Với lượng cây con phục vụ trồng rừng này hàng năm cả nước phải tổ chức sản xuất trên quy mô hàng trăm ha với hàng nghìn vườn ươm các loại mới đáp ứng được kế hoạch trồng rừng.. Tuy nhiên
Trang 1con hiện nay lμm cơ sở cho việc quản lý quy hoạch mạng lưới vườn ươm phục
vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (2000 – 2001)
Phạm Đình Tam Lại Thanh Hải, Đặng Quang Hưng, Trần Đức Mạnh
Trung tâm ứng dụng KHKT Lâm nghiệp
1 Mở đầu
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã được Quốc hội nước ta thông q+ua tại kỳ họp thứ 2
Quốc hội khóa X Sau đó Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 661/QĐ-TTg ngày
29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án Theo quyết định này
thì đến năm 2010 cả nước phải trồng được 5 triệu ha rừng, trong đó có 1 triệu ha khoanh nuôi
tái sinh kết hợp trồng bổ sung còn lại 4 triệu ha là trồng mới Với mật độ trồng bổ sung bình
quân 1 ha từ 400 - 500 cây và trồng mới hoàn toàn từ 1.200 - 1.600 cây thì số lượng cây con
phục vụ cho dự án vào khoảng 7.700 triệu cây Bình quân 1 năm cần khoảng 640 triệu cây
Ngoài ra còn có các chương trình, các dự án trồng rừng do các nguồn vốn khác và do các tổ
chức quốc tế tài trợ cũng cần hàng trăm triệu cây con các loại Với lượng cây con phục vụ
trồng rừng này hàng năm cả nước phải tổ chức sản xuất trên quy mô hàng trăm ha với hàng
nghìn vườn ươm các loại mới đáp ứng được kế hoạch trồng rừng Đây là một trong những
nhiệm vụ hết sức quan trọng có ý nghĩa thiết thực đến thành công hay thất bại của công tác
trồng rừng của các địa phương
Từ lâu nay việc cung ứng cây con phục vụ trồng rừng hàng năm của các địa phương
phần lớn do các tổ chức lâm nghiệp đảm nhận, ngoài ra các thành phần khác như tư nhân, tập
thể cũng tạo cây con theo đơn đặt hàng của các dự án trồng rừng Phương thức này đã đáp ứng
kịp thời kế hoạch trồng rừng của địa phương, tạo được công ăn việc làm cho người lao động,
góp phần hoàn thành khối lượng trồng rừng Tuy nhiên, về mặt chất lượng cây con, hiệu quả
sản xuất của các vườn vẫn còn nhiều tồn tại, việc quản lý đầu ra thiếu chặt chẽ, mạng lưới vườn
ươm chưa được quy hoạch dẫn đến không chủ động được cung cầu,v.v Vì vậy, để đánh giá
một cách đầy đủ thực trạng hệ thống vườn ươm hiện có và đề xuất quy hoạch mạng lưới chung
cho toàn quốc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt dự án : “ Điều tra đánh
giá thực trạng hệ thống vườn ươm và năng lực cung cấp cây con hiện nay làm cơ sở cho việc
quản lý quy hoạch mạng lưới vườn ươm phục vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng”
Dự án do Trung tâm ứng dụng KHKT lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam chủ trì và được tiến hành trong 2 năm 2000 - 2001 với sự tham gia thực hiện của
Phòng kỹ thuật lâm sinh, Trung tâm nghiên cứu Lâm sinh Lâm Đồng và 1 số đơn vị khác trong
và ngoài Viện Dự án đã được hoàn thành đúng tiến độ và đã được nghiệm thu đấnh giá Trong
bài này chúng tôi xin tóm tắt một số kết quả chính của dự án:
2 Phương pháp điều tra
• Phương pháp tiếp cận :
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các tài liệu đã có liên quan đến dự án để lựa chọn nội
dung, đối tượng, địa bàn điều tra đảm bảo thu thập được lượng thông tin đủ tin cậy làm cở cho
Trang 2việc đề xuất các ý kiến kết luận có cơ sở khoa học và mang tính khả thi Phương pháp điều tra chung được thể hiện ở sơ đồ 1 :
