1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

90 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Xuân Nữ
Người hướng dẫn PGS. Ts. Nguyễn Trung Vân, Gs.Ts. Bùi Xuân Lưu
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại luận án tiến sỹ kinh tế
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay phần lớn các nước đều sử dụng chính sách thương mại của mình để tác động vào thị trường, một mặt khuyến khích xuất khẩu, hướng tới thị trường nước ngoài nhưng mặt khác lại hạn c

Trang 1

Trường Đại Học Ngoại Thương

Tiếp tục hoμn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Mã số : 62.31.07.01

Luận án tiến sỹ kinh tế

Hμ nội - 2008

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

Trường Đại Học Ngoại Thương

Nguyễn xuân nữ

Tiếp tục hoμn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 3

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu vµ trÝch dÉn nªu trong LuËn ¸n hoµn toµn trung thùc C¸c kÕt qu¶ nghiªn cøu cña LuËn

¸n ch−a tõng ®−îc ng−êi kh¸c c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo

Hµ Néi, ngµy 25 th¸ng 2 n¨m 2008

T¸c gi¶ LuËn ¸n

Trang 4

ASEM Asia - Europe Meeting Diễn đàn hợp tác á - âu

BTA Vietnam – US Bilateral Trade

Agreement

Hiệp định thương mại Việt Nam

- Hoa Kỳ CEPT Common Effective Preferential

Tariff

Chương trình miễn giảm thuế quan có hiệu lực chung

Trang 5

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GATT General Agreement on Trade and

Tariff

Hiệp định chung về thuế quan

và thương mại GATS General Agreement on Trade in

IMF International Moneytary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

MFN Most Favored Nation Chế độ ưu đãi tối huệ quốc

NT National Treament Chế độ đãi ngộ quốc gia

SCM Agreement on Subsidy and

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật

đối với thương mại TRIMs Agreement on Trade-Related

Investment Measures

Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại TRIPs Agreement on Trade-Related

Intellectual Properties Rights

Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

UNCITRAL UN Commission on International

Trade Law

Uỷ ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại

WTO Wotld Trade Orgnization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

Lời mở đầu 1

Chương 1: Cơ sở khoa Học về việc tiếp tục hoμn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam

6 1.1 Cơ sở lý luận của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế 6

1.1.1 Những lý luận chung 6

1.1.2 Một số lý thuyết về TMQT 16

1.1.3 Những nguyên tắc cơ bản trong luật thương mại quốc tế 25

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phải tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại của Việt Nam 29

1.2.1 Thực tế kinh tế của Việt Nam đ∙ có nhiều thay đổi 29

1.2.2 Yêu cầu của hội nhập kinh tế 33

1.2.3 Nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp cúa hàng hoá trong bối cảnh hội nhập

35 1.2.4 Thực hiện các cam kết quốc tế 36

1.2.4.1 Các cam kết trong khu vực ASEAN 36

1.2.4.2 Các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam -

Hoa Kỳ 37

1.2.4.3 Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam 39

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế theo yêu cầu hội nhập 42

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 42

1.3.1.1 Mục tiêu của chính sách TMQT của Nhật Bản 42

1.3.1.2 Những điều chỉnh chính sách TMQT của Nhật Bản 43

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 48

1.3.2.1.Mục tiêu chính sách TMQT của Trung Quốc trong thời kỳ đổi mới 49

Trang 7

1.3.3.1 Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, tự do hoá

thương mại 58

1.3.3.2 Kết hợp hài hoà giữa chính sách sản xuất thay thế nhập khẩu và sản xuất hướng về xuất khẩu 58

1.3.3.3 Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sản xuất hàng xuất khẩu 59 1.3.3.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 60

Chương 2: Thực trạng hoμn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong những năm qua 61

2.1 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT về hàng hoá 61

2.1.1 Thực trạng XNK hàng hoá của Việt Nam những năm qua 61

2.1.1.1 Thực trạng xuất khẩu 61

2.1.1.2 Thực trạng nhập khẩu 63

2.1.2 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT về hàng hoá 64

2.1.2.1 Chính sách mặt hàng 64

2.1.2.2 Chính sách thị trường 66

2.1.2.3 Chính sách thương nhân 68

2.1.2.4 Chính sách thuế quan 71

2.1.2.5 Hàng rào phi thuế quan 73

2.1.2.6 Chính sách hỗ trợ sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu 77

2.1.3 Đánh giá thực trạng và tác động của việc hoàn thiện chính sách TMQT về hàng hoá 82

2.1.3.1 Những thành tựu 82

2.1.3.2 Những hạn chế 84

2.2 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT về dịch vụ 86

2.2.1 Thực trạng hoạt động XNK dịch vụ ở Việt Nam trong những năm qua 86

2.2.1.1 Tổng quan về hoạt động dịch vụ ở Việt Nam 86

2.2.1.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ 87

2.2.2 Thực trạng hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế về dịch vụ 89

Trang 8

2.2.3 Đánh giá thực trạng và tác động của việc hoàn thiện chính sách

thương mại dịch vụ 100

2.2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 100

2.2.3.2 Những hạn chế trong chính sách thương mại dịch vụ 100

2.3 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT liên quan đến đầu tư nước ngoài 103

2.3.1 Thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong những năm qua 103

2.3.2 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT liên quan đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 104

2.3.2.1 Chính sách tiếp cận thị trường 105

2.3.2.2 Chính sách xúc tiến đầu tư liên quan đến thương mại 107

2.3.2.3 Các chính sách ưu đãi thuế đối với đầu tư nước ngoài 109

2.3.2.4 Các chính sách đảm bảo đầu tư 111

2.3.3 Đánh giá thực trạng và tác động của việc hoàn thiện chính sách TMQT liên quan đến đầu tư nước ngoài 113

2.3.3.1 Những thành tựu nổi bật 114

2.3.3.2 Những hạn chế chủ yếu 115

2.4 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 118

2.4.1 Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam 118 2.4.1.1 Thực trạng quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam 118

2.4.1.2 Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam 120

2.4.2 Thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam 121

2.4.3 Đánh giá thực trạng và tác động của việc hoàn thiện chính sách thương mại liên quan đến bảo hộ quyền SHTT 127

2.4.3.1 Những thành tựu chủ yếu 127

Trang 9

thiện chính sách TMQT của Việt Nam sau khi gia nhập

WTO vμ một tương lai ký kết nhiều hiệp định tự do

trình hội nhập 133 3.1.1.3 Một số nguyên tắc trong việc tiếp tục hoàn thiện chính

sách thương mại quốc tế 137

3.1.2 Một số định hướng chủ yếu về việc tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT của Việt Nam 140 3.1.2.1 Tận dụng những cơ chế ưu đãi đặc biệt, khác biệt trong

những quy định của WTO 140 3.1.2.2 Xử lý hài hoà mối quan hệ giữa tự do hoá thương mại và

bảo hộ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 141 3.1.2.3 Đẩy mạnh hội nhập kinh tế, thương mại quốc tế thông qua

việc ký FTA với một số nước 142

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT của Việt Nam . 144

3.2.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT về hàng hoá 144 3.2.1.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế 144 3.2.1.2 Xây dựng rào cản phi thuế quan phù hợp với điều kiện

hội nhập 147 3.2.1.3 Tiếp tục hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu

154

Trang 10

vụ và chiến lược phát triển XNK dịch vụ đến năm 2020 156

3.2.2.2 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển thương mại dịch vụ 157

3.2.3 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT về đầu tư 164

3.2.3.1 Xây dựng chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu 165

3.2.3.2 Từng bước xoá bỏ những hạn chế về tiếp cận thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài 166

3.2.3.3 Đa dạng hoá các hình thức đầu tư 169

3.2.4 Giải pháptiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 170

3.2.4.1 Tiếp tục hoàn thiện về mặt pháp lý 171

3.2.4.2 Nâng cao chế tài xử phạt vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 175

3.2.4.3 Nâng cao vai trò hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 176

3.24.4 Tăng cường các hoạt động dịch vụ, thông tin về sở hữu trí tuệ 178

3.2.4.5 Tham gia các công ước quốc tế 178

3.3 Kiến nghị . 179

3.3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm chính sách 179

3.3.2 Tăng cường sự hợp tác liên bộ để phối hợp hành động 180

3.3.3 Chú trọng công tác thống kê thương mại 180

3.3.4 Kiểm tra, giám sát việc áp dụng chính sách thương mại quốc tế 3.3.5 Phân định rõ chức năng quản lý vĩ mô, vi mô

181 Kết luận 182

Danh mục công trình của tác giả

Tμi liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 11

Trang

I Bảng biểu

Bảng 1.1: Lợi thế so sánh trong sản xuất máy tính và áo sơ mi của Nhật

và Việt Nam 18

Bảng 1.2: Tốc độ tăng GDP theo ngành của Việt Nam (%) 31

Bảng 1.3: Cơ cấu kinh tế Việt Nam (tính theo giá thực tế) (%) 32

Bảng 1.4: Thứ hạng cạnh tranh quốc gia của Việt Nam 35

Bảng 1.5: Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả ở Nhật Bản (%) 45

