Tính cấp thiết của đề tài: Với cơ chế tự do hoá lãi suất, lãi suất mới thực sự là giá cả của tiền tệ được hình thành do quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.. Với mong muốn đóng góp ý k
Trang 1DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
1. Đặng Thị Ngọc Lan, Một số ý kiến về điều hành lãi suất
trong giai đoạn hiện nay, đăng trên tạp chí phát triển kinh
tế số 138, tháng 4/2002 trang 37,38
2 Đặng Thị Ngọc Lan, Xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ
giá, đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số 148, tháng
2/2003, trang 10,11,12
3 Đặng Thị Ngọc Lan, Phương pháp xác định chi phí huy
động vốn và sử dụng các thước đo chi phí huy động vốn,
đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số 172, tháng 2/2005, trang 34, 35
4 Đặng Thị Ngọc Lan, On a Bank Interest Rate Poling under Liberation Trend; Economic development Review Number
132, August 2005, page 8, 9
5 Đặng Thị Ngọc Lan, On the Strategy to Develop Bank
Soundness; Economic development Review Number 133,
September 2005, page 6, 7
Trang 2Công trình được hoàn thành tại : Trường Đại Học Kinh Tế
Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Lê Văn Tư
2 PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Phản biện 1 : GS.TS Cao Cự Bội
Phản biện 2 : PGS.TS Đỗ Linh Hiệp
Phản biện 3 : PGS.TS Lê Hoàng Nga
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng Chấm luận án Nhà nước
họp tại : Trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh
Vào lúc : ………… giờ ………… ngày ……… tháng ……… năm 2005
Có thể tìm hiểu luận án tại : Thư viện Tổng Hợp Thành phố
Hồ Chí Minh hoặc thư viện Trường Đại Học Kinh Tế Thành
phố Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
[ \
ĐẶNG THỊ NGỌC LAN
GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ TÍN DỤNG
Mã số: 5.02.09
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2005
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Với cơ chế tự do hoá lãi suất, lãi suất mới thực sự là giá cả của tiền tệ được
hình thành do quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Ở Việt Nam, tự do hoá lãi
suất là bộ phận cấu thành không thể tách rời trong tiến trình đổi mới căn bản và
sâu sắc toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua Những bước đi về tự do
hoá lãi suất ở nước ta trong thời gian qua mới chỉ góp phần tích cực ổn định kinh
tế vĩ mô, bước đầu tạo môi trường cho tăng trưởng kinh tế chứ chưa làm cho chính
sách lãi suất nói riêng và các công cụ tài chính nói chung trở thành vũ khí sắc bén
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững Vì vậy, hoàn thiện cơ
chế tự do hoá lãi suất là một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách Với mong muốn
đóng góp ý kiến của mình vào trong quá trình hoàn thiện hơn nữa chính sách lãi
suất nhằm thực hiện thành công tự do hoá lãi suất trong tương lai để cho chính
sách lãi suất phải đi trước trong quá trình đổi mới và hội nhập, nên tác giả đã chọn
đề tài: “ Giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tự do hoá lãi suất của hệ thống
ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực “để
thực hiện luận án tiến sỹ của mình
2 Phân tích những công trình nghiên cứu đã có của các tác giả có liên
quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu
Nhìn chung, những vấn đề về công cụ lãi suất đã có nhiều tác giả nghiên
cứu nghiêm túc được thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học Tuy
nhiên, do thời gian, phạm vi đề tài nên các tác giả chưa đề cập một cách có hệ
thống đến những cơ sở lý luận về lãi suất trên thị trường tiền tệ, thị trường tài
chính trên thế giới đã sử dụng cũng như việc các tác giả đưa ra giải pháp sử
dụng rất nhiều loại lãi suất nhưng chưa đưa ra loại lãi suất nào là lãi suất mục
tiêu, lãi suất chủ đạo của Ngân hàng trung ương Hơn nữa, với xu thế tự do hoá tài
chính cần phải có chiến lược xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh và bền vững
đã chưa được các tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu đã có trước đây
Thực tế vẫn còn đòi hỏi có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống
về việc hoàn thiện chính sách lãi suất của hệ thống Ngân hàng Việt Nam nhằm
thúc đẩy quá trình tự do hoá lãi suất ở Việt Nam Với đề tài này, tác giả đã tập
trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề mà các tác giả trước đây chưa đề cập
hoặc chưa giải quyết một cách thoả đáng nhằm bổ sung đầy đủ hơn cả về lý luận
cũng như thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận đổi mới về lãi suất trong hệ thống tài chính – ngân hàng
hiện đại, về quan điểm trong quá trình tự do hoá lãi suất và những thực tiễn của
chính sách lãi suất trên thế giới và Việt Nam đã đề ra định hướng chính sách lãi
suất của NHNN và NHTM và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết những vấn đề có liên quan đến tầm vĩ mô lẫn vi mô trong nền kinh tế nói chung cũng như trong hoạt động ngân hàng nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là bao gồm hầu hết các loại lãi suất của hệ thống tài chính – ngân hàng hiện đại cũng như sự vận hành chính sách lãi suất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu của luận án là cơ chế lãi suất của toàn bộ hệ thống ngân hàng hai cấp bao gồm Ngân Hàng Nhà Nước và hệ thống các Ngân hàng Thương mại và các Tổ chức tín dụng