Sơ đồ 1: Sơ đồ các biến điều tra
Phân tích tài
liệu đ∙ có
Kế thừa kinh nghiệm
của các chuyên gia
Xây dựng kế hoạch và
đề cương thu thập số liệu
Thu thập thông tin
tại tỉnh
Điều tra, khảo sát thực địa
- Tổng hợp phân tích số liệu
- Viết tổng kết dự án
• Phương pháp cụ thể :
- Sử dụng các tài liệu của các dự án trồng rừng từ Trung ương đến địa phương để tổng hợp theo yêu cầu, mục tiêu của dự án
- áp dụng phương pháp điều tra đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để thu thập các thông tin cần thiết Đối tượng điều tra phỏng vấn gồm các Ban quản lý dự án địa phương, các Sở Nông nghiệp và PTNT và các Chi cục phát triển Lâm nghiệp Nội dung điều tra được xây dựng theo phiếu in sẵn
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để đánh giá thực trạng vườn ươm hiện có bao gồm các lĩnh vực : Lâm sinh, kinh tế, cơ giới trồng rừng, giống Tiêu chuẩn đánh giá được áp dụng theo các quy trình, quy phạm của Bộ đã ban hành
- Về phân loại hệ thống vườn ươm áp dụng theo “ Tiêu chuẩn vườn ươm “ được Vụ KHCN và CLSP thông qua năm 2000
ươm
liệu
• Quy mô điều tra: chọn 45 tỉnh để điều tra và chia làm 2 mức độ
+ Điều tra tổng quát : 30 tỉnh
Trong 15 tỉnh điều tra kỹ được chọn đại diện theo các vùng sản xuất lâm nghiệp : Vùng phòng hộ, vùng sản xuất
Trang 3Tây Bắc: Hoà Bình
* Vùng phòng hộ Tây Nguyên: Kon Tum, Lâm Đồng
Đồng bằng sông Cửu Long: An Giang Nguyên liệu giấy: Tuyên Quang, Phú Thọ, Đồng Nai, Hà Giang
Nguyên liệu công nghiệp: Thái Nguyên
Gia Lai
* Vùng sản xuất Gộ trụ mỏ:Bắc Giang, Quảng Ninh
Vùng khác: Nghệ An, Quảng Bình, Phú Yên
3 Kết quả thực hiện dự án
3.1 Kết quả điều tra về nhu cầu cây con phục vụ trồng rừng
Mục đích của việc điều tra nhu cầu cây con của các địa phương là nhằm nắm khái quát nhu cầu cây con của từng địa phương, đồng thời căn cứ vào kế hoạch trồng rừng hàng năm để cân đối giữa cung và cầu cây con để trên cơ sở đó xây dựng 1 quy hoạch mạng lưới vườn ươm cho phù hợp Để có được kết quả theo yêu cầu đặt ra, dự án đã tiến hành điều tra tại 45 tỉnh trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các tỉnh có khối lượng trồng rừng tương đối lớn Nội dung
điều tra chủ yếu các khía cạnh sau:
- Điều tra về kế hoạch trồng rừng theo dự án 661 và các dự án khác của các địa phương
- Điều tra về nhu cầu cây con để phục vụ trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán của tỉnh
- Điều tra về khả năng cung cấp cây con để phục vụ trồng rừng của các địa phương
- Trên cở các kết quả điều tra, tính toán lượng cây con thừa thiếu trong từng tỉnh Kết quả điều tra đã cho thấy về nhu cầu cây con phục vụ trồng rừng của các tỉnh hàng năm rất lớn Trong 45 tỉnh điều tra thì số lượng cây cần để trồng rừng khoảng 524.507.600 cây Trong đó trồng rừng tập trung là 446.985.100 cây, chiếm 85,22%, cây phân tán là 77.522.500 cây chiếm 14,78 % Các tỉnh có nhu cầu lớn là các tỉnh Sơn La, Đăc Lắc, Tuyên Quang, Thanh Hóa,Quảng Nam, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Giang ít nhất là các tỉnh : Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Bình,
Hà Tây, Tây Ninh
Số liệu cũng cho thấy trong số 45 tỉnh điều tra thì 6 tỉnh có nhu cầu cây con hàng năm trên
20 triệu cây (13,3%), 17 tỉnh có nhu cầu từ 10 đến 20 triệu cây (37,7%) và 22 tỉnh có nhu cầu dưới 10 triệu cây (49%) (Xem biểu đồ số 1)
Biểu đồ 1 : Phân loại nhu cầu cây con các tỉnh
49% 37,7%
13,3%
Trên 20 triệu Từ 10 đến 20 triệu dưới 10 triệu
