Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu bảo quản một số tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản, nguyên liệu sản xuất đồ mộc, ván nhân tạo” đã được thực hiện với m
Trang 1Nghiên cứu bảo quản một số tre gỗ rừng trồng sử dụng ngoμi trời lμm nọc tiêu, xây
dựng cơ bản, nguên liệu sản xuất đồ mộc vμ ván nhân tạo
Lê Văn Lâm, Bùi Văn ái
Và các công tác viên
Phòng NC Bảo quản Lâm sản
I Mở đầu
Gỗ, tre, nứa là dạng vật liệu tự nhiên có những đặc tính quý báu như độ bền cơ học cao, cách nhiệt, cách âm tốt, dễ gia công và đặc biệt là rất thân thiện với môi trường nên được sử dụng rộng rãi phục vụ cuộc sống của con người Với mục đích sử dụng ngoài trời, tre gỗ thường được dùng làm tà vẹt trong giao thông vận tải, xây dựng, cột điện, điện thoại, cột cọc vườn ươm Hiện nay, mô hình kinh tế trang trại ở nước ta phát triển mạnh, hồ tiêu là một trong số cây trồng công nghiệp mang lại giá trị kinh
tế cao, diện tích trồng hồ tiêu ngày càng được mở rộng ở các tỉnh từ miền Trung trở vào Cây hồ tiêu trong quá trình phát triển cần có cọc chống để leo bám Người trồng tiêu vẫn thường sử dụng lõi của các loại gỗ quý rừng tự nhiên để làm nọc tiêu Tuy nhiên, các loại gỗ này đã bị khai thác quá mức đòi hỏi cần có sự thay đổi trong việc sử dụng nguyên liệu làm nọc tiêu
Một nhược điểm cần hết sức quan tâm khi sử dụng gỗ rừng trồng đó là rất dễ bị sâu nấm phá hại,
đặc biệt khi được sử dụng ngoài trời Do đó tre, gỗ rừng trồng nếu không được xử lý bảo quản thích hợp
sẽ nhanh chóng bị hư hỏng, gây lãng phí lớn về tài nguyên và sức lao động
Từ thực tế đó, đề tài: “Nghiên cứu bảo quản một số tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản, nguyên liệu sản xuất đồ mộc, ván nhân tạo” đã được thực hiện với mục tiêu góp phần nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng gỗ rừng trồng
II Phương pháp nghiên cứu
Điều tra sơ bộ sinh vật hại gỗ rừng trồng chủ yếu
Mẫu tiêu bản các đối tượng hại tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời được phân tích, phân loại lưu trữ trong phòng thí nghiệm về nấm và côn trùng của phòng Nghiên cứu Bảo quản lâm sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Nghiên cứu độ bền tự nhiên của gỗ rừng trồng
áp dụng tiêu chuẩn Ngành về quy trình khảo nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản với nấm Độ
bền tự nhiên của gỗ được đánh giá bằng mức độ gây hại của nấm và mối trên mẫu gỗ
Mẫu có kích thước mẫu 2,5x5x50cm, số lượng mẫu cho mỗi loại gỗ là 20 mẫu và được đặt bãi tự nhiên Độ bền gỗ được đánh giá bằng chỉ số độ bền tương ứng với độ sâu mục mềm trên mẫu và mức độ phá hoại của côn trùng trên mẫu
Khảo sát sức thấm thuốc của gỗ rừng trồng với các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu: độ ẩm gỗ, thời gian tẩm, áp lực tẩm và nồng độ dung dịch thuốc theo các phương pháp tẩm: ngâm thường, khuếch tán