5 Nguồn tài liệu và phương pháp luận nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu:
Dữ liệu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp được lấy chủ yếu từ các phân tích thống kê và tham khảo thêm các dạng tài liệu khác nhau của Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế,của nguồn số liệu của ngành Ngân hàng Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê….Tất cả những tài liệu này nhằm dẫn chứng cho đề tài thêm phong phú, góp phần làm sáng tỏ cơ chế điều hành lãi suất của NHNN trong giai đoạn hiện nay và thời gian sắp tới
5.2 Phương pháp luận nghiên cứu:
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu và do yêu cầu đặc điểm của đề tài, chủ yếu dùng các phương pháp như mô tả, diễn giải, quy nạp vấn đề, phân tích thống kê, so sánh nhận định xu hướng, khái quát hoá bằng kết luận và kết hợp việc tiếp cận các số liệu thực tế đã tổng hợp…
6 Đóng góp mới của đề tài:
quan điểm của các nhà kinh tế học qua các thời kỳ, cũng như trình bày khá đầy đủ về các loại lãi suất trong hệ thống tài chính - ngân hàng hiện đại.Bên cạnh đó, luận án đã đưa ra giải pháp mang tính tích cực và thực tiễn cao, có thể áp dụng trong tình hình hiện nay như: Xác định lãi suất mục tiêu của Ngân hàng trung ương, xác định lãi suất chuẩn trên thị trường tiền tệ, tạo ra khung lãi suất mới để hình thành hành lang lãi suất…
Hơn nữa, luận án đưa ra những luận điểm mới về hoạt động của hệ thống ngân hàng Đó là để thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất thì cần phải có một hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững và muốn làm được như vậy với thực trạng hiện nay về hoạt động của hệ thống ngân hàng thì nhất thiết phải sử dụng giải pháp là tái lập ngân hàng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày với khối lượng 183 trang, 22 bảng, 15 hình, đồ thị và 21 phụ lục và luận án có kết cấu như sau:
Trang 4Chương 1: Tổng quan về lãi suất
Chương 2: Thực tiễn vận hành công cụ lãi suất trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường ( từ năm 1985 đến
nay)
Chương 3: Giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tự do hoá lãi suất của hệ
thống ngân hàng Việt Nam
Toàn bộ số liệu sử dụng trong luận án đều được trích dẫn trong các tài liệu
tham khảo và tài liệu trích dẫn được liệt kê ở phần cuối của luận án này
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT 1.1 Các quan điểm của các nhà kinh tế học về lãi suất và khái niệm về lãi
suất
1.1.1 Các quan điểm của các nhà kinh tế học về lãi suất
Quan điểm lãi suất của trường phái cổ điển
Marshall cho rằng: “Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên bất
kỳ thị trường nào Lãi suất thường hướng tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu
về vốn trên thị trường đó với lãi suất đó bằng tổng số vốn được cung ứng với lãi
suất đó”ù.(35,220 –221)
Lý thuyết của trường phái cổ điển mới
Trường phái cổ điển mới giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ 19,
đầu thế kỷ 20 Đứng đầu trường phái này là Leon Walras(1834-1910), Alfred
Marshall(1842-1924), Irving Fisher Học thuyết này có ý nghĩa thực tiễn đối với
xí nghiệp tư bản, nó giúp cho các xí nghiệp độc quyền đưa ra các chính sách giá
cả để thu được lợi nhuận độc quyền cao
Quan điểm về lãi suất của J.M Keynes
J.M Keynes cho rằng:” Định nghĩa đơn giản về lãi suất nói lên rõ ràng lãi
suất là khoản thù lao cho việc mất khả năng chuyển hoán trong một thời gian nhất
định” (35,212), đồng thời ông giải thích thêm : “ Lãi suất không phải là cái “giá”ù
làm cân bằng các nhu cầu về nguồn lực để đầu tư và mức sẵn sàng kiềm chế trong
tiêu dùng hiện tại Nó là cái” giá”ù làm cân bằng ý muốn giữ của cải dưới dạng
tiền mặt có sẵn” (35,212) Điểm cốt lõi trong quan điểm của Keynes là chính sách
lãi suất thấp Quan điểm lãi suất của Keynes đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các
nước kinh tế phát triển tại Châu Aâu và Bắc Mỹ trong hai thập niên 50-60 của thế
kỷ 20
Quan điểm lãi suất của trường phái tiền tệ
Các nhà kinh tế của trường đại học Chicago do Milton Friedman đứng đầu
đưa ra những chứng minh quan điểm lãi suất của Keynes không hoàn toàn chính
xác Friedman đã cho rằng chính sách tiền tệ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế
1929-1933 không phải là một chính sách tiền tệ nới lỏng, nên không phải hoàn toàn áp dụng một mức lãi suất thấp Từ đó, những nhà kinh tế học thuộc trường phái tiền tệ cho rằng không chỉ có lãi suất ảnh hưởng đến đầu tư Friedman cho rằng chính sách lãi suất thấp mà Keynes đưa ra chỉ có tác dụng trong ngắn hạn Theo Friedman, nếu muốn có lãi suất thấp thì NHTW phải tăng cung ứng tiền thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu hoặc nghiệp vụ thị trường mở Điều này sẽ khiến cho trong một thời gian sau, lạm phát sẽ tăng lên Để kiềm chế lạm phát, NHTW cuối cùng rồi cũng phải nâng lãi suất, kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và có nghĩa là phải áp dụng một chính sách tiền tệ thắt chặt