Bảng 1.6: Mức thuế quan trung bình của Trung Quốc 53

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu tính trên đầu người của Việt Nam 62

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ giai đoạn 1995 –2005 87

Bảng 2.3: Cơ cấu xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam (2001-2005) 89

Bảng 2.4: Vốn đầu tư trong nước vào lĩnh vực dịch vụ 91

Bảng 3.1: Đối chiếu phạm vi các tác phẩm được bảo hộ 172

Bảng 3.2: Đối chiếu phạm vi các đối tượng sở hữu công nghiệp 173

II Hình vẽ Hình 1.1 Mô hình vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon 22

Hình 1.2: Khối kim cương của Michael Porter 23

Hình 2.1: So sánh tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ và hàng hoá trong tổng kim ngạch XK hàng hoá, dịch vụ 88

III Sơ đồ Sơ đồ 3.1: Đề xuất điều chỉnh cơ chế quản lý về thương mại dịch vụ 159

Sơ đồ 3.2: Tổ chức quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ 177

Trang 12

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu hướng tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT), các quốc gia đều nhận thức rõ sự cần thiết phải mở cửa nền kinh tế, tham gia sâu rộng vào phân công lao động quốc tế, thúc đẩy trao đổi thương mại quốc tế Những lợi ích của tự do hoá thương mại và hội nhập KTQT mang lại cho mỗi quốc gia là rất lớn nhưng lại không đều nhau Điều này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách thương mại của mỗi nước

Hội nhập KTQT là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh Đây là một thử thách lớn đối với Việt Nam song đó là việc phải làm Hội nhập KTQT của Việt Nam là cần thiết và phù hợp với qui luật phát triển chung của nhân loại Hội nhập cho phép Việt Nam tận dụng nhiều cơ hội để phát triển và vượt qua những khó khăn, thách thức nhằm đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, nền kinh tế Việt Nam cũng gặp phải những thách thức Thách thức lớn nhất là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của hàng hoá Việt Nam còn rất thấp, khả năng điều chỉnh của nền kinh

tế nước ta còn chậm, chưa theo kịp với xu hướng biến đổi của kinh tế thế giới Bởi vậy, để tối thiểu hoá mặt tiêu cực và tối đa hoá những lợi ích do hội nhập mang lại, chúng ta cần phải có một hệ thống chính sách TMQT thật hoàn chỉnh

Trên thực tế, chính sách TMQT của Việt Nam còn thiếu đồng bộ, chưa ổn

định, thiếu rõ ràng, một số điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Do đó, yêu cầu cần thiết là chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách TMQT vừa đáp

Trang 13

ứng được yêu cầu của hội nhập KTQT vừa phục vụ tốt cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Với lý do trên, việc xác định những luận cứ khoa học, đồng thời rút ra được những thành tựu cũng như những hạn chế trong chính sách TMQT của Việt Nam trong những năm qua để làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại Việt Nam là rất cần thiết Xuất phát từ yêu cầu đó, tác giả quyết định lựa chọn

đề tài “Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp

ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Tự do hoá thương mại và hội nhập KTQT không phải là một hiện tượng mới

mẻ mà nó đã có một quá trình lâu dài Quá trình này trở thành xu thế lớn trong quan hệ quốc tế hiện đại và cũng là chủ đề lớn của nhiều công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo, tọa đàm trong và ngoài nước Nội dung của các chủ đề trên chủ yếu đề cập đến những lợi ích của tự do hoá thương mại đối với các nước đang phát triển, những thuận lợi, khó khăn; những cơ hội, thách thức khi tiến hành tự do hoá thương mại Bên cạnh đó cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, phân tích chính sách thương mại Việt Nam Điển hình như:

- “Nghiên cứu các rào cản trong TMQT và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam”, đề tài cấp Bộ Thương mại, mã số 2003-78-020, do PGS TS Đinh Văn Thành chủ nhiệm

- “Những điều chỉnh chính sách thương mại Việt Nam sau khi gia nhập ASEAN: Hiện trạng và phương hướng tiếp tục điều chỉnh”, đề tài cấp Bộ Giáo dục

và Đào tạo, mã số B2002-40-16, do GS.TS Bùi Xuân Lưu chủ nhiệm

- “Cải cách chính sách thương mại của Việt Nam”, do TS Nguyễn Phúc Khanh chủ biên, NXB thống kê, 2001

- “Mối quan hệ giữa tự do hoá thương mại và bảo hộ mậu dịch trong chính sách phát triển thương mại Việt Nam trên con đường hội nhập khu vực và thế giới”, Luận án tiến sĩ của Lê Quang Lân, năm 2003

- “Chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam trong xu thế quốc tế hoá thương mại”, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hường, năm 2002

Trang 14

- “Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, luận án tiến sĩ của Mai Thế Cường, năm 2006

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này chỉ đề cập đến những vấn đề

cụ thể theo mục đích nghiên cứu của từng đề tài Tuy nhiên, theo cách hiểu hiện nay, khái niệm TMQT không chỉ là trao đổi hàng hoá mà còn bao gồm cả dịch vụ, các vấn đề về sở hữu trí tuệ và đầu tư nước ngoài liên quan đến thương mại Nội dung này chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống, từ lý luận đến thực tiễn, từ quan điểm đến xây dựng và hoàn thiện chính sách thương mại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT

Chính vì vậy, luận án tiến sĩ “Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” là luận án đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện từ lý luận đến thực tiễn chính sách thương mại Quốc tế của Việt Nam bao gồm các lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ, các vấn đề sở hữu trí tuệ và đầu tư liên quan đến thương mại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là:

- Làm rõ cơ sở khoa học của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

- Phân tích một cách hệ thống thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT của

Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua

- Đưa ra định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp ứng được yêu cầu hội nhập KTQT

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận án cần hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế

- Nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện chính sách thương mại của một số nước điển hình

- Đánh giá cụ thể thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT của Việt Nam trong những năm qua làm, sáng tỏ những thành tựu cũng như những hạn chế trong

Trang 15

chính sách TMQT ở cả bốn nội dung: Chính sách thương mại quốc tế về hàng hoá,

về dịch vụ, về sở hữu trí tuệ và đầu tư

- Đề xuất được định hướng và các nhóm giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT của Việt Nam về bốn nội dung trên trong những năm tới nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề về chính sách thương

mại quốc tế của Việt Nam, bao gồm các chính sách thương mại về hàng hoá, dịch vụ

và các vấn đề về sở hữu trí tuệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến thương mại

- Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu quá trình hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam có liên quan đến yếu tố nước ngoài, bởi vậy chính sách thương mại trong nước sẽ không được đề cập trong luận án này

Về mặt thời gian, luận án tập trung nghiên cứu thực trạng hoàn thiện chính sách TMQT Việt Nam kể từ khi đổi mới (năm 1986) đến năm 2006, từ đó đưa ra

định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại cho tới năm

2010, tầm nhìn 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và các quan điểm, chủ trương, đường lối về phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam để làm cơ sở phân tích, đánh giá Bên cạnh đó luận án cũng đã sử dụng phương pháp phân tổng hợp, phân tích hệ thống, so sánh, đối chiếu, diễn giải, qui nạp và dự báo theo mục tiêu nghiên cứu của luận án

Trang 16

- Đánh giá được toàn diện thực trạng, đặc biệt rút ra được những thành tựu

và những hạn chế chủ yếu trong chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trên các lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ, chính sách đầu tư, sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế

- Đề xuất được định hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc

tế của Việt Nam và đưa ra được một số giải pháp cụ thể giúp các nhà hoạch định chính sách thương mại sớm áp dụng để nhanh chóng hoàn thiện chính sách thương

mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu theo 3 chương:

Chương I: Cơ sở khoa học của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam

Chương II: Thực trạng hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong những năm qua

