1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề số 2 đánh giá các quy định về cách thức xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014

14 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Quy Định Về Cách Thức Xử Lý Đối Với Các Trường Hợp Kết Hôn Trái Pháp Luật Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014
Tác giả Hoàng Minh Hòa
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại bài tập cá nhân
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 662,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm - Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-o0o -

BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Họ và tên: Hoàng Minh Hòa

Mã sinh viên: 20A52010123

Ngày sinh: 23/10/2002

Ngành: Luật Quốc Tế

Đề số 2: Đánh giá các quy định về cách thức xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 4

1 Một số khái niệm 4

1.1 Khái niệm kết hôn 4

1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật 4

1.3 Khái niệm hủy kết hôn trái pháp luật 5

2 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật 5

2.1 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn 6

2.2 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện 6

2.3 Kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng 6

2.4 Kết hôn với những người mất năng lực hành vi dân sự 6

2.5 Kết hôn với những người có cùng dòng máu về hệ trực, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đẫ từng có quan hệ thích thuộc. 7 2.6 Kết hôn giữa những người cùng giới tính 7

3 Nguyên tắc xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật 7

4 Mục đích, ý nghĩa của việc xử lý kết hôn trái pháp luật 8

II CÁCH THỨC XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 8

1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 8

2 Xử lý việc kết hôn trái pháp luật 8

3 Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật 9

3.1 Hậu quả pháp lý về mặt nhân thân 9

3.2 Hậu quả pháp lý về mặt tài sản 9

Trang 3

3.3 Hậu quả về quan hệ giữa cha mẹ và con 10

III ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁCH THỨC XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 10

1 Thực tiễn áp dụng 10

2 Đánh giá về cách thức xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật 12

3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 12

C KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 4

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Tự do luyến ái là quyền của con người Quyền kết hôn và lập gia đình của nam và nữ đến tuổi kết hôn phải được thừa nhận Hơn nữa, hôn nhân chính là cơ

sở để hình thành gia đình, gia đình là cơ sở để hình thành nên xã hội Tinh thần

này đã được cụ thể hóa và ghi nhận trong Hiến pháp, cụ thể: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Vậy nên, khi có hành vi vi phạm, việc đặt ra chế tài xử

lý là điều dễ hiểu Do vậy, để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, sau đây em xin chọn

đề tài 02: “Đánh giá các quy định về cách thức xử lý đối với các trường hợp

kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” làm bài

kiểm tra giữa học phần môn Luật hôn nhân và gia đình

Do kiến thức còn hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu và thực hiện đề còn

nhiều thiếu sót, kính mong cô bổ sung và góp ý để em hoàn thiện bài làm Em xin chân thành cảm ơn!

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Một số khái niệm

- Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy

định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”

- Quy định này thể hiện 4 nội dung cơ bản sau:

 Chủ thể của hành vi kết hôn gồm 1 bên là nam và bên kia là nữ, tức là 2 người khác giới tính với nhau

 Bản chất của hôn nhân là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng Hai bên nam và nữ kết hôn là nhằm gắn bó cuộc sống của họ lâu dài (mong muốn đến hết đời), xây dựng gia đình, sinh con và nuôi dạy con

 Nam, nữ chỉ có thể kết hôn khi có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình

 Việc kết hôn được thực hiện thông qua thủ tục đăng kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Nhà nước đặt ra các quy định về điều kiện kết hôn nhằm vừa bảo đảm quyền lợi của người kết hôn, vừa bảo vệ quyền lợi của người có quyền và lợi ích liên quan của gia đình và xã hội Việc kết hôn phải tuân theo các điều kiện đó Nếu nam, nữ kết hôn không tuân thủ các điều kiện kết hôn thì Nhà

Trang 5

nước cần phải xử lí, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh, vì lợi ích chung của xã hội

Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Luật hôn nhân

và gia đình năm 2014 đã giải thích khái niệm kết hôn trái pháp luật, cụ thể tại

Khoản 6 Điều 3 như sau: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên

vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này” Khái niệm

kết hôn trái pháp luật gắn liền với khái niệm kết hôn, theo đó, kết hôn trái pháp luật khi việc kết hôn đã được đăng kí đúng thẩm quyền nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn Cụ thể, tại thời điểm kết hôn thì người kết hôn thuộc một trong những trường hợp sau đây:

- Chưa đủ tuổi kết hôn;

- Không có sự tự nguyện kết hôn;

- Bị mất năng lực hành vi dân sự;

- Đang có vợ, có chồng;

- Có quan hệ cùng dòng máu về hệ trực hoặc có họ trong phạm vi ba đời;

- Là cha, mẹ nuôi với con nuôi;

- Đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Do việc đăng kí kết hôn đã được thực hiện và hai bên nam, nữ đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên cần phải xử lý việc kết hôn trái pháp luật

và giải quyết hậu quả pháp lý của nó Theo quy định của pháp luật, người thực hiện hành vi kết hôn trái pháp luật có thể bị xử lý về dân sự, hành chính, hình sự 1

Để đảm bảo tính thực thi của pháp luật, các nhà làm luật đã xây dựng các chế tài xử lí vi phạm pháp luật về kết hôn làm căn cứ để xử lí vi phạm pháp luật về kết hôn Trước khi áp dụng các biện pháp xử lí khác như xử lí hành chính, xử lí hình sự thì pháp luật nước ta quy định hủy kết hôn trái pháp luật là biện pháp trước tiên được áp dụng đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật dựa trên yêu cầu của người có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Tuy rằng chưa có quy định cụ thể về hủy kết hôn trái pháp luật nhưng ta có thể hiểu: hủy kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lí có ý nghĩa chế tài được áp dụng đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật; Nhà nước không thừa nhận có quan hệ vợ chồng tồn tại trong kết hôn trái pháp luật và buộc hai bên kết hôn trái pháp luật phải chấm dứt hành vi kết

hôn trái pháp luật đó

2 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật

trang 123

Trang 6

2.1 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn

Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn được quy định tại Luật

Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 cụ thể: "Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên" Theo đó, vi phạm về độ tuổi kết hôn là

trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi còn được gọi là tảo hôn Ngày nay,

xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìn nhận của con người về hôn nhân, gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều, hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn

về độ tuổi phần lớn chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, thiểu số Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo, căn cứ vào tình trạng thực tế của cuộc hôn nhân

mà có trường hợp xử hủy kết hôn trái pháp luật, có trường hợp không hủy kết hôn

Như vậy, về độ tuổi kết hôn, Luật hôn nhân và gia đình 2014 (Khoản 1, Điều 8) đã nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước sang tuổi 18

(17 tuổi + 1 ngày) như quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Có thể thấy, sự thay đổi này nhằm đảm bảo sự thống nhất với các luật khác

Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được pháp luật hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điều kiện riêng Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn, theo đó "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Kết hôn vi phạm sự tự nguyện là một hiện tượng diễn ra khá phổ biến trong xã hội phong kiến, nhất là đối với những vùng núi, dân tộc thiểu số Ngày nay, hiện tượng này chủ yếu tồn tại ở một số dân tộc miền núi điển hình như tục "cướp vợ"

của người H’Mông

Hôn nhân một vợ một chồng ra đời trong thời đại văn minh cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Hôn nhân một vợ một chồng xuất phát từ mong muốn chủ yếu của người phụ nữ.2 Theo pháp luật Việt Nam, hôn nhân xây dựng theo nguyên tắc một vợ, một chồng Do đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đã có chồng hoặc đã có vợ là kết hôn trái pháp luật Đây chính là bản chất tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật về Hôn nhân và gia đình của nước ta

- một nước xã hội chủ nghĩa so với nhà nước phong kiến hoặc tư sản

Người mất năng lực hành vi dân sự là những người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà họ không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Vì vậy

họ không có khả năng thực hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề

Trang 7

kết hôn, không thể nhận thức và thực hiện trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình Nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, quyền lợi, sức khỏe của vợ, chồng, con cái họ Vì thế nếu có sự kiện kết

hôn diễn ra thì đây chính là việc kết hôn trái pháp luật

người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đẫ từng có quan hệ thích thuộc

Y học đã chứng minh tác hại của những cặp hôn nhân cận huyết: Những cặp

vợ chồng khỏe mạnh lại có thể sinh con dị dạng hoặc mang bệnh tật di truyền như: mù màu (không phân biệt được màu đỏ và màu xanh), bạch tạng, da vảy cá Giải thích hiện tượng này, di truyền học cho biết, mọi đặc điểm trên cơ thể đều được quy định bởi gene, kể cả trường hợp bệnh lý Cơ thể mỗi người có khoảng 500-600 nghìn gene, trong số đó không tránh khỏi có dăm bảy gene lặn bệnh lý, chưa có điều kiện bộc lộ gây tác hại Gene lặn bệnh lý tồn tại dai dẳng trong dòng họ từ thế hệ này qua thế hệ khác Nếu cuộc hôn nhân được tiến hành với người khác dòng họ thì nguy cơ bệnh bộc phát thường không cao Trái lại, hôn nhân cận huyết chính là điều kiện thuận lợi cho những gene lặn bệnh lý tương đồng gặp gỡ nhau, sinh những đứa con bệnh tật hoặc dị dạng di truyền.3

Việc Luật hôn nhân và gia đình quy định như vậy nhằm đảm bảo tránh gây

ra những hệ lụy không tốt cho thế hệ sau, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bình thường và khỏe mạnh của con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình Mặt khác, cũng là để phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống đạo đức của người dân Việt Nam Tạo ra một thế hệ mầm non tương lai của đất nước trong tình trạng sức khỏe bình thường

Khác với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa những người cùng giới tính bị coi là một trong những hành vi bị cấm kết hôn thì ở Luật hôn

nhân và gia đình năm 2014 tại khoản 2, điều 8 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Như vậy, hôn nhân giữa

những người có cùng giới tính mặc dù hiện nay không phải là hành vi bị cấm nhưng hành vi này không được Nhà nước thừa nhận và bị coi là hôn nhân trái pháp luật Căn cứ của quy định này là bởi một trong những chức năng quan trọng của gia đình đó là chức năng duy trì nòi giống Mà hôn nhân giữa những người

có cùng giới tính thì không đảm bảo được chức năng này Hơn nữa, việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính vẫn chưa được ủng hộ rộng rãi tại Việt Nam

3 Nguyên tắc xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật

Trang 8

Nhà nước không thừa nhận những trường hợp nam, nữ kết hôn mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn Vì vậy, việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Về nguyên tắc, việc kết hôn

vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 và Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 là trái pháp luật Tuy nhiên, Tòa án cần xem xét, đánh giá thực chất mối quan hệ tình cảm giữa họ để từ đó ra quyết định

đúng đắn, khách quan

4 Mục đích, ý nghĩa của việc xử lý kết hôn trái pháp luật

Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình Đặc biệt hướng tới bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong quá trình xử lí kết hôn trái pháp luật, cần phải dung hòa được lợi ích của nhà nước và các chủ thể Chính bởi những phân tích trên có thể thấy rằng hành vi kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng rất lớn đến các mối quan hệ xã hội cũng như những quyền và lợi ích cơ bản của công dân Do đó việc xử lí kết hôn trái pháp luật

là hết sức cần thiết, mang lại những ý nghĩa to lớn Một mặt bảo vệ được pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân song cũng lại rất mềm dẻo, linh hoạt phù hợp với thực tế cuộc sống

TRÁI PHÁP LUẬT

1 Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Nếu ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép cá nhân, cơ quan, tổ

chức có quyền yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, thì ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ quy định đề nghị Viện Kiểm sát mà cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình năm

2014 đã mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật hơn so với năm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

2 Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

Theo khoản 2 điều 11, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều

8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này” Quy

định này không phải là mới nhưng lần đầu tiên được luật hóa đưa thẳng vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mà ở Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa được đưa vào Đây cũng là một quy định tiến bộ, mang tính nhân văn rất cao bởi

vì khi các bên đã đủ điều kiện kết hôn, các yếu tố cấu thành nên cuộc hôn nhân trái pháp luật không còn thì việc tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật không còn

Trang 9

ý nghĩa nên Tòa án không ra quyết định đối với trường hợp như vậy là điều hoàn toàn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân được thực hiện một cách đầy đủ nhất

- Các biện pháp xử lý khác:

 Xử lý hình sự: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gồm 03 tội Đó là: Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện; tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; và tội tổ chức tảo hôn

3 Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

Theo Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23.12.2000 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 thì chia làm 3 trường hợp:

– Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc

cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật

– Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật – Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ

án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung

Còn theo khoản 1, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về

hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật như sau: “Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng”

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật đối với quan hệ nhân thân đó là hai bên nam, nữ “phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng”

Khoản 3, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này” Điều 16, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của

Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ

nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”

Trang 10

Ở đây, ta không thấy đề cập đến vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi hủy kết hôn trái pháp luật Bởi vì là kết hôn trái pháp luật nên cuộc hôn nhân đó không được Nhà nước thừa nhận là vợ chồng hợp pháp, mà đã không phải vợ chồng hợp pháp thì mọi tài sản hình thành trong thời gian chung sống đó sẽ không được công nhận

Khoản 2, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

“Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa của cha, mẹ, con khi ly hôn” Như vậy, quy định này cùa pháp luật nhằm

bảo vệ quyền lợi của trẻ em và việc cuộc hôn nhân dù hợp pháp hay không hợp pháp cũng không ảnh hưởng gì tới quan hệ giữa cha, mẹ và con Mặc dù là cuộc hôn nhân có trái pháp luật thì cha, mẹ vẫn là cha mẹ của đứa trẻ, nên việc giải quyết quan hệ cha mẹ và con theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi lý hôn là hoàn toàn hợp lý Trẻ em ai cũng cần sự che trở của cha mẹ chúng, việc quy định như như trên sẽ đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của đứa trẻ được bảo vệ một cách tốt nhất, góp phần giúp cho đứa trẻ có điều kiện phát triển

về thể chất và tinh thần một cách tốt nhất Thêm vào đó, Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã bổ sung sự thiếu sót cho Luật hôn nhân và gia đình 2000 ở chỗ, Luật hôn nhân và gia đình 2000 chỉ quy định giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ cho con mà không có nhắc đến giải quyết quyền và nghĩa vụ cho cha, mẹ

VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT

1 Thực tiễn áp dụng

Xét bản án sau: Bản án số 05/2015/HNGĐ-ST ngày 08/6/2015 của TAND tỉnh Phú Yên

Tóm tắt vụ việc:

Tháng 3 năm 2013, qua quen biết và tìm hiểu, chị Châu và anh Nguyễn thống nhất sẽ kết hôn.Do năm 2010, anh Nguyễn đã xuất cảnh sang Philippines làm ăn nên chị Châu và gia đình anh Nguyễn đã tự đến UBND xã để làm Giấy chứng nhận kết hôn (Cha anh nguyễn là ông Văn đã kí thay anh Nguyễn) Khi chih Châu muốn sang Philippines để toàn tụ với anh Nguyễn thì anh không chấp nhận hôn nhân với chị Châu Kể từ đó đến khi Tòa án giải quyết hôn nhân giữa anh Nguyễn và chị Châu thì các bên không có liên lạc, không có sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau

Xét thấy hôn nhân không đạt được mục đích, chị Châu đã yêu cầu TAND tỉnh Phú Yên giải quyết quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Nguyễn theo quy định của pháp luật Về con chung không có, về tài sản chung không yêu cầu giải quyết

Ngày đăng: 06/11/2023, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w