Trang 43.2 Kết quả điều tra thực trạng hệ thống vườn ươm hiện nay
Để có được một cách nhìn nhận chính xác và khách quan làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp tiêu chuẩn, quản lý và xây dựng mạng lưới vườn ươm hợp lý phục vụ trồng rừng,
dự án đã tiến hành điều tra thực trạng hệ thống vườn ươm hiện nay tại 45 tỉnh trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn và có khối lượng trồng rừng nhiều Nội dung điều tra được tập trung vào các vấn đề sau :
- Hình thức tổ chức sản xuất cây con
- Hệ thống vườn ươm đang sử dụng
- Tình hình đầu tư hệ thống vườn ươm
- Trình độ KHCN và kỹ thuật
- Cơ chế chính sách
3.2.1 Tình hình tổ chức sản xuất.:
• Các hình thức sản xuất cây con hiện nay:
Qua điều tra thực tế tại 45 tỉnh cho thấy có 20% số tỉnh tổ chức cả 3 hình thức sản xuất, 95,5% số tỉnh có hình thức quốc doanh, 62,2% số tỉnh có hình thức tư nhân và 17,7% số tỉnh
có hình thức tập thể (xem sơ đồ 2)
Sơ đồ 2 : Loại hình tổ chức sản xuất cây con
BQL 661 tỉnh
Khoán từng phần
cho cá nhân
Doanh nghệp tư
nhân - d
Hộ gia
đình
tổ chức xã h
Cộng đồng (trường h
• Năng lực sản xuất của các loại hình
Kết quả điều tra cho thấy trong 1 năm các đơn vị quốc doanh sản xuất được 362.270.200 cây con các loại, chiếm 65,58% tổng số cây con phục vụ trồng rừng Khu vực tư nhân sản xuất được 154.804.000 cây, chiếm 29,30% và tập thể sản xuất được 11.197.000 cây chiếm 2,12% Như vậy khu vực quốc doanh vẫn là đầu mối chính để cung ứng cây con phục vụ cho kế hoạch trồng rừng của các địa phương Số lượng cây con quốc doanh sản xuất được gấp
2 - 3 lần khu vực tư nhân và gấp 30 lần khu vực tập thể
• Hiệu quả sản xuất cây con trong các tổ chức
Cây con xuất vườn bình quân của khu vực quốc doanh đạt 87,13%, của khu vực tư nhân là 89,98% và của tập thể là 70,0% Như vậy khu vực quốc doanh có tỷ lệ cây xuất vườn thấp hơn khu vực tư nhân và cao hơn khu vực tập thể Tỉnh có tỷ lệ cây xuất vườn cao là Đồng Nai và Kon Tum, đạt 90%
Trang 53.2.2 Hệ thống vườn ươm của các địa phương:
• Hệ thống vườn ươm hiện có
Dự án đã tiến hành điều tra kỹ tại 15 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế sinh thái chủ yếu trong cả nước và điều tra tổng hợp tại 30 tỉnh có kế hoạch trồng rừng tương đối lớn Kết quả đã thống kê được 550 vườn ươm quốc doanh với tổng diện tích là 306,64 ha, trong đó vườn
ươm công nghệ cao 87 (diện tích 94,24 ha), vườn ươm bán cơ giới 22 (diện tích 13,25 ha) và vườn ươm thủ công 454 Các tỉnh có tổ chức hệ thống vườn ươm quốc doanh lớn nhất là Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Ninh Các tỉnh có vườm ươm hộ ít nhất là Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Kiên Giang, Phú Thọ Điều này cho thấy hầu hết các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa có điều kiện khó khăn thì việc đầu tư cho hệ thống vườn ươm cũng còn chưa cao, việc tổ chức quản lý chưa được chú ý và đây cũng là 1 trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng sau này Những tỉnh có điều kiện hơn cả về cơ sở vật chất đến cán bộ thực hiện thì tổ chức hệ thống vườn ươm tương đối bảo đảm, hiệu suất sản xuất và chất lượng cây con tương
đối đảm bảo Điều này cũng thể hiện rõ qua đánh giá về hiệu suất sản xuất ở 1 số vườn ươm tại
15 tỉnh (số liệu này chủ yếu là đánh giá tại các vườn ươm tập trung)
• Phân loại vườn ươm