Chương III: Định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 17

Chương 1

Cơ sở khoa học của việc tiếp tục hoμn thiện

chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam

1.1 Cơ sở lý luận của việc tiếp tục hoàn thiện chính sách TMQT 1.1.1 Những lý luận chung

1.1.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế

Theo nghĩa hẹp, “thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên

thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá Nếu hoạt động trao đổi này vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là ngoại thương (kinh doanh quốc tế)” [51, tr 15]

Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường, bao gồm các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Theo quan

điểm này, Uỷ ban về Luật Thương Mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL)

đã đưa ra khái niệm: “thương mại là hoạt động phát sinh từ tất cả các mối quan hệ

mang bản chất thương mại dù cho có ký hợp đồng hay không” Các mối quan hệ

này bao gồm bất kỳ giao dịch thương mại nào của quá trình từ sản xuất đến lưu thông hàng hoá hay dịch vụ, từ xây dựng công trình, tư vấn, chế tạo, cấp giấy phép,

đầu tư sản xuất đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kể cả các hình thức hoạt động kinh doanh khác như chuyên chở hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường thuỷ, đường sắt hoặc đường bộ…

Khái niệm thương mại trong Luật Thương Mại Việt Nam 1997 được hiểu theo nghĩa hẹp Bởi vậy, không phải tất cả các doanh nghiệp và các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh hợp pháp đều được coi là thương nhân Nói cách khác, sự bảo hộ và tạo điều kiện trong môi trường pháp lý của Luật Thương Mại Việt Nam 1997 không được áp dụng chung cho các hoạt động thương mại của tất cả các hình thức kinh doanh trên thị trường, mà chỉ áp dụng đối với những hoạt

động liên quan đến mua bán hàng hoá và dịch vụ được qui định cụ thể tại Điều 5, Khoản 3,4,5

Trang 18

Khái niệm thương mại trong Luật Thương mại vừa được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 đã được

sửa đổi và được hiểu theo nghĩa rộng của thương mại Theo đó, “hoạt động thương

mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lời”

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về thương mại quốc tế nhưng xét về

đặc trưng thì “ thương mại quốc tế được định nghĩa là việc mua, phân phối hàng hoá, dịch vụ qua biên giới quốc gia” [103] Cách định nghĩa này được sử dụng nhiều nhất khi nhìn vào chức năng và vai trò của thương mại như chiếc cầu nối giữa cung và cầu về hàng hoá, dịch vụ (xét cả về số lượng, chất lượng và thời gian) Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hoá, dịch vụ được đi kèm với việc trao đổi các yếu tố sản xuất (ví dụ: lao động, công nghệ…)

Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm khác nhau về TMQT, luận án rút ra khái

niệm về TMQT đầy đủ hơn, đó là: TMQT là sự trao đổi, mua bán hàng hóa (hữu

hình, vô hình) giữa các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức có quốc tịch khác nhau trên cơ sở trao đổi ngang giá, lấy ngoại tệ (ngoại tệ của 1 trong 2 bên hoặc của cả 2 bên) làm phương tiện thanh toán nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh

Ngày nay thương mại quốc tế không đơn giản chỉ là mua bán hàng hoá, dịch

vụ giữa các quốc gia, mà quan trọng hơn là thông qua hoạt động TMQT các nước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Phân công lao động quốc tế cho phép các quốc gia khai thác lợi thế của mình khi tham gia thị trường thế giới,

đồng thời còn tác động đến phân công lao động trong nước, nó tác động trước hết vào các ngành trực tiếp tham gia vào thương mại quốc tế, và theo phản ứng dây truyền tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến quá trình phát triển kinh tế trong nước, đến sử dụng nguồn tài nguyên, lao động, vốn Do vậy TMQT đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia Tuy nhiên vai trò của TMQT đến đâu lại phụ thuộc vào chính sách TMQT của quốc gia đó

1.1.1.2 Khái niệm về chính sách thương mại quốc tế

Trang 19

Từ trước đến nay, các nhà quản lý kinh tế vĩ mô luôn quan tâm xem xét và

đưa ra mức độ can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của nền kinh tế thông qua chính sách kinh tế nói chung, chính sách thương mại nói riêng sao cho phù hợp và hiệu quả nhất

Hoạt động kinh tế trong một nền thương mại tự do diễn ra theo các qui luật kinh tế, trước hết là qui luật về cung, cầu, giá cả… Quy luật này tồn tại một cách khách quan, ngoài ý muốn của con người Bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động dưới sự tác động, điều tiết của qui luật đó thì sẽ tối đa hoá được lợi nhuận có thể rút

ra từ các nguồn tài nguyên hiện có Ví dụ như Nhật có thể nhập khẩu gạo từ Việt Nam rẻ hơn so với sản xuất ở trong nước, trong khi đó lại xuất khẩu ô tô sẽ thu

được lợi nhuận cao hơn

Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế nếu không có sự quản lý của Nhà nước thì các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) sẽ vì mục tiêu lợi nhuận mà tìm cách trốn thuế, thực hiện gian lận thương mại, hoặc nhập khẩu quá mức dẫn đến làm suy giảm sản xuất trong nước, thậm chí ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, chính trị, xã hội Chính vì vậy, hoạt động thương mại cần phải có sự quản lý của Nhà nước nhưng mức độ can thiệp, quản lý của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường như thế nào lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan điểm cũng như đường lối phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước Hiện nay phần lớn các nước đều sử dụng chính sách thương mại của mình để tác động vào thị trường, một mặt khuyến khích xuất khẩu, hướng tới thị trường nước ngoài nhưng mặt khác lại hạn chế nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong nước và duy trì nền kinh tế trong nước tăng trưởng bền vững

Vậy, chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc, luật lệ,

các qui định, các biện pháp hành chính, kinh tế… liên quan đến hoạt động TMQT

mà chính phủ mỗi quốc gia áp dụng để điều chỉnh quan hệ trao đổi, mua bán của mình với các quốc gia khác nhằm mang lại lợi ích chung cho xã hội

Với khái niệm này, chính sách TMQT của một quốc gia là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ chính sách phát triển kinh tế của quốc gia đó Tuy nhiên,

Trang 20

khi đã trở thành thành viên của WTO, các nước phải xây dựng và thực hiện chính sách TMQT của mình phù hợp với các hiệp định quốc tế, kể cả các nguyên tắc và hành vi đối xử trong thương mại được qui định trong WTO Theo quan niệm đó,

chính sách TMQT có thể được hiểu đầy đủ hơn là “cấu trúc đầy đủ các luật lệ, qui

định, các hiệp định quốc tế và các kết quả đàm phán được chính phủ chấp nhận để

đạt được sự tiếp cận thị trường có ràng buộc về mặt luật pháp đối với các công ty trong và ngoài nước” [103] Theo qui định của Tổ chức Thương mại Thế giới

(WTO) đối với các nước thành viên, chính sách TMQT của mỗi quốc gia cần phải tuân thủ 4 nguyên tắc cơ bản sau:

- Không phân biệt đối xử

- Cạnh tranh tự do và lành mạnh

- Đảm bảo tính minh bạch, có thể dự đoán

- Đối xử ưu đãi hơn đối với các quốc gia đang phát triển

Cách tiếp cận chính sách TMQT được mô tả như trên được gọi là chính sách thương mại “dựa trên luật lệ” Mục đích của chính sách này là soạn thảo ra những luật lệ thương mại quốc tế minh bạch và có khả năng tiên đoán được nhằm thúc

đẩy việc tiếp cận thị trường nhiều hơn của các nhà sản xuất

Bên cạnh đó, chính sách thương mại “dựa trên kết quả” cũng được chính phủ nhiều nước quan tâm nhằm mong muốn đạt được một số các mục tiêu chính trị

và kinh tế thông qua những hành động đơn phương và mạnh mẽ (ví dụ như để cải thiện cán cân thanh toán đang bị thiếu hụt, hay để giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động thì chính sách thương mại cần phải đưa ra những biện pháp khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu)

Do ngày càng có nhiều nước tham gia vào WTO nên số trường hợp sử dụng cách tiếp cận chính sách thương mại dựa trên kết quả đã giảm đáng kể Tuy nhiên dưới áp lực của các nhóm lợi ích trong nước và các vấn đề kinh tế gay gắt nên chính phủ các nước thường phải cố gắng hài hoà lợi ích này

Từ việc phân tích trên chúng ta thấy, chính sách thương mại là một bộ phận nằm trong hệ thống chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước Mục đích xây dựng chính

Trang 21

sách kinh tế-xã hội của các nước đều nhằm vào phát triển kinh tế-xã hội phồn vinh, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân Do vậy chính sách thương mại quốc tế cũng phải hướng tới mục đích đó

