1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết đoàn minh phượng (khảo sát qua và khi tro bụi và đốt cỏ ngày đồng)

87 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Đoàn Minh Phượng (Khảo Sát Qua Và Khi Tro Bụi Và Đốt Cỏ Ngày Đồng)
Tác giả Nguyễn Thị Nguyên Giang
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Thu Hương
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 847,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc biến chuyển tất yếu ấy, tiểu thuyết trở thành một thể loại lớn trong nền văn học được nhiều tác giả lựa chọn để truyền tải tư tưởng tình cảm của mình bởi tiểu thuyết chính là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NGUYÊN GIANG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

(Khảo sát qua Và khi tro bụi và Đốt cỏ ngày đồng)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

LOẠI ĐỀ TÀI: KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Đà Nẵng, tháng 4/2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NGUYÊN GIANG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

(Khảo sát qua Và khi tro bụi và Đốt cỏ ngày đồng)

LOẠI ĐỀ TÀI: KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

ThS PHẠM THỊ THU HƯƠNG

Đà Nẵng, tháng 04/2021

Trang 3

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thật sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Phạm Thị Thu Hương

Những kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nguyên Giang

Trang 4

Đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng (Khảo sát qua

Và khi tro bụi và Đốt cỏ ngày đồng) là nội dung tôi chọn nghiên cứu và làm luận văn

tốt nghiệp sau thời gian theo theo học ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trong quá trình đó, tôi đã nghiên cứu và hoàn thành luận văn với sự giúp đỡ từ rất nhiều các thầy cô giáo Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến

Cô Phạm Thị Thu Hương, thuộc Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm, Đại học

Đà Nẵng đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại trường

Lời cuối tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè thân thiết đã bên tôi, động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận này

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nguyên Giang

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Bố cục của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: CẢM HỨNG TƯ TƯỞNG TRONG TIỂU THUYẾT 9

ĐOÀN MINH PHƯỢNG 9

1.1.Đoàn Minh Phượng – viết như là món nợ phải trả 9

1.1.1 Cuộc đời xa xứ 9

1.1.2 Sự nghiệp văn chương 10

1.1.3 Quan niệm nghệ thuật 12

1.2 Cảm hứng nghệ tư tưởng – khởi nguồn của thế giới hư cấu đầy ám gợi trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng 13

1.2.1 Cảm hứng tư tưởng với việc tạo dựng văn bản hình tượng trong tác phẩm 13

1.2.2 Cảm hứng tư tưởng trong Và khi tro bụi và Đốt cỏ ngày đồng 15

Chương 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT 23

ĐOÀN MINH PHƯỢNG 23

2.1 Nhân vật – tro bụi còn mang thân người 23

2.1.1 Nhân vật mang cảm thức cô đơn, lưu vong 23

2.1.2 Nhân vật bị ám ảnh bởi quá khứ 27

2.1.3 Nhân vật đi tìm bản thể 36

2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật – những khoảng mịt mù nối tiếp 42

2.2.1 Không gian nghệ thuật 42

2.2.2 Thời gian nghệ thuật 50

Chương 3: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 56

3.1 Người kể chuyện – những chủ thể tự thuật song trùng 56

3.2 Sự luân phiên của các điểm nhìn hạn tri 60

3.2.1 Điểm nhìn bên ngoài 61

3.2.2 Điểm nhìn bên trong 62

3.3 Sự kết hợp đa dạng các sắc giọng trần thuật 64

Trang 6

3.3.2 Giọng hoài nghi, chất vấn 68

3.3.3 Giọng bẽ bàng, xót xa 69

3.4 Sự lựa chọn ngôn ngữ tài hoa và tinh tế 73

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử văn học hiện đại Việt Nam là một quá trình vận động phức tạp và đa dạng trên nhiều phương diện, đặc biệt là hệ thống thể loại Trong cuộc biến chuyển tất yếu ấy, tiểu thuyết trở thành một thể loại lớn trong nền văn học được nhiều tác giả lựa chọn để truyền tải tư tưởng tình cảm của mình bởi tiểu thuyết chính là nơi lưu giữ hình ảnh hiện thực của đời sống dân tộc Từ giai đoạn 1930 cho đến nay, thể loại tiểu thuyết

đã nở rộ và chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong dòng văn học hiện đại Đặc biệt, trong giai đoạn 1986 cho đến nay, tiểu thuyết ngày càng phát triển và không ngừng đổi mới về đề tài, chủ đề cũng như phương thức thể hiện để đến gần hơn với trái tim độc giả Những tên tuổi nổi bật như Tạ Duy Anh, Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh, Hồ Quý Ly, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thủy, Nguyễn Việt Hà,… đã khẳng định được sức lan tỏa và khả năng phản ánh to lớn của tiểu thuyết Việt Nam thời hiện đại

Đoàn Minh Phượng xuất hiện trên văn đàn nghệ thuật Việt Nam trước hết với tư cách là một nhà đạo diễn phim truyền hình Mặc dù đến và bén duyên với nghiệp văn chương khá muộn thế nhưng tên tuổi của bà vẫn gây được tiếng vang và sức ảnh hưởng to lớn bởi văn phong đặc biệt rõ nét Tài năng của Đoàn Minh Phượng dần được khẳng định khi đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết đầu tay

Và khi tro bụi Nhân duyên với văn học và lựa chọn thể loại tiểu thuyết như là một sự

an bài của số mệnh, Đoàn Minh Phượng đã cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc thấm đẫm màu sắc triết lí qua từng câu chữ, vang vọng cùng thời gian Qua mỗi góc nhìn, mỗi cảnh huống được xây dựng, nhà văn đều gợi mở “nhiều mảng khuất lấp,nhiều hố đen, những chấn thương tinh thần mang tính tâm lý, chiều sâu tâm hồn được chắp vá thành một dải nghệ thuật tâm hồn” Nhân vật trong tiểu thuyết của bà luôn mang những nỗi u buồn, ám ảnh về kiếp nhân sinh, luôn khao khát đi tìm bản ngã, cái “tôi” cá nhân, những đau đáu, hoài niệm về một miền quá khứ xa vãng Với

giọng văn khá lạnh nhưng sắc sảo, tinh tế, Đoàn Minh Phượng đã vẽ nên những câu

chuyện, chuyện người, chuyện đời với sự cô đơn, hoang hoải đến giằng xé giữa đôi bờ

hư thực Bởi vậy, khi tiếp nhận tác phẩm của Đoàn Minh Phượng ta như được sống

Trang 8

thật với cảm xúc của mình trong đó, có nghi ngờ, có đau đớn, có tuyệt vọng, cũng có những vật lộn tinh thần đến mức chơi vơi trên hành trình dài rộng của cuộc sống

Từ những lẽ đó, việc lựa chọn Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh

Phượng làm đề tài nghiên cứu người viết hi vọng qua đó khám phá và làm rõ một cách

toàn diện nhất về những nét nghệ thuật độc đáo, về một chất văn rất riêng, rất đời và

những sáng tạo nghệ thuật xuất sắc ở thể loại tiểu thuyết hiện đại của Đoàn Minh Phượng Và cũng là tiền đề để người viết tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học sau này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Con đường đi đến văn chương luôn muôn màu muôn vẻ và nhiều ngã rẽ Ở đó có thể hình thành nên nhiều lý thuyết cũng như trào lưu văn học ra đời như: chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa tượng trưng,chủ nghĩa siêu thực, cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, hậu hiện đại,…Chính bởi thế, ở mỗi giai đoạn khác nhau, dựa vào đặc điểm lịch sử cũng như xã hội và các tác động khác thì một trào lưu văn học lại được hình thành phát triển Trong những năm gần đây, những sáng tác của các nhà văn hải ngoại đã đưa khái niệm văn học di dân đến gần hơn với đông đảo độc giả trong nước Văn học

di dân là khái niệm dùng để chỉ một mảng văn chương xuất hiện ở Âu-Mỹ trên 100 năm nay gắn với những tên tuổi như Josept Conrad, James Joyce, Thomas Mann, Samuel Backett,…Khái niệm này không còn xa lạ với các nước trên thế giới nhưng đến với Việt Nam lại trải qua những giai đoạn với khá nhiều thách thức mới đến được với người đọc Ở thời kì 1975-1980, đó là sự khởi đầu của việc gây dựng văn học của những người di tản Việt Nam ở nơi đất khách xứ người Tuy nhiên, những sáng tác khi

ấy mới chỉ đơn thuần là ghi lại những trải nghiệm, những xúc cảm và cuộc sống của họ

mà thôi “Hồi đấy chúng tôi không nghĩ đến văn học…Và có lẽ đồng bào chưa từng nghĩ đến văn học Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, những gọi điện thoại,…Tóm lại là những chuyện thuần túy, thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của hoàn cảnh cấp cứu…Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không

trực tiếp thì gián tiếp…” [44] , trích lời nhạc sĩ Mai Kim Ngọc Thời kì thứ 2 của văn

Trang 9

học hải ngoại bắt đầu vào năm 1980 với sự xuất hiện của các “thuyền nhân” Họ mang theo gánh nặng và những thử thách khủng khiếp mà họ phải chịu đựng Nhưng cũng chính họ đã làm thay đổi nhận thức của những người đồng hương đến Mỹ từ đợt lưu vong thứ nhất, tạo tiền đề cho sự tiến triển trong sáng tác văn học của cộng đồng người

di tản Như nhà văn Vũ Khắc Hoan đã đánh giá: “Những người này – Những “thuyền nhân tị nạn” bằng sự xuất hiện của mình đã khuấy động văn học và nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại, đã thúc đẩy sự vận động của nó tới một giai đoạn mới trong hình

thành và phát triển” [44] Qua thời kì phát triển thứ ba (1982-1990) và thời kì phát

triển thứ tư (1990-1995), số tác giả mới và số lượng xuất bản sách gia tăng, những nhà xuất bản chuyên nghiệp ra đời đã làm cho đời sống văn học hải ngoại phong phú và đa dạng hơn nhiều Từ năm 1995 cho đến nay, văn học hải ngoại tiếp tục phát triển và tạo được làn sóng hưởng ứng đông đảo từ phía độc giả cũng như sự bứt phá, làm mới mình trong ngòi bút của các tác giả Điều đó đã tạo nên nhiều tác phẩm hay và có giá trị Đào Trung Đạo đã viết: “Một nhà văn vô xứ là một nhà văn trên hết thảy, biểu lộ trong bản viết cũng như ngoài đời sống một “tâm thái vô xứ” Tâm thái vô xứ là tình cảm và trí tuệ của một người vô sở cứ, tự tạo cho mình một ngôn ngữ, một tiếng nói, một diễn ngôn của kẻ vô sở cứ Tiếng nói đó xác định mình không có một nơi chốn, không đặt mình vào một truyền thống nào, bằng ngang những biên giới để lắng nghe tiếng thì thầm của cái bất khả hữu, đẩy sự bất khả đó cận kề với cái khả hữu…” [44] Đối với các nhà văn hải ngoại, họ sáng tác trên những khuynh hướng cơ bản: khuynh hướng khắc họa nỗi đau trên mảnh đất xa lạ; khuynh hướng viết về hành trình

đi tìm bản thể;… và từ đó cũng thấy được những cách tân nghệ thuật độc đáo trong họ Rời bỏ quê hương, gốc rễ đến sinh sống ở xứ người, những người Việt di cư đều mang trong mình cảm giác lạ lẫm, lạc lõng, bất an Họ vô định về cả tinh thần lẫn cả nơi họ sống Họ muốn tìm cho mình một nơi để bấu víu, để dựa vào nhưng kết quả nhận được cũng chỉ là sự ý thức sâu sắc hơn về tấn bi kịch của chính mình mà thôi Tất cả những tâm trạng đó, tuy đậm nhạt khác nhau nhưng đều trở thành cảm hứng sáng tác chủ đạo của các ngòi bút hải ngoại Cô đơn, lạc lõng trong thế giới sống của chính mình, khiến cho con người ta mất dần đi cảm giác tồn tại của bản thân, rơi vào trạng thái lãng quên bản thể Cảm giác ấy luôn đau đáu, dằn vặt trong tâm Họ mải miết trên hành trình tìm kiếm lại chính mình, tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: “Ta là ai? Có đúng là đời tôi