Lý thuyết về lãi suất cuả trường phái chính hiện đại Học thuyết này được trình bày rõ trong " Kinh tế học" của Samueson Samuelon chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào hai bàn tay là cơ chế thị trường và nhà nước Đặc điểm phương pháp luận nổi bật của” kinh tế học trường phái chính hiện đại" là trên cơ sở kết hợp các lý luận của trường phái Keynes, trường phái cổ điển Họ sử dụng một cách tổng hợp các quan điểm kinh tế của các
xu hướng, các trường phái kinh tế học khác để đưa các lý thuyết kinh tế của mình
Học thuyết của Karl Marx về nguồn gốc và bản chất của lợi tức trong nền kinh tế hàng hoá TBCN
Karl Marx cho rằng lãi suất là giá cả của tư bản tiền tệ, nhưng nó là giá cả đặc biệt và phi lý Khái niệm này đã được các nhà kinh tế đều tạm chấp nhận ban đầu
Karl Marx cho rằng lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất nhượng cho nhà tư bản tài chính Như vậy, về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay như là giá cả của hàng hoá tư bản cho vay Những quan điểm của Karl Marx về lãi suất đã được vận dụng trong việc định hình các chính sách lãi suất như : Lãi suất cho vay< tỷ suất lợi nhuận bình quân của sản xuất kinh doanh, lợi nhuận phụ thuộc vào cung cầu tiền tệ……
1.1.2 Khái niệm về lãi suất
Quan niệm lãi suất là một loại giá của Karl Marx được nhiều nhà kinh tế ủng hộ và nó thường được diễn đạt như sau:"Lãi suất là giá cả của việc mua và bán quyền sử dụng vốn hay nói cách khác lãi suất là giá cả của tiền nhưng giá này chỉ có thể xuất hiện khi diễn ra các quan hệ tín dụng và do vậy, người ta còn gọi là giá cả của tín dụng”
Trong nền kinh tế hiện đại, lãi suất được quan niệm là giá cả của các khoản vốn tín dụng, giá cả của quyền sử dụng vốn tiền tệ trong một thời gian nhất định Trong thực tế, thuật ngữ lãi suất được sử dụng phổ biến để phản ánh giá cả trong quan hệ tín dụng Đây là hình thức chung nhất biểu hiện về lượng trong tất cả
Trang 5quan hệ tín dụng được hình thành trong xã hội, còn lợi tức (tiền lãi) chính là hình
thức biểu hiện trong từng quan hệ tín dụng cụ thể
1.2 Lãi suất trong hệ thống tài chính - ngân hàng hiện đại
1.2.1 Lãi suất của NHTW
Lãi suất của NHTW là công cụ gián tiếp điều hành nền kinh tế vi mô Tùy
thuộc vào khả năng kiểm soát của NHTW và mức độ ảnh hưởng của lãi suất được
lựa chọn tới mặt bằng lãi suất thị trường và nền kinh tế, NHTW có thể lựa chọn
các lãi suất ngắn hạn khác nhau làm mục tiêu hoạt động Thị trường tiền tệ liên
ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế điều chỉnh bằng lãi suất thông qua
vai trò của tổ chức môi giới tiền tệ
Lãi suất ngắn hạn của NHTW có thể phân loại theo các tiêu thức sau:
Lãi suất tái cấp vốn :
Lãi suất tái cấp vốn bao gồm lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu của NHTW
Đây là lãi suất mà NHTW sử dụng để tái cấp vốn cho NHTM và các tổ chức tín
dụng
Lãi suất trên thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở là việc mua bán chứng khoán( thường là các chứng
khoán nhà nước) Những giao dịch này được thực hiện bởi phòng giao dịch của
NHTW dành cho toàn bộ hệ thống ngân hàng Phòng giao dịch của NHTW thường
mua lại chứng khoán nếu họ muốn mở rộng tín dụng Nghiệp vụ thị trường mở
được tiến hành khi NHTW mua vào hoặc bán ra các chứng khoán trên thị trường
tiền tệ Như vậy, lãi suất trên thị trường mở có tác dụng lôi cuốn một số lượng tiền
tiết kiệm hoặc tiền dư tạm thời từ nơi thừa sang nơi thiếu hoặc nơi cần
1.2.2 Lãi suất trên thị trường tiền tệ
Lãi suất trên thị trường mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn
Lãi suất trên thị trường này thường có sự biến đổi theo quan hệ cung cầu bao
gồm các nguyên tắc chung sau đây: Lãi suất biến đổi ngược chiều với giá của các
phiếu nợ, lãi suất tùy thuộc vào mối tương quan giữa cung và cầu của các phiếu
nợ, lãi suất trên TTTT đôi khi biến đổi theo ý muốn của NHTW thể hiện qua
nghiệp vụ thị trường mở
Lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng.( TTNTLNH)
Thị trường nội tệ liên ngân hàng (Interbank Market) là thị trường giữa các
ngân hàng với nhau Với tư cách là “giá” vốn, lãi suất trên TTLNH được hình
thành trên cơ sở cung cầu và bao gồm hai bộ phận :
Lãi suất của nguồn vốn cho vay theo từng kỳ hạn (The interest rate given
the time interval)
Trên cơ sở các mức lãi suất chào như vậy, các NHTM tiến hành cho các
ngân hàng vay vốn của mình cộng thêm một biên độ để hình thành lãi suất thị
trường Biên độ này (Margin) lớn hay nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào rủi ro của thị
trường và rủi ro tín dụng Căn cứ vào dự báo vốn khả dụng của mình, các ngân hàng chào lãi suất cho vay/ đi vay theo các loại thời hạn khác nhau lên màn hình giao dịch Các ngân hàng, người kinh doanh(Dealers) thỏa thuận với nhau thông qua điện thoại (một nửa số giao dịch liên ngân hàng được thực hiện thông qua giao dịch trực tiếp các ngân hàng, nửa còn lại được thực hiện thông qua người môi giới.)