và chân không áp lực Bố trí quy hoạch thực nghiệm yếu tố toàn phần (QHTNYTTP)
- Khi tẩm gỗ có độ ẩm thấp dưới điểm bão hoà thớ: áp dụng phương pháp cân
- Khi tẩm gỗ có độ ẩm cao trên điểm bão hoà thớ: áp dụng phương pháp hoá học phân tích định lượng Complexan III
Độ sâu thấm thuốc bảo quản vào mẫu gỗ được xác định bằng thuốc chỉ thị màu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ bảo quản tre, gỗ làm nọc tiêu và dùng trong xây dựng cơ bản
Trang 2- Mẫu gỗ tròn, gỗ xẻ và luồng tẩm thuốc XM5 theo phương pháp ngâm thường, băng đa và Boucherie
đánh giá độ bền tự nhiên gỗ)
- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc bảo quản đến năng suất và chất lượng hạt tiêu:
tẩm thuốc và đối chứng tiêu tại Bình Phước và Quảng Bình
Phương pháp nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ bảo quản gỗ tròn nguyên liệu sản xuất đồ mộc và ván nhân tạo
Gỗ tròn Keo lá tràm và Bạch đàn gồm 16 khúc mỗi loại, được bóc vỏ Trên mỗi khúc gỗ chia ra các ô có kích thước 10x30cm (kích thước dài nhất song song với chiều dọc cây) Trên mỗi khúc bố trí 15
ô so le nhau và xử lý thuốc như sau:
Loại thuốc BQ Nồng độ thuốc (%) Số ô xử lý thuốc Số ô đối chứng
Hiệu lực bảo quản của thuốc được đánh giá bằng tỷ lệ X (%) diện tích biến màu trên ô xử lý thuốc và ô đối chứng Tỷ lệ X%<30% là công thức có hiệu lực tốt; 30%<X%<60% đạt hiệu lực trung bình; X%>60% đạt hiệu lực kém
III Kết quả nghiên cứu
Sinh vật chủ yếu hại gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời
Sinh vật hại tre, gỗ rừng trồng sau khai thác còn tươi tại bãi 1
Cả hai đối tượng gỗ được bóc vỏ và không bóc vỏ, gỗ còn tươi (độ ẩm gỗ>90%) đều chưa phát
hiện thấy bị côn trùng xâm nhập và phá hoại Chúng tôi chỉ phát hiện loài Platypus sodidus để lại dấu vết
lỗ xâm nhập trên thân gỗ rừng trồng
Tre sau khai thác thời gian lưu kho bãi cũng rất ngắn Chúng tôi đã thu thập được 3 loài
Dinoderus minutus, Dinoderus brevis và Dinoderus distinctus Tre ngay sau chặt hạ 2-3 ngày đã bị mọt
tre xâm nhập vào từ mặt cắt ngang, cắt dọc, phần mắt tre và những vị trí xây xát Mọt tre xâm nhập vào tre ngay từ khi mới chặt hạ và trong quá trình chế biến, sử dụng tre nên tác hại do mọt tre gây ra là rất lớn
Gỗ sau chặt hạ sau 5 ngày, với các khúc gỗ được bóc vỏ đã có hiện tượng gỗ bị biến màu cục bộ
do nấm gây ra Với các khúc gỗ chưa bóc vỏ, quan sát ở hai đầu khúc gỗ cho thấy gỗ chưa bị nấm tấn công Sau thời gian theo dõi kéo dài đến 1 tháng, ở các khúc gỗ được bóc vỏ bị nấm gây biến màu hoàn toàn Gỗ khúc không bóc vỏ bị biến màu ở hai đầu khúc gỗ khoảng 30cm hoặc ở các vị trí mà vỏ cây bị
dập nát Các loài nấm mốc chủ yếu gây biến màu gỗ tươi sau khai thác gồm Penicillium sp, Aspergillus
niger, Coriolus versicolor
Sinh vật hại tre, gỗ rừng trồng khô sử dụng ngoài trời
- Mối là đối tượng gây hại điển hình, chủ yếu gồm các loài: Macrotermes annandalei, Macrotermes
barneyi Light, Odontotermes hainanensis Light và Odontotermes formosanus Shiraki
- Xén tóc gỗ khô Stromatium longicorne Newman, xén tóc da hổ Chlorophorus annularis
- Các loài mọt cám Lyctus brunneus Stephens, Minthea rugicollis Walker, mọt tre Dinoderus minutus
Phần chân mẫu tre, gỗ từ ngang bằng mặt đất trở xuống đều bị nấm mục gây hại Các loài nấm
gây mục chủ yếu bao gồm Deadalea elegans, Schizophyllum commune, Pleurotus ostreatus, Auricularia
polytricha
Trang 3Độ bền tự nhiên của một số gỗ rừng trồng
Độ bền tự nhiên của gỗ rừng trồng với nấm
Sau 4 tháng thử nghiệm, kết quả đánh giá về độ bền của các loại gỗ nhận được như sau:
- Gỗ Bạch đàn đỏ có mức độ bị gây hại trung bình nhỏ dưới 10%, được đánh giá có độ bền tự nhiên tốt với nấm hại lâm sản
- Gỗ Xà cừ, Keo lá tràm, Keo lá bạc và Keo lưỡi liềm có tỷ lệ bị gây hại trung bình từ >10% và nhỏ hơn 20%, được đánh giá có độ bền tự nhiên khá với nấm
- Gỗ Bạch đàn trắng, Phi lao, Keo tai tượng, Thông, Tràm cừ, Keo lai, Bạch đàn Urophylla, Mỡ có tỷ lệ
bị gây hại trung bình từ >20% và <50% Các loại gỗ này được đánh giá có độ bền tự nhiên trung bình
- Còn lại các loại gỗ Keo dậu, Trám trắng, Bồ đề và Cao su có mức độ bị hại trung bình >50% thể hiện
gỗ có độ bền kém với nấm
Độ bền tự nhiên của gỗ rừng trồng với mối
- Gỗ Xà cừ không có vết mối ăn, được đánh giá có độ bền tự nhiên tốt với mối
- Gỗ Phi lao, Bạch đàn trắng, Keo lá tràm, Bạch đàn đỏ chỉ lác đác có mẫu bị mối phá ở mức độ vết ăn nhẹ, được đánh giá có độ bền tự nhiên khá đối với mối
- Gỗ Mỡ, Keo lá bạc, Bạch đàn Urophylla, Tràm ta, Keo dậu, Keo lưỡi liềm có mức độ bị mối tấn công nhiều hơn Các vết mối ăn đều rộng và ăn sâu vào trong mẫu nên được xếp loại có độ bền tự nhiên trung bình với mối
- Keo lai, Thông ba lá, Bồ đề, Cao su và Trám trắng đã bị mối phá nặng, thể hiện các loại gỗ này có độ bền tự nhiên rất kém với mối
Kết quả khảo sát độ bền gỗ tại bãi thử tự nhiên
- Hầu hết mẫu của các loại gỗ đều bị nấm mục và côn trùng phá huỷ hoàn toàn sau gần 03 năm thử nghiệm ngoài trời
- Bạch đàn đỏ, Tràm bông vàng, Xà cừ và Bạch đàn trắng có độ bền tự nhiên tốt hơn cả
- Phi lao các loại, gỗ Keo, Tràm ta, Mỡ, Thông ba lá có độ bền trung bình
- Nhóm có độ bền tự nhiên kém gồm Keo tai tượng, Cao su, Trám trắng và Bồ đề Các loại gỗ này đã bị sinh vật phá huỷ sau 01 năm thử nghiệm
Sức thấm thuốc bảo quản của gỗ rừng trồng
Sức thấm thuốc của 3 loại gỗ ở mức độ ẩm dưới điểm bão hoà thớ gỗ
Mối quan hệ giữa lượng thuốc thấm của 3 loài gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian tẩm (T) khi ngâm thường gỗ có mức độ ẩm thấp như sau:
+ Gỗ Keo lá tràm :
Y1 = 2,168 - 0,038W+ 0,024T (3.1)
+ Gỗ Keo lai:
Y2 = 2,491 - 0,039W + 0,023T (3.2)
+ Gỗ Bạch đàn Uro:
Y3 = 1,756 - 0,041W + 0,024T (3.3)
Trong cùng một điều kiện tẩm, sức thấm thuốc của Keo lai lớn nhất, tiếp theo là Keo lá tràm và Bạch đàn urophylla So sánh sức thấm thuốc bảo quản của 3 loại gỗ trên đây với một số loại gỗ rừng tự nhiên ở cùng chế độ tẩm, gỗ Bạch đàn Urô và Keo lá tràm xếp vào nhóm có sức thấm thuốc trung bình,
gỗ Keo lai xếp vào nhóm gỗ dễ thấm thuốc
Sức thấm thuốc của gỗ có độ ẩm cao khi ngâm thường
Mối quan hệ giữa lượng thuốc thấm của 3 loại gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian tẩm (T) khi ngâm thường ở mức độ ẩm gỗ cao như sau:
+ Gỗ Keo lá tràm :
Y1 = -3,013 + 0,059W+ 0,014T (3.4)
+ Gỗ Keo lai:
Y2 = - 2,099 + 0,054W + 0,012T (3.5)
+ Gỗ Bạch đàn Uro:
Trang 4Y3 = -2,507 + 0,048W + 0,010T (3.6)
Khi ngâm thường gỗ có độ ẩm cao thì độ ẩm gỗ càng cao càng thuận lợi cho quá trình thấm
thuốc Ngược lại, khi ngâm gỗ có độ ẩm nhỏ dưới 50% thì khi độ ẩm gỗ càng tăng lại cản trở quá trình
thấm thuốc bảo quản
Sức thấm thuốc của 03 loài gỗ theo phương pháp chân không áp lực
Mối quan hệ giữa lượng thuốc thấm và độ sâu thấm thuốc của 03 loại gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ
(W), thời gian duy trì áp lực (T), áp lực tẩm (P) khi tẩm gỗ bằng phương pháp chân không áp lực như
sau:
+ Gỗ Keo lá tràm :
Y1 = - 0,504 + 0,022W + 0,038T + 0,630P (3.7)
+ Gỗ Keo lai:
Y2 = 6,141 - 0,049W + 0,052T + 0,280P (3.8)
+ Gỗ Bạch đàn Uro:
Lượng thuốc thấm khi tẩm bằng phương pháp chân không áp lực của gỗ Keo lai đạt lớn nhất tiếp
theo là gỗ Keo lá tràm và nhỏ nhất vẫn là Bạch đàn Urophylla
Nghiên cứu công nghệ bảo quản tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản
Hiệu lực của thuốc XM 5 bảo quản gỗ sử dụng ngoài trời
Bảng 1 Hiệu lực bảo quản của thuốc XM 5 tại b∙i tự nhiên đối với gỗ xẻ
Ngày đặt mẫu: tháng 11 năm 2001
thuốc (%)
áp lực tẩm (kg/cm2)
Lượng thuốc thấm
Keo lá tràm
Nhận xét
- Mẫu đối chứng: Trong cùng điều kiện bãi thử, gỗ Keo lá tràm không tẩm thuốc sau 1 năm chỉ số độ
bền vẫn còn rất cao, sang năm thứ 2, chỉ số độ bền giảm xuống rất nhanh và bị phá huỷ nặng sau 30
tháng chôn ngoài bãi Gỗ Bạch đàn có chỉ số độ bền kém hơn nên mẫu đã bị phá huỷ sau 24 tháng thử
nghiệm Gỗ Trám trắng được sử dụng thường xuyên để thử hiệu lực của thuốc và để đánh giá sự phá hại
của nấm và côn trùng khi chôn cùng điều kiện thì sau 6 tháng chỉ số độ bền đã giảm xuống rất thấp và
sau 1 năm đã bị phá huỷ hoàn toàn
đầu vẫn đạt 100 song đến năm thứ 3 thử nghiệm, chỉ số độ bền mẫu đã giảm nhiều Các mẫu tẩm đạt
sang năm thứ 3 chỉ số độ bền đã giảm, song lượng giảm rất thấp (có thể thấy chỉ số độ bền vẫn còn rất
Trang 5cao trên 90) Sở dĩ chỉ số độ bền giảm là do một phần thuốc đã bị rửa trôi và các yếu tố ngoại cảnh khác
tác động
băng đa và Boucherie đựơc theo dõi chỉ số độ bền theo các giai đoạn với mẫu xẻ thanh Kết quả được
tổng hợp tại bảng 2
Bảng 2 Hiệu lực bảo quản của thuốc XM 5 đối với tre, gỗ khúc
Ngày đặt mẫu: tháng 11 năm 2001
Chỉ số độ bền theo thời gian
tẩm
Lượng
Ngâm thường 10.88 100 100 100 100 97
1
Keo lá
tràm
2
Bạch đàn
trắng
Từ bảng 2 cho thấy các mẫu tre và gỗ tẩm thuốc vẫn đạt chỉ số độ bền gỗ cao Mẫu tre đối chứng
bị phá huỷ hoàn toàn, các mẫu gỗ khúc đối chứng đã bị nấm và côn trùng phá hoại làm giảm mạnh chỉ
tiêu đánh giá chất lượng
ngâm thường và khuếch tán qua thời gian thử nghiệm 2 năm có chỉ số độ bền vẫn đạt 100 Sang năm thứ
3, các mẫu Tràm bông vàng và Bạch đàn trắng có chỉ số độ bền giảm không đáng kể (chỉ số độ bền vẫn
đạt trên 90)
Kết quả theo dõi độ bền nọc tiêu tại 02 mô hình trồng tiêu tại Quảng Bình và Bình Dương cho kết
quả tương đương Nọc tiêu đối chứng sau hai năm trồng tại mô hình đã bị mục chân và bị mối tấn công
mạnh trong khi đó các nọc tiêu được tẩm thuốc theo phương pháp ngâm thường và khuếch tán vấn còn
rất tốt, không có vết mối ăn và nấm mục xâm nhập
Đánh giá ảnh hưởng của thuốc bảo quản đến năng suất hạt tiêu
Đánh giá sự phát triển của cây tiêu và năng suất hạt tiêu thu hái được tại lô sử dụng nọc có tẩm
thuốc và lô đối chứng sử dụng nọc không tẩm thuốc cho thấy không có sự phân biệt Sự chênh lệch số
học giá trị trung bình năng suất hạt tiêu không có nghĩa là nọc tiêu có bảo quản có tác động tốt tới năng
suất mà đơn thuần là số liệu thực tế còn có nhiều yếu tố tự nhiên ảnh hưởng tới năng suất hạt qua 01 năm
đầu tiên thu hái theo dõi
Xác định dư lượng thuốc bảo quản XM 5 trong hạt tiêu
Hạt tiêu sau khi thu hoạch được phơi khô tự nhiên Mẫu hạt tiêu được phân tích để xác định dư
quản XM5 gồm CuSO4 và K2Cr2O7, kết quả xác định hàm lượng Cu và Cr có trong hạt tiêu, thể hiện tại
bảng 3
Bảng 3 Kết quả phân tích hàm lượng Cu và Cr trong hạt tiêu
Hàm lượng
Cu (mg/Kg khô)
Hàm lượng Cr (mg/Kg khô)
Trang 63 Mẫu hạt tiêu tại lô 3 M3 2,00 5,85
Từ kết quả phân tích định lượng trên đây, có thể kết luận hàm lượng Cu và Cr có trong hạt tiêu nằm dưới với mức an toàn cho phép
Xây dựng quy trình công nghệ bảo quản gỗ rừng trồng làm nguyên liệu đồ mộc và ván nhân tạo
Hiệu lực của một số loại thuốc bảo quản gỗ tròn sau chặt hạ cho ở bảng 4
Bảng 4 Hiệu lực của một số loại thuốc bảo quản gỗ rừng trồng tại b∙i 1
5% 15 30 42 48 33.8
5% 20 38 49 55 40.5
5% 22 37 48 57 41.0
5% 16 29 40 47 33.0
5% 17 35 47 52 37.8
5% 21 35 46 52 38.5
Từ kết quả tổng hợp tại bảng 4, cả 03 loại thuốc với nồng độ sử dụng 10%, sau 2 tuần xử lý, thuốc vẫn đạt hiệu quả bảo quản tốt (tỷ lệ biến màu gỗ xấp xỉ 30%) Kéo dài thời gian theo dõi sang tuần thứ 3 và tuần thứ 4, hiệu lực bảo quản của thuốc giảm xuống đạt mức trung bình Với nồng độ thuốc 5%, không đảm bảo hiệu quả bảo quản Như vậy, với mục đích bảo quản tạm thời cho gỗ tròn nguyên liệu tại bãi 1, có thể sử dụng hai loại thuốc XM5 và LN5 với nồng độ 10%
IV Kết luận
Độ bền tự nhiên của một số loại gỗ rừng trồng đối với nấm, côn trùng trong điều kiện phòng thí
nghiệm và ngoài bãi thử tự nhiên đã được xác định như sau:
+ Độ bền tự nhiên với nấm:
- Gỗ Bạch đàn đỏ, Xà cừ, Keo lá tràm, Keo lá bạc, Keo lưỡi liềm có độ bền tự nhiên tương đối tốt với nấm
- Gỗ Phi lao, Bạch đàn trắng, Keo tai tượng, Thông ba lá, Tràm ta, Keo lai, Bạch đàn Urô có độ bền trung bình với nấm
- Gỗ Keo dậu, Trám trắng, Bồ đề, Cao su có độ bền kém với nấm
Trang 7+ Độ bền tự nhiên với mối:
- Gỗ Xà cừ, Phi lao, Bạch đàn trắng, Bạch đàn đỏ có độ bền tự nhiên tương đối tốt với mối
- Gỗ Mỡ, Keo lá bạc, Bạch đàn Uro, Tràm ta, Keo dậu, Keo lưỡi liềm có độ bền trung bình với mối
- Gỗ Keo lai, Thông ba lá, Bồ đề, Cao su, Trám trắng có độ bền kém với mối
+ Mẫu của 17 loại gỗ rừng trồng được khảo sát độ bền tự nhiên đều bị phá huỷ hoàn toàn tính chất cơ
lý sau 30 tháng đặt ngoài bãi thử tự nhiên
Gỗ Keo lai có sức thấm thuốc tốt, gỗ Keo lá tràm và Bạch đàn Uro có sức thấm thuốc trung bình
Phương pháp bảo quản ngâm thường và băng đa áp dụng để tảm gỗ rừng trồng còn tươi cho lượng
quản tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản
phát triển của cây tiêu và chất lượng hạt tiêu
gỗ rừng trồng sau khai thác trong thời gian 01 tháng
Tài liệu tham khảo
1 Bộ Nông nghiệp và PTNT 2004 Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam
2 Nguyễn Xuân Khu 1985 “Sơ bộ xác định khả năng thấm thuốc của một số loài gỗ vùng Thanh Sơn - Vĩnh Phú”, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông nghiệp, tr 97-109
3 Đoàn Văn Kính 1985 “Vấn đề sử dụng gỗ nhóm 6-7 làm xà tải dây điện trên cơ sở xử lý hoá chất bảo quản”, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông nghiệp, tr 123-134
4 Lê Văn Lâm, Nguyễn Thị Bích Ngọc 1999 Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản với nấm mục, Báo cáo nhiệm vụ khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
5 Lê Văn Lâm, Nguyễn Thị Bích Ngọc 1999 Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản với mối, Báo cáo nhiệm vụ khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Auriculiformis Cunn) bằng phương pháp Ngâm thường và Chân không áp lực, Luận văn Thạc sỹ
kỹ thuật, Trường ĐH Lâm nghiệp, Hà Tây
7 Lê Văn Nông 1999 Côn trùng hại gỗ và biện pháp phòng trừ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Auriculiformis Cunn A mangium) bằng phương pháp Ngâm thường và Chân không áp lực, Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây
9 Nguyễn Chí Thanh 1985 “Một số kết quả thử nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản và độ bền tự nhiên của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên”, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông nghiệp, tr 116-123
10 FAO 1986 Wood preservation manual, Paper 76
11 Willeitner H., Liese W 1992 Wood protection in tropical countries, Technical cooperation – Federal Republic of Germany