Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn lớp 7 tôi nhận thấy nhiều học sinh học rất yếu hoặc chưa hứng thú với việc họcphân môn tập làm văn mặc dù học sinh đã có một vốn tiếng Vi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Hiện nay học sinh có xu hướng xem nhẹ học những môn xã hội nói chung,môn Ngữ văn nói riêng Cũng chính vì thế mà chất lượng học văn có chiềuhướng giảm xuống, học sinh không say mê mà say mê vào những môn mang
xu hướng thời cuộc như: tiếng anh, điện tử, tin học…có vẻ như không hứngthú với vần thơ lục bát truyền thống, những câu ca dao dễ thuộc dễ đi sâu vàolòng người Thế nhưng, trên thực tế phần lớn học sinh không thích học phânmôn này, thậm chí có em còn sợ mỗi khi đến giờ học văn Từ thực tế đó đòihỏi người giáo viên phải tự nghiên cứu, tìm tòi cho mình một phương phápdạy học tốt nhất nhằm giúp học sinh tiếp thu bài nhanh nhất Muốn thế thìphương pháp dạy học phải không ngừng đổi mới, nâng cao; phải mang tínhtích cực, chủ động cao nhằm tập trung vào việc khơi dậy sự tự rèn luyện, pháttriển khả năng tư duy, suy nghĩ và vận dụng một cách chủ động, phát huy tínhtích cực của học sinh Điều này không phải dễ nhất là đang trong thời kì hiệnnay, nền kinh tế thị trường đang chi phối đến đời sống của giáo viên Đòi hỏingười giáo viên phải có tâm huyết với nghề
Môn ngữ văn là môn học có vai trò cực kì quan trọng trong hệ thống giáodục và đào tạo nước ta Bởi vì dạy văn là dạy cách ứng xử, cách làm người; làcông cụ đắc lực trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ MônNgữ văn ở trường THCS được chia làm 3 phân môn: Văn - Tiếng Việt - Tậplàm văn
Trong đó phần tập làm văn là một phương diện giao tiếp quan trọng trong
xã hội, rèn luyện cách viết chữ, làm văn, lời hay ý đẹp qua mỗi bài văn Nó đãgóp phần thể hiện rất rõ sức mạnh và sự tinh tế, uyển chuyển trong mỗi cách
Trang 2làm bài Mặt khác làm văn còn gắn bó chặt chẽ với hoạt động nhận thức và tưduy con người Việt Nam, mang rõ dấu ấn của tình cảm, suy nghĩ, và cáchsống của người Việt Nó trở thành một phần máu thịt trong con người ViệtNam Trong quá trình đó bản thân tôi đã đúc kết được cho bản thân cho nên
tôi chọn đề tài : “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực viết văn biểu cảm của học sinh khối 7 Trường trung học cơ sở Tân Thành”
Đây không hẳn là kinh nghiệm của riêng bản thân tôi mà chắc hẳn đã cónhiều đồng nghiệp, các giáo viên đã có rất nhiều năm kinh nghiệm cũng đãđúc kết được từ thực tế công tác Nhưng ở đây là kinh nghiệm mà tôi đã rút rađược khi dạy học sinh lớp 7 ở Trường trung học cơ sở Tân Thành Mỗi trường
sẽ có một đặc điểm học sinh khác nhau, chính vì thế đây cũng là nét khác biệttrong đề tài của tôi