Chính sách TMQT bao gồm các bộ phận cấu thành như chính sách mặt hàng, chính sách thị trường, chính sách thuế quan, các biện pháp cấm đoán, hạn chế, kiểm soát hay khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, chính sách đầu tư và SHTT liên quan đến thương mại Do đó, chính sách TMQT không chỉ tác động đến khối lượng và cơ cấu hàng hoá, dịch vụ xuất nhập khẩu mà còn

ảnh hưởng đến cung, cầu của nhiều loại hàng hoá khác nhau ở trong nước, ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh, qui mô đầu tư và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Vậy có thể nói, chính sách TMQT tác động lên mọi hoạt động kinh tế-xã hội của một nước

Mục tiêu cơ bản của chính sách TMQT là hướng tới việc sử dụng và phân bổ

có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước theo những định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, vừa thể hiện sự không phân biệt đối xử với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài theo những nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi

Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách TMQT là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng mua bán với nước ngoài, đồng thời góp phần bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa, hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước

1.1.1.3 Các loại hình chính sách TMQT

Trong quá trình phát triển kinh tế, chính sách TMQT của mỗi nước được xây dựng theo những xu hướng và biểu hiện khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể Có thể phân loại hình chính sách TMQT theo 2 căn cứ chủ yếu sau:

* Căn cứ vào mức độ bảo hộ

- Chính sách bảo hộ mậu dịch

Cơ sở khách quan của chính sách bảo hộ mậu dịch bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, các

Trang 22

khu vực, do có sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, cũng như do các nguyên nhân lịch sử để lại

Mục tiêu của chính sách bảo hộ mậu dịch là để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài nhằm đảm bảo cho các nhà sản xuất trong nước có điều kiện, thời gian để phát triển

Cho đến nay vẫn còn hai nhóm ý kiến khác nhau khi giải thích về chính sách bảo hộ mậu dịch Nhóm thứ nhất cho rằng, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, hoặc đối với một số ngành công nghiệp mới phát triển thì Nhà nước nên sử dụng chính sách bảo hộ mậu dịch bằng những hàng rào thuế quan cao

và các hàng rào phi thuế quan để ngăn chặn hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài nhập khẩu vào thị trường trong nước, nhằm giúp cho các nhà sản xuất trong nước có

được thị trường tiêu thụ nội địa ổn định, thúc đẩy sản xuất phát triển Như vậy, trong giai đoạn đầu, chính sách bảo hộ mậu dịch giúp cho nền kinh tế phát triển cân đối, ổn định, hạn chế được những tác động xấu từ thị trường bên ngoài

Ngược lại, nhóm thứ hai quan niệm, chính sách bảo hộ mậu dịch đã coi nhẹ

ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thế giới đối với việc phát triển kinh tế trong nước, làm cho nền kinh tế trong nước thiếu cơ hội cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp dễ ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước dẫn đến tình trạng bảo thủ, trì trệ, nền kinh tế kém năng động Điều đó hạn chế khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng quốc gia, không đảm bảo cung cấp đủ đầu vào cho sản xuất trong nước Hậu quả là tốc

độ tăng trưởng kinh tế rất chậm, nạn thất nghiệp gia tăng và trở thành gánh nặng cho xã hội Hàng rào bảo hộ cao làm tăng giá trong nước, lượng nhập khẩu giảm xuống, giảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, cơ hội cho bệnh tham nhũng và buôn lậu phát triển Bảo hộ còn gây ra những tổn hại về kinh tế, người tiêu dùng phải mua hàng nhập khẩu với giá cao hơn giá quốc tế, những ngành sản xuất kém hiệu quả đã dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước nên vẫn có thể mở rộng sản xuất mà không cần đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý

- Chính sách tự do hoá thương mại

Cơ sở khách quan của xu hướng tự do hoá thương mại bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ khu vực hoá, toàn cầu hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia Sự lớn mạnh

Trang 23

của các công ty đa quốc gia thúc đẩy phân công lao động quốc tế phát triển cả về

bề rộng và chiều sâu Trước xu thế đó nhiều quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” thông qua việc thực hiện chính sách tự do hoá thương mại nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước Tự do hoá thương mại mang lại lợi ích cho mỗi nền kinh tế quốc gia, dù trình độ phát triển có khác nhau Đó là xu thế phát triển chung của nền văn minh nhân loại

Bản chất của chính sách tự do hoá thương mại là việc các nước giảm dần những trở ngại của hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong quan hệ thương mại quốc tế nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt

động thương mại

Như vậy, chính sách tự do hoá thương mại trước hết là nhằm mở rộng qui mô xuất khẩu và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu Kết quả của chính sách tự do hoá thương mại là dựa trên cơ sở đầu tư trong nước và nước ngoài

để mở mang sản xuất, tạo ra hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao dẫn đến sản xuất phát triển, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, giải quyết tốt việc làm cho người lao

động, và đặc biệt là làm cho nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Theo quan điểm của WTO, thương mại quốc tế đã trở thành “đầu tàu” của nền kinh tế

Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách tự do hoá thương mại, các quốc gia cũng phải khắc phục kịp thời những mặt còn hạn chế của chính sách này, đó là:

- Nền kinh tế phát triển mất cân đối nếu tập trung quá mức vào những ngành hàng có khả năng xuất khẩu

- Nền kinh tế do bị gắn chặt vào thị trường bên ngoài nên dễ bị những tác

động xấu từ bên ngoài, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quốc gia

Về lý thuyết, chính sách bảo hộ mậu dịch và chính sách tự do hoá thương mại đối lập nhau vì chúng có những tác động ngược chiều nhau đến hoạt động thương mại hàng hoá, dịch vụ Trong thực tế, chúng có thể song song tồn tại và cùng được sử dụng kết hợp Tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, tuỳ theo điều kiện và đặc điểm cụ thể mà các nước có thể kết hợp sáng tạo hai chính sách trên Sự vận dụng kết hợp này do:

Trang 24

- Về mặt lịch sử, chưa khi nào có chính sách tự do hoá thương mại một cách hoàn toàn đầy đủ, trái lại cũng chưa khi nào lại bảo hộ mậu dịch quá chặt chẽ dẫn

đến mức làm tê liệt hoàn toàn các hoạt động thương mại quốc tế

- Về mặt logic, tự do hoá thương mại là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn thể, trong khi tự do hoá thương mại ở lĩnh vực này thì lại có bảo hộ mậu dịch ở lĩnh vực khác, tuy nhiên mức độ phải dung hoà nhau

- Với những điều kiện thực tiễn trong thương mại quốc tế ngày nay, khó có thể khẳng định sự cần thiết phải sử dụng một chính sách cụ thể nào, mặc dù về mặt

lý thuyết có thể chứng minh những mặt tích cực của từng chính sách Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập KTQT, các nước đều tích cực tham gia vào TMQT và đấu tranh cho một nền thương mại tự do và công bằng hơn Trong chính sách TMQT của mình các nước đã giảm dần sự bảo hộ cho sản xuất trong nước bằng cách giảm thuế, dỡ bỏ những hàng rào phi thuế quan, đồng thời khuyến khích, hỗ trợ cho sản xuất trong nước phát triển Từ đó chính sách TMQT của các nước đã có sự thay đổi theo hướng tự do hóa thương mại, chính sách hạn chế nhập khẩu chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt, cụ thể nhằm mục tiêu bảo

đảm an ninh kinh tế, chính trị, xã hội, bảo vệ môi trường

* Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của chính sách TMQT

Mỗi đối tượng điều chỉnh của chính sách TMQT có những đặc điểm và phương thức hoạt động riêng, bởi vậy cần phải có chính sách cụ thể để điều chỉnh từng đối tượng cho phù hợp Theo quan điểm rộng về TMQT, chính sách TMQT phân theo căn cứ này có:

- Chính sách thương mại quốc tế về hàng hoá

Hàng hoá là một trong những đối tượng tham gia vào thương mại quốc tế sớm nhất và chiếm giữ vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế Bởi vậy, hàng hoá

là đối tượng điều chỉnh chủ yếu trong nhiều hiệp định thương mại quốc tế và khu vực Đối với từng quốc gia, chính sách TMQT về hàng hoá được đặc biệt quan tâm Nội dung trong chính sách TMQT về hàng hoá thường qui định về đối tượng chủ sở hữu được tham gia vào TMQT, về mặt hàng, về thuế quan và các biện pháp phi thuế quan

- Chính sách thương mại quốc tế về dịch vụ

Trang 25

Trước đây các nhà kinh tế học thường nhìn nhận ngành dịch vụ là ngành sản xuất phi vật chất và không mang tính thương mại, do vậy ngành dịch vụ không

được quan tâm và không được tập trung xây dựng chính sách

Nhưng trên thực tế, cùng với sự phát triển kinh tế hàng hoá và sự lớn mạnh của khoa học – kỹ thuật, ngành dịch vụ ngày càng phát triển và đã đóng vai trò quan trọng trong TMQT Bởi vậy, đầu thập kỷ 70 (thế kỷ XX) Mỹ đã đề nghị đưa vấn đề thương mại dịch vụ vào nội dung đàm phán Kết thúc vòng đàm phán Urugoay, cùng sự ra đời của WTO, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) đã được thông qua Thương mại dịch vụ đã trở thành đối tượng điều chỉnh trong chính sách thương mại quốc tế, trong các cam kết khu vực, đa phương, song phương và trong chính sách thương mại của các quốc gia

- Chính sách thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là việc đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận (đối với các nhà đầu tư) và đạt

được những mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định (đối với nước tiếp nhận đầu tư) Về bản chất, đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá

Bởi vậy, đầu tư nước ngoài là một hình thức quan trọng của quan hệ kinh tế

đối ngoại và là đối tượng điều chỉnh trong hiệp định của WTO (Hiệp định TRIMS)

và trong chính sách thương mại của các quốc gia

- Chính sách thương mại quốc tế liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Ngày nay, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng với tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thế giới như sản xuất, trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ, chuyển giao công nghệ Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã đưa sự phát triển của nền KTTG sang giai đoạn mới - giai đoạn kinh tế tri thức Những phát minh, sáng chế có giá trị đặc biệt trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, bởi vậy đó cũng chính là một trong những đối tượng điều chỉnh trong hiệp định TMQT (Hiệp định TRIPS)

Sở hữu trí tuệ là một tài sản có thể được mua bán, cho phép sử dụng, trao đổi hoặc biếu tặng giống như bất kỳ loại hình tài sản nào khác Sự khác biệt đáng chú ý nhất giữa SHTT với các loại sở hữu khác là tính vô hình của nó Bởi vậy nội dung

Trang 26

trong chính sách TMQT liên quan đến SHTT hướng tới việc bảo hộ quyền SHTT, quy định cụ thể những đối tượng SHTT được Nhà nước bảo hộ, thời hạn bảo hộ nhằm đảm bảo sự công bằng và khuyến khích những người sở hữu tài sản trí tuệ yên tâm đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của mình

1.1.1.4 Vai trò của chính sách thương mại quốc tế

Chính sách thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Theo đánh giá hiện nay, vai trò đó thể hiện trước hết ở 3 nội dung chủ yếu sau đây:

* Chính sách TMQT góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế

Muốn tăng trưởng kinh tế ở mức cao, các nước cần phải huy động các nguồn vốn đầu tư với khối lượng lớn vào máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến, vào nhập khẩu vật tư, nguyên liệu cung cấp đủ đầu vào cho sản xuất nhằm nâng cao năng lực

và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Nguồn vốn có thể được hình thành từ trong nước (vốn có được từ ngân sách nhà nước, vốn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu hàng hoá, vốn huy động từ tư nhân) và từ nước ngoài như thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay nợ, viện trợ…

Chính sách thương mại quốc tế thông thoáng, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và phù hợp với đặc điểm riêng trong nước sẽ tạo điều kiện

để thúc đẩy xuất nhập khẩu, tăng thu ngoại tệ từ xuất khẩu để rồi tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ cho sản xuất Kinh tế tăng trưởng cùng với môi trường đầu tư thuận lợi thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vốn vào sản xuất, kinh doanh Cứ như vậy, khi các nguồn vốn được khai thác tốt sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, từ đó đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao,

Trang 27

đời sống xã hội Các nước đều đứng trước những cơ hội thuận lợi để phát triển Nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường…thuộc về các nước tư bản phát triển và các công ty xuyên quốc gia cho nên các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đứng trước những thách thức to lớn nhưng cũng là cơ hội thuận lợi để rút ngắn sự lạc hậu về công nghệ và nghèo nàn về kinh tế bằng cách nhập khẩu kịp thời những máy móc, thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại để trang bị cho nền kinh

tế quốc dân, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Vậy thông qua chính sách thương mại để định hướng cho việc lựa chọn thiết

bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm rút ngắn khoảng cách lạc hậu về công nghệ giữa nước ta với các nước trên thế giới

* Chính sách TMQT tạo môi trường cạnh tranh cao nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển

Thông qua thương mại quốc tế, hàng hoá và dịch vụ phải tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế về chất lượng và giá cả Muốn thắng trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp buộc phải đổi mới sản xuất, hoàn thiện qui trình quản lý, nâng cao năng lực sản xuất, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm để trước hết cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa và tiến tới đẩy mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trường nước ngoài Chính vì vậy cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

Chính sách thương mại quốc tế phù hợp trước hết xoá bỏ những rào cản trong việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, tạo ra một thị trường nội địa thống nhất, đồng thời thực hiện đầy đủ quyền SHTT, tạo môi trường pháp lý ổn định để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vốn vào sản xuất, kinh doanh Như vậy, chính sách thương mại đóng vai trò điều tiết, hướng dẫn, tạo môi trường cạnh tranh cao và lành mạnh để thúc đẩy sản xuất phát triển

1.1.2 Một số lý thuyết về TMQT

1.1.2.1 Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương

Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương được quảng bá và vận dụng ở Châu

Âu từ giữa thế kỷ XV, phát triển cực thịnh vào thế kỷ XVI-XVII Đây được coi là

lý thuyết thương mại đầu tiên của thời kỳ tiền tư bản và đã trở thành cơ sở lý luận

Trang 28

cho các chính sách thương mại ở Anh, Pháp, Đức… trong suốt hơn ba thế kỷ Tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương cho rằng sự phồn vinh của một quốc gia được đo bằng lượng tài sản mà quốc gia đó có được Để gia tăng sự giàu có, những nhà kinh

tế học theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng xuất khẩu đối với mỗi quốc gia là rất

có lợi vì nó kích thích sản xuất trong nước, đồng thời gia tăng lượng của cải quốc gia, còn nhập khẩu là gánh nặng vì nó làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước và dẫn đến thất thoát một lượng tiền Chính vì vậy trong hoạt động ngoại thương phải đảm bảo được cán cân thương mại thặng dư

Thuyết trọng thương đã có ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng chính sách TMQT của các nước trong nhiều thế kỷ, đặt nền móng cho sự phát triển của thương mại quốc tế

Hiện nay những nghiên cứu hoạt động ngoại thương trên thế giới cho thấy cán cân thương mại thặng dư là mục tiêu dài hạn của các nước, nhưng chúng ta cũng không nên cho rằng mọi thặng dư thương mại đều là tốt, còn thâm hụt thương mại đều là xấu Việc nhập khẩu hàng hoá nhiều hơn hay ít hơn xuất khẩu còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả giai đoạn phát triển kinh tế và cơ cấu nền kinh tế Chỉ

có thể đánh giá được ý nghĩa của cán cân thương mại quốc tế trong bối cảnh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Xét riêng điều kiện kinh tế của Việt Nam, trong giai đoạn đầu phát triển, nhập siêu có thể mang lại nhiều lợi ích quốc gia như:

- Đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu cho sản xuất và góp phần nâng cao mức sống nhân dân

- Góp phần làm giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá

- Tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

- Tạo điều kiện để cải thiện cơ cấu kinh tế

Tuy nhiên, xét về lâu dài, nếu cán cân thương mại bị thâm hụt kéo dài trong nhiều năm sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế:

- Khi hàng nhập khẩu nhiều sẽ dẫn đến sản xuất trong nước bị suy giảm

Trang 29

- Không sử dụng tốt mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất và không tận dụng được lợi thế so sánh khi tham gia vào thương mại quốc tế

- Nạn thất nghiệp sẽ gia tăng, trở thành gánh nặng cho xã hội

- Cán cân thương mại thiếu hụt làm cho gánh nặng nợ nước ngoài tăng lên, tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế bên ngoài

- Nền kinh tế trong nước phát triển không ổn định

Chính vì vậy khi nhập khẩu tăng mạnh sẽ làm ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại quốc tế, chúng ta cần có ngay những biện pháp khẩn cấp để hạn chế nhập khẩu Những biện pháp hạn chế nhập khẩu này chỉ nên hướng vào những mặt hàng trong nước có khả năng sản xuất và đáp ứng được nhu cầu; những mặt hàng tiêu dùng không cần thiết, đặc biệt là hàng xa sỉ phẩm Xét một cách toàn diện, và triệt để, hướng tích cực nhất là phát triển sản xuất hàng hoá trong nước, nâng cao chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu nội địa, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu Có như vậy cán cân thương mại mới được duy trì ở vị trí có lợi

1.1.2.2 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

David Ricardo- nhà kinh tế học người Anh thế kỷ XIX đã đưa ra lý thuyết

“lợi thế so sánh” vào năm 1817 trong tác phẩm nổi tiếng của mình “những nguyên

lý của kinh tế chính trị, 1817” Lý thuyết này đã trở thành nền tảng lý luận về tự do thương mại, sau này được các nhà nghiên cứu bổ sung Hiện nay, Chính phủ và các doanh nghiệp ở các nước vẫn còn vận dụng những luận cứ trong lý thuyết này để xây dựng chính sách xuất nhập khẩu, chính sách đầu tư…

Theo David Ricardo, cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế là:

- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế, bởi vì ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi nước do chỉ chuyên môn hoá vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu sản phẩm đó để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác

- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hoặc kém lợi thế tuyệt đối hơn

so với nước khác trong việc sản xuất mọi loại sản phẩm, thì vẫn có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế, bởi vì nước nào cũng tìm cho mình được lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về một số mặt hàng khác

Trang 30

Theo David Ricardo, các nước cần phải lựa chọn mặt hàng để chuyên môn hoá theo công thức: Chi phí để sản xuất hàng A của nước đó so với thế giới nhỏ hơn chi phí để sản xuất mặt hàng B của nước đó so với thế giới

Trong thực tế ngày nay, mức phát triển của các quốc gia không đều nhau, nhưng mỗi quốc gia vẫn có thể sử dụng thuyết lợi thế so sánh để tính toán hiệu quả kinh tế, xác định chủng loại hàng hoá mà mình xuất khẩu hay nhập khẩu, tích cực tham gia vào thương mại quốc tế để tận dụng những lợi ích của thương mại quốc tế

Ví dụ dưới đây (bảng 1.1) sẽ làm rõ hơn cho luận điểm này:

Bảng 1.1: Lợi thế so sánh trong sản xuất máy tính và áo sơ mi

của Nhật và Việt Nam

Việt Nam 10.000.000 VNĐ 50.000 VNĐ

Nguồn: Tác giả tự đưa ra con số giả định

Mặc dù giá máy tính và áo sơmi ở Nhật và ở Việt Nam là khác nhau, đồng thời giá trị đồng tiền JPY và VNĐ cũng khác nhau, nhưng theo thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, hai nước Nhật và Việt Nam vẫn có thể tính toán hiệu quả kinh tế để từ đó quyết định nên lựa chọn mặt hàng nào để sản xuất và xuất khẩu

- ở Nhật 1 máy tính đổi được 130 áo sơmi

- ở Việt Nam 1 máy tính đổi được 200 áo sơmi

Nhật có lợi thế so sánh về sản xuất máy tính, bất lợi thế so sánh về sản xuất

áo sơmi Vậy Nhật nên chuyên sâu vào sản xuất máy tính để đổi lấy áo sơmi được sản xuất tại nước Việt Nam Và ngược lại, Việt Nam nên tập trung vào sản xuất áo sơmi để đổi lấy máy tính của Nhật

Tóm lại, lý thuyết về lợi thế so sánh nhấn mạnh yếu tố cung, coi quá trình sản xuất trong mỗi nước là yếu tố qui định hoạt động thương mại quốc tế Trong lý thuyết này, giá cả từng mặt hàng không được biểu thị bằng tiền, mà được tính bằng

số lượng mặt hàng khác Những giả định như vậy khiến cho việc phân tích trở nên

đơn giản nhưng vẫn làm rõ được những luận cứ về lợi ích của TMQT

Trang 31

Việt Nam là nước đang phát triển cần phải tận dụng lợi thế so sánh để tham gia vào phân công lao động quốc tế Chính sách TMQT của Việt Nam nên hướng vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh như mặt hàng dệt may, gia công lắp ráp, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ, dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải biển Tuy nhiên, lợi thế so sánh có thể thay đổi Những lợi thế

về lao động giá rẻ sẽ giảm dần, nguồn tài nguyên ngày một cạn, chúng ta cần phải tạo ra lợi thế so sánh mới trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Bởi vậy, Việt Nam cũng nên có định hướng và chính sách phù hợp để

hỗ trợ cho những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao

1.1.2.3 Lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Hecksher và Ohlin (H-O)

Trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” năm 1933, Eli Hecksher và Bertil Ohlin giải thích nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh theo qui luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất Theo hai ông, lợi thế so sánh của một quốc gia xuất phát từ sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất Các yếu tố sản xuất được đề cập ở đây là đất đai, lao động và tư bản Sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất sẽ dẫn đến sự khác biệt về giá cả của các yếu tố sản xuất Như vậy hình thức đơn giản nhất, mô hình tỷ lệ các yếu tố sản xuất đã phát triển mô hình của Ricardo bằng cách bổ sung thêm một số yếu tố sản xuất khác,

đất đai hay vốn, bên cạnh yếu tố lao động

Mô hình này giải thích lợi thế so sánh bằng cách nhìn vào lượng tương

đối các yếu tố sản xuất mà một quốc gia có được và tỷ lệ các yếu tố sản xuất này được phân bổ để sản xuất hàng hoá và đều giả định rằng các yếu tố sản xuất này đều có khả năng sinh lời như nhau giữa các nước Ví dụ, nếu lao động được

sử dụng tương đối nhiều hơn trong sản xuất quần áo so với sản xuất thép, lúc đó nước nào dồi dào lao động hơn sẽ xuất khẩu quần áo, đồng thời nước nào giàu vốn hơn sẽ xuất khẩu thép

Để tạo ra các sản phẩm, người ta phối hợp các yếu tố sản xuất theo các tỷ lệ cân đối nhất định Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hoá thương mại, mỗi quốc gia cần định hướng chuyên môn hoá sản xuất các sản phẩm mà quốc gia đó có thể

sử dụng các yếu tố sản xuất mà nguồn cung cấp tại quốc gia đó phong phú, giá cả

rẻ tương đối, chất lượng sản phẩm cao tương đối so với các nước khác Như vậy sự

Trang 32

dư thừa hay khan hiếm các yếu tố sản xuất sẽ quyết định cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hay nhập khẩu của một quốc gia

Tư tưởng chủ yếu của lý thuyết tỷ lệ các yếu tố sản xuất là: một quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia dư thừa tương đối và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng yếu tố sản xuất

mà quốc gia đó khan hiếm tương đối

Mô hình tỷ lệ yếu tố sản xuất đã trở thành học thuyết nền tảng trong lĩnh vực thương mại quốc tế trên 50 năm, mặc dù mô hình này cũng bị thách thức rất nhiều trong thời gian đó Thách thức lớn nhất là khi Wassily Leontief phát hiện ra một thực tế vào năm 1953 rằng Mỹ, nước được coi là rất giàu về vốn, lại xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động hơn các sản phẩm sử dụng nhiều vốn Khám phá này được biết đến như “nghịch lý Leontief” [103]

1.1.2.4 Lý thuyết về chi phí cơ hội của Gottfried Haberler

Năm 1936, Haberler sử dụng lý thuyết chi phí cơ hội để giải thích qui luật lợi thể so sánh Theo đó, chi phí cơ hội của một loại sản phẩm là số lượng sản phẩm khác mà người ta phải bỏ đi để huy động các nguồn lực vào sản xuất thêm sản phẩm đó nhằm tận dụng lợi thế so sánh trong quan hệ thương mại quốc tế Haberler cho rằng, chi phí cơ hội không đổi trong một quốc gia, nhưng khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới Sự khác biệt này là cơ sở xây dựng chính sách TMQT, cho phép từng quốc gia có thể tập trung chuyên môn hoá sản xuất các loại sản phẩm có chi phí cơ hội thấp để xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm có chi phí cơ hội cao hơn so với thị trường thế giới Sau quá trình trao đổi, lợi ích kinh tế của mỗi quốc gia và của toàn thế giới đều gia tăng

Như vậy, qui luật lợi thế so sánh được giải thích theo quan điểm của Haberler như sau: Một quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm có chi phí cơ hội thấp hơn và nhập khẩu các sản phẩm có chi phí cơ hội cao hơn so với thị trường các quốc gia khác

Trở lại ví dụ ở Bảng 1.1, chi phí cơ hội để sản xuất 1 máy tính ở Nhật là 130

áo sơmi, chi phí cơ hội để sản xuất 1 máy tính ở Việt Nam là 200 áo sơmi, vì vậy Nhật nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu máy tính vì chi phí cơ hội để

Trang 33

sản xuất máy tính rẻ hơn so với ở Việt Nam ( 130 áo sơmi ở Nhật so với 200 áo sơmi ở Việt Nam)

Khái niệm chi phí cơ hội cũng được vận dụng trong trường hợp có nhiều yếu

tố sản xuất Tuy nhiên khi đó chi phí cơ hội không phải là cố định mà luôn có sự thay đổi Chi phí cơ hội có được từ điều kiện tự nhiên, từ lao động sẽ dần dần mất

đi, thay vào đó là chi phí cơ hội mới sẽ xuất hiện khi trình độ khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển Nước nào đi đầu trong việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ thì sẽ dành được nhiều lợi ích trong thương mại quốc tế

1.1.2.5 Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon (1966)

Raymond Vernon đã nhấn mạnh vào vòng đời của sản phẩm mà các sản phẩm đơn lẻ phải trải qua Xét về mặt lý thuyết thì quan điểm về vòng đời sản phẩm là sự mở rộng lý thuyết về khoảng cách công nghệ Theo Vernon, các nhân tố cần thiết cho sản xuất một sản phẩm mới sẽ thay đổi tuỳ theo vòng đời của sản phẩm đó Thương mại dựa trên vòng đời sản phẩm được Vernon minh họa bằng hình sau:

Hình 1.1 Mô hình vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon

Trang 34

Qua hình 1.1 cho thấy, đầu tiên khi sản phẩm mới được giới thiệu (tại to), việc sản xuất phụ thuộc nhiều vào vốn, công nghệ và lao động lành nghề Lúc đó sản phẩm được sản xuất (thường với chi phí cao) và xuất khẩu bởi những nước có tiềm lực về kinh tế (ví dụ như Mỹ)

Khi sản phẩm bắt đầu được chuẩn hoá và phổ biến (giai đoạn chín muồi), thị trường tiêu thụ mở rộng tạo điều kiện cho việc mở rộng qui mô sản xuất Những ngành sản xuất sản phẩm đó bắt đầu di chuyển sang các nước khác, lợi thế so sánh

được chuyển từ các nước phát minh sang các nước dễ dàng áp dụng các công nghệ tiêu chuẩn và dồi dào tương đối về vốn (ví dụ như các nước Tây Âu, Nhật) Những nước này bắt đầu giữ vai trò sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó

Cuối cùng, khi công nghệ được chuẩn hoá, quá trình sản xuất có thể được chia thành nhiều công đoạn khác nhau và việc sản xuất tương đối đơn giản, lợi thế

so sánh lại được chuyển sang các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động với giá rẻ và những nước này trở thành nước xuất khẩu

Nước đứng

đầu (Mỹ)

Các nước công nghiệp khác

phát triển

Bước I:

Đổi mới nước dẫn đầu xuất khẩu

Trang 35

Việt Nam với lợi thế về nguồn lao động phong phú, giá rẻ đã nhanh chóng ban hành chính sách ưu đãi, thu hút vốn đầu tư để tiếp nhận làn sóng chuyển giao công nghệ lần thứ hai đối với sản xuất mặt hàng may mặc, da giày, nên từ những năm 90 những mặt hàng này nhanh chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

1.1.2.6 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter

Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter được công bố vào năm 1990 [126] Lý thuyết này đã giải thích tại sao một số quốc gia lại có vị trí dẫn

đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm nhất định

Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết 4 nhóm yếu tố (xem hình 1.2) đó là: 1) điều kiện các yếu tố sản xuất, 2) điều kiện về cầu, 3) các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan và 4) chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành Ngoài ra còn 2 yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ hội có thể ảnh hưởng lên 4 yếu tố trên Hệ thống liên kết các yếu tố này quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia và đã được M Porter trình bày trong mô hình “kim cương” dưới đây

Hình 1.2: Mô hình “kim cương” của Michael Porter

Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh

Nguồn: Bùi X uân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2006, Giáo trình Kinh tế ngoại thương

Nguồn: M.E.Porter, 1990, The Competitive Advantages of Nations, The Free Press, Tr 72

Trang 36

Mô hình trên chỉ rõ, sự phong phú, dồi dào của các yếu tố sản xuất có ý nghĩa lớn đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia Bởi vậy, khi quốc gia có các đầu vào cần thiết cho một ngành công nghiệp nào đó thì nên có những chính sách hỗ trợ giúp cho ngành đó phát triển, qua đó còn kéo ngành công nghiệp phụ trợ phát triển theo

Đồng thời mô hình trên cho thấy Chính phủ có vai trò rất lớn tác động đến khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua chức năng quản lý vĩ mô như tạo lập môi trường pháp lý và kinh tế cho các chủ thể hoạt động và cạnh tranh lành mạnh, điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế, tín dụng…

Sau khi nghiên cứu một số lý thuyết thương mại quốc tế, tác giả luận án cho rằng Việt Nam cần vận dụng linh hoạt các lý thuyết này trong việc xây dựng chính sách TMQT của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bằng cách:

- Phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước- đây là một trong những nguồn gốc quan trọng của lợi thế so sánh Với dân số khoảng 84 triệu dân [86, tr70], trong đó 56,4% đang trong độ tuổi lao động, đây chính là một lợi thế lớn của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ du lịch - lĩnh vực được coi

là sử dụng nhiều lao động Tuy nhiên lao động đông, giá rẻ chỉ là lợi thế trước mắt và sẽ giảm dần khi nền kinh tế phát triển ở trình độ cao hơn Một thực tế cho thấy, trong thời gian gần đây, khi nền kinh tế Việt Nam đang tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế và hội nhập với nền KTTG thì chất lượng lao động của Việt Nam lại trở thành điểm yếu, không đáp ứng được yêu cầu Bởi vậy, để tạo ra lợi thế so sánh Việt Nam cần phải đầu tư mạnh vào đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, có kỹ năng, kỹ thuật để có thể tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Có như vậy Việt Nam mới giành được nhiều lợi ích khi tham gia vào TMQT

- Tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai, khí hậu, nguồn tài nguyên rừng, biển và khoáng sản để phát triển sản xuất, khai thác tốt thế mạnh của từng vùng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có khả năng cạnh tranh để từ

Trang 37

đó không những đáp ứng tốt nhu cầu ở thị trường trong nước mà còn đẩy mạnh xuất khẩu Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng việc xuất khẩu sản phẩm thô dựa trên những điều kiện tự nhiên thuận lợi trong giai đoạn ban đầu là cần thiết, nhưng lợi thế này sẽ nhanh chóng mất đi, vì vậy chúng ta cần phải nhanh chóng chuyển sang việc xuất khẩu các sản phẩn chế biến sâu, với hàm lượng công nghệ, chất xám cao

để mang lại hiệu quả kinh tế cao Đồng thời với bờ biển dài lại nằm trên đường vận tải quốc tế chúng ta có đủ điều kiện để phát triển hoạt động dịch vụ vận tải, dịch vụ

đóng và sửa chữa tầu nhằm tăng thu ngoại tệ cho đất nước

- Trên cơ sở các yếu tố đầu vào cho sản xuất, hiện Việt Nam còn thiếu vốn, công nghệ, vì vậy cần phải đẩy mạnh việc nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại, tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước nhằm góp phần phát triển kinh tế ổn định, vững chắc

1.1.3 Những nguyên tắc cơ bản trong luật thương mại quốc tế

Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của các tổ chức này Tuy nhiên nền kinh tế của Việt Nam đang phát triển ở trình độ thấp nên chính sách thương mại vẫn có nhiều điều hạn chế và khác biệt so với những nguyên tắc cơ bản trong luật thương mại quốc tế Chính vì vậy, trong quá trình hội nhập kinh tế, đặc biệt là về thương mại vào kinh tế khu vực và thế giới thì việc điều chỉnh, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại và các biện pháp thực hiện chính sách thương mại cần phải căn cứ vào các nguyên tắc trong luật thương mại quốc tế của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới Mặc dù các cam kết trong từng Hiệp

định song phương, hay đa phương có thể khác nhau nhưng tựu chung lại đều phải thực hiện đúng những nguyên tắc cơ bản của WTO Đó là:

1.1.3.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại

Không phân biệt đối xử trong thương mại được coi là nguyên tắc cơ bản và nền tảng nhất của luật TMQT