Trang 10

không hay là đời người khác mà tôi đã lẻn vào? ”(trích Phố của những cửa hiệu u tối – Patrick Modiano) Không chỉ sâu sắc về mặt nội dung mà những sáng tác hải ngoại còn mang những cách tân nghệ thuật độc đáo Nó thể hiện trong việc xây dựng nhân vật, trong điểm nhìn nghệ thuật, không gian thời gian nghệ thuật,… Nhân vật thường được thể hiện thông qua hình thức giấu mặt và những mảnh vụn tâm lý rời rạc Điều

đó càng khắc sâu hơn sự thiếu hụt, trống rỗng, không hoàn thiện cũng như nỗi cô đơn, hoang vắng đến chới với của con người Với nhiều điểm nhìn khác nhau ,các tác giả có

sự linh hoạt, uyển chuyển trong việc lồng ghép chúng trong cùng một tác phẩm đã tạo nên tính chất đa thanh trong tiểu thuyết Bên cạnh đó, việc khám phá và diễn tả dòng ý thức của nhân vật cũng trở thành nét đặc sắc của văn học hải ngoại

Nhắc đến các nhà văn hải ngoại, chúng ta không thể không nhắc tới các cây bút

nữ tiêu biểu như Linda Lê, Thuận, Đoàn Minh Phượng và Lê Minh Ngọc Các tác phẩm của họ nổi lên như một hiện tượng, chứa đựng nhiều đổi mới quan trọng trong tư duy nghệ thuật Nhờ sự nhạy cảm, tinh tế, đầy nữ tính nhưng không kém phần sắc sảo

và quyết liệt trong tư duy, tác phẩm của họ đã thể hiện sự thức nhận về bản sắc cá nhân cũng như những vấn đề liên quan đến giới nữ Điều này tạo nên một bức tranh văn học Việt Nam đầy đủ sắc màu và hấp dẫn người đọc Đoàn Minh Phượng sinh ra ở Sài Gòn, cha mẹ gốc gác miền Trung Sang Đức định cư từ năm 1977, có một thời sống ở Boon, một thời sống ở Cologne Trong 15 năm làm việc cật lực với nghề phim

và đi qua nhiều quốc gia trên thế giới, chính điều đó đã thôi thúc bà phải thực hiện một

bộ phim về đất nước, cội nguồn của mình Có thể nói, cội nguồn đã trở thành một nỗi

ám ảnh cho những người con xa xứ Đối với Đoàn Minh Phượng: “Người ta khi bỏ đi cái rễ của mình thì cũng không thực sự bám rễ vào đâu được Mỗi người chỉ có một tuổi thơ Kinh nghiệm, tình yêu, sự ràng buộc với cuộc sống mà người ấy học được lúc nhỏ sẽ trở thành nền tảng tương quan của người ấy với thế giới sau này, dù là ở đâu… Ít có nỗi cô đơn nào lớn hơn nỗi cô đơn khi người ta tự cắt rời mình khỏi những năm đầu tiên làm người của mình, cắt rời mình khỏi cội nguồn Không có một người nào đủ rộng lớn để chứa dòng nước trong lòng mình, đủ sống cho cả đời Khi cần nước người ta thả xuống lòng giếng Để thả được gàu, người ta phải giữ được dây nối gàu, sợi dây đó cũng là sợi dây nối một người với nguồn cội của mình Để mất sợi dây đó, người ta sẽ chết khát” [27] Bởi vậy, trong tác phẩm của bà, luôn thấy được sự giằng

Trang 11

xé, đau đáu, đôi khi là chơi vơi không có chỗ bấu víu của những người xa xứ Chất văn của bà chứa đựng sự sắc lạnh, chất thơ và cả chất triết lý sâu sắc Tác phẩm của bà đều mang đậm dấu ấn hiện sinh, để cho nhân vật tự vật lộn với chiều sâu tâm lý của chính mình Điều đó cũng để lại cho người đọc nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi

Các nghiên cứu về nhà văn Đoàn Minh Phượng đã tìm hiểu và thẩm định giá trị văn chương của bà trên các phương diện từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật Với nhiều cách tiếp cận khác nhau song đều khẳng định được, Đoàn Minh Phượng là một cây bút độc đáo với khả năng nghệ thuật cũng như tư duy sáng tạo mới

lạ

Trong Những cái tôi kể chuyện trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng của

Thái Thị Vàng Anh đã khẳng định: “Tác phẩm của Đoàn Minh Phượng giàu chất triết

lý Những cái tôi luôn trầm tư, suy ngẫm những vấn đề triết lý nhân sinh, về thân phận con người Chiều sâu của cuốn tiểu thuyết đã chạm tới những vấn đề sống chết của con người – một vấn đề lớn của văn học đương đại Con người càng ý thức về bản ngã lại càng khao khát đi tìm bản ngã Những tiếng vọng về bản thể âm vang trong văn học

đương đại, nhất là tiểu thuyết…” [5, tr.34] Với nhận định này, ta thấy được nét tiêu

biểu về nội dung xuyên suốt trong tác phẩm của bà

Thái Thị Thu Thắm trong Diễn ngôn của người kể chuyện trong tác phẩm của

Đoàn Minh Phượng lại đưa ta đến một hướng tiếp cận mới cho sáng tác của bà:

“Thường xuyên xuất hiện như mạch điện cắt ngang dòng sự kiện của câu chuyện này

là suy nghĩ của người kể chuyện về nhân vật, sự kiện hoặc thể hiện quan niệm cá nhân của người kể về những vấn đề của cuộc đời như cái chết, sự cô đơn, nỗi buồn, sự im lặng, nhân phẩm, âm nhạc, văn chương,…Những cấu trúc ngôn ngữ chằng chịt này đã truyền cảm xúc cho độc giả, khiến cho mạch cảm của độc giả có sự giao thoa với mạch nghĩ của người kể” [40, tr.101]

Với nghiên cứu về không gian nghệ thuật, Bùi Thị Kim Phương cho rằng:

“Không gian trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng là tập hợp của những cái dang

dở, lộn xộn, trái chiều Nó gồm những sự kiện không thể tiên đoán được, không hề có tính quy luật Nó gợi đến trạng thái hỗn loạn của thế giới với sự phá vỡ mọi ranh giới: thực - ảo, sống – chết đan xen Đoàn Minh Phượng đã đưa người đọc vào một không gian thực - ảo lẫn lộn Người đọc buộc phải tiếp nhận hiện thực được phản ánh trong

Trang 12

tác phẩm không chỉ là hiện thực quen thuộc, khả tín mà còn là hiện thực kì ảo, bất khả tín Ở đó thực - ảo là những ranh giới rất mong manh, thực là ảo, mà ảo cũng là

thực…” [33]

Cũng là Bùi Thị Kim Phương khi nghiên cứu về Thời gian nghệ thuật trong tiểu

thuyết của Đoàn Minh Phượng đã phát hiện: “Trong tiểu thuyết của Đoàn Minh

Phượng, thời gian tự sự được sử dụng chủ yếu là kiểu thời gian hoài niệm quá khứ, kiểu thời gian phi thực Qua khảo sát chúng tôi thấy, phần lớn các nhân vật đều mang dáng dấp “kẻ đi tìm thời gian đã mất” Họ không xác định được sự tồn tại của mình trong thế giới hiện tại Họ là những cá thể nhỏ bé, cuộc sống của họ được chia thành nhiều đoạn Đôi khi họ cắt xén bớt kí ức đời mình Trong cảm quan thời hiện đại, con người lạc lõng cô đơn giữa biển người vì họ không có tiếng nói chung, mỗi người có

một sự thật riêng, một bí mật của riêng mình…” [34]

Khi đặt tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn phân tâm học, Hoàng Thị Thanh Phương đã có những đánh giá rất độc đáo: “Nhân vật trong tiểu thuyết tham

dự những trò chơi trong trang sách và tác giả lại loanh quanh với những trò chơi của cuộc đời Dầu ở không gian nào, những thách thức hay cơ hội để nhân vật/ tác giả trải nghiệm và thu nhận đều rất thực, rất đời Những yếu tố tự truyện ấy thực chất là sự vay mượn chất liệu nghệ thuật để phản ánh hiện thực và tìm cách bộc lộ ra “bản mặt” của

cá thể Những pha trộn ấy không nhằm định ra một cách lịch sự, văn minh cho những giấu giếm về ẩn ức, dồn nén, hay thầm kín cái tôi cá nhân về tâm lí bản thân, rộng hơn

là quan niệm cuộc đời, chính trị, đạo đức, xã hội,…mà còn là xâu chuỗi quá khứ, thực tại, tương lai để trả lời cho quá trình đi tìm chính mình” [32,tr.12]

Trong bài viết “Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng - Ám ảnh bản thể hay sự

trốn chạy những ẩn ức của con người hiện đại” Nguyễn Thùy Trang đã cho chúng ta

thấy mối liên hệ giữa tâm thức về phân tâm học và bản thể con người: “Với tâm thức hiện sinh, nhà văn Đoàn Minh Phượng đã lật xới một cuộc tìm kiếm bản thể của những người cô đơn, chới với trong thế giới hiện đại, xa lạ Đồng thời, tác giả cũng phần nào cho thấy được tâm trạng của những con người xa lạ, lạc lõng nơi đất khách…” [39, tr.63]

Một nghiên cứu vô cùng mới lạ nữa từ tác giả Lê Tú Anh trong bài viết “Từ

trường hợp Đoàn Minh Phượng, nghĩ về văn học chấn thương ở Việt Nam và quan

Trang 13

điểm nghiên cứu” đã đi sâu tìm kiếm những vết dư chấn hậu chiến đã ám ảnh đến thực

tại, tác giả có viết: “như một chấn thương chiến tranh “di căn”, “dòng văn học chấn thương là sản phẩm của một thời đoạn lịch sử đầy biến động dữ dội Dù không muốn khơi lại “tro tàn quá khứ”, thì vẫn phải thừa nhận đó là sự xuất hiện hợp quy luật Bởi

vì lịch sử phát triển của một dân tộc, bên cạnh những chiến công, kì tích làm nên tầm vóc và vị thế dân tộc, không thể tránh khỏi những trang thương đau, đầy máu và nước mắt Dầu mới chỉ là phân tích ban đầu, nhưng theo tôi, hoàn toàn có thể tiên lượng văn học chấn thương ở Việt Nam chưa thể dừng lại, thậm chí còn có xu hướng phát triển mạnh hơn Những vết thương từ quá khứ chưa chịu buông tha, vẫn bướng bỉnh đeo bám và “di căn” thành nhiều dạng, tạo nên nhiều vấn đề nhức nhối, bất ổn trong cuộc sống hiện tại” [2]

Như vậy, có thể thấy rằng, tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng cũng như những dấu ấn trong tác phẩm của bà đã khơi gợi sự hứng thú muốn khai thác, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu Nhưng mặt khác, những công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến một phương diện hình thức hay nội dung trong đặc điểm tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong

tiểu thuyết của bà Thêm vào đó, cuốn tiểu thuyết mới của bà - Đốt cỏ ngày đồng chỉ

vừa được xuất bản trong năm 2020 nên hầu như chưa có công trình nghiên cứu chính thống / hệ thống nào Bởi vậy, với việc thực hiện đề tài này, dựa trên kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm một cái nhìn toàn diện hơn về nhà văn Đoàn Minh Phượng, đánh giá được những thay đổi trong nguyên tắc tư tưởng đã dẫn hướng cho sự thay đổi trong việc tạo dựng thế giới hình tượng của bà; cũng như cho thấy được tính gắn kết trong hệ thống hình tượng làm nên “cái chất”

không đổi của Đoàn Minh Phượng, từ tiểu thuyết đầu tay Và khi tro bụi cho đến tiểu thuyết gần nhất Đốt cỏ ngày đồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, thể hiện trên các phương diện như cảm hứng nghệ thuật, thế giới hình tượng cho đến nghệ thuật trần thuật

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hai tác phẩm:“Và khi tro

bụi” do nhà xuất bản Trẻ in vào năm 2006 và “Đốt cỏ ngày đồng” do nhà xuất bản

Hội nhà văn in vào tháng 8/2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được sử dụng trong đề tài:

- Phương pháp hệ thống: Tất cả các vấn đề được triển khai trong khóa luận được đặt trong một mối tương quan có tính hệ thống Phương pháp này được vận dụng trong quá trình hệ thống lại những đặc sắc của ngòi bút Đoàn Minh Phượng trong việc tạo dựng hình tượng cũng như ngôn ngữ trần thuật

- Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong việc phân tích những đặc điểm làm nên thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng

- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở tổng hợp những đặc điểm chung, chúng tôi muốn tìm hiểu được bản chất và quy luật vận động trong lối sáng tác của Đoàn Minh

Phượng

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn

gồm 3 chương:

Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Chương 2: Hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Chương 3: Nghệ thuật trần thuật trong thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1:

CẢM HỨNG TƯ TƯỞNG TRONG TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

1.1 Đoàn Minh Phượng – viết như là món nợ phải trả

bà chuyển sang học nghề phim, làm phim tài liệu cho một đài truyền hình ở cologne và viết báo, viết văn Chính trong 15 năm làm việc cật lực với nghề phim, đi qua nhiều quốc gia trên thế giới, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều nền văn hóa khác nhau đã thôi thúc bà phải thực hiện một bộ phim về đất nước, về cội nguồn của mình Bộ phim

Hạt mưa rơi bao lâu được nhen nhóm từ ý tưởng đó Bộ phim này được đánh giá cao

khi tham gia nhiều liên hoan phim quốc tế, có lúc trở thành đối tượng khiến giới truyền thông nước ngoài tốn nhiều giấy mực, được nhận định “là sự kết hợp giữa vẻ đẹp vĩnh hằng, quyền lực và sức mạnh của người phụ nữ trong một xã hội quá nhiều

định kiến” [27]

Bén duyên với văn chương, hiện thực trong tác phẩm của bà chính là những cảnh huống đời thường mà bà đã được tiếp xúc “Trong thời gian đi thực tập tại một viện mồ côi, tôi đã được tiếp xúc với trẻ em Đức, trẻ em các nước trong đó có cả Việt Nam

Tình cảnh và tình cảm của trẻ em mồ côi rất phức tạp, đáng thương Rất nhiều cuộc đời, nhiều số phận kỳ lạ của bọn trẻ khó có thể kể hết…” [27] Sống ở nước ngoài

nhiều năm, khám phá nhiều nền văn hóa đã bồi đắp cho bà vốn sống phong phú cùng với sự từng trải sâu sắc Tất cả đều được hiện lên trên từng câu chữ trong trang văn của

bà Khi mới dấn thân vào lĩnh vực văn chương, bà lấy tên là Đoàn Minh Hà với sáng

tác đầu tay là truyện ngắn Động hoa vàng Tác phẩm được mở đầu bằng câu thơ của

Phạm Thiên Thư: “Ngày xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say” Tuy

Trang 16

đây mới chỉ là sáng tác đầu tay, nhưng độc giả có thể cảm nhận được sự già dặn trong nghề được tiết chế tối đa cảm xúc và câu chữ Cả câu chuyện cũng là một bài thơ, tiết

tấu chậm, viết kỹ và tinh tế Truyện ngắn Động hoa vàng sau đó đã được in trên báo

Tiền phong Chủ nhật Sự nghiệp văn chương của bà nở rộ và đến gần hơn với độc giả

khi tiểu thuyết Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006) trở thành cuốn sách đạt giải thưởng văn

xuôi duy nhất của Hội nhà văn Việt Nam 2007 Sáng tác của Đoàn Minh Phượng

không nhiều Và khi tro bụi, Tiếng Kiều đồng vọng (Mưa ở kiếp sau) và Đốt cỏ ngày

đồng chính là ba tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp cầm bút của bà

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

Và khi tro bụi là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Đoàn Minh Phượng, ghi

dấu ấn với độc giả bởi lối viết khá lạnh nhưng vẫn đầy tinh tế và từng trải Nhân vật trong tác phẩm luôn có sự dằn vặt riêng tư, sống một cuộc đời đeo đuổi tìm kiếm những giá trị vô hình của sự tồn tại như để quên đi vết thương lòng đã hành hạ mình suốt ngày này tháng nọ Mười hai chương sách đằng đẵng những uẩn khúc, chất vấn tự thân về sự sống, những giằng xé trong tâm hồn về cõi vĩnh hằng để truy ra lời giải cho câu hỏi: “Tôi là ai?” Viết về nỗi buồn nhưng bình thản đến lạ lùng, mạch văn chậm, đều và đầy chất mộng khiến tác phẩm như được trùm phủ nhiều lớp sương, để rồi khi tan ra người ta mới thấu được nỗi bi ai, thống khổ mà họ phải chịu đựng Đó là câu chuyện kể về cuộc đời An Mi, vốn xuất thân từ một đất nước bom rơi đạn lạc, là một đứa trẻ mồ côi được nhận nuôi bởi một gia đình ở Đức Cô còn đang dang dở tấm bằng

cử nhân nhạc viện vì bỏ học vào năm ba, gục ngã trước áp lực của thành công và thất bại để rồi sống một cuộc đời phiêu bạt bằng nghề chụp ảnh, bưng nước nuôi thân Rồi

cô gặp được chồng mình, người không may qua đời vì xe anh rơi xuống núi ở một đoạn đèo mờ mịt sương vây ba năm sau Từ đó, cô bỏ lại cuộc sống của mình và lang thang trên những chuyến xe lửa Rồi cô vô tình mua phải một cuốn sổ da ẩn chứa cuộc đời của một kẻ vô vọng khác Cô lần theo những dấu vết ấy, truy tìm sự thật đằng sau con chữ nguệch ngoạc Chính trong hành trình của mình, cô lại bắt gặp hành trình của một số phận khác Và trên bước đường đi tìm cái chết của mình, cô lại rong ruổi theo những hư ảo của nhân gian để ngăn chặn cái chết của những kẻ xa lạ Chúng chính là những tấm gương để cô soi thấu bản ngã của mình ngỡ như đã bị lãng quên suốt mất chục năm trời Và từ đây, câu chuyện của cô dần sáng tỏ khi sự sống đang rền vang

Trang 17

những hồi chuông cuối Và khi tro bụi là một áng văn hay, u ám màu buồn nhưng

không ủ dột Ở một góc độ nhất định, tác phẩm là một đứa con lai Á – Âu thành hình qua những câu văn mềm oằn mình dưới sức nặng của sự đa nghĩa được đặt trong bối cảnh châu Âu hoa lệ, từ địa danh tới ẩm thực, con người và cả cách hành xử của nhân vật chính gốc Việt lớn lên dưới vòng tay của cặp vợ chồng người Đức Với giọng văn

đầy triết lý cùng những suy tưởng miên man, Và khi tro bụi đã gieo vào tâm trí người

đọc những đồng cảm để sẻ chia với những số phận lay lắt ngoài kia và xúc tiến quá trình theo đuổi những giá trị cá nhân còn đang ấp ủ

Đốt cỏ ngày đồng là tác phẩm mới của Đoàn Minh Phượng được xuất bản vào

tháng 8 năm 2020 sau hơn một thập kỉ vắng bóng trên văn đàn Tác phẩm này xuất hiện “như một cơn mưa rào làm thỏa nguyện những khao khát đợi chờ” từ giới mộ

điệu Được thai nghén trong một khoảng thời gian tương đối dài, Đốt cỏ ngày đồng đã

để lại ấn tượng hết sức khác lạ so với hai thành công trước, một áng văn mạnh mẽ làm lay động các giác quan, mang hơi thở nồng nàn và đậm chất triết lý Vẫn được viết

theo kỹ thuật dòng ý thức cùng với lối hành văn thi vị, hư ảo, nhưng có thể nói Đốt cỏ

ngày đồng đã có sự khác biệt căn bản so với hai tác phẩm trước Nó phá vỡ mọi quy

ước căn bản của thể loại, nó không định rõ cốt truyện, bối cảnh, góc trần thuật Nếu

như Và khi tro bụi lấy bối cảnh ở các nước châu Âu, Tiếng Kều đồng vọng diễn ra ở các địa danh trong nước như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, thì xuyên suốt Đốt cỏ ngày đồng

tác giả hầu như không nhắc tới một địa điểm nào cụ thể Ta chỉ bắt gặp những cụm mô

tả chung chung, mơ hồ cùng Đoàn với những địa danh hư cấu như làng Duy Hà,

đường Huyền Trân, cung Elysia,… Đoàn Minh Phượng trong Đốt cỏ ngày đồng đã

thực hiện chuyến hành trình đi sâu hơn vào thế giới tâm tưởng thay vì neo vào các cột mốc từ thế giới hiện thực Cách xây dựng này càng làm xóa nhòa những nhận thức vốn

có của bạn đọc về một thế giới vật lý mà ta cảm nhận bằng năm giác quan, để đưa đẩy

họ hay thậm chí bó buộc họ vào một khung trời hư cấu thuộc bề sâu tiềm thức mà nhà

văn tạo tác Phương diện này ở Và khi tro bụi và Tiếng Kiều đồng vọng đã bộc lộ phần nào, nhưng đến với Đốt cỏ ngày đồng mới hiện lộ và bao trùm toàn tác phẩm Đặc

biệt, sau một thập kỷ, tác phẩm của bà hầu như đã mang một màu văn mới: nồng nàn

và mãnh liệt hơn Nếu ở Và khi tro bụi được đánh giá là “viết bằng thứ văn giản dị, sâu

nhưng dường như vẫn thiếu sự nồng nhiệt, thiết cháy tận cùng cảm xúc của cái tôi

người viết” [27] thì đến với Đốt cỏ ngày đồng ta có thể thấy được màu sắc nồng nhiệt

này Có thể nói nhờ sự thay đổi này mà tác phẩm đã trở nên mềm mại hơn, có sức lay

Trang 18

động mạnh mẽ hơn Nhân vật kể chuyện chính là Mây, có người yêu bị bắt giam vào

tù, những ngày cuối cùng ở bên nhau và những tháng chợ đợi G mãn hạn, cũng như những dòng cảm xúc mà Mây bộc bạch tình cảm về Quyên Tất cả đều cho ta thấy được một giọng văn thiết tha và đầy cảm xúc Người đọc được tác giả dẫn dắt vào câu chuyện qua nhũng dòng chảy cảm xúc Đây chính là kỹ thuật dòng ý thức mà Đoàn Minh Phượng vận dụng thành công trong mọi sáng tác của mình Một áng văn dạt dào, sâu lắng nhờ tính triết lý xuyên suốt tác phẩm Ta lại bắt gặp màu sắc hiện sinh trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng thông qua những tư tưởng về nhân vị, sự tự do, về sự

ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại và rõ ràng nhất là nỗi ám ảnh về sự đổ vỡ Tác giả kết thúc tác phẩm bằng các để ngỏ, như chính bà chia sẻ rằng: “Còn đoạn kết?