2 Lịch sử nghiên cứu.
Trong chương trình ngữ văn lớp 7, đặc biệt với chương trình đổi mới sáchgiáo khoa hiện nay, phương pháp dạy học mới phải có sự tích hợp giữa cácphân môn của bộ môn Ngữ văn, phân môn Tiếng Việt sẽ giúp cho học sinhhọc tốt hơn các phân môn khác Học tốt làm văn, học sinh sẽ nắm được kiếnthức cơ bản về bố cục của bài văn, cách phân tích cảm thụ một bài văn, mộttình huống trong văn nghị luận Từ đó học sinh sẽ dễ dàng phân tích và cảmthụ các văn bản, có kĩ năng viết câu khi làm bài tập làm văn cũng như vậndụng vào việc giao tiếp Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn lớp
7 tôi nhận thấy nhiều học sinh học rất yếu hoặc chưa hứng thú với việc họcphân môn tập làm văn mặc dù học sinh đã có một vốn tiếng Việt trước khi đếntrường và đã được học qua bậc Tiểu học Việc nắm và vận dụng, cảm nhận tậplàm văn của học sinh chưa chuẩn xác, sai chính tả, đặt câu và viết đoạn vănyếu Qua 4 năm công tác, từ thực tế trên đã thôi thúc bản thân tôi không ngừng
Trang 3suy nghĩ, cố gắng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu các phương pháp mới để dạy tốtmôn Ngữ văn, đặc biệt là phân môn Ngữ văn lớp 7 để góp phần cùng nhàtrường từng bước nâng cao chất lượng dạy - học phần tập làm văn nói riêng vàmôn Ngữ văn lớp 7 nói chung, việc học Ngữ văn hiện nay học sinh gặp khókhăn ở phân môn Tập làm văn Các em vẫn rất lúng túng trước một đề Tậplàm văn từ khâu lập dàn ý đến khâu sáng tạo một bài văn Nguyên nhân có từnhiều phía Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chính là khâu rèn luyện
kĩ năng thực hành Tiếng Việt của các em chưa được chú ý đúng mức, ngay từnhững năm học Tiểu học Các em còn rất thụ động trước cách giải quyết cácyêu cầu nêu ra ở đề bài, thụ động tiếp thu bài mẫu Mặt khác, trong cuộc sống,các em chưa có ý thức tích luỹ tri thức, làm giàu vốn liếng phục vụ cho việcviết thành công một bài văn Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh chưa nhận thứcđược yêu cầu của đề, chưa tự tin trong cách suy nghĩ và rất hạn chế trong việcviết văn Chính vì thế, việc rèn luyện, hướng dẫn các em viết tập làm văn theokiểu bài nhất định là rất cần thiết
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Phạm vi nghiên cứu
- Sáng kiến được thực hiện ở các tiết dạy Ngữ văn lớp 7 chính khoá theo
phân phối chương trình tại Trường THCS Tân Thành năm học 2018-2019 vàcác năm học tiếp theo
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Sáng kiến áp dụng đối với học sinh khối 7 Trường THCS Tân Thành trongnăm học 2018-2019 và các năm học tiếp theo
4 Mục đích nghiên cứu.
Trang 4- Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có giải pháp nâng cao năng lực viết vănbiểu cảm của học sinh khối 7 Bản thân tôi mong muốn đóng góp một số kinhnghiệm để tìm ra giải pháp thiết thực, khả thi nhất.
- Mục đích của đề tài giúp học sinh không những hiểu đúng và còn làm tốthơn về văn biểu cảm từ giúp các em yêu thích phân môn Tập làm văn hơn
Trang 5Chính vì vậy, cần đặt ra điều kiện học tập trên cơ sở đọc - nhận thức và tổchức tập viết các thể loại văn bản văn học Một người học viết trong nhàtrường, tuổi còn non trẻ, cần đọc nhiều, chính là một cách biến đổi tri thức vănhóa trong quá trình rèn luyện cách viết của riêng cá nhân.
