 tháng trồng ở Cầu Hai đạt 136cm; còn ở Hoà Bình sau 30 tháng đạt tới

201cm Công thức 2 (2 hố/cụm, trồng 1 cây/hố) con số đó tương ứng là 121cm và 190cm

3.3.3 Tình hình sinh trưởng của mây nếp ở Hoà Bình:

a) Tình hình sinh trưởng của song mật ở Hòa Bình:

Sau 30 tháng tuổi, sinh trưởng của song mật ở các công thức thí nghiệm được tổng

hợp vào bảng 10

Nhìn vào bảng kết quả ở bảng 10 cho thấy:

Ngày đăng: 20/06/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các biện pháp kỹ thuật trồng song mật d−ới tán rừng - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 2 Các biện pháp kỹ thuật trồng song mật d−ới tán rừng (Trang 2)
Bảng 1: Các biện pháp kỹ thuật trồng mây nếp d−ới tán rừng - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 1 Các biện pháp kỹ thuật trồng mây nếp d−ới tán rừng (Trang 2)
Bảng 3: Các kỹ thuật  áp dụng khi xây dựng mô hình  và tình hình sinh tr−ởng của song - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 3 Các kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình và tình hình sinh tr−ởng của song (Trang 3)
Hình và tình hình sinh tr−ởng của song mật ở các mô hình đ−ợc ghi vào bảng 3. - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Hình v à tình hình sinh tr−ởng của song mật ở các mô hình đ−ợc ghi vào bảng 3 (Trang 3)
Bảng 4: Các kỹ thuật  áp dụng khi xây dựng mô hình  và tình hình sinh tr−ởng của - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 4 Các kỹ thuật áp dụng khi xây dựng mô hình và tình hình sinh tr−ởng của (Trang 4)
Bảng 6: Sinh tr−ởng của mây nếp sau 42 tháng - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 6 Sinh tr−ởng của mây nếp sau 42 tháng (Trang 6)
Bảng 7:  Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Cầu Hai - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 7 Tỷ lệ đẻ nhánh của mây nếp ở Cầu Hai (Trang 8)
Bảng 8:  Sinh tr−ởng của mây nếp sau 30 tháng - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 8 Sinh tr−ởng của mây nếp sau 30 tháng (Trang 8)
Bảng 10: Sinh tr−ởng của song mật  sau 30 tháng - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 10 Sinh tr−ởng của song mật sau 30 tháng (Trang 11)
Bảng 11:  Tỷ lệ đẻ nhánh của song mật ở Hoà Bình - Nghiên cứu khoa học " Đánh giá ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật khai thác đến tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng Đông Trường Sơn " ppt
Bảng 11 Tỷ lệ đẻ nhánh của song mật ở Hoà Bình (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm