1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương môn luật quốc tế về sở hữu trí tuệ

25 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Luật Quốc Tế Về Sở Hữu Trí Tuệ
Tác giả Hoàng Minh Hòa
Người hướng dẫn LQT K20
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Quốc Tế Về Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại Đề Cương
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 219,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và quyền đối với giống cây trồng Kh

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

- Khái niệm quyền SHTT: SHTT là các sáng chế tinh thần, bao gồm các

sáng chế, tác phẩm văn học nghệ thuật, biểu tượng, tên, hình ảnh, kiểu dáng

sử dụng trong thương mại

- Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm

quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và quyền đối với giống cây trồng (Khoản 1 điều Luật SHTT 2022)

- Đặc điểm của quyền SHTT:

+ Sở hữu 1 tài sản vô hình

+ Bảo hộ có tính chọn lọc

+ Bảo hộ mang tính lãnh thổ và có thời hạn

- Trong lĩnh vực quyền tác giả, VN là thành viên của CƯ Berne về bảo hộ tácphẩm văn học nghệ thuật Quyền tác giả được bảo hộ tự động

- Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, VN là thành viên của CƯ Paris

Về nguyên tắc là bảo hộ theo lãnh thổ, tuy nhiên cũng có 1 số ngoại lệ theo các ĐƯQT mà VN là thành viên trong lĩnh vực SHTT

- Tài sản trí tuệ, các đối tượng quyền SHTT đc bảo hộ theo thời hạn, đc giớihạn tùy thuộc vào đối tượng

- Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sángtạo ra hoặc sở hữu (K2 Điều 4 Luật SHTT 2022)

- Đặc điểm của quyền tác giả:

+ Quyền tác giả được bảo hộ theo cơ chế tự động: Ví dụ bản án tranh chấp quyền tác giả giữa ông Lê Linh và công ty Phan Thị, tuy nhiên pháp luật khuyến khích các chủ thể đi đăng kí Khác với pl Hoa Kì thì một số tòa án

ở HK sẽ không thụ lý vụ án mà không có đăng kí quyền tác giả, tuy nhiên ở

VN tòa án vẫn thụ lý các vụ án mặc dù có hay không để bảo hộ tốt nhất trong việc bảo hộ quyền tác giả

Trang 2

+ Tính nguyên gốc của tác phẩm được bảo hộ: Quyền tác giả phát sinh kể từ khitác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới 1 hình thức nhất định, khôngphân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bốhay chưa công bố, đã đăng kí hay chưa đăng kí (Điều 6 Luật SHTT 2022)

+ Bảo hộ hình thức sáng tạo: Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được

sáng tạo và được thể hiện dưới 1 hình thức nhất định, không phân biệt đối xử nộidung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố,

đã đăng kí hay chưa đăng kí (Điều 6 Luật SHTT 2022) Nghĩa là những ý tưởng

sẽ không được bảo hộ, trừ khi những ý tưởng này được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định, ví dụ như vẽ ra, thể hiện dưới 1 bức tranh, …

+ Các điều kiện khác: Công nhận và bảo hộ quyền SHTT của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền SHTT với lợi ích công cộng, không bảo hộ các đối tượng SHTT trái với đạo đức XH, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh (Khoản 1 điều 8 Luật SHTT 2022)

- Tác giả là người trực tiếp sáng tạo toàn bộ hoặc 1 phần tác phẩm, tác phẩm được bảo hộ phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Phải có nội dung

+ Phải có tính sáng tạo, tính nguyên gốc (quan trọng nhất)

Trang 3

- Một số ví dụ về việc vi phạm bản quyền.

Trong thực tế, bản quyền có sự thể hiện khá phong phú nên các dạng vi phạmbản quyền cũng khá đa dạng

Một số ví dụ:

- Một bài báo sao chép lại bài báo khác

- Nhà xuất bản in, tái bản sách mà chưa có sự đồng ý của tác giả

- Ca sĩ biểu diễn, ghi âm, thu hình bài hát mà không có sự thỏa thuận của nhạc

sĩ sáng tác

- Bộ phim bị thu trộm và nhân bản trên băng video hoặc đĩa VCD để bán

- Chương trình máy tính bị bẻ khóa

Bản chất của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là gì ?

Từ góc độ vật chất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm đảm bảo cho ngườisáng tạo có thể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bùđắp lại công lao sáng tạo

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn với thời hạn bảo hộ Ví dụ tác phẩmđiện ảnh được bảo hộ 50 năm, thiết kế bố trí mạch tích hợp có thời hạn bảo hộ

là 10 năm

Hết thời hạn này, các sáng tạo trở thành tài sản chung của nhân loại và tất

cả mọi người có thể khai thác, sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả thù lao cho người sáng tạo.

Trang 4

Thời hạn bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS là bao nhiêu lâu?

Hiệp định TRIPS chỉ quy định thời hạn bảo hộ tối thiểu, nghĩa là các nước có thểđặt ra thời hạn bảo hộ bằng hoặc dài hơn thời hạn nêu trong Hiệp định TRIPS.Thời hạn bảo hộ tối thiểu theo Hiệp định TRIPS là :

- Bằng sáng chế: 20 năm

- Bản quyền (đối với các tác phẩm không phải là tranh, điện ảnh): 50 năm hoặcsuốt đời tác giả cộng thêm 50 năm

- Bản quyền điện ảnh: 50 năm

- Bản quyền tranh: 25 năm

- Thương hiệu: 7 năm

- Kiểu dáng công nghệ : 10 năm

- Sơ đồ bố trí mạch tích hợp: 10 năm

Tính tất yếu và ý nghĩa của việc bảo hộ quyền SHTT?

Trong một xã hội văn minh và công bằng, việc bảo vệ các sản phẩm SHTT là đòihỏi khách quan, không chỉ nhằm bảo vệ các quyền của chủ nhân sáng tạo hữu ích,

mà cao hơn nữa là cơ chế đảm bảo sự công bằng, thúc đẩy sức lao động sáng tạo

để xã hội phát triển Để đạt được điều đó, cơ chế bảo hộ quyền SHTT không chỉgiới hạn trong phạm vi từng quốc gia mà cần phải có sự hợp tác có tính chất quốc

tế Chính vì vậy, các nước công nghiệp phát triển đã đưa vấn đề SHTT vào khuônkhổ điều chỉnh của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Bảo hộ quyền SHTTtrong phạm vi quốc gia và ở tầm quốc tế là những biện pháp hữu hiệu để thúc đẩyhoạt động sáng tạo, động viên hoạt động nghiên cứu phát triển, góp phần xây dựng

và đảm bảo một nền thương mại bình đẳng theo nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh,góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc đẩy hoạt động chuyển giaocông nghệ hợp pháp

Trang 5

Về phương diện lý luận, nếu coi các đối tượng quyền SHTT là tài sản và bản thânquyền SHTT là quyền tài sản, thì việc bảo hộ nó là việc làm tất yếu nhằm bảo vệmột trong những quyền có tính chất tự nhiên, cơ bản nhất của con người Điều này

đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc gia và quốc tế quan trọng như:Hiến pháp Mỹ năm 1787, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, các điều ước quốc tếtrong lĩnh vực SHTT

Những nguyên tắc cơ bản của việc bảo hộ quyền SHTT trong các đạo luật nổi tiếnglâu đời đã đặt nền móng cơ sở lý luận cho việc ban hành và thực thi các đạo luật vềSHTT của các quốc gia trên toàn thế giới

Về phương diện kinh tế, ý nghĩa của việc bảo hộ quyền SHTT còn thể hiện qua vaitrò của các đối tượng quyền SHTT đối với nền kinh tế Là một bộ phận ngày càng

quan trọng của hàng hoá và dịch vụ, SHTT có vai trò rất lớn đối với thương mại

và đầu tư…Bảo hộ SHTT với tư cách là điều kiện để tham gia thương mại quốc tế

là nghĩa vụ quan trọng nhất trong số các nghĩa vụ đó Việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT không thoả đáng bị coi là thực tiễn thương mại không lành mạnh và

là rào cản đối với thị trường tự do và mở cửa, khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó không cần đầu tư cho nghiên cứu và triển khai, có thể bắt chước, sao chép và bán các sản phẩm với giá rẻ hơn nhiều và vì thế chiếm chỗ và loại các sản phẩm hợp pháp, chính hiệu ra khỏi thị trường đó Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra

rằng, hoạt động sáng tạo và sở hữu các sản phẩm trí tuệ ngày càng quan trọng, xuấtphát từ vai trò trung tâm của thông tin và kiến thức trong xã hội hậu công nghiệp.Theo Philip G Altbach, bản quyền (quyền tác giả) trở thành một trong nhữngphương tiện quan trọng nhất điều chỉnh dòng lưu chuyển quốc tế của các sản phẩmdựa trên trí tuệ và các ý tưởng, là sản phẩm trung tâm phục vụ ngành công nghiệptrí tuệ của thế kỷ XXI Ai nắm được bản quyền sẽ có lợi thế đáng kể trong nền kinh

tế toàn cầu dựa trên trí tuệ đang phát triển mạnh mẽ Song song với việc tăng lên

Trang 6

không ngừng về giá trị kinh tế, thương mại, các quyền SHTT cũng có nguy cơthường xuyên bị xâm phạm vì mục đích kinh tế, thương mại Trong lĩnh vực bảnquyền cũng vậy Vi phạm quyền SHTT đang trở nên phổ biến và thực sự khó kiểmsoát trong nhiều lĩnh vực Những tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số đang đưa ranhững thách thức mới đối với luật bản quyền quốc gia và quốc tế Khi một tácphẩm được chuyển thành dạng số, nó có thể được sao chép một cách nhanh chóng,

số lượng nhiều với chi phí rất thấp mà không hề giảm sút chất lượng Ngoài việcsao chép có chủ ý, công nghệ số còn tạo ra hiện tượng sao chép ngẫu nhiên ở khắpnơi thông qua công nghệ truyền dẫn tín hiệu tương tự hay việc truyền phát tácphẩm dưới dạng số qua các mạng Sự dễ dàng trong việc sao chép tác phẩm chothấy, một bản sao kỹ thuật số duy nhất của một tác phẩm có thể nhân lên hàng

ngàn lần trên khắp thế giới trong vòng một vài giờ đồng hồ Theo ý kiến của các chuyên gia pháp lý quốc tế, biện pháp duy nhất để phòng chống việc “cướp đoạt” sáng chế được cấp bằng, tác phẩm được hưởng quyền tác giả hoặc nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ là pháp luật và các chế tài đối với các vi phạm Trong nền

kinh tế toàn cầu ngày nay, đã và đang có những nỗ lực rất lớn trong việc bảo vệbản quyền, nhãn hiệu và các đối tượng SHTT khác Theo Bruce A Lehman , cơnbùng nổ cách mạng thông tin toả khắp địa cầu và đi kèm với nó là sự phát triểnnhanh chóng của thương mại điện tử và làn sóng của hội nhập kinh tế quốc tế đòihỏi chúng ta phải suy nghĩ và có kế hoạch tìm ra những phương thức mới bảo vệquyền SHTT nếu chúng ta không muốn gặp phải những vấn đề nghiêm trọng trongthế kỷ XXI Điều có ý nghĩa là, những vấn đề này chúng ta không thể nào giảiquyết được nếu không có sự hợp tác quốc tế

Trang 7

Tính chất, yêu cầu của việc bảo hộ quốc tế các quyền SHTT

Một là, bảo hộ quốc tế về quyền SHTT sẽ không ngừng được phát triển, thể hiện

trên hai hướng: mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chếquốc tế và không ngừng chi tiết hóa nội dung bảo hộ

Hai là, bảo hộ quốc tế các quyền SHTT ngày càng gắn chặt với quan hệ thương

mại song phương, khu vực và toàn cầu Việc gắn bảo hộ SHTT với thương mạiquốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn

về SHTT Tuy nhiên, cũng sẽ gây ra nhiều sức ép và khó khăn cho các nước cótrình độ khoa học công nghệ thấp đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vựchay toàn cầu

Ba là, sự phát triển của bảo hộ quốc tế các quyền SHTT hiện nay cũng như trong

thời gian tới cần coi việc thực thi các cam kết quốc tế về SHTT (đặc biệt là Hiệp

định TRIPS của WTO) là vấn đề trọng tâm Việc thực thi các cam kết trong Hiệp định TRIPS, thông qua việc sửa đổi, làm tương thích các quy định của pháp luật quốc gia không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệt đối với các nước kém phát triển

và đang phát triển

Bốn là, quá trình thực thi bảo hộ quốc tế các quyền SHTT là quá trình giải quyết

mâu thuẫn căn bản giữa thương mại công bằng với thương mại theo trình độ pháttriển Đối với các nước đang phát triển và kém phát triển, việc chấp nhận các camkết quốc tế về bảo hộ quốc tế quyền SHTT đặc biệt là TRIPS là một sự lựa chọnbắt buộc, khách quan Vấn đề đặt ra đối với các nước này là, phải tận dụng tối đanhững giảm nhẹ, khoảng trống hành động hay những ưu đãi mà các điều ước quốc

tế dành cho họ, nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa thương mại công

bằng và thương mại theo trình độ phát triển

Trang 8

Năm là, khi xem xét chiều hướng phát triển của việc bảo hộ quốc tế quyền SHTT,

không thể không nhắc đến mối quan hệ giữa TRIPS/WTO với WIPO và các điềuước có liên quan do WIPO quản lý

Bảo hộ và thực thi quyền SHTT trong khuôn khổ WTO/TRIPS

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (thông qua quy định của TRIPS), trong việctìm cách tăng cường bảo hộ tài sản trí tuệ, đã không ngừng yêu cầu các quốc giathành viên xây dựng khung pháp luật và chế độ thực thi các cam kết về bảo hộquyền SHTT trong quá trình thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực thương mại.Hiệp định TRIPS dành riêng phần III quy định về thực thi quyền SHTT, trong đóquy định các nghĩa vụ chung của các thành viên, các thủ tục và biện pháp dân sự,hành chính và hình sự, các biện pháp tạm thời và các yêu cầu đặc biệt liên quanđến các biện pháp kiểm soát biên giới Hiệp định TRIPS, với hai nguyên tắc đặcbiệt quan trọng là đãi ngộ quốc gia và đối xử tối huệ quốc, đã tạo những tác độnglớn đến trật tự thương mại quốc tế đa phương, đồng thời góp phần làm thay đổiquan trọng cơ chế bảo hộ quốc tế về quyền SHTT Những nội dung cơ bản thể hiệnphạm vi điều chỉnh của TRIPS cũng như những điểm mới, tiến bộ của TRIPS vàWTO so với các điều ước quốc tế, đó là:

Thứ nhất, về nguyên tắc, WTO (TRIPS) đưa ra những giới hạn tối thiểu trong lĩnh

vực bảo hộ SHTT Các quốc gia có thể có cơ chế bảo hộ rộng hơn các quy định củaTRIPS theo hướng có lợi cho các chủ thể của quyền, nhưng không thể hẹp hơn

Thứ hai, TRIPS tham gia bảo hộ hầu hết các đối tượng của SHTT Liên quan đến

quyền tác giả và các quyền có liên quan, bên cạnh việc chấp nhận các quy định củaCông ước Berne, TRIPS có thêm những điểm khác, tiến bộ Trong lĩnh vực SHCN,TRIPS cũng có những điểm hoàn thiện hơn nhiều so với Công ước Paris 1967