Trang 61.2.2 Khó khăn
- Khó khăn của nhà trường là vị trí trường nằm ở vùng sâu, nơi kinh tếngười dân còn gặp nhiều khó khăn Phần lớn người dân sống chủ yếu bằngnghề nông, không có nhiều thời gian để quan tâm các em
- Do các em là học sinh thuộc vùng sâu của huyện nên các em còn nhútnhát, chưa có chủ động sáng tạo của bản thân
- Trường chưa có phòng học chức năng, chưa có tư liệu, tài liệu về các mônhọc nhiều, chưa có nơi tra cứu tài liệu, chưa có nhiều đầu sách hay để cho giáoviên và học sinh tham khảo nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy và học
1.3 Đội ngũ giáo viên Ngữ văn
Đảng và Nhà Nước ta luôn xác định đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàngđầu, đây là biện pháp để theo kịp các nước phát triển trong khu vực và trên thếgiới Lúc nào cũng vậy người giáo viên với vai trò là cầu nối là nhân tố giữ vịtrí trung tâm giúp học sinh tiếp cận với nền tri thức tiên tiến
Thực tế của môn Ngữ văn nói chung, dạy phân môn học Ngữ văn nói riêngthì còn có nhiều người xung quanh nghĩ chưa đúng Họ nghĩ rằng giáo viênchỉ cần biết qua sách, giáo án và biết dạy theo sách là đủ, chỉ cần dạy cho họcsinh biết đọc và viết đúng chính tả là được Nếu đứng bên ngoài thì số ít cósuy nghĩ như vậy, còn thực tế thì khác Trong một tiết dạy Ngữ văn nếu giáoviên chỉ đơn thuần dạy đúng bài theo sách giáo khoa cho học sinh thì giờ họcvăn đấy chỉ dừng lại ở mức độ dạy bình thường Ở đây ta phải thấy điều quantrọng là thông qua các bài học Ngữ văn như Tiếng Việt, Văn bản, Tập làm vănmỗi phân môn đó tạo cho các em sự khơi dậy và hưng phấn, sự hứng thú sángtạo và say mê theo từng phân môn, sự chú ý thích thú với nội dung đã học vềTiếng Việt biết được tiếng ta giàu và đẹp qua các bài về câu, từ, ngữ….Về vănbản giúp các em hiểu hơn về truyện cổ tích thời xa xưa, truyền thuyết về ông
Trang 7cha ta đánh giặc về sự kì ảo, về các bài học giáo dục Ngoài ra còn một phânmôn không thể thiếu đó là tập làm văn giúp các em biết làm thế nào là một bàivăn qua các dàn bài để miêu tả hay biểu cảm một đối tượng, nhân vật kể cảnhững người thân xung quanh ta Để làm được việc này đòi hỏi mỗi giáo viênphải có trình độ Ngữ văn nhất định và có hiểu biết về xã hội một cách sâu sắc.Giáo viên phải thường xuyên học tập chuyên môn nghiệp vụ, học tập lý luậnchính trị, tìm tòi các phương pháp hay nhất để áp dụng vào bài giảng có hiệuquả cao nhất.
Người giáo viên phải tăng cường nhiệm vụ tự học tập mọi lúc, mọi nơi, mọicách để mở rộng và cập nhật kiến thức để xử lý linh hoạt mọi tình huống xảy
ra trong giảng dạy Trên thực tế người giáo viên không chịu học hỏi, tư duysáng tạo thì việc giảng dạy gặp nhiều khó khăn hạn chế về chuyên môn, vínhư: sử dụng nhạc cụ không thành thạo, giọng hát chưa tự nhiên, chưa tìmhiểu tác giả của bài hát trước… Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình giảng dạy chính vì vậy mà việc học tập càng có ý nghĩa với giáo viên.Một vấn đề quan trọng nữa yêu cầu mỗi giáo viên phải luôn bám sát vàonhững mục tiêu quan điểm, nhiệm vụ và hướng chỉ đạo của cấp trên Vì thực
tế trong chương trình của học sinh lớp 7 nói riêng và các khối lớp nói chung,hàng năm vẫn có sự thay đổi, nhằm cải tiến từng bước cho phù hợp với thực
tế Do vậy các giáo viên chuyên trách phải chủ động nắm bắt kịp thời nhữngchủ trương, nội dung chỉ đạo, hay chỉnh lý, thay sách của bộ giáo dục và đàotạo Khi nắm vững các hướng dẫn cụ thể của cấp trên người giáo viên chủđộng xây dựng kế hoạch chương trình làm việc đúng đắn có nội dung chấtlượng thiết thực bổ ích để thực hiện
Hành trang của người giáo viên là kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, chuyênmôn âm nhạc cùng với tấm lòng yêu ngành, yêu học sinh, yêu mái trường, yêu
Trang 8quê hương…Người giáo viên luôn luôn học tập về cách sử dụng ngôn ngữtrong trình bày diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ giản dị, chính xác và đúng chuẩnmực tiếng việt, để bài giảng đi vào lòng học sinh một cách nhẹ nhàng, tìnhcảm mà chất lượng hiệu quả cao.
Nhưng thực tế qua khảo sát tôi thấy: Phần nhiều các bài soạn của giáo viêngiống với các sách hướng dẫn, đôi khi giáo viên còn soạn một lúc nhiều bài,thậm chí sử dụng giáo án của những năm trước để giảng dạy cho năm sau…Đây là những thiếu sót chủ yếu ở một số ít giáo viên Việc này cần đượcnghiêm túc sửa chữa để trong việc soạn giáo án của giáo viên phải có sự sángtạo, tập trung nghiên cứu đồng bộ tới giai điệu, tiết tấu, hoà âm cho đến lời ca.Làm cho học sinh có cảm hứng, say sưa, tập trung chú ý vào mỗi bài giáo viênxây dựng mà không hề có một tí rụt rè, lúng túng
1.4 Khả năng tiếp thu học văn của học sinh
Môn văn là một môn luôn theo các em từ đầu cấp tới cuối cấp thậm chí làmôn thi tuyển sinh hay đại học Nhưng nói chung học sinh của trường đặc biệt
là học sinh lớp 7 còn bở ngỡ khi tiếp cận với tự mình làm một bài văn thì rấtkhó nhất là văn biểu cảm vì nào giờ các em chỉ biết làm một bài văn miêu tảnên tiếp cận các em còn chưa quen
Song hạn chế lớn nhất của các em là thói quen thụ động trong quá trình họctập giờ học môn Ngữ văn cụ thể là phân môn học Tập làm văn, các em chưachủ động tìm hiểu bài, mà chỉ trông chờ giáo viên lên lớp dạy làm và làmtheo Đối với tập làm văn đòi hỏi các em phải tự nghiên cứu tự xây dựng dànbài trước thì các em ít làm và tỏ ra lúng túng, năng lực cảm thụ văn của các
em học sinh còn rất hạn chế, thực tế cho thấy vì quá lệ thuộc vào các bài cácbài văn mẫu trong sách giáo khoa, đây cũng là hạn chế vốn hiểu biết về phân
Trang 9môn học Ngữ văn nói chung phân môn Tiếng Việt nói riêng trong chươngtrình
Do đề tài nghiên cứu của tôi chỉ đề cặp đến phân môn học Ngữ văn nói
chung tập làm văn ở khối 7 nên không thể lấy số liệu từ kết quả học tập của cả
môn Ngữ văn nói chung được Ở đây tôi chỉ dùng phương pháp điều tra thống
kê số học sinh ham muốn, hứng thú và thích học phân môn học tập làm văn
Kết quả điều tra:
Năm học Khối /
Lớp
Sỉ số
Trang 102 Giải pháp.
2.1 Một số kiến thức chung cần nắm về phân môn tập làm văn.
Tập làm văn là một phân môn quan trọng trong bộ môn Ngữ văn ở các bậchọc phổ thông Mục tiêu cụ thể của môn học ở phần kiến thức là: “Nắm đượcnhững tri thức và các kiểu văn bản thường dùng, có thể lĩnh hội và tạo lập cáckiểu văn bản đó” Phần kĩ năng trong mục tiêu môn học cũng được quy địnhvới các kĩ năng: Nghe –nói, đọc –viết Trong đó thao tác viết (tạo lập các kiểuvăn bản) không phải là khâu đơn giản
Tạo lập văn bản là kĩ năng nổi bật trong hệ thống chương trình tập làm văn
Kĩ năng sẽ là công cụ, là chìa khoá để các em có thể tự tin mở khoá cho các đềbài cụ thể Ở HKI, các em học sinh lớp 7 được học tập lý thuyết và rèn luyện
kĩ năng viết một bài văn biểu cảm Mặc dù đấy là kiểu bài các em đã đượcthực hành ở các bậc tiểu học nhưng cũng chỉ số ít học sinh giỏi là có thể viếttốt dạng bài này, còn lại đa số các em rất ngần ngại khi viết bài tập làm vănhoặc chỉ viết có lệ, viết cho có để nộp cho thầy (cô) giáo khi có yêu cầu
Chúng ta điều biết có 6 phương thức biểu đạt chính ứng với 6 kiểu văn bảnthường gặp Một trong 6 kiểu văn bản đó là biểu cảm
+ Tính chất của văn biểu cảm là bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm để khơidậy mối đồng cảm nơi người đọc ( văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình)
Ví dụ: Thương thay con cuốc giữa trời
Dầu kêu ra máu có người nào nghe
Con cuốc giữa trời gọi hình ảnh một sinh vật nhỏ nhoi cô độc giữa khônggian rộng lớn vô tận Kêu ra máu là tiếng đau thương khắc khoải tuyệt vọng
về những điều oan trái của những thân phận nhỏ bé, bế tắc trong xã hội cũ
Trang 11+ Hình thức của văn biểu cảm có thể là tùy bút, thơ trữ tình, ca dao trữtình và sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả, bày tỏ cảm xúc trực tiếp, giántiếp.