Cụ thể, lãi suất liên ngân hàng được hình thành như sau:
Lãi suất đối với các giao dịch hiện tại
Giả sử có dịch chuyển lượng tiền cơ bản (MB) từ ngân hàng A sang ngân hàng B thông qua một giao dịch mua bán hẳn (outright trade) của ngân hàng B cho ngân hàng A Lãi suất của sự dịch chuyển một đơn vị MB này theo thời hạn m ngày trên thị trường gọi là Im , lãi suất tạo ra từ việc nắm giữ chứng khoán là Ym và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Rm được tính bằng công thức như sau:
Rm = Im - Ym
Lãi suất đối với các giao dịch tương lai
Trong các giao dịch tương lai thì lãi suất được ấn định vào ngày hôm nay cho một sự dịch chuyển MB vào một ngày trong tương lai Việc ấn định lãi suất trong tương lai thông thường được tính trên lãi suất tại thời điểm hiện tại và dự đoán tín hiệu về biến động của lãi suất tại thời điểm trong tương lai
Cơ chế hình thành lãi suất được NHTW ấn định theo các mô hình sau:
- Lãi suất trần, như lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất tái cấp vốn( Lombard)… Mục đích của lãi suất này là hạn chế sự biến động “quá nóng” của thị trường
- Lãi suất sàn, như lãi suất tiền gửi tại NHTW, lãi suất chiết khấu (trong trường hợp chiết khấu, NHTW thường thực hiện hạn mức đối với từng tổ chức tín dụng)… Thông qua lãi suất này, NHTW sẽ hạn chế được sự giảm lãi suất quá thấp và có thể ảnh hưởng đến mục tiêu ổn định tiền tệ của NHTW
Lãi suất dao động trong khoảng lãi suất trần- sàn này là lãi suất của thị trường tiền tệ, lãi suất của thị trường mở
Ngoài những công cụ truyền thống như đã nêu trên, NHTW còn sử dụng nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ với việc điều tiết vốn khả dụng Các công cụ sử dụng rộng rãi nhất là mua(repos) nội tệ, sau đó là hoán đổi(swap) hối đoái
1.2.3 Lãi suất trên thị trường vốn
Lãi suất trên TTTT là lãi suất ngắn hạn, còn lãi suất trên thị trường vốn là lãi suất dài hạn Nguyên tắc về sự biến đổi của lãi suất trên thị trường vốn bao gồm: Những biến đổi của lãi suất trên thị trường vốn cũng theo một vài nguyên tắc chung về sự biến đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ
Trang 6Ở trên thị trường vốn không có sự can thiệp trực tiếp của NHTW như trên thị
trường tiền tệ
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Như đã phân tích ở trên, lãi suất là phạm trù phức tạp do nó chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố khác nhau Dưới đây sẽ phân tích một số nhân tố chủ yếu:
1.3.1 Mức cung cầu về tiền tệ
Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị
trường Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được dành riêng cho chính phủ bởi vì
hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để giữ cho tiền có giá trị Công chúng
và các doanh nghiệp cần tiền để làm phương tiện giao dịch, trao đổi mua bán
hàng hoá dịch vụ…Các nhân tố này hợp thành mức cầu tiền tệ để giao dịch
Trong thực tế đường cung và đường cầu có lãi suất cân bằng phản ánh cùng
một lúc nhiều nhân tố khác nhau Điểm cân bằng chỉ thể hiện một cách lôgic
thông qua cơ chế cung cầu ở một quốc gia có thể tác động đến lãi suất như thế
nào.Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý
nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ Khi nào thì
NHTW bơm tiền ra lưu thông, khi nào thì hút tiền từ lưu thông để điều chỉnh lãi
suất thị trường một cách hợp lý, trên cơ sở đó ổn định thị trường, thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế, giảm lạm phát
1.3.2 Mức cung cầu về quỹ cho vay
Khi mức cầu về vốn vượt quá mức cung thì lãi suất tăng Khi mức cầu về vốn
thấp hơn mức cung thì lãi suất sẽ giảm Qui luật cung cầu ảnh hưởng đến sự tăng
mức lãi suất tổng quát cũng như mức tăng lãi suất của những kỳ hạn khác nhau
Theo phương pháp này, người ta chú trọng đến lưu lượng tài chính từ các khu vực
khác nhau của nền kinh tế Nó tìm cách giải thích những thay đổi của lãi suất
bằng cách xem xét sự tổng hợp cung cầu của doanh nghiệp, hộ gia đình và các
khu vực của nhà nước
Ở đây có hai lý thuyết khác nhau về vai trò của sự gia tăng mức cung tiền tệ
• Một lý thuyết cho thấy sự tăng mức cung tiền tệ có ảnh hưởng đến lãi suất
thông qua tác động của nó đến cung tín dụng
• Một lý thuyết khác cho rằng tăng mức cung tiền ảnh hưởng đến lãi suất
thông qua tác động của nó đến mức lạm phát dự kiến
Các nhân tố có liên quan đến lãi suất thường tác động lẫn nhau Trong một
thời kỳ cụ thể, một vài nhân tố có lẽ gây áp lực làm tăng lãi suất, trong khi đó các
nhân tố khác lại tạo áp lực làm giảm lãi suất
1.3.3 Lý thuyết trọng thanh khoản trên thị trường tiền tệ hay lý thuyết ưa
thích tiền mặt
Sở dĩ có sự hoà đồng này là vì chỉ có bản thân tiền mặt mới có đầy đủ tính
chất thanh khoản theo đúng định nghĩa Mức lãi suất trong thị trường tiền tệ
thường khác biệt so với thị trường vốn Thị trường tiền tệ cung cấp phương tiện giúp nhanh chóng điều chỉnh tình hình thanh khoản thực của các chủ thể tham gia, còn thị trường vốn có gắn bó với tiết kiệm và đầu tư Nó đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng trong nền kinh tế Lý thuyết trọng thanh khoản ( hay lý thuyết
ưa thích tiền mặt) rất hữu ích cho việc phân tích các lực lượng cung cầu tác động lên tình trạng cân bằng trong thị trường tiền tệ
1.3.4 Lạm phát và lãi suất
Lãi suất thực chứ không phải lãi suất danh nghĩa ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa con nợ và chủ nợ và các dòng chảy về vốn ngắn hạn giữa các quốc gia với nhau Do vậy, đòi hỏi phải tiến hành các nghiên cứu hay tính toán cuối cùng có được một lãi suất thực, có nghĩa là phải nghiên cứu hay tính toán tìm ra một số đo nào đó về lạm phát và trên cơ sở đó cộng với lãi suất danh nghĩa để có một lãi suất thực
1.3.5 Tỷ suất lợi nhuận
Lãi suất tín dụng là một bộ phận của thu nhập( V+m), vì vậy cần duy trì mối tương quan đảm bảo lãi suất tín dụng nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận Do đó sự tăng hay giảm tỷ suất lợi nhuận sẽ tạo điều kiện mở rộng hay thu hẹp khoảng dao động của lãi suất tín dụng
1.3.6 Sự ổn định của nền kinh tế
Sự ổn định của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến cung cầu quỹ cho vay, cụ thể: Aûnh hưởng đến cung quỹ cho vay :
Aûnh hưởng đến cầu quỹ cho vay :
1.3.7 Các chính sách của nhà nước
Mục tiêu của một nền kinh tế phát triển là tạo ra sản lượng cao, tăng nhanh tổng sản phẩm quốc doanh, đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động, cân bằng xuất nhập khẩu Để đạt được mục tiêu trên, nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế Quá trình thực hiện các chính sách của nhà nước đều tác động đến lãi suất cân bằng trên thị trường
Rõ ràng rằng, ngân hàng cần nhận thức và không thể bỏ qua những tác động tiềm năng của việc thực thi các chính sách kinh tế, tài chính tiền tệ, bởi vì tất cả những yếu tố này đều tác động trực tiếp với việc quản trị lãi suất, tài sản nguồn vốn và quy mô chi phí, thu nhập của ngân hàng
1.4 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường
1.4.1 Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Lãi suất là công cụ quan trọng trong chính sách tiền tệ
Lãi suất góp phần giữ vững giữa cung và cầu hàng hóa
Lãi suất là công cụ tác động mạnh mẽ đến lạm phát
Trang 7Lãi suất là động lực của tiết kiệm và đầu tư
Tóm lại, một mức lãi suất cao hay thấp được giữ trong một thời gian đủ dài sẽ
có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiết kiệm và đầu tư, do đó ảnh hưởng đến sự
phát triển của nền kinh tế
1.4.2 Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.5 Chính sách lãi suất của hệ thống ngân hàng trong xu thế hội nhập kinh tế
thế giới và khu vực
1.5.1 Tự do hóa lãi suất trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập khu
vực
Khái niệm về tự do hoá lãi suất
Tự do hoá lãi suất là một nội dung quan trọng hàng đầu của tự do hoá tài
chính Theo quan niệm phổ biến nhất, tự do hoá lãi suất là một quá trình hình
thành cơ chế lãi suất chủ yếu tuân theo quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường,
trong đó sự kiểm soát lãi suất của ngân hàng trung ương được thực hiện chủ yếu
thông qua việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ (chứ không phải bằng
biện pháp hành chính) tác động lên cung – cầu về vốn để hướng lãi suất thị trường
biến động phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ.Nói cách ngắn gọn, tự do
hoá lãi suất là quá trình thực hiện cơ chế lãi suất thị trường
Yêu cầu và lộ trình của quá trình tự do hoá lãi suất
Để cho quá trình tự do hoá lãi suất hoạt động và phát huy tác dụng thì nhất
thiết nhà nước phải tạo tiền đề để nâng dần trình độ kinh tế tiền tệ của nền kinh
tế được thể hiện ở những vấn đề sau:
Đảm bảo nguồn cung ứng tín dụng dồi dào cho xã hội
Nhà nước cho phép thực hiện tín dụng thương mại
Mở rộng thị trường vốn để các doanh nghiệp tìm kiếm vốn tiền tệ trên thị
trường
Đảm bảo điều kiện vật chất của thị trường để NHNN có thể điều hành
chính sách lãi suất có hiệu quả
Đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho việc điều hành
của NHNN được thực hiện thông qua các công cụ điều hành gián tiếp trên TTTT
và thị trường chứng khoán
Trong tự do hoá tài chính, lãi suất do thị trường quyết định, nhưng các nhà
hoạch định chính sách cũng cần kiểm tra quá trình tự do hoá lãi suất
Trước hết, các nhà hoạch định chính sách phải quyết định thời điểm bắt đầu
và tốc độ tự do hoá lãi suất, thông thường căn cứ vào mức tăng quy mô số lượng
ngân hàng điều hành tín dụng theo cơ chế thị trường và căn cứ vào những kết quả
đạt được về cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước Sau đó, các nhà hoạch định
chính sách phải quyết định lộ trình tự do hóa sao cho tiến trình tự do hóa không
làm tổn thương đến hệ thống ngân hàng Song song vấn đề này, ngân hàng trung
ương cần đưa ra một chiến lược điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện hệ
thống tài chính đã được tự do hoá Cuối cùng, các nhà hoạch định chính sách cần phải chuẩn bị những công cụ tài chính mới sẽ áp dụng sau khi tiến hành tự do hóa
1.5.2 Những bài học đối với Việt Nam từ kinh nghiệm của một số nước
trong quá trình thực hiện tự do hoá lãi suất
Mức độ thành công hay thất bại còn tùy thuộc vào cách thức và tiến trình tự do hoá lãi suất ở mỗi nước với những đặc điểm riêng biệt và khác nhau, phụ thuộc vào mức độ kiểm soát tài chính, tính chất của hệ thống tài chính, khả năng và trình độ quản lý của các cấp vĩ mô… và phụ thuộc vào điều kiện quốc tế trong từng giai đoạn tự do hoá
Mỗi nước tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, khả năng và mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường để lựa chọn bước đi nhanh hoặc bước đi dần dần theo lộ trình đã vạch ra nhằm tránh những tổn thất có thể xảy ra cho thị trường tài chính, đồng thời các doanh nghiệp, những tổ chức tài chính trong nước có thời gian để thích nghi, điều chỉnh hoạt động kinh doanh phù hợp với sự thay đổi của thị trường
Trình tự, lộ trình, thời gian, biện pháp thực hiện cơ chế lãi suất thị trường cũng có sự khác nhau giữa các nước, thậm chí có nội dung tiến hành trái ngược nhau
Vấn đề không kém phần quan trọng là phải có “dự trữ chiến lược”để ứng phó những khó khăn không lường trước có thể xảy ra
1.5.3 Mối quan hệ giữa chính sách lãi suất với chính sách tiền tệ và với lãi suất trên thị trường vốn
Mối quan hệ giữa chính sách lãi suất với chính sách cung ứng tiền Mối quan hệ giữa chính sách lãi suất với mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền
Mối quan hệ giữa chính sách lãi suất với mục tiêu kiềm chế lạm phát
CHƯƠNG II THỰC TIỄN VẬN HÀNH CÔNG CỤ LÃI SUẤT TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TỪ KHI CHUYỂN SANG CƠ CHẾ KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ( TỪ NĂM 1985 ĐẾN NAY)
2.1 Cơ chế quản lý theo lãi suất cố định (thời kỳ từ năm 1992 trở về trước) 2.1.1 Thời kỳ 1985 – 1988:
Trong thời kỳ từ năm 1985 đến năm 1988, chính sách lãi suất có mặt tích cực là lãi suất ngân hàng đã hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi, nhưng đây chỉ là “lãi giả mà lỗ thật” nên ngân hàng không thể bảo tồn vốn của mình do lạm phát tăng cao khiến cho lãi suất thực là số âm vì tỷ lệ lạm phát lớn hơn lãi suất danh nghĩa Hơn nữa, do tình hình thu chi ngân sách vẫn mất cân đối trầm
Trang 8trọng nên NHNN vẫn phải phát hành thêm tiền để bù vào ngân sách thiếu hụt,
khiến cho việc kiềm chế lạm phát ngày càng khó khăn hơn
2.1.2 Chính sách lãi suất thời kỳ 1989 – 1990:
Chính sách lãi suất trong thời kỳ này thực hiện theo nguyên tắc lãi suất bảo
toàn vốn cho người gửi và người cho vay, kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với sự
biến động của chỉ số giá cả trên thị trường Lãi suất cho vay phải nhằm vào mục
tiêu chính là phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đồng thời đảm bảo chi phí
và hạch toán của ngân hàng Việc điều chỉnh lãi suất được tiến hành từng bước
theo hướng thu hẹp dần khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và lãi suất
tiền gửi của các tổ chức kinh tế để tiến tới một lãi suất hợp lý
Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng : NHNN điều hành chính sách lãi suất
chỉ thực sự thành công khi môi trường pháp lý thích ứng với môi trường kinh tế, đủ
sức điều chỉnh các quan hệ tiền tệ, tín dụng ngân hàng phù hợp với trạng thái phát
triển kinh tế đất nước trong từng thời kỳ và không trái với thông lệ quốc tế
2.1.3 Chính sách lãi suất thời kỳ 1991 – 1992:
Tháng 5 năm 1990 hai pháp lệnh ngân hàng ra đời, nhưng vào tháng 10 năm
1991 thì NHNN Việt Nam mới có quyết định 202 nhằm thay đổi lãi suất ngân
hàng Sự thay đổi này dẫn đến các hậu quả như sau:- Lãi suất tiết kiệm giảm
trong khi lạm phát tăng cao, nên một số cá nhân cũng như một số doanh nghiệp
đầu tư vào nhà đất, thay vì gửi tiền vào ngân hàng, lãi suất cho vay đối với thành
phần kinh tế tư nhân quá cao so với hộ nông dân và doanh nghiệp nhà nước Tính
chất bao cấp lại được tiếp tục thể hiện, do lãi suất tiết kiệm từ 2,1% đến
3,5%/tháng, nhưng cho doanh nghiệp nhà nước vay với lãi suất thấp: từ 2,1% đến
2,4%/tháng Nhận thấy có sự bất hợp lý như trên, nên tháng 01/1992 biểu lãi suất
lại phải thay đổi Sự thay đổi lãi suất ngân hàng lần này đem đến một số chuyển
biến tích cực: Lạm phát đã được kiềm chế nên có thể đảm bảo lãi suất thực
dương, chính sách lãi suất đã xóa bỏ sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế,
khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân ra đời, khuyến khích đầu tư sản xuất kinh
doanh
2.2 Cơ chế quản lý lãi suất trần và sàn( thời kỳ từ 06/1992 – 1995)
Nhận thức những hạn chế của việc duy trì ấn định lãi suất cứng nhắc, thời kỳ
này NHNN đã thực hiện cơ chế khống chế lãi suất, cụ thể là NHNN quy định lãi
suất cho vay tối đa gọi là lãi suất trần (Interest Rate Caps) và mức lãi suất tiền gửi
tối thiểu gọi là lãi suất sàn (Interest Rate Floor) tạo thành khung giới hạn để trong
đó các ngân hàng xác định lãi suất kinh doanh Từ 06/1992 đến năm 1995, NHNN
đã nhiều lần thay đổi khung lãi suất Việc thay đổi lãi suất ngân hàng vào tháng
10/1992 theo hướng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi tiết kiệm đã dẫn đến nhiều
hiệu quả tốt Đó là lạm phát đã được kiềm chế nên chính sách lãi suất thực dương
đã được thực hiện và từ đó đến nay NHNN kiên trì thực hiện lãi suất thực dương,
Từ năm 1993, thực hiện được lãi suất cho vay > lãi suất huy động, theo đúng nguyên tắc của kinh tế thị trường, chấm dứt không phát hành tiền bù đắp thâm hụt NHNN đã thực hiện quản lý, điều hành lượng tiền cung ứng, sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ góp phần duy trì tốc độ, tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát ở mức một con số Tuy nhiên, tại một số các NHTM cổ phần mức chênh lệch này có lúc dao động từ 0,7% đến 1,0%/tháng Đây là khoản chênh lệch khá cao, nên đã mang lại cho các NHTM tỷ suất lợi nhuận trên vốn khá lớn, trong khi đó các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại phải gánh chịu chi phí lãi vay quá cao.Trước tình hình như vậy, tại kỳ họp thứ 8, tháng 10/1995, Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết bỏ thuế doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng thời khống chế mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng Kể từ ngày 01/01/1996 chính sách lãi suất chuyển sang giai đoạn thực hiện chính sách lãi suất trần
Bên cạnh đó, ngày 20/12/1992 Thống đốc NHNN mới ra quyết định đầu tiên về lãi suất cho vay tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu Trong thời kỳ này các loại lãi suất trên đã được điều chỉnh từ mức thấp (70% - 80%) lên 100% trên mức lãi suất ghi trong khế ước cho vay đối với tất cả các tổ chức tín dụng Như vậy, thực chất đã xóa bỏ tính chất bao cấp qua lãi suất tái chiết khấu nhằm đảm bảo tính chất bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng
Tóm lại, tuy rằng cơ chế lãi suất thời kỳ này NHNN vẫn còn khống chế lãi suất nhưng đã thực hiện theo nguyên tắc thị trường (Tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gởi < lãi suất cho vay) Do đó bước đầu công cụ lãi suất đã phát huy được vai trò tự nhiên vốn có của nó là đòn bẩy kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo lợi ích cho cả người gửi, người vay và tạo điều kiện cho ngân hàng kinh doanh có lãi NHTM cũng đã bắt đầu được chủ động trong việc đánh giá lãi suất huy động vốn và cho vay trong khuôn khổ lãi suất trần
và sàn của NHNN
2.3 Cơ chế quản lý lãi suất linh hoạt (thời kỳ 1996 đến nay)
2.3.1 Cơ chế lãi suất trần (thời kỳ 1996 – 1999)
Để thực hiện nghị quyết của quốc hội khóa IX, NHNN Việt Nam quyết định kể từ ngày 1/1/1996 thực hiện chính sách lãi suất như sau: Lãi suất cho vay ngắn hạn cao nhất: 1,75%/ tháng, lãi suất cho vay trung và dài hạn cao nhất: 1,7%/tháng trong đó NHNN khống chế mức chênh lệch lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng
Như vậy từø năm 1996, NHNN đã bắt đầu thực hiện tự do hóa lãi suất tiền gửi, tuy vẫn còn kiểm soát lãi suất kỳ phiếu, quy định mức trần lãi suất tiền gửi bằng đôla Mỹ và quy định trần lãi suất cho vay đồng nội tệ Ngày 1/10/1996, NHNN Việt Nam ban hành biểu lãi suất trần cho vay Mức lãi suất trần cho vay được điều chỉnh giảm trên cơ sở có 4 trần lãi suất Tuy nhiên trong thời kỳ này cho đến năm
Trang 91999, các NHTM đặc biệt là các NHTM cổ phần bằng nhiều cách khác nhau luôn
luôn cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần do NHNN quy định Đến ngày
01/7/1997, NHNN lại tiếp tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất trần xuống đến mức thấp
nhất kể từ năm 1985 Đợt hạ lãi suất này đã quy định được lãi suất cho vay trung
và dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1%/tháng, phần nào đáp ứng
được nguyên tắc lãi suất cho vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn
hạn Như vậy chính sách lãi suất cũng thể hiện việc khuyến khích các NHTM huy
động vốn và cho vay trung dài hạn Kết quả điều chỉnh lãi suất lần này đã xóa bỏ
việc khống chế mức chênh lệch 0,35%/tháng giữa lãi suất cho vay bình quân và
lãi suất huy động vốn bình quân, đồng thời quy định lãi suất cho vay giữa thành thị
và nông thôn ngang nhau Đây là thời kỳ thực hiện chính sách lãi suất 3 trần
Luật NHNN Việt Nam bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1998 và
trong quá trình đi tìm “lãi suất cơ bản”, NHNN Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện
chính sách lãi suất trần Trong năm 1999, NHNN Việt Nam đã điều chỉnh lãi suất
đến 5 lần, chủ yếu theo xu hướng hạ lãi suất Qua những lần NHNN điều chỉnh
trần lãi suất cho thấy trần lãi suất cho vay có phân biệt thời hạn vay vốn (lãi suất
cho vay ngắn hạn nhỏ hơn lãi suất cho vay dài hạn) Hơn nữa, sự phân biệt thể
hiện ở đối tượng cho vay, cụ thể giữa khu vực thành thị và nông thôn Ngoài ra
NHNN còn quy định lãi suất cho vay theo chính sách
Nhìn một cách tổng quan, lãi suất cho vay và huy động vốn liên tục giảm theo
đà của việc giảm lạm phát, điều này đã tác động tốt đến nhiều lĩnh vực kinh tế vĩ
mô và kinh tế vi mô Tóm lại, thời kỳ này NHNN đã phần nào thực hiện tự do hóa
lãi suất tiền gửi vì thế đã tạo điều kiện cho ngân hàng chủ động hơn trong việc
quyết định mức lãi suất huy động của mình Tuy nhiên, việc NHNN quy định trần
lãi suất cho vay có một số hạn chế nhất định do lãi suất nhiều khi không phản ánh
đúng cung cầu vốn trên thị trường
2.3.2 Cơ chế lãi suất cơ bản (thời kỳ từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002)
Từ tháng 8/2000 NHNN đã tiến thêm một bước mới trong cơ chế điều hành
lãi suất của mình bằng cách ban hành 4 quyết định để thay đổi việc điều hành
trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng
VND Thực tế sau gần hai năm áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản cho thấy cơ chế lãi
suất này đã có sự đổi mới, thể hiện ở chỗ NHNN mặc dù vẫn còn điều hành lãi
suất mang tính hành chính nhưng có quan tâm đến tín hiệu thị trường, chú trọng
cung cầu vốn tín dụng và mục tiêu của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, biên độ lãi
suất này chỉ phù hợp với các TCTD nhà nước và các khoản tín dụng cho vay khu
vực thành thị Còn đối với các TCTD cổ phần và các khoản tín dụng cho vay khu
vực nông thôn là chưa thỏa đáng Như vậy, vai trò của biên độ nhằm xác định trần
lãi suất cho vay tối đa đối với các TCTD đã không còn ý nghĩa đối vơiù xu hướng
ngày càng giảm thấp lãi suất cho vay trong nền kinh tế, kể cả khu vực thành thị và
nông thôn Do vậy, việc công bố tự do hóa lãi suất của NHNN là phù hợp với xu thế khách quan và là bước tiến tích cực nhằm loại bỏ những biện pháp cuối cùng có tính chất hành chính trong cơ chế điều hành lãi suất hiện nay
Bên cạnh đó, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu do NHNN công bố các mức cụ thể từ tháng 5/1997, thay vì tính theo tỉ lệ phần trăm trên mức lãi suất ghi trên khế ước cho vay của các TCTD và cũng được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Điều này có tác động gián tiếp trên TTTT
Qua những vấn đề đã phân tích chúng ta thấy rằng :Thực chất cơ chế điều hành lãi suất trong thời kỳ này là bước tiến quan trọng trong quá trình tiến tới tự
do hóa lãi suất đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập quốc
tế
2.3.3 Cơ chế lãi suất thỏa thuận (thời kỳ từ tháng 6/2002 đến nay)
Cơ chế lãi suất này được NHNN thực hiện chuyển đổi từng bước, bắt đầu từ ngày 29/5/2001, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ Theo cơ chế này, các TCTD ấn định lãi suất cho vay bằng USD Mỹ theo thỏa thuận với khách hàng dựa trên lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước
Từ ngày 30/5/2002 NHNN đã thực hiện bước đổi mới quan trọng trong cơ chế điều hành lãi suất của mình bằng việc ban hành quyết định 546/2002 QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại Điều này đã mở ra bước ngoặt lớn đánh dấu một sự mở đầu trong việc thực hiện
cơ chế tự do hóa lãi suất tại các tổ chức tín dụng không chỉ trong huy động vốn mà còn cả trong hoạt động cho vay đối với khách hàng Kể từ nay, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ mang tính chất tham khảo, đối với các TCTD
Tuy nhiên chính sách lãi suất trong thời gian này đã có tác động đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, cụ thể là các NHTM quốc doanh còn phải bao cấp trong việc cho vay các đối tượng chính sách, cho vay khắc phục hậu quả thiên tai… với lãi suất thấp Trong khi đó, lãi suất huy động bình quân đầu vào của NHTM thường cao hơn lãi suất này, điều này làm cho tính chất kinh doanh của ngân hàng bị triệt tiêu vì cho vay chẳng những không có thêm thu nhập mà còn bị lỗ về chi phí huy động vốn
2.3.4 Chính sách lãi suất cho vay ưu đãi:
Bên cạnh cơ chế lãi suất thỏa thuận chỉ áp dụng cho các hoạt động tín dụng – thương mại, lãi suất này không áp dụng cho các đối tựong chính sách Trong điều kiện khi chưa thành lập hệ thống ngân hàng chính sách thì NHTM được giao cho nhiệm vụ thực hiện chính sách ưu đãi này trên cơ sở quỹ của ngân sách Nhà nước chuyển qua Khi các ngân hàng chính sách được thành lập thì nhiệm vụ trên được giao cho các ngân hàng chính sách
Trang 102.4 Những thành tựu đạt được từ chính sách lãi suất của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam trong thời gian qua:
2.4.1 Chính sách lãi suất góp phần đẩy lùi lạm phát:
2.4.2 Chính sách lãi suất góp phần bảo vệ giá trị của đồng Việt Nam:
2.4.3 Chính sách lãi suất góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mang lại một số
hiệu ứng tốt cho nền kinh tế cụ thể là chính sách lãi suất góp phần thúc đẩy các tổ
chức kinh tế phát triển, chính sách lãi suất mới đã góp phần chấm dứt việc phát
hành tiền cho ngân sách nhà nước sử dụng thay vào đó là ngân sách phải đi vay
khi ngân sách bị thâm hụt
2.4.4 Chính sách lãi suất góp phần thu hút vốn và mở rộng tín dụng, nâng cao tỷ
lệ tiết kiệm và đầu tư
2.4.5 Chính sách lãi suất tiến dần đến tự do hóa lãi suất:
2.5 Những hạn chế của chính sách lãi suất trong thời gian qua:
2.5.1 Điều hành chính sách lãi suất dựa trên phương pháp điều chỉnh truyền thống
được duy trì khá lâu trong bối cảnh nền kinh tế đã chuyển dần sang cơ chế thị
trường
2.5.2 Chính sách lãi suất chưa sát với tỷ lệ lạm phát
2.5.3 Chính sách lãi suất chưa huy động hết nguồn vốn
2.5.4 Chính sách lãi suất chưa được phối hợp hài hoàvới các công cụ khác của
chính sách tiền tệ
2.5.5 Chính sách lãi suất tách rời khỏi hoạt động của thị trường chứng khoán
2.5.6 Mối tương quan giữa các loại lãi suất chưa hợp lý
2.5.7 Những vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện tự do hóa lãi suất
Việc điều hành chính sách lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản như hiện nay tỏ
ra không phù hợp với thông lệ quốc tế và chắc chắn sẽ hạn chế phần nào quá
trình hướng nhanh chóng đến quá trình tự do hóa lãi suất
2.6 Những nguyên nhân của tồn tại:
2.6.1 NHNN điều hành chính sách lãi suất chưa sát với tỉ lệ lạm phát:
2.6.2 Những thách thức đặt ra cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam chưa
được khắc phục triệt để
Nền tảng kinh tế vĩ mô vẫn chưa ổn định , thị trường tài chính Việt Nam còn
kém phát triển và lạc hậu so với các nước trong khu vực, cơ chế lãi suất thị trường
hay lãi suất thoả thuận đòi hỏi một chế độ thông tin tương xứng, hệ thống Ngân
Hàng Việt Nam hoạt động còn nhiều yếu kém
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ LÃI SUẤT CỦA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG TỔNG QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 cần giải quyết những vấn đề sau:Thúc đẩy quá trình CNH-HĐH tiến đến xây dựng nền kinh tế công nghiệp hiện đại,tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực, chủ động hội nhập quốc tế gắn liền với độc lập tự chủ quốc gia
3.2 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC TIỀN TỆ-NGÂN HÀNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010
Mục tiêu xuyên suốt của chính sách tiền tệ là giữ ổn định giá trị của đồng tiền, cải cách sức mua của một đơn vị tiền tệ cùng với quá trình ổn định niềm tin của nhân dân vào đồng tiền Việt Nam, từng bước làm cho đồng tiền Việt Nam là đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực và phạm vi rộng hơn
Trong giai đoạn này cần phải đổi mới cơ bản trong hoạt động ngân hàng, cụ thể phải xác định lại vị thế của NHTW phải từng bước độc lập với chính phủ, hoạt động thanh tra phải độc lập với hoạt động điều hành, các tổ chức tín dụng được tự
do hoá trong hoạt động kinh doanh và được mở rộng hoạt động ra ngoài lãnh thổ, chấm dứt mô hình hoạt động đan xen giữa tín dụng kinh doanh và tín dụng chính sách trong một định chế tài chính hạch toán độc lập
3.3 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
3.3.1 Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế về ngân hàng phải đảm bảo mục tiêu về kinh tế- xã hội và đảm bảo vai trò quản lý điều hành vĩ mô của nhà nước 3.3.2 Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế về ngân hàng phải phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
3.3.3 Quá trình thực hiện tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế về ngân hàng phải đúng theo lộ trình đã cam kết
3.4 ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TRONG TRONG BỐI CẢNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ NGÂN HÀNG
Chính sách lãi suất giai đoạn này là phải xử lý hàng loạt mối quan hệ như sau: Giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giữa lợi ích chung của nền kinh tế(kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế) với lợi ích cúa các NHTM và TCTD, giữa lợi ích của người gửi tiền với nhà kinh doanh tiền và người vay vốn