Căn cứ vào tiêu chuẩn vườn ươm cây lâm nghiệp năm 2001, và kết quả điều tra thực địa tại 45 tỉnh trong cả nước, dự án đã phân loại các vườn ươm hiện có theo 3 tiêu chí: Theo quy mô (ký hiệu q), theo hình thức sản xuất (ký hiệu h), theo tính chất của vườn (ký hiệu t) Cụ thể
được thể hiện trong bảng dưới đây:
Biểu 1: Phân loại vườn ươm
T.T Tiêu chí phân loại Phân loại Đặc trưng chính Ký hiệu
cây/năm
q2
3.2.3 Năng lực sản xuất cây con:
• Về khả năng cung cấp cây con
Hầu hết các tỉnh điều tra đều có kế hoạch sản xuất cây con hàng năm để phục vụ cho trồng rừng của địa phương Số liệu điều tra cho thấy bình quân mỗi năm các tỉnh đã sản xuất
được 528.266.200 cây con các loại, trong đó các đơn vị quốc doanh sản xuất được 362.270.200 cây chiếm, 68,58%, khu vực tư nhân sản xuất được 154.804.000 cây, chiếm 29,3%, khu vực
Trang 6tập thể sản xuất được 11.192.000 cây, chiếm 2,12% Các tỉnh sản xuất nhiều là : Kon Tum, An Giang, Lạng Sơn, Đồng Nai, Kiên Giang, Quảng Ninh (từ 20 triệu cây - 38 triệu cây/năm) Tuy nhiên, số liệu điều tra trên chỉ mới phản ánh được lượng cây con thực tế đã sản xuất của từng tỉnh để phục vụ theo kế hoạch mà chưa tính đến năng lực sản xuất vì nhiều vườn ươm
được đầu tư tương đối bài bản nhưng chưa sản xuất hết công suất
• Về cân đối giữa nhu cầu và khả năng cung ứng cây con:
Trong 45 tỉnh điều tra có 3 tỉnh có khả năng sản xuất đủ nhu cầu, chiếm 6,7 %; 20 tỉnh có khả năng sản xuất dư thừa theo nhu cầu, chiếm 44% và số tỉnh không có khả năng cung cấp đủ cây con theo nhu cầu là 22 tỉnh, chiếm 49,3%
• Hiệu suất của các vườn ươm:
Hầu hết các tỉnh sản xuất chỉ đạt dưới 65% công suất thiết kế, đặc biệt có những tỉnh chỉ đạt 26% đến 36% như Ninh Thuận, Vũng Tàu, Hà Giang Điều này do mấy nguyên nhân chính như sau:
- Chưa có quy hoạch mạng lưới vườn ươm nên thiếu sự điều tiết về kế hoạch sản xuất,
đầu ra cây con không ổn định do đó thiếu sự cân đối giữa cung và cầu
- Kinh phí dành cho vườn ươm rất hạn chế, nhưng lại đầu tư không đồng bộ nên không
đủ điều kiện để mở rộng sản xuất
- Giá cây con trồng rừng quá thấp, hiệu quả sản xuất kém nên không thu hút được
ngư-ời lao động
Về phân loại hiệu suất sử dụng của các vườn ươm theo các cấp khác nhau cho thấy: có 37,7% số tỉnh có hiệu suất sử dụng trên 70%, có 11,1% số tỉnh có hiệu suất sử dụng dưới 50%
và có 51,2% số tỉnh có công suất sử dụng từ 50-70
3.3 Quy hoạch hệ thống vườn ươm:
Qua kết quả điều tra xây dựng quy hoạch vườn ươm phục vụ cho dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và quy hoạch vườn ươm theo chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2010, dự án đã tổng hợp được bảng quy hoạch mạng lưới vườn ươm phục vụ trồng rừng đến năm 2010 như sau:
Biểu : Tổng hợp qui hoạch vườn ươm đến năm 2010
Diện Tích
I Vùng Tây bắc
104.500,0
108.000,0
Trang 7II Vïng §«ng b¾c
131.285,7
150.314,2
III
§.B»ng s«ng
Hång
IV
Vïng B¾c
Trung bé
146.428,5
111.071,4
V
Duyªn h¶i
Trung bé
130.500,0
286.700,0
VI Vïng T©y
Trang 8nguyên*
VI
I
Vùng Đông
Nam bộ*
VI
II
Vùng Tây Nam
bộ
144.300,0
362920,
4 Kết luận và kiến nghị:
4.1 Kết luận:
- Từ nay đến năm 2010 bình quân mỗi năm cần khoảng 524.507.600 cây con phục vụ cho dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng và khoảng 271.333.330 cây con phục vụ cho chương trình trồng rừng nguyên liệu giấy và ván nhân tạo