+ Tình cảm trong văn biểu cảm thường phải là tình cảm đẹp, tích cực, mangtính nhân văn
Ví dụ: Tình yêu Tổ quốc, nhân dân, dân tộc, lòng bác ái
- Đặc điểm của văn biểu cảm:
+ Bài văn biểu cảm thường có 3 phần như những bài văn khác Cách biểuđạt tình cảm thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau: trực tiếp, dùng hìnhtượng ẩn dụ, tượng trưng Tình cảm trong bài văn phải chân thật, tự đáy lòngmình thì sức thuyết phục mới cao
- Dàn bài bài văn biểu cảm thường có ba phần:
+ Mở bài: Giới thiệu chung về nhân vật và sự việc cần biểu cảm
+ Thân bài: Bày tỏ cảm xúc thông qua miêu tả, tự sự Có thể bộc lộ trực tiếphay gián tiếp
+ Bước 4: Viết bài văn biểu cảm hoàn chỉnh
+ Bước 5: Đọc và sửa chữa bài
Nhìn chung lí thuyết của văn biểu cảm rất dễ hiểu, dễ nắm, nhưng việc vậndụng thực hành là vấn đề khó đối với học sinh Đây là vấn đề mà người giáo
Trang 12viên hết sức quan tâm để giúp người học tìm được sự hứng thú trong quá trìnhthực nghiệm…
2.2 Các giải pháp để tiến hành giải quyết vấn đề
2.2.1 Hướng dẫn học sinh nắm chắc lí thuyết của kiểu bài biểu cảm.
Ở các tiết học chính khoá ở lớp, ngay từ những giờ Tập làm văn đầu tiên tôicần cho học sinh nắm chắc các kiến thức về :
- Khái niệm về văn biểu cảm
- Đặc điểm của văn biểu cảm
- Cách làm bài văn biểu cảm Đây là bước quan trọng giúp các em làm bài.Trong quá trình giúp học sinh nắm lí thuyết, tôi cần cho học sinh phân tích,tìm hiểu ví dụ ngay ở những văn bản biểu cảm đã học nhằm giúp các em khắcsâu kiểu bài, từng bước tiếp cận một đề biểu cảm cụ thể
- Nhắc nhở các em chăm đọc sách nhằm trau dồi vốn tri thức của mình
Ví dụ: Giúp học sinh tìm hiểu một đề biểu cảm về một bài ca dao, một bàivăn biểu cảm về tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bạn bè cho học sinhnắm chủ đề, nhân vật, sự việc…
2.2.2 Vận dụng thực hành
Để làm tốt một bài văn biểu cảm, học sinh phải huy động toàn bộ kiến thức
đã học và vận dụng những kĩ năng làm bài Những kĩ năng đó gắn liền với cácthao tác cơ bản sau đây, tôi phải từng bước tiến hành thật kĩ :
*Bước 1: Tìm hiểu đề bài.
Việc tìm hiểu, phân tích đề bài là việc làm trước tiên và rất quan trọng, quátrình làm bài Việc làm này có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của bài làm
Để tìm hiểu đề bài tôi hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề, cần lưu ý từng từ, từngcâu, từng dấu câu Nếu đọc đề qua loa, học sinh sẽ không xác định đúng yêu