Trang 9

Thứ ba, các quy định của TRIPS về các biện pháp đảm bảo thực thi quyền SHTT

khác hẳn với các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHTT đã tồn tại từ trước

đó Các biện pháp đảm bảo thực thi mà TRIPS đưa ra bao gồm cả các biện pháp

có tính chất hành chính, dân sự, hình sự và cả các biện pháp thực thi tại biên giới Thứ tư, TRIPS áp dụng cơ chế giải quyết chấp thương mại đa phương nói chung

của WTO, tạo ra sự ràng buộc chung trong việc tôn trọng tất cả các hiệp địnhthương mại đa phương của WTO Như vậy, theo cơ chế mà WTO đưa ra trong lĩnhvực SHTT, người có quyền cần được tạo điều kiện để dựa vào pháp luật nhằm cóđược các quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản SHTT và sự bảo đảm là khiquyền và lợi ích đó bị xâm phạm thì sẽ có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn và xử lýthích đáng sự xâm phạm đó Có thể nói rằng, thực thi pháp luật về bảo hộ quyềnSHTT là vấn đề phức tạp không kém việc xây dựng pháp luật, thậm chí còn phứctạp hơn nhiều, nếu cơ chế thực thi kém hiệu quả và không đồng bộ, hoặc khôngđược chú trọng thoả đáng

Bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam

Trong các thiết chế kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ tham gia, đặc biệt làASEAN và WTO, SHTT luôn có vai trò đặc biệt quan trọng và giữ vị trí trungtâm Việc bảo hộ quyền SHTT là một chiến lược đúng đắn nhằm bảo đảm pháttriển bền vững, nhất là đối với Việt Nam một nước đang ở trình độ phát triển thấp.Tuy nhiên, các quy tắc và chuẩn mực pháp lý trong các cam kết quốc tế đa phương

và song phương về SHTT cũng định ra những quy trình, nội dung, thể thức thựchiện việc bảo hộ quyền SHTT hết sức nghiêm ngặt trên cơ sở các nguyên tắc cơbản của thương mại quốc tế hiện đại Sau gần 20 năm xây dựng, củng cố và điềuchỉnh, đến nay, Nhà nước ta đã thiết lập được một hệ thống bảo hộ quyền SHTTkhá đầy đủ Xét ở phương diện lập pháp, hệ thống bảo hộ quyền SHTT của ViệtNam không khác biệt nhiều lắm so với các hệ thống hiện có tại nhiều nước, kể cả

Trang 10

các nước phát triển Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả, hệ thống bảo hộ quyền SHTT của chúng ta đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi lớn Việc đổi mới tổ

chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam phải được giải quyếttrên cơ sở phân tích và đánh giá một cách khách quan, có cơ sở khoa học và thựctiễn hệ thống bảo hộ SHTT hiện có, từ đó rút ra những kết luận về các ưu điểm,nhược điểm của hệ thống đó Cộng đồng quốc tế ngày càng quan tâm đến sự bảo

hộ quyền SHTT tại Việt Nam, đặc biệt là sự tuân thủ các quyền đó Các nướcthành viên của WTO sẽ nhân cơ hội các cuộc thương lượng thương mại songphương khác yêu cầu Việt Nam cải cách hệ thống SHTT, đồng thời giám sát việc

thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam Bối cảnh trong nước và quốc tế đã và đang đặt ra cho Việt Nam những cơ hội và thách thức mới trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế về bảo hộ quyền SHTT Việc bảo hộ quyền SHTT có

hiệu quả sẽ là nhân tố quan trọng, góp phần

i) tăng cường công nghệ trong sản xuất sản phẩm của các ngành nghềtrong nước;

ii) thúc đẩy đầu tư nước ngoài;

iii) hạn chế và dần dần loại bỏ tình trạng xâm phạm nghiêm trọng lợi íchcủa các chủ sở hữu trí tuệ, người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu;loại bỏ việc bóp méo cạnh tranh và thương mại công bằng trong giao dịchthương mại quốc tế;

iv) khẳng định tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với cáchoạt động thương mại và đầu tư được thực tiễn thương mại quốc tế thừanhận khi quyền sở hữu trí tuệ không được bảo hộ và thực thi thỏa đáng vàhiệu quả;

v) ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đề ra các biệnpháp an toàn đối với việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ

Trang 11

Những văn bản pháp luật trong nước về bảo hộ và thực thi quyền SHTT về cơbản được đánh giá là phù hợp với những quy định chung của cộng đồng quốc

tế, song vẫn còn có nhiều bất cập, đặc biệt là tính hệ thống, đồng bộ và thốngnhất trong việc tạo lập một cơ chế thực thi và bảo hộ có hiệu quả quyền

SHTT Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hộ và thực thi quyền SHTT nói riêng là một yêu cầu hết sức cấp thiết, không thể trì hoãn Lý luận và thực

tiễn đã chứng minh rằng, về lợi ích trước mắt, Việt Nam cũng như các nướcđang và kém phát triển có thể gặp khó khăn trong điều chỉnh chính sách, phápluật và sẽ phải trả giá cao hơn cho các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ,nhưng về lợi ích lâu dài, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo các chuẩn mựccủa thương mại quốc tế hiện đại sẽ có tác động tích cực đến việc thúc đẩy pháttriển công nghệ, văn hóa, tăng cường thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tưcũng như góp phần vào việc bảo vệ và gìn giữ các bản sắc văn hóa và giá trịtruyền thống của dân tộc, phục vụ hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, xây dựng nền kinh tế tri thức, xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa./

Các nguyên tắc và ý nghĩa của công ước Berne?

Thứ nhất, nguyên tắc Công ước Berne:

Một, tiêu chí về tư cách sẽ được bảo hộ theo nguyên tắc của Công ước Berne sẽbao gồm: Quốc tịch của tác giả, nơi công bố tác phẩm; Nơi thường trú của tácgiả; Tác phẩm đã công bố và Tác phẩm công bố đồng thời Cụ thể như sau:

Nội dung bảo hộ:

– Tác phẩm của các tác giả là công dân của một trong những nước là thành viêncủa Liên hiệp dù những các tác phẩm của họ đã công bố hay chưa;

Trang 12

– Tác phẩm của các tác giả không phải là công dân của một trong những nước

là thành viên của Liên hiệp mà công bố lần đầu tiên ở một trong những nướcthành viên của Liên hiệp, hay đồng thời công bố ở một nước trong và một nướcngoài Liên hiệp

Lưu ý:

– Các tác giả không phải là công dân của một nước thành viên Liên hiệp nhưng

có nơi cư trú thường xuyên ở một trong những nước trên, theo mục đích củaCông ước, cũng được coi như là tác giả công dân của nước thành viên đó Vídụ: A là công dân của Việt Nam nhưng thường xuyên lưu trú tại Mỹ thì lúc nàycũng sẽ được Mỹ coi là công dân và bảo hộ theo Công ước Berne

– “Tác phẩm đã công bố” là những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ýcủa tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là các bản

đó đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng, tuỳ theo bản chất của tác phẩm.Không được coi là công bố: trình diễn một tác phẩm sân khấu, nhạc kịch hayhoà tấu, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng một tác phẩm vănhọc, phát thanh hay truyền hình một tác phẩm văn học hay nghệ thuật, triển lãmmột tác phẩm nghệ thuật hay xây dựng một tác phẩm kiến trúc

– Được xem là công bố đồng thời ở nhiều nước: những tác phẩm được công bố

ở hai hay nhiều nước trong thời gian 30 ngày kể từ lần công bố đầu tiên

Hai, tiêu chuẩn để được bảo hộ đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm kiến trúc

và một số tác phẩm nghệ thuật sẽ được Công ước bảo hộ mặc dù không đáp ứngđược những tiêu chí bảo hộ, cụ thể được quy định như sau:

Ngày đăng: 06/11/2023, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w