- Trong 3 loại hình sản xuất cây con hiện nay (quốc doanh, tư nhân và tập thể) thì quốc doanh vẫn là lực lượng chủ yếu cung cấp cây con phục vụ trồng rừng Số lượng cây con do khu vực quốc doanh sản xuất chiếm 65,58%, tư nhân chiếm 29,3% và tập thể chiếm 2,12%
- Trong tổng số các vườn ươm đã điều tra có 7,1% loại vườn ươm lớn (công suất>1triệu cây/năm), 10,9% vườn ươm vừa (công suất từ 50 vạn-1triệu cây/năm) và 82% loại vườn ươm nhỏ (công suất <50 vạn cây/năm) Có 3,7% loại vườn ươm công nghệ cao và 96,3% vườn ươm thủ công
- Về mức độ đầu tư kinh phí cho hệ thống vườn ươm hiện nay là rất thấp chỉ có 28% số vườn
ươm được đầu tư 80 triệu đến 2 tỷ đồng/vườn Về cơ cấu đầu tư nặng về xây dựng cơ sở hạ
Trang 9tầng còn đầu tư cho công nghệ và kỹ thuật còn rất hạn chế Tỷ lệ đầu tư cơ bản chiếm 60-75%, thiết bị chiếm 20-30% còn sản xuất và công nghệ chỉ có 10-15%
- Về công nghệ: trong những năm qua công nghệ tạo cây con cũng được chú ý một cách
đáng kể Trong 15 tỉnh điều tra điển hình có đến 31 vườn công nghệ cao, các vườn ươm này
đều đã tiếp nhận công nghệ giâm hom, nuôi cấy mô từ các cơ sở nghiên cứu mô, hom đầu ngành hiện nay
- Về năng lực và hiệu quả sản xuất cho thấy khả năng để sản xuất cây con đạt tiêu chuẩn của các điạ phương là rất lớn, song do đầu ra và những hạn chế về điều kiện sản xuất nên các vườn
ươm đạt hiệu quả sử dụng thấp, bình quân chỉ dưới 50% so với công suất đầu tư
- Dự án đã xây dựng được qui hoạch hệ thống vườn ươm phục vụ trồng rừng nguyên liệu và
dự án 661 Đây là những định hướng cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch đầu tư và quản lý
hệ thống vườn ươm mang tính vĩ mô
4.2 Kiến nghị
- Cần rà soát lại các quy trình, hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm các loài cây trồng rừng của địa phương để bổ sung và xây dựng hoàn chỉnh Nhất thiết các loài cây gieo ươm phục vụ trồng rừng đều phải có quy trình hoặc hướng dẫn kỹ thuật được cấp có thẩm quyền ban hành
- Các loài cây gieo ươm bằng hạt phải theo đúng tiêu chuẩn ngành phải có nguồn gốc giống rõ ràng và các nguồn giống đó đã được công nhận
- Các loài cây trồng rừng công nghiệp nhất thiết phải tạo cây con bằng công nghệ cao (mô, hom)
- Bộ cần sớm thông qua quy hoạch mạng lưới vườn ươm trên phạm vi toàn quốc nhằm giúp cho việc quản lý chặt chẽ việc đầu tư xây dựng, chất lượng hạt giống, cây con vv tránh
đầu tư không đúng địa chỉ, thiếu hiệu quả và không kiểm soát được chất lượng cây con
- Việc phê duyệt thẩm định các dự án vườn ươm cần tập trung một đầu mối, Công ty Giống Trung ương là đơn vị thẩm định về chuyên môn và Cục Phát triển Lâm nghiệp là cơ quan thẩm định đầu tư
- Cần quản lý chặt chẽ các tổ chức sản xuất cây con như : cấp giấy phép hành nghề, chứng chỉ chất lượng và quy trình xuất nhạp cây con đến nơi trồng rừng
- Phát huy hình thức sản xuất quốc doanh và hộ gia đình, hạn chế hình thức tập thể Cần tổ chức sản xuất tập trung những loài cây quí hiếm, cây đòi hỏi kỹ thuật cao
- Cần nâng suất đầu tư cho khâu tạo cây con, đặc biệt là một số giống cây quí hiếm, cây bản địa và cây đòi hỏi phải đầu tư kỹ thuật cao
- Nhà nước cần trợ giá 1 số loài cây được tạo bằng phương pháp nuôi cấy mô và giâm hom để khuyến khích người trồng rừng chấp nhận các giống mới
Tài liệu tham khảo
Trang 10sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (1998)
(2001)
phần tốt để xây dựng rừng giống chuyển hóa “ (1999)
núi trọc tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên (1997)
triển Lâm nghiệp ở Việt Nam (2000)