Vì ngoài sức mình, nên tôi chỉ có thể viết một câu rồi bỏ đó Nó đã trở thành khoảng

không của bạn.” Đốt có ngày đồng không kết thúc bằng một dấu chấm câu để trở nên

toàn vẹn mà rơi vào tâm trạng mênh mông của người đọc, gợi mở nhứng uy tưởng sâu

xa và rộng lớn hơn Có lẽ những gì lưu lại đậm đà nhất sau khi người ta đọc xong tác phẩm chính là tiếng lao xao của cảm xúc hoang hoải những nỗi buồn

1.1.3 Quan niệm nghệ thuật

Xuyên suốt các tác phẩm của Đoàn Minh Phượng đều bắt gặp những con người

cô đơn, lạc lõng, đi tìm bản ngã của mình và sự bất lực trước thực tại hỗn mang Các nhân vật đều mang trên mình những ký ức, quá khứ đau thương, họ vừa muốn quên đi nhưng lại vừa muốn truy tìm nó như cách xác định căn cước bản thân Mạch văn của Đoàn Minh Phượng thường trầm buồn và chậm rãi, đôi lúc lại vô cùng nồng nhiệt và thiết tha Đề tài sáng tác của bà thường xoay quanh những vấn đề về nguồn cội, nhân sinh và bản thể con người Là một nhà văn hải ngoại, có lẽ nguồn cội quê hương chính

là một nỗi ám ảnh thường trực trong tâm hồn bà Để rồi khi trở về Việt Nam bà “luôn

tự nhủ, mình phải làm gì đó để đánh dấu sự trở về này Nó ám ảnh tôi như một món nợ phải trả Mà nợ ai? Có lẽ là nợ chính mình” Đoàn Minh Phượng tự nhận mình là một người có lối viết khá lạnh Phong cách sáng tác của bà cũng vô cùng độc đáo “Tôi thường nghĩ ra cốt truyện, dựng dàn bài và viết từng chương rời rạc Tôi không viết theo trật tự nào hết mà nhảy cóc từ chương này sang chương nọ Sau khi viết xong rồi tôi mới quay lại và kết nối chúng lại với nhau Thường thì khi lắp ráp, tôi chọn lọc và

bỏ đi rất nhiều chương Cũng giống như trong điện ảnh, người ta quay rất nhiều cảnh rồi lựa chọn những cảnh đẹp nhất, đạt nhất” [27] Sự phân mảnh, rời rạc của cốt truyện

Trang 19

và nghệ thuật đa điểm nhìn có lẽ cũng ảnh hưởng và xuất phát từ đây Như mạch nguồn của dòng chảy, chất triết lý suy ngẫm xuyên suốt trong tác phẩm của Đoàn Minh Phượng và trở thành nét đặc trưng trong tiểu thuyết của bà Với kỹ thuật dòng ý thức đã đưa câu chuyện diễn tiến tự nhiên theo dòng cảm xúc Đoàn Minh Phượng không chỉ nhận diện những đổ vỡ trên bề mặt đời sống xã hội mà còn đi sâu vào những đổ vỡ trong tâm hồn con người Tác giả đã đưa vào tiểu thuyết những mảnh vụn của hiện thực ngổn ngang, ê chề Không có hiện thực nào được hoàn nguyên, hiện thực

là những điều phi lý, vụn vỡ, đứt đoạn Do vậy, có nhiều cách để lý giải, mô tả khác nhau về những sự kiện và không có sự lí giải nào có thể nắm bắt được chính xác sự kiện Chỉ qua những sự việc hay cảnh huống nào đó, một đoạn nhỏ trong ký ức mới hiện ra khiến cho nhân vật cảm thấy mình như kẻ lạc loài với thế giới Không chỉ thế,

sự đan xen giữa thực tại – quá khứ; hiện thực - ảo ảnh khiến cho sự rời rạc của câu chuyện tăng thêm, người đọc càng khó nắm bắt được diễn tiến câu chuyện ấy Cả giấc

mơ – “những mẩu chuyện chợp chờn, vô lí và rời rạc” hiện ra đã làm gián đoạn hiện thực đang được kể bằng ý thức Đó là biểu hiện của phương phức phản ánh mang cảm quan hậu hiện đại trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng Với tiết tấu chậm rãi, nhà văn đã gợi mở rất nhiều cung bậc cảm xúc, một thể giới nội tâm sinh động và sâu lắng của nhân vật Những suy tư, triết lý về sự thật, về bản thể con người mà Đoàn Minh Phượng gợi ra trong tác phẩm của mình cũng vì thế mà tìm được sự đồng điệu trong lòng nhiều người đọc Mỗi người đọc đều khắc khoải, hoài nghi, trăn trở khi tiếp xúc với tác phẩm Họ không chỉ là người thưởng thức mà còn là người đồng sáng tạo với tác giả

1.2 Cảm hứng nghệ tư tưởng – Khởi nguồn của thế giới hư cấu đầy ám gợi trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

1.2.1 Cảm hứng tư tưởng với việc tạo dựng văn bản hình tượng trong tác phẩm

Cảm hứng (pathos) theo từ điển Oxford định nghĩa như sau: pathos (in writing,

speech and plays) là “the power of a performance, description, etc to produce feelings

of sadness and sympathy” (khả năng gây xúc động của một màn biểu diễn, bài viết…)

[48,tr.1160] Pathos “ban đầu chỉ yếu tố nhiệt tình say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng

thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ” Trong lí luận văn học, cảm hứng được xem “là một

Trang 20

yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả” Nó “đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định”, “là cái mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm” [16, tr.45] Cảm hứng chủ đạo là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [16, tr.44-45] Lý luận văn học mác-xít xem trọng cảm hứng chủ đạo, xem đó là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, là

sự thể hiện tình yêu đối với tư tưởng, là cái biến tư tưởng khô rỗng thuần túy trở thành

tư tưởng – thẩm mĩ chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Quả thực, nếu tư tưởng tác phẩm văn học là nhận thức, lí giải và thái độ của nhà văn đối với đời sống khách quan cũng như những vấn đề nhân sinh nhà văn trăn trở, thì cảm hứng chính là nơi tư tưởng “náu mình” trong tác phẩm Tư tưởng trong tác phẩm không bao giờ là lời phát biểu sỗ sàng, thẳng tuột; mà đó là “một ham mê sống động, đó là cảm hứng” (Bê-lin-xki) Thậm chí, ngôn từ, hình tượng còn có khả năng

“nói” nhiều hơn những đột khởi ban đầu từ ý đồ sáng tạo của nhà văn Đọc tư tưởng,

do đó, người ta phải đọc qua ngôn ngữ miêu tả, hòa thấm khắp chi tiết của thế giới hình tượng sống động trong nội dung cụ thể của tác phẩm; đọc qua sức mạnh truyền cảm của nghệ thuật

Tóm lại, cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm chính là sự thể hiện rõ nét nguyên tắc tư tưởng của tác giả Chúng đồng thời chịu sự chi phối của thế giới quan, vốn sống

và tài năng của nhà văn Trên cơ sở đó; chúng tạo thành những nguyên tắc cốt lõi cho việc tạo dựng văn bản hình tượng – thế giới nghệ thuật trong tác phẩm

Trong đời sống, khi nói thế giới X (thế giới động vật, thế giới tinh thần, thế giới

thời trang…) nghĩa là nói đến hình ảnh một tổng thể đầy đủ, toàn diện, toàn vẹn với

quy luật riêng Cũng tương tự, trong văn học, thế giới nghệ thuật là “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan

Trang 21

hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng” [16, tr.302] Còn theo giáo

sư Trần Đình Sử, thế giới nghệ thuật chính là “văn bản hình tượng – văn bản nội tại

của văn bản ngôn từ” [45, tr.114] Khi đọc văn bản ngôn từ, chúng ta bước vào thế

giới nghệ thuật của tác giả, một thế giới sống động, đầy ắp xung đột, buồn vui, hạnh

phúc, đau đớn

Khi nhận diện đặc điểm của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học, giáo

trình Lý luận văn học tập 2 – Tác phẩm và thể loại văn học (GS Trần Đình Sử chủ

biên) cho rằng, thế giới nghệ thuật là sự thống nhất chỉnh thể của hệ thống hình tượng trong tác phẩm nhằm biểu hiện một ý nghĩa – tư tưởng nhất định Nó là một cấu tạo đặc biệt, vừa phản ảnh thế giới hiện thực bên ngoài vừa khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Về cấu trúc, thế giới nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả (nhân vật, không gian, thời gian, sự kiện, cảnh vật, biểu tượng…) và thế giới miêu tả (thế giới của người kể chuyện, người trữ tình), hai thế giới này gắn kết không tách rời

Có thể nói, thế giới nghệ thuật là một tổng thể có quy luật riêng, có tính độc lập nội tại,

có không gian, thời gian, tâm lí, đạo đức, xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng Đó là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần của con người Nó không chỉ đặc trưng cho tác phẩm, mà còn đặc trưng cho tác giả Phân tích thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn, không thể bỏ qua yếu tố khởi nguyên là cảm hứng tư tưởng Qua khảo sát tác phẩm, chúng tôi nhận thấy cảm hứng tư tưởng chi phối đến sáng tác của Đoàn Minh Phượng chính là cảm hứng từ thân phận lưu vong, cảm hứng từ sự

đổ vỡ của thực tại (cảm quan hậu hiện đại) và cảm hứng từ bản chất của cuộc hiện sinh Tất cả đã đi vào trang tiểu thuyết của bà một cách thật tự nhiên và nhẹ nhàng Chính điều đó đã khơi nguồn để tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng trở nên thật hấp dẫn, sống động với thế giới nhân vật đa dạng, nhiều chiều, khơi gợi lòng trắc ẩn của độc giả

1.2.2 Cảm hứng tư tưởng trong Và khi tro bụi và Đốt cỏ ngày đồng

1.2.2.1 Cảm hứng từ thân phận lưu vong

Khái niệm “lưu vong” đã xuất hiện trong tiếng Hy Lạp nhiều thế kỉ trước công nguyên, được dùng để chỉ một hiện tượng lịch sử của nhân loại Nguồn gốc khởi đầu

từ việc người Do Thái bị đánh bật khỏi quê hương của họ và tản mát khắp nơi hàng thế

kỉ Lưu vong, bản chất là một khái niệm xã hội, song do sự phổ quát của nó, theo thời

Trang 22

gian đã dần dịch chuyển thành một khái niệm mang tính triết học, nghệ thuật Lưu vong được dùng trong chiến tranh thế giới thứ hai, cụ thể hóa số phận con người bị buộc khỏi quê hương xứ sở, sống lưu đày xa xứ nơi đất khách quê người, chịu nhiều

kỳ thị bất công về màu da, sắc tộc, văn hóa,… Khái niệm “lưu vong” chủ yếu tập trung vào cách thức con người rời bỏ quê hương, chính vì vậy mới có sự phân biệt với hiện tượng sống xuyên quốc gia Những người sống xuyên quốc gia thường ra đi một cách

tự nguyện và có thể trở về bất cứ lúc nào, những người lưu vong thường là những di dân bị ép buộc, không còn con đường nào khác: họ không thể không ra đi, và khi ra đi rồi họ không thể trở về hoặc nếu trở về được cũng trở về trong một số điều kiện khắc nghiệt nào đó khiến họ không muốn chấp nhận

Với khái niệm “lưu vong”, Phạm Quốc Hoàng đã nghiên cứu và đặt khái niệm

này dưới nhiều góc nhìn khác nhau:

“Lưu vong” được nhìn từ góc nhìn là ý thức sáng tạo nghệ thuật, thường mở đầu bằng một bi kịch chính trị và kết thúc bằng một bi kịch văn hóa Khi một nhà văn rời quê hương ra định cư và sáng tác ở ngước ngoài, hẳn không chỉ thay đổi một chỗ ở và một bàn viết mà còn thay đổi hẳn một thế giới với những mối quan hệ chằng chịt, phức tạp, để rồi, một cách tự giác hay không, dần dần thay đổi cách nghĩ,cách cảm, cách viết Cuộc sống nổi trôi đã mang đến cho các nhà văn nhiều trải nghiệm quý giá và vốn sống phong phú.Theo các nhà Phân tâm học, thì bao giờ những ẩn ức bị dồn nén cũng tìm cách bộc lộ ra ngoài, nhiều khi sự bộc phát nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ thể Vậy nên, trong tác phẩm văn chương ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc đời, thân phận, tâm trạng của người cầm bút Từ cuộc sống trôi nổi của các thân phận lưu vong, ta có thể thấy được tính chất bất định tiểu thuyết Ở đó, con người ta chênh vênh, vô định, không biết được tương lai của mình sẽ đi đâu về đâu Và khi con người không làm chủ được chính mình thì cuộc đời chỉ là tập hợp của vô vàn những sự kiện ngẫu nhiên,

mang tính tình thế

“Lưu vong” là một quá trình tái hiện ký ức Ký ức là một loại nguyên liệu đặc biệt tồn tại trong tâm thức của mỗi con người Với người sống lưu vong, ký ức là một loại ám ảnh, một nỗi day dứt, một nỗi âm bản của quê hương Có thể nói, người lưu vong không có quê hương nào ngoài ký ức Bởi vậy mà ký ức đóng một vai trò quan trọng đối với người lưu vong Ai cũng mang trong mình một khoảng trời kí ức Không

Trang 23

có ai sống mà không cần ký ức: ký ức là chất liệu của lịch sử và là nền tảng của văn hóa Ký ức không phải là cái gì bất biến, ký ức thay đổi theo thời gian, thay đổi theo nhu cầu tâm lý cũng như chính trị khi con người đối diện với những thử thách mới: Ký

ức không những được duy trì mà còn được sáng tạo và tái sáng tạo

“Lưu vong” mang cảm thức tha hóa và tâm thế phê phán Tha hóa là quá trình con người tự đánh mất mình, biến thành hoặc xem mình là một thực thể khác Lưu vong do bản chất của vấn đề nên luôn gắn với quá trình tha hóa của con người Con người lưu vong bị tách khỏi gốc rễ bản nguyên, bị đặt vào môi trường khác, buộc phải tái cấu trúc bản thân nên rơi vào trạng thái bất tín về bản thể và hiện thực đời sống