Nội dung của nguyên tắc này bao gồm chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN)

và chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) Chế độ MFN là chế độ không phân biệt đối xử

mà các quốc gia dành cho hàng hoá, dịch vụ của các quốc gia khác Còn chế độ NT

Trang 38

lại điều chỉnh chính sách thương mại không phân biệt đối xử của các quốc gia đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu và hàng hoá, dịch vụ trong nước

Qui chế MFN và NT đã được hầu hết các nước công nhận, không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hoá mà còn trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, lĩnh vực dịch vụ, sở hữu trí tuệ

- Theo Hiệp định GATT (áp dụng đối với thương mại hàng hoá), qui chế MFN nghĩa là: nếu một quốc gia thành viên cho phép một nước được hưởng ưu đãi

về thuế quan hay các ưu đãi khác đối với bất kỳ sản phẩm nào thì ngay lập tức và vô điều kiện, quốc gia này cũng phải cho phép các nước thành viên khác hưởng ưu

đãi như thế đối với sản phẩm tương tự (GATT 1994, Điều I)

Hơn thế nữa, nghĩa vụ đối xử theo qui chế tối huệ quốc không chỉ hạn chế ở thuế quan mà còn áp dụng đối với:

+ Bất kỳ khoản phí nào liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu

+ Phương pháp đánh thuế và các khoản phí nói trên

+ Những qui tắc và thủ tục liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu

+ Thuế và phí nội địa đối với hàng nhập khẩu và các luật lệ, qui định, điều kiện ảnh hưởng đến việc bán hàng

+ Việc quản lý các hạn chế định lượng (ví dụ như phân bổ hạn ngạch giữa các quốc gia cung cấp hàng trên cơ sở không phân biệt đối xử) trong những trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng hạn chế định lượng

Vì vậy, nguyên tắc này nhấn mạnh rằng, khi thoả thuận áp dụng qui chế tối huệ quốc, các nước thành viên cam kết không phân biệt đối xử giữa các nước và không được đối xử với một nước kém ưu đãi hơn một nước khác trong mọi vấn đề liên quan tới thương mại hàng hoá Tuy nhiên, các qui định của GATT cũng cho phép một số trường hợp ngoại lệ như những ưu đãi thương mại mà các nước nằm trong khu vực thương mại tự do dành cho nhau theo Hiệp định ưu đãi khu vực, hoặc các nước có chung đường biên giới thì không phải áp dụng cho các nước còn lại

Chế độ NT được qui định tại GATT 1994, Điều III:1 Theo đó, WTO yêu cầu các nước không phân biệt đối xử giữa hàng hoá sản xuất trong nước với hàng hoá nhập khẩu cùng loại về các vấn đề về thuế trong nước, các luật lệ qui định

Trang 39

chung Đãi ngộ quốc gia giúp cho hàng hoá nhập khẩu sau khi vượt qua hàng rào hải quan tại biên giới của một quốc gia sẽ được đối xử như những hàng hoá được sản xuất trong nước cùng loại

- Theo Hiệp định GATS (áp dụng đối với thương mại dịch vụ), qui chế Tối huệ quốc qui định rằng, Chính phủ của các nước thành viên không được phép phân biệt đối xử giữa các dịch vụ hoặc các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên

mà phải dành cho họ sự đối xử không kém phần ưu đãi so với mức mà các thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho bên thứ ba nào đó (Điều II của GATS) Qui chế MFN được áp dụng ngay lập tức, vô điều kiện mà mọi thành viên của GATS phải chấp nhận Tuy nhiên, GATS thừa nhận rằng không phải tất cả các nước có thể đảm nhận nghĩa vụ ngay mà vẫn cho phép có trường hợp ngoại lệ Các nước thành viên phải qui định rõ những trường hợp ngoại lệ trong Danh mục miễn trừ đối xử Tối huệ quốc, và phải được nêu ra khi đàm phán gia nhập GATS

Tại Điều XVII của GATS có qui định chế độ đãi ngộ quốc gia Theo đó, các quốc gia thành viên WTO phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất

kỳ quốc gia thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ họ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của chính mình

- Theo Hiệp định TRIPS (đối với sở hữu trí tuệ), qui chế Tối huệ quốc được qui định trong Điều 4, theo đó, tất cả các lợi ích, ưu đãi, đặc ân, đặc lợi, hay sự miễn trừ mà thành viên dành cho công dân của bất kỳ nước thành viên nào khác cũng sẽ được áp dụng cho tất cả các thành viên khác

Còn chế độ đãi ngộ quốc gia trong TRIPS được qui định cụ thể tại Điều 3.1 Theo đó, mỗi thành viên phải dành cho công dân của thành viên nước khác sự đối

xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử với công dân của chính mình trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Các nghĩa vụ thực hiện qui chế MFN, NT trong TRIPS được áp dụng bình

đẳng cho tất cả các quốc gia thành viên Tuy nhiên, những quốc gia đang phát triển

được ưu tiên hưởng khoảng thời gian chuyển tiếp lâu hơn để hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế bảo hộ SHTT của mình cho phù hợp với qui định chung của TRIPS

Trang 40

- Theo Hiệp định TRIMS (đối với đầu tư nước ngoài) được đàm phán tại vòng Urugoay đòi hỏi các quốc gia phải huỷ bỏ từng bước những điều kiện bắt buộc áp dụng riêng với các nhà đầu tư nước ngoài (những yêu cầu về hàm lượng nội địa, yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu, yêu cầu về tỷ lệ góp vốn, những hạn chế về ngoại hối…) vì chúng bị coi là không nhất quán đối với các qui chế MFN, NT Thời kỳ huỷ bỏ đối với các nước phát triển là 2 năm kể từ ngày 1.1.1995 Các nước

đang phát triển thời kỳ chuyển đổi là 5 năm, các nước chậm phát triển là 7 năm

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, theo quan điểm của WTO, thuế quan

là công cụ bảo hộ hợp pháp cho các ngành sản xuất trong nước, bởi vì thuế quan dễ dàng đạt được sự công khai, minh bạch, rõ ràng và dễ dự đoán, dễ đàm phán để đi

đến cắt bỏ Ngược lại, các biện pháp hạn chế định lượng cần phải được xoá bỏ bởi vì nó đã tạo nên mức độ bảo hộ cao, không công bằng, không rõ ràng và khó dự

đoán Tuy nhiên các biện pháp hạn chế định lượng vẫn có thể được phép sử dụng khi các quốc gia gặp khó khăn trong cán cân thanh toán quốc tế nhằm đảm bảo tình hình tài chính đối ngoại của mình Trường hợp ngoại lệ này tạo sự linh hoạt cho các nước đang phát triển hơn là các nước phát triển trong việc sử dụng các hạn chế định lượng đối với hàng nhập

1.1.3.3 Nguyên tắc cạnh tranh tự do và lành mạnh

Môi trường cạnh tranh tự do và lành mạnh là một yêu cầu bắt buộc để hoạt

động TMQT có thể vận hành một cách hiệu quả và có lợi cho các bên tham gia

Nguyên tắc này giải quyết hai loại tập quán thương mại “không lành mạnh”

đã làm ảnh hưởng đến những điều kiện cạnh tranh Thứ nhất, cạnh tranh sẽ không lành mạnh nếu hàng xuất khẩu được trợ giá Thứ hai, những điều kiện cạnh tranh bị

ảnh hưởng nếu hàng xuất khẩu được bán phá giá Những biện pháp khắc phục

Ngày đăng: 04/11/2023, 23:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Mô hình “kim c−ơng” của Michael Porter - Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Hình 1.2 Mô hình “kim c−ơng” của Michael Porter (Trang 35)
Bảng 1.2: Tốc độ tăng GDP theo ngành của Việt Nam  (%) - Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.2 Tốc độ tăng GDP theo ngành của Việt Nam (%) (Trang 43)
Bảng 1.4: Thứ hạng cạnh tranh quốc gia của Việt Nam   N¨m  Xếp thứ hạng  So với số n−ớc đ−ợc xem xét - Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.4 Thứ hạng cạnh tranh quốc gia của Việt Nam N¨m Xếp thứ hạng So với số n−ớc đ−ợc xem xét (Trang 48)
Bảng 1.5: Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả ở Nhật Bản (%) - Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.5 Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả ở Nhật Bản (%) (Trang 58)
Bảng 1.6. Mức thuế quan trung bình của Trung Quốc - Tiếp tục hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của việt nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.6. Mức thuế quan trung bình của Trung Quốc (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w