“luôn phải tự tìm kiếm và định nghĩa chính mình” Ở đâu cũng thấy mình bị “thất lạc bản vị”, luôn lạc lõng, cô đơn, hụt hẫng giữa hiện thực – quá khứ, hiện tại – tương lai Cùng với tâm thức tha hóa, tâm thức phê phán cũng là một đặc điểm của lưu vong

“Người lưu vong, một mặt bắc cầu với các nền văn hóa, mặt khác giữ một khoảng cách nhất định đối với các nền văn hóa ấy, nghĩa là nói cách khác, vừa là sứ giả, vừa là

kẻ đối lập” (Nguyễn Hưng Quốc)

Cảm thức lưu vong có thể được nhìn từ thân phận con người Trước tiên, đó là lưu vong thân xác – nó được thể hiện như một sự thay đổi khách quan sinh hoạt của con người, dưới một sức ép, một áp lực, một mưu toan áp đặt nào đó từ hoàn cảnh khác nhau Lưu vong thân xác cũng chính là lưu vong địa lý Con người buộc phải rời

xa một nơi cư trú nào đó thân thuộc để đến với một xứ lạ, xa xôi, bất định, mang trong mình cảm thức lạc loài Còn lưu vong tinh thần được hiểu như một trạng huống của lý trí Con người sống trong một tâm thế bất ổn, tinh thần của họ bị lưu đầy trong những chuyến lưu vong bất tận, con người trở thành xa lạ với chính mình Nó biểu hiện ở việc mất tỉnh táo, phi lý trí, trở nên ảo tưởng, hoang tưởng phi thực tế Thứ hai là việc mất niềm tin, mang mặc cảm bị nhấn chìm, bị trả thù, bị chế ngự,… Cảm thức lưu vong, trước sự chao đảo của cuộc sống, con người như trở nên vô thức từ tiếng gọi của giấc mơ Giấc mơ không chỉ phản ánh những mong ước, khát vọng, nhu cầu của con người mà còn là cách thức để đi vào những tầng sâu trong thế giới nội tâm con người, những ám ảnh của cuộc sống Như vậy, cảm thức lưu vong không chỉ tồn tại ở hoàn cảnh sống mà còn là ở trong chính tinh thần của con người Văn chương lưu vong, một mặt nhìn trên tổng thể, có thể được xem như một hình thức thăng hoa của ký ức, hơn

Trang 24

nữa một thứ tu từ học của ký ức; mặt khác cũng như bản thân khái niệm lưu vong, có tính chất bất định Với tính chất bất định ấy con người luôn thường trực cảm giác bất

an, luôn phải tự tìm kiếm và tự định nghĩa chính mình [38, tr.28]

Cảm thức lưu vong trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng được thể hiện qua những trạng huống lưu vong thân xác và lưu vong tinh thần Đó có thể là câu chuyện của một con người rời bỏ quê hương lưu lạc nơi đất khách, hay cũng là câu chuyện của nhân vật khác lưu vong trên chính triền ký ức của mình Nhưng dù là lưu vong dưới hình thức nào cũng có chung một biểu hiện nằm ở trạng thái cô đơn, lạc lõng, vô loài của nhân vật Từ sự lưu vong ấy, họ luôn hoài nghi bản thể và luôn truy tìm bản thể của mình Xuất phát từ thân phận của bản thân, Đoàn Minh Phượng đã đưa vào trang viết của mình những trải nghiệm chân thực nhất, những đợt sóng lòng dào dạt mà chỉ

có sự từng trải mới viết nên được như thế

1.2.2.2 Cảm hứng từ những đổ vỡ của đời sống thực tại

Kể từ sau đổi mới 1986, xã hội Việt Nam có những biến đổi đáng kể về mặt cấu trúc xã hội Sự phát triển về mặt kinh tế đã ít nhiều tạo nên sự “phì đại vật chất”.Cái giả, cái ngụy như là hệ quả của sự “phì đại tinh thần” ngày một xâm lấn khiến tinh thần hoài nghi vốn có của người Việt càng bắt rễ với tinh thần hậu hiện đại của phương Tây đang xâm nhập vào Việt Nam qua nhiều hình thức giao lưu văn hóa Thói quen tiếp nhận văn hóa, văn học theo lối truyền thống dần bị phá vỡ Những giá trị tryền thống được nhìn nhận lại cùng những tranh luận đa chiều Cái mới nhưng không quá lạ của chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại nhanh chóng được đón nhận

và tiếp thu, dẫu cho giai đoạn đầu đã không tránh được hai thái cực: dè dặt, phủ định hoặc vồ vập, thái quá

Tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại trước hết thể hiện ở cảm quan hậu hiện đại

Đó là tư tưởng, ý thức của những quan niệm mới về cuộc sống, về con người trong xã hội với nhiều giá trị bị đổ vỡ, với những khủng hoảng niềm tin và sự bất an, với sự hoài nghi về truyền thống, về chân lý, về một thời kỳ “khác” trước Theo Thái Phan Vàng Anh: “Cảm quan hậu hiện đại là một thuật ngữ mang tính thế giới quan, dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của nhận thức luận hậu hiện đại là hỗn độn và bất tín nhận thức Nhìn một cách giản đơn, hỗn độn và vô trật tự, không hợp lý Bất tín nhận thức là không thể hiểu, không thể tin” [6, tr.37] Cảm quan hậu hiện đại khá gần gũi với cảm

Trang 25

thức phi lý trong văn học hiện đại khi mọi thứ không tuân theo quy luật, không thể lý giải từ những chuẩn mực, những hệ thống ổn định, những quy tắc, những chân lý bất

di bất dịch – khi không gì có thể trở thành cái lí của đời sống

Tính chất hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại chủ yếu nằm ở tâm thức sáng tạo, ở cảm quan về thế giới, con người, một thế giới hỗn mang, “mọi sự đều

là theo cách của nó cùng với những “bản thể người” đa trị, vụn vỡ, đơn độc, “chấn thương”, hoài nghi, xa lạ với đời sống Tinh thần bất tín nhận thức, sự đổ vỡ những tiêu chuẩn giá trị, tính phi trung tâm,phi trật tự của đời sống thời kỳ này đã mang một

“cảm quan hậu hiện đại” Nói như Lê Anh Hoài, tinh thần hậu hiện đại đi ra từ tâm thức của nhà văn và thực sự cần được thể hiện qua tác phẩm, “bởi tính hoài nghi đầy nhân văn của nó, bởi sự giải thiêng, bởi sự quan tâm đến cái riêng, dị biệt” [19]

Đoàn Minh Phượng là một nhà văn hải ngoại, bởi sống ở nước ngoài, được tiếp xúc với môi trường đậm đặc hậu hiện đại , lối viết giải phóng và những khác biệt về lối sống, văn hóa trên đất nước Đức nên dấu ấn hậu hiện đại trong ngòi bút của bà cũng đậm nét hơn Tác phẩm của bà vừa hiện đại, nhưng cũng mang hồn cốt Việt Nam, vừa mênh mang buồn, vừa quyến rũ người đọc bởi tâm thế tha phương, bởi những vụn vỡ rời rạc của hoài niệm và ký ức Nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thường trực trong nỗi buồn, nỗi cô đơn và sự lạc loài của sự “thiên di” nơi xứ người Mang tâm thế của kẻ thiên di, phải hoà nhập với cuộc sống mới xa lạ và lạc lõng, kèm theo đó là những ký ức quê hương nguồn cội khiến cho nhân vật triền miên chìm vào một nỗi buồn mênh mang xa ngái Họ không còn lý tưởng, cuộc sống của họ không có mục đích rõ ràng Họ trở nên mất niềm tin và mất phương hướng Cuộc sống

và những mối quan hệ xung quanh trở nên rối loạn Đây là biểu hiện của con người, của tâm thức hậu hiện đại “Trạng thái mà con người hậu hiện đại thường xuyên phải đối mặt chính là cái hỗn độn “chaos” Bởi cái hỗn độn chaos này mà con người hậu hiện đại rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng đánh mất nhận thức của bản thân trước hiện thực cuộc sống Điều đó khiến cho đôi khi hành vi, cách ứng xử của con người hậu hiện đại dường như không liên quan đến bản chất tính cách của họ, và tính cách của con người chỉ thực sự được bộc lộ trong những hoàn cảnh đặc biệt, trong tình huống hiện sinh tiêu biểu” [4, tr.57] Ký ức, quá khứ, những kỉ niệm thường là những điều đẹp đẽ mà người tha hương trân quý, nâng niu Nhưng trong tiểu thuyết của Đoàn

Trang 26

Minh Phượng, quá khứ là những ký ức đau buồn được chắp vá một cách rời rạc, lỏng lẻo Đây chính là cách nhà văn muốn độc giả phải tự chiêm nghiệm với các sáng tác mang tinh thần hậu hiện đại của mình Không phải lúc nào kỉ niệm, ký ức cũng đẹp đẽ tròn vẹn, không phải bất cứ người tha phương nào cũng ăm ắp trong trí não những hoài thương, tiếc nhớ Quá khứ có thể là những buồn đau rạn vỡ, con người tha phương nơi đất khách quê người con có nguy cơ bị tha phương trên chính ký ức về quê hương nguồn cội của mình Cùng với tâm thế tha hương, nhân vật của Đoàn Minh Phượng hầu như đánh mất bản thể mình Nỗi cô đơn lạc lõng là tất cả những gì thuộc về An

Mi Cảm thức cô đơn cũng là cảm thức chủ đạo đối với các nhân vật khác như Michael, ông Kemf, Sophie khi họ tự động xóa đi phần kỳ ức của mình Thậm chí, Michael vì có một quá khứ quá đau khổ, anh đã tự mình thay bằng một quá khứ khác Anh tự lừa dối mình và lừa dối mọi người bằng một quá khứ giả tạo để có được bình yên trong cuộc sống hiện tại Để cho nhân vật chối bỏ thay đổi quá khứ, hay gắn với những quá khứ buồn, vỡ nát với thân phận nhân vật, tác giả đã tỏ ra cố gắng trong việc

“giải thiêng” quá khứ, khiến nhân vật thực sự tiến tới quá trình chối bỏ những “đại tự sự” của chính tâm trí mình Không có gì đáng buồn hơn, cô đơn hơn khi con người lạc lõng trước hiện thực, mà đồng thời cũng không tìm được chốn nương thân cho chính mình Có thể nói, nhân vật lạc loài cô đơn trong cuộc sống đời thường hay hoàn cảnh tha phương xa xứ trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng là minh chứng cho sự bất tín nhận thức Lối đả phá đại tự sự, mất niềm tin vào các đại tự sự đã làm xuất hiện sự bất tín nhận thức Đây là phạm trù thế giới quan tiêu biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại Chính vì bất tín nhận thức, mà họ lạc lối giữa cuộc đời, với chính bản thân mình Nó là

sự mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin vào các đại tự sự, vào các giá trị đạo đức, tinh thần và hệ thống các giá trị cũ; nó đẩy con người rơi xuống vực sâu của những ngờ vực, nghi kị, lạc lõng, cô đơn, mất phương hướng

1.2.2.3 Cảm hứng về bản chất của cuộc hiện sinh

Theo Jean-Paul Sartre trong Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản đã khẳng

định: “Con người, không chỉ tồn tại như nó tự quan niệm, mà còn tồn tại như nó muốn

thể hiện…; con người không còn là gì khác ngoài những gì mà nó tạo nên Đó là

nguyên tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh” [46,tr.33] Tinh thần hiện sinh trong văn học,

về cơ bản là sự kiếm tìm bản thể, hướng đến trả lời câu hỏi: “Con người, anh là ai?”

Trang 27

Cùng với sự khẳng định nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh khẳng định được đời sống của nó trong văn học toàn cầu, kể cả nền văn học phương Đông

Đầu thế kỉ XXI, sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam theo hướng toàn cầu hóa, khi các nền văn học dân tộc dần hội tụ trong một “thế giới phẳng” Hơn nửa thế kỉ vận động và tiếp biến, đã có một “khuynh hướng” hiện sinh trong bức tranh đa khuynh hướng của tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI Đây là sự hình thành tất yếu bởi đã từng có một dòng văn học hiện sinh ở miền Nam Việt Nam những năm 60,70 Và cũng bởi các trăn trở hiện sinh chẳng bao giờ là xa lạ đối với con người và tiểu thuyết những năm 90 đã ít nhiều chạm đến Đặc biệt, theo Thái Phan Vàng Anh

“chủ nghĩa hiện sinh hôm nay một mặt vừa mang cảm quan hậu hiện đại, một mặt là biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại” [6,tr.102] Gắn hiện sinh và hậu hiện đại, theo Nguyễn Hưng Quốc, “hư vô, thừa thãi, ngẫu nhiên, phi lý, buồn nôn, lưu đày, địa ngục…đã thành sáo ngữ của chủ nghĩa hiện sinh thời trước” [6,tr.235,236] Còn theo Huỳnh Như Phương: “Chủ nghĩa hiện sinh là triết học của một thời đại không lặp lại” [35,tr.91] Thời đại thay đổi, tinh thần hiện sinh cũng thay đổi theo Sự trở lại của tinh thần hiện sinh trong tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI do vậy vừa một mặt thu nhận, một mặt vừa tiếp biến để phù hợp với tâm thế của con người hiện đại cùng với nỗi ưu tư, trăn trở về bản thể, về thân phận con người “Tinh thần hiện sinh trong tiểu thuyết được thể hiện đậm đặc chủ yếu ở cảm thức hư vô, lưu đày, lo âu, bị ruồng bỏ; ở những thân xác hiện hồn, bị quăng quật ngẫu nhiên vào đời sống và chỉ tồn tại nhờ vào những ý muốn tồn tại của chính nó Nổi loại, dấn thân tìm kiếm tự do; chìm đắm trong nỗi cô đơn bản thể với những cái chết tượng trưng, những chấn thương tinh thần/thể xác… trở thành những “phản ứng” của con người trước một thực tại đơn điệu, trống rỗng, thiếu vắng những điểm tựa tinh thần…” [6, tr.105]

Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thể hiện qua việc nhân vật luôn trăn trở, hoài nghi và mong muốn khẳng định nhân vị Cũng như cội nguồn của tinh thần hiện sinh, đó là nằm ở những trăn trở về sự hiện hữu của con người, của những thực thể lạc lõng, xa lạ, thiếu vắng điểm tựa trong cuộc đời Việc đặt ra và mải

mê đi tìm cách trả lời cho các câu hỏi liên quan đến sự hiện hữu của thế giới, đến bản ngã và bản sắc của con người: “Thế giới là gì? Thế giới ấy được con người kiến tạo như thế nào? Trong thế giới ấy có những kiểu thức hiện hữu gì? Cái tôi là gì? Bản sắc

Trang 28

là gì” cũng là vấn đề mà các nhà hậu hiện đại quan tâm Mối quan hệ của con người với đời sống trở nên ít tương thích, thiếu hòa hợp Không gian thời gian hiện hữu không còn chỉ là môi trường/ hoàn cảnh sống vốn mang tính chất nguyên nhân – kết quả hay hỗ trợ - cản trở mà trở thành “bầu khí quyển” của hữu thể, can dự trực tiếp vào sự tồn tại của con người Nhân vật luôn băn khoăn, tra vấn đâu là ý nghĩa của sự tồn tại: “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến?” Câu trả lời về bản ngã thật đơn giản, mấy dòng chữ mờ khuất: “Tôi là một đứa trẻ mồ côi Tôi đến từ một đất nước có chiến tranh”;

“Tôi là khác lạ bất cứ đâu Con người không có quê hương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá, tôi biết thân phận của mình rất dễ vỡ”; “Tôi mồ côi, không có quá khứ, tình yêu, ước mơ, tôi không có một cái tên, chân dung hay linh hồn Tôi là một gian nhà trống…Tôi không có gì để nhớ” [6, tr.107,108]

Trang 29

Chương 2:

HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

2.1 Nhân vật – tro bụi còn mang thân người

2.1.1 Nhân vật mang cảm thức cô đơn, lưu vong

Nhân vật trong văn chương luôn là bóng dáng phản chiếu những ẩn ức mong muốn thầm kín của tác giả Vì lẽ đó, trong tiểu thuyết, Đoàn Minh Phượng cũng thể hiện sự cô đơn, lạc lõng chính bởi cảm thức lưu vong của mình Đoàn Minh Phượng rời khỏi Việt Nam qua định cư tại Đức chưa đầy hai mươi tuổi, sống trong lòng xã hội

tư bản mà ở đó sự minh bạch, phân công đều rõ ràng, lạnh lùng vô cảm, cộng với sự cách biệt về ngôn ngữ, ứng xử đã tạo nên một vách ngăn và mặc cảm văn hóa sâu nặng trong tâm thức của con người lưu vong

Nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng thường trực trong nỗi buồn, nỗi

cô đơn và sự lạc loài của sự “thiên di” nơi xứ người Mang tâm thế của kẻ thiên di, phải hoài nhập với cuộc sống mới xa lạ và lạc lõng, kèm theo đó là những ký ức quê hương nguồn cội khiến cho nhân vật triền miên chìm vào một nỗi buồn mênh mang

xa ngái Họ không còn lý tưởng, cuộc sống của họ không có mục đích rõ ràng Họ trở nên mất niềm tin và mất phương hướng Cuộc sống và những mối quan hệ xung quanh trở nên rối loạn Đây là biểu hiện của con người, của tâm thức hậu hiện đại “Trạng thái mà con người hậu hiện đại thường xuyên phải đối mặt chính là cái hỗn độn

“chaos” Bởi cái hỗn độn chaos này mà con người hậu hiện đại rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng đánh mất nhận thức của bản thân trước hiện thực cuộc sống Điều đó khiến cho đôi khi hành vi, cách ứng xử của con người hậu hiện đại dường như không liên quan đến bản chất tính cách của họ, và tính cách của con người chỉ thực sự được bộc lộ trong những hoàn cảnh đặc biệt, trong tình huống hiện sinh tiêu biểu” [4, tr.57]

Trong tiểu thuyết Và khi tro bụi, nhân vật An Mi cũng hiện lên bóng dáng của

nhà văn trong đó Nửa đời sống lưu vong, cô luôn cảm thấy cô đơn, trống vắng giữa cộng đồng Và khi sợi dây kết nối giữa An Mi và xã hội bị đứt mạch – người chồng ra

đi, thì “một sự tắt ngấm tuyệt đối” đã phủ lên quãng đời còn lại của cô “Một kiếp

người vội vã thành tro bụi, nhưng với người đàn bà ở lại, mất một người chồng là mất

đi mọi ràng buộc mình với thế giới này Không một người quen, không có việc gì trên

Trang 30

đời để làm, không nơi chốn nào để đến…” [36] Cái chết của chồng chính là nỗi đau

đớn lớn nhất đối với cô Một con người rời quê hương đến nơi đất khách, chẳng có gì

để bấu víu, duy nhất người chồng chính là chỗ dựa đối với cô thế mà giờ đây cũng chẳng còn gì nữa rồi Người đã ra đi, bỏ lại cô với nỗi đau tột cùng và sự hoang hoải của kiếp người “Nỗi bất hạnh đã tước đi tất cả ao ước được sống của tôi”, sự thật phũ phàng đưa cô trở về một thực tại nguyên sơ, “tôi không còn gì, hồn tôi chỉ là một đám

tro (…) Và tôi đi tìm cái chết” [36, tr.4] Sở dĩ, An Mi luôn cảm thấy mình “mất cả

trọng lực” và rất “dễ vỡ” bởi mặc cảm văn hóa đã làm cô trở thành người “khách lạ dù

ở bất cứ đâu Con người không có quê hương giống như một hạt cỏ đưa đến bám rễ

trên vách đá, tôi biết thân phận của mình rất dễ vỡ” [36,tr.67] Chồng mất, sự va chạm

văn hóa càng lúc càng sâu sắc hơn “nơi tôi sinh ra, màu trắng là màu tang chứ không phải màu đen Tôi tưởng đã quên điều này vậy mà tôi lại nhớ, và khi nhớ lại rồi điều

đó trở nên quan trọng Quan trọng tuyệt đối trong một cuộc đời không còn gì là quan

trọng nữa…” [36, tr.1] Mạch nguồn quê hương tưởng chừng như đã ngủ yên trong

tiềm thức của nhân vật An Mi sau bao năm bôn ba ở nước Đức Thế mà, khi nó được khơi dậy, lại giống như ngọn lửa bùng lên, hừng hực, thôi thúc và chế ngự cả lí trí và

để những cảm xúc thiêng liêng điều khiển những hành vi ứng xử khác thường “Ngày tang lễ anh tôi mặc một chiếc áo trắng dài Lúc tôi bước vào nhà cầu nguyện, mọi người nhìn tôi rồi vội quay đi, như tế nhị tránh nhìn một điều sai sót lớn lao Tôi nghĩ: đừng bắt tôi làm khác, tôi chỉ có một lần này trong đời để mặc chiếc áo trắng dành cho

anh” [36, tr.1] Nỗi cô đơn, lạc loài ấy cứ bám riết lấy cô, dằn vặt trong từng sợi cảm

xúc hay lí trí Để rồi, cô không dám dựa mình vào bất kì nơi chốn nào nữa Cô quyết định sẽ sống trên những chuyến xe lửa Phải chăng, vì cô sợ bản thân mình nếu quen, quá yêu thương với một vùng đất, một ngôi nhà, những con người ở quanh đó,chẳng may một lần nữa lại mất đi khỏi tầm tay thì chắc bản thân cô sẽ không thể nào trụ vững, không thể nào tiếp tục sống thêm một giây phút nào “Tôi biết mặt đất là thứ

khó chia tay, nên tôi sẽ sống trên những chuyến tàu” [36, tr.3] Cuốn sổ mà nhân vật

An Mi mua như “chuyến tàu quay ngược về những năm tháng” mà cô đã cố tình xóa đi

tất thảy trước đây Cô chọn cách ngủ quên với nó, để nó yên ắng trong một cõi tâm thức nào đó không muốn lật lại một chút nào Cô lấy hết can đảm để viết ra nhưng chỉ viết được ba dòng “Tôi là một đứa trẻ mồ côi” “Tôi đến từ một đất nước có chiến

Trang 31

tranh” “Ở Hildesheim, tôi hát trong ban đồng ca nhà thờ Tôi không nhớ gì về ngôi nhà

thờ ấy, ngoại trừ đá và hơi lạnh từ đá” [36, tr.7] Quá khứ giờ đây như bị phân mảnh,

trở thành những mảnh ghép rời rạc mà chính cô cũng không thể lắp lại chúng sao cho nguyên vẹn Bởi cái gì đã vỡ rồi thì dù con người ta có cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa, có cất công xếp nhặt lại cũng sẽ chẳng bao giờ lành lặn như trước đây Con người sống lưu vong nơi xứ người phải chịu những rào cản về mặt văn hóa bản sắc, họ luôn lạc lõng, cô đơn giữa biển người và không tìm được mối liên kết nào với thế giới bên ngoài Dẫu vậy, mạch ngầm dân tộc vẫn luôn ngấm ngầm thai nghén, âm ỉ trong tâm hồn cô, dù cho nó được bộc lộ ít ỏi nhưng tiếng gọi từ cội nguồn ấy sẽ không bao giờ tắt

Nếu An Mi trong Và khi tro bụi mang cảm thức lưu vong bởi xuất phát từ đứa

trẻ mồ côi khi bước ra từ đất nước có chiến tranh và hòa vào dòng người lên con tàu

qua Đức để sinh sống thì nhân vật Mây trong Đốt cỏ ngày đồng lại lưu vong trong

chính thân phận của chính mình Đó chính là biểu hiện rõ nét của lưu vong tinh thần Lưu vong tinh thần được hiểu như một trạng huống của lý trí Con người sống trong một tâm thế bất ổn, tâm hồn họ bị lưu đầy trong những chuyến lưu vong bất tận, con người trở thành xa lạ với chính mình Cảm thức lưu vong không chỉ là hoàn cảnh sống,

mà còn là tình thế lưu vong trong trái tim mỗi con người Nhân vật Mây cũng mang trong mình những trường cảm xúc như thế.Trái tim cô bây giờ là con đường tối tăm không lối thoát, không nơi trú ngụ Dù trái tim ấy đã từng đập thổn thức vì tình yêu, đã từng khao khát được yêu nhưng giờ đây nó lạc lõng, vô hồn, thật cô đơn biết nhường nào Trái tim hay tâm hồn con người cũng cần có “nhà” của nó, cũng cần có nơi chốn

để thuộc về Nhân vật Mây sau khi người yêu bị bắt giam vào tù, cô bị bán vào nhà chứa Huyền Trân, đi làm điếm “Em vừa bước qua cánh cửa nhôm có giăng tấm vải in

hoa đó để bước vào phòng, thì cuộc đời em đứt đoạn ngay lúc đó” [37; tr.84] Mây lưu

vong trong chính miền ký ức của mình Con người lưu vong không có quê hương nào ngoài ký ức Đến với một nơi hoàn toàn xa lạ_mảnh đất Sài Gòn phồn hoa đô hội, hay tòa nhà Elysia, đó đều là những nơi không thuộc về cô Cô thuộc về nơi có anh, khi người yêu cô chưa bị bắt giam và cô được sống trong tình yêu “Buổi sáng của chúng tôi đẹp như nắng và như sương Trăm năm chắc chắn không đủ dài để thương nhau, tôi

yêu anh đến nỗi thời gian làm cho tôi thấy đau trong lồng ngực” [37, tr.45] Cô cũng

Trang 32

đã từng có khát khao về một tình yêu bình dị như bao người khác, đó là được sống với người đàn ông mình yêu thương, bình đạm bước qua năm tháng Nhưng rồi cô quyết định sống chung với cô đơn, nỗi buồn và khoảng không anh để lại Tất cả khoảng không gian thời gian đều bao trùm bởi nỗi nhớ đến vô cùng vô tận Và khi cô không còn cảm nhận được tình yêu của anh ở bên mình cũng chính là lúc cô rơi vào hố sâu của sự cô đơn “Có khi ở chợ về đến trước cửa căn nhà của mình, tôi không biết tôi vừa đến đây hay vừa về đây Bên ngoài chẳng thuộc về ai, không một ai yên ấm, không một ai lạc loài Ở bên ngoài người ta luôn có một nơi nào để đi đến – hoặc trở

về Bên trong căn nhà của mình, người ta dừng lại, ngồi xuống, không còn nơi nào để

đi tiếp Nếu không cảm thấy được bao bọc trong hơi ấm và sự quen thuộc của nơi chốn thuộc về mình, người ta không còn nơi nào trú ngụ ngoài con tim bên trong thân thể

Vách con tim tôi mỏng, tôi biết vậy” [36, tr.38] Rời xa anh cô cũng như rời xa trái tim

tầm hồn của mình Bởi tình yêu chính là thứ kết nối và sưởi ấm cho những con tim đang se sắt, cô đơn Nhưng giờ anh không còn ở đây nữa thì còn chỗ dựa nào cho cô Mây trở nên lạc lõng, vô loài, cảm thấy mình như bị ra khỏi rìa của thế giới, không có nơi nào là thuộc về mình cả Tại sao những người ngoài kia ai ai cũng thật hạnh phúc, còn cô thì không? Ai ai cũng có ngôi nhà và hơi ấm, còn cô lại chỉ một mình? Sự cô đơn ấy chi phối cả tiềm thức của cô, khiến cô cũng không thể hiểu được suy nghĩ và hành động của chính mình Có đôi khi cô hành động một cách vô thức và cũng có khi tất cả diễn ra xung quanh cô chỉ là sự ảo giác mà thôi Không chỉ cô đơn, lạc lõng mà nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng cũng luôn mang sự hoài nghi, phủ định

sự tồn tại Mây luôn chìm trong một cảm giác rằng anh không có thật Tất cả những năm tháng sống với anh, ký ức bên anh và cả những cảm giác yêu của hai người phải chăng là một giấc chiêm bao? Những trạng thái ấy cứ dồn dập trong tiềm thức của cô Vừa cô đơn, lạc lõng, vừa hoài nghi, bất an, tất cả những cảm xúc ấy chính là dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Nhân vật mang cảm thức cô đơn, lưu vong luôn xuất hiện trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng như một nỗi ám ảnh thường trực khôn nguôi Ẩn sau mỗi số phận, mỗi nhân vật trong tác phẩm chính là bóng dáng cuộc đời nhà văn Một con người phải đi qua những năm tháng lưu lạc sống nơi đất khác, mang trên thân thể hàng trăm vết thương đau, nếm bao sóng gió cuộc đời, trải đủ mọi thế thái nhân tình nên trang văn của bà thấm đẫm sự từng trải và sâu

Trang 33

sắc đến tột cùng Không có gì đáng buồn hơn, cô đơn hơn khi con người lạc lõng trước hiện thực, mà đồng thời cũng không tìm được chốn nương thân cho chính mình Có thể nói, nhân vật lạc loài cô đơn trong cuộc sống đời thường hay hoàn cảnh tha phương xa xứ trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng là minh chứng cho sự bất tín nhận thức Lối đả phá đại tự sự, mất niềm tin vào các đại tự sự đã làm xuất hiện sự bất tín nhận thức Đây là phạm trù thế giới quan tiêu biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại Chính

vì bất tín nhận thức, mà họ lạc lối giữa cuộc đời, với chính bản thân mình Nó là sự mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin vào các đại tự sự, vào các giá trị đạo đức, tinh thần và hệ thống các giá trị cũ; nó đẩy con người rơi xuống vực sâu của những ngờ vực, nghi kị, lạc lõng, cô đơn, mất phương hướng

2.1.2 Nhân vật bị ám ảnh bởi quá khứ

Quá khứ giống như một bản nhạc của năm tháng, đó là quãng thời gian đã từng xảy ra và con người ta không thể nào chối bỏ quá khứ được Quá khứ ấy có thể chứa đựng niềm vui, hạnh phúc, ấm áp, đủ đầy hay mất mát, đau thương Thế nhưng, có khi

nó giống như một viên sỏi mắc kẹt trong trái tim chúng ta, mỗi lần khơi gợi thì lại đau nhức nhối Có những người họ sống bởi quá khứ bởi quá khứ là động lực, niềm tin để

cố gắng, để bám víu với đời mà tiếp tục sống Cũng có những người, tự làm đau mình bởi chính quá khứ đã qua, có lẽ nó đau lòng quá và người ta khó thể nào mà quên được chăng Dẫu sao, quá khứ cũng là thứ sẽ theo ta suốt cuộc đời, chỉ có cách duy nhất là đối diện và sống chung với nó mà thôi

Ký ức, quá khứ, những kỉ niệm thường là những điều đẹp đẽ mà người tha hương trân quý, nâng niu Nhưng trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng, quá khứ là những ký ức đau buồn được chắp vá một cách rời rạc, lỏng lẻo Đây chính là cách nhà văn muốn độc giả phải tự chiêm nghiệm với các sáng tác mang tinh thần hậu hiện đại của mình Không phải lúc nào kỉ niệm, ký ức cũng đẹp đẽ tròn vẹn; không phải bất cứ người tha phương nào cũng ăm ắp trong trí não những hoài thương, tiếc nhớ Quá khứ

có thể là những buồn đau rạn vỡ, con người tha phương nơi đất khách quê người còn

có nguy cơ bị tha phương trên chính ký ức về quê hương nguồn cội của mình Xuất phát từ thân phận lưu vong, quá khứ tồn tại trong nhân vật của tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng như một sự ám ảnh Đối với họ, quá khứ không chỉ là tài sản mà còn là hơi

Trang 34

thở, là điều kiện mang tính bản thể để người lưu vong ý thức được thân phận lưu vong của chính mình

Đối với nhân vật An Mi trong tiểu thuyết Và khi tro bụi, cả cuộc đời cô đã phải

sống trong sự ám ảnh về ký ức, một ký ức vô cùng bi thương Chồng mất vì tai nạn xe,

cô thấy mình chẳng còn một mối liên hệ nào với thế giới, cô chọn cái chết để kết thúc chuỗi ngày lạc lõng của mình Cô lên những chuyến tàu rời khỏi một nơi cố định để đi tìm câu hỏi: “Tôi là ai?” Và rồi trong những ngày cận kề chuẩn bị cho cái chết, cô bắt gặp một câu chuyện của người khác tên Michael Và trong hai năm sau đó, cô sống nương nhờ vào câu chuyện của người trực đêm Cô ròng rã đi tìm sự thật cho câu chuyện ấy, để rồi đã mở ra cho cô câu chuyện của chính mình Quá khứ của An Mi, không hẳn là cô đã mất trí và quên hết đi mọi chuyện, thi thoảng, quá khứ hiện về trong những lời nói bâng quơ của cô “Cháu lớn lên ở đây mà Cháu qua đây lúc bảy tuổi Trẻ mồ côi vì chiến tranh Cháu bị thương, người ta đem cháu lên tàu bệnh viện Đức để chữa bệnh Gia đình cháu chết hết, không ai đến nhận cháu về, người ta đưa

cháu qua đây luôn…” [36, tr.7] Tuổi thơ của An Mi, có lúc nó mơ hồ, nhạt nhòa, vô

định, có lúc lại rõ nét đến từng chi tiết Cô nhớ rằng mình mồ côi, mình đến từ đất nước có chiến tranh Nhưng dấu hỏi cho những ẩn ức trong đó thì vẫn mãi không có câu trả lời, cho tới tận sau này… Từng trang quá khứ của cô được lật giở khi truy tìm dấu vết cho cuộc đời của cậu bé Marcus Đó là cậu bé bị chối bỏ bởi chính người thân của mình: cha em nghi ngờ em là con của người khác, người anh trai Michael chọn cách lãng quên đứa em Sự thật của Marcus không còn thuộc về chính em nữa mà thuộc về một người duy nhất hiểu nó – An Mi Từ thương người cô trở về thương thân

Từ chính người cha của anh em Marcus đã khiến cô nhớ lại rằng: Cô cũng đã từng được biết đến tình yêu Đó là tình yêu của người cha nuôi dành cho cô con gái bé nhỏ của mình “Lần thứ nhất từ năm tôi lên 7 đến năm 13 tuổi Tôi có một người cha nuôi, một người yêu tôi như con gái thật Cha tôi chơi nhạc thánh ca ở nhà thờ Ông đón tôi

ở trường, mua giày cho tôi và dạy tôi hát…” [36, tr.85] Thế nhưng một điều nghiệt

ngã đã xảy ra “Năm tôi mười ba tuổi ông tự bắn chết trong nhà thờ” Phát súng ấy đã

ám ảnh cuộc đời cô Phát súng đã giết chết đi người thân thứ hai, thương cô như chính tuổi thơ cô đã từng được yêu thương Phát súng tự sát của người cha, phát súng của chiến tranh đã đẩy cuộc đời cô trở nên “không ao ước, không có hạnh phúc Chỉ còn

Trang 35

hoài niệm…Tôi bước qua cuộc đời không cảm nhận được mặt đất dưới chân mình”

[36, tr.9] Nhưng điều đau đớn hơn thế chính là việc mẹ nuôi xem cô là thủ phạm: “Mẹ

nuôi tôi nói tôi là thủ phạm Tôi có một thân thể…Mái tóc tôi dày và mượt ra, thân thể chớm kéo những đường nét báo trước nhiều phập phồng và truân chuyên Tôi bắt cha yêu tôi Cha không cưỡng lại được, nên ông đã hóa điên và tự bắn chết Bà buộc tội tôi

và bắt tôi nhận nó, khốc liệt như thể nếu tội lỗi được phân định rõ ràng xong, được xóa

đi bằng sự trừng phạt hay sám hối thì cái hệ quả của tội lỗi cũng sẽ không còn” [36, tr.92] Một cô bé mười ba tuổi, cô hiểu gì về tình dục và ham muốn của một người đàn

ông Cô hiểu gì về sự ham muốn ấy? Cô hiểu gì về thân thể đang phát triển của mình lại gây nên cái chết cho người yêu thương nuôi nấng cô suốt bao năm qua? Nhưng sự gào khóc bi thương và những lời buộc tội của mẹ nuôi khiến cô dần tin vào điều đó

“Mỗi lần nhớ lại ánh mắt của cha tôi tôi thấy sợ hãi Nỗi sợ hãi không cần được nuôi bằng kinh nghiệm có thật, nó tự nuôi lớn nó nhanh và lạ thường, mọc lông mọc cánh

che khuất những ngôi sao trong sáng thời thơ ấu” [36, tr.94] Khi nỗi đau đã trở thành

cái hố sâu kéo chùng con người ta rơi xuống thì chỉ còn cách xóa nó đi khỏi vùng kí ức

ấy mà thôi Và thế là, An Mi đã quyết định quên đi ông, quên đi người cha nuôi ấy, quên đi tiếng súng đã đẩy cuộc đời cô trở nên lạc lõng như một kẻ vô loài Đi tìm câu chuyện của người khác, cô lại tìm thấy câu chuyện của chính mình Ký ức giống như một thước phim quay chậm, đợi đến phân cảnh buồn thật buồn nó lại như dậm chân lại chỗ, ngưng đọng và không muốn chuyển đến cảnh tiếp theo Cô nhìn thấy ở Marcus thân phận của cuộc đời cô Cô đồng cảm và tự nhận mình mang cùng nỗi đau với nó Sợi dây đồng cảm ấy khiến cô có cảm giác cô được sống, được có một sự thật cần phải tìm đáp án Và khi cô quyết định từ giã với cuộc đời, cô đã tìm thấy sợi keo gắn kết chuỗi mạch lạc cho cuộc đời mình Giây phút cận kề cái chết, đã đưa An Mi trở về với tuổi thơ, với ký ức về gia đình, về quê hương cội nguồn của mình Cô nhớ lại ngôi nhà

mà ấu thơ mình từng sống ở nơi đất nước mà người ta để tang nhau bằng màu trắng

Cô đã từng có một mái nhà, có cha mẹ và một đứa em Người cha đi lính đã ba năm không có nhà, mẹ trồng lát đan chiếu còn cô thì phụ mẹ và trông em Đứa em nhỏ lúc nào cũng theo sau cô bốn bước Lúc ngủ, nó quay vào ôm cô mặc dù người cô toàn xương và không êm ái như mẹ Nhưng rồi, tiếng đạn của chiến tranh đã cướp đi tất cả Ngôi nhà bị đánh sập, mọi người đã chết, chỉ còn mình cô Trong đêm tối hỗn độn ấy,

Trang 36

có tiếng gọi: “An ơi, chạy đi” đã thôi thúc cô đứng dậy, chạy và chạy mãi… Nhưng đến khi đã một nửa bước vào cái chết, cô chợt nhận ra tiếng kêu đó là của đứa em gái nhỏ “Nó còn đâu đó trong căn nhà sập, không chạy đi vì nó còn chờ tôi nắm tay nó dẫn theo mình Con bé luôn luôn biết mình phải ở sau chị nó bốn bước và không được rời xa hơn thì tôi không trong được Vậy mà tôi đã chạy một mình, bỏ lại con bé em ba tuổi với xác mẹ, trong căn nhà sập… Nó gọi “An ơi, chạy đi!” Bây giờ tôi mới hiểu

nó gọi An ơi, tới đây dẫn em chạy khỏi đây đi! Nhưng nó không nối ra tất cả các chữ

vì quá dài… Tôi đã nhắn mắt chạy đi Tôi chạy đi mãi, đi mãi, 25 năm chưa bao giờ

quay đầu với đứa em gái nhỏ chờ tôi đến cứu nó khỏi nỗi sợ kinh hoàng” [36, tr.186]

Hai mươi lăm năm cuộc đời kia cô quyết định sống với sự quên lãng, cô thà quên đi nó chứ không muốn nó là sự thật Với một con bé bảy tuổi vẫn chưa hiểu được sự bỏ rơi

là gì Nhưng mãi đến sau này nó vẫn như một vết thương không bao giờ lành da Vết thương ấy không phải là vết thương bởi bom đạn, mà là vết thương của sự dằn vặt, giằng xé, không bao giờ tha thứ nổi cho bản thân mình Cô quên đi buổi tối bị đánh bom hôm đó cũng như quên đi thân phận của một kẻ lưu vong nơi đất khách Nhưng đâu biết rằng, cả chuỗi đời sau này của cô sống như một kẻ đã chết từ lâu Sống không

có mục đích, không tình yêu, không ước vọng và không biết mình là ai, điều gì đã khiến cho bản thân dửng dưng với cuộc đời đến thế Gương mặt quá khứ đau thương vẫn ám ảnh cô trong mỗi phút mỗi giây cô sống Nó không rõ nét, nó mờ mờ ảo ảo, thoắt ẩn thoắt hiện như một con ma u ám cuộc đời cô Để rồi khi cuối đời, từng nút thắt đã được khơi mở, cô ao ước muốn được sống, muốn được nhìn thấy đứa em dù chỉ một lần “Xin cho tôi sống nhìn thấy em tôi một lần, cho tôi giải mối oan này, quay về với cuộc đời, với sự sống tôi chưa từng được biết và khao khát đến nao lòng” [36,

tr.187]

Trong tiểu thuyết Đốt cỏ ngày đồng ta có thể thấy được sự ám ảnh về quá khứ

vẫn luôn dằn vặt con người Dù quá khứ ấy nằm sâu trong tiềm thức, hay được in lằn trên những khuôn mặt, những tâm hồn đầy rẫy vết xước thì vẫn không cách nào thoát

ra được Nhân vật chính trong tác phẩm là Mây, tên của cô đến cuối tác phẩm mới được phát hiện Dòng ý thức của cô là chuỗi hồi tưởng các sự kiện trong đời: người yêu bị bắt giam vào tù, những ngày cuối cùng bên nhau và những tháng chờ đợi G mãn hạn Những sự kiện ấy được lồng ghép trong tâm tưởng nhân vật nhưng lại đứt đoạn,

Trang 37

rời rạc Những ngày trước khi G bị bắt giam, có lẽ cô đã có một khoảng thời gian được hạnh phúc, được sống trong tình yêu Tình yêu sẽ đi cùng với những mơ ước, hứa hẹn

về một tương lai cùng nhau “Anh ước gì chúng ta đã già, - bảy mươi hai em nhé? -Và đang đi dạo, đúng con đường này, ngày thu này, đúng là chúng ta, anh như anh và em như em, chỉ khác là tóc chúng ta đã trắng, em buông tóc xuống như ngày hôm nay, cuộc đời đã đi qua, không có gì khác hết, chỉ có tóc trắng xóa và màu vàng tái hơn, màu nắng tháng mười một” “Chúng ta sẽ sống như thể mình đã già, thương nhau trong

an lành Dù chúng ta thương nhớ nhiều hơn là ước vọng”“Anh sẽ không bao giờ đi đâu

hết Ở nhà gõ nhịp cho em hát, viết sách rồi đem chôn Chỉ vậy thôi” [37, tr.30] Hạnh

phúc và bình yên mãi mãi là khát vọng muôn thuở của người con gái Cần gì hơn được sống bên nhau bình bình đạm đạm tới cuối đời Thế nhưng đôi khi, lời hứa lại là dự cảm cho những phút chia xa Để rồi Mây bàng hoàng nhận xa “trong khi anh đang nói

và tôi đang nhìn về phía xa của con đường mất dần khỏi tầm mắt, nơi cái vòm tối ở bên dưới hai vòm cây đang giao nhau gợi lên hình ảnh của nơi thời gian biến đi mà lời hứa về một thiên đường thì không giữ nổi, tôi chợt hiểu tất cả ý nghĩa của sự chia ly

Sẽ không còn một ngày tháng Chín nào nữa Chúng tôi sẽ xa nhau, sẽ quên, cuộc đời

sẽ khác …Tất cả sẽ không còn nữa , không còn trong hiện tại của mai sau và không

còn trong tâm tưởng…” [37, tr.31,32] Nỗi nhớ chính là sự trở lại của một khoảnh

khắc Nỗi nhớ sẽ càng rõ rệt hơn nếu con người ta tự lừa dối mình rằng mình đã quên

đi điều đó Cô nhớ anh, nhớ tất cả mọi thứ về anh nhưng khi nỗi nhớ ấy đã chiếm trọn tâm thức thì một sự nghi hoặc lại diễn ra: Nỗi nhớ ấy có thật hay không? “Tôi không biết cái gì giữ cho tôi niềm tin rằng anh có thật…Tất cả những gì tôi nhớ, chỉ là những cảm giác…Những cảm giác đó đã trở thành một phần đời của tôi, trở thành chính tôi

…” [37, tr.39] Quá khứ càng đẹp thì hiện tại sẽ càng đau thương Nhân vật “tôi” mang theo những cảm giác về tình yêu ấy, khi thì chìm đắm, khi lại chỉ còn một mớ hỗn độn,

mơ hồ Khi bị thực tại vùi dập, đối mặt với cuộc sống chỉ toàn là “sự chà xát của thân thể”, cô cũng dần quên mất mình đã từng được yêu như thế nào Nhưng tình yêu đối với anh thì vẫn luôn tồn tại “luôn theo dõi và phán xét tôi như một thứ lương tri… Khi

nó không còn thì tôi đã bắt đầu sống trong sự chết Không có nó, lồng ngực tôi vẫn thở, một nhịp, rồi thêm một lần nữa, để nuôi sự sống nào đây? Sẽ chỉ còn một sự nhịp nhàng của vô thức nuôi một thân thể vô thức, tất cả bầu trời và thời gian chỉ còn đó,

Trang 38

ôm bọc lấy, kéo dài cái chết bên trong…” [37, tr.95] Có lẽ, tình yêu với anh là nguồn

sống duy nhất của cô, cứu rỗi lấy trái tim tâm hồn đang chết dần chết mòn của cô Chỉ

có tình yêu với anh, quá khứ hạnh phúc bên anh, hình ảnh, hơi thở của anh mới đủ để

cô bấu víu lấy sự sống này Ký ức về anh, về tình yêu với anh nó không chỉ đẹp mà con là niềm đau Cứ tưởng rằng, con đường hạnh phúc đã đến rất gần tựa có thể chạm tay nhưng ngay vào lúc bình yên nhất thì bão tố lại đang chực chờ vây quanh và đổ sầm xuống Anh bị bắt giam, một mình cô đối mặt với thế giới tàn khốc Cuốn sổ anh

để lại lại vô tình đẩy cô vào tình thế khắc nghiệt, cô bị đe dọa và rồi bị bán vào nhà chứa Huyền Trân Bị ám ảnh bởi việc đi làm điếm, cuộc sống của cô giờ đây còn tệ hơn là cái chết “Đi làm điếm có giống như chết không?” “Em đi làm điếm rồi thì em

không còn câu chuyện nào khác” [37, tr.84] Làm điếm – đó là nỗi nhục nhã ê chề, là

cái chết tự bên trong thân thể, là tâm hồn đã tàn lụi, là trái tim đã hóa đá Giờ đây, chỉ còn lại một cái xác, cái xác tự vấn với lương tri “Ngày anh ấy đi, em là làn nước trong Bây giờ, em đã nhuốm màu bùn, đã trở thành nước đục Đời em đã biến thành sự chờ đợi Bây giờ, sự chờ đợi đã qua, em không còn có thể có mặt ở đây nữa” [37, tr.96] Sự chờ đợi trong vô vọng đã khiến cho Mây chẳng còn thiết tha điều gì nữa Bản thân làm điếm, một thân thể đã không còn trong trắng, nó nhuốm lên màu dơ đục của cuộc đời khốc liệt, của cái bản năng lừa lọc nhau để thỏa mãn khoái cảm “Ngày mai em là một con điếm tồi tàn trong một nhà chứa những con điếm tồi tàn” “Cả hai cùng biết khoảnh khắc thỏa mãn được thúc bách sẽ đến nhanh, dù bao nhiêu tê dại ê chề, nhưng nó sẽ qua Nhưng ở đây, mỗi khoảnh khắc đều đứng yên, mỗi khoảnh khắc là một sự vô tận Khi sự xâm phạm không còn có thể chịu đựng nữa, em bước ra khỏi thân thể mình

Em đã chết rồi và thời gian không trôi nữa” [37, tr.101] Đó là nỗi đau không có sự kết

thúc, là căn bệnh không có thuốc giải, nó sẽ ăn mòn từng tế bào của tâm hồn, khiến cho con người ta sống không được, mà chết cũng không xong Suy cho cùng, chết không phải là bất hạnh lớn nhất, mà sống trong cái tâm hồn đã bị chết đi còn đau đớn gấp ngàn lần Và rồi, chính trong những giây phút tưởng chừng như chẳng còn thiết tha gì với cuộc đời này nữa thì những ký ức của tuổi thơ lại là thứ xuất hiện le lói trong tâm hồn cô Tuổi thơ ấy dường như cô đã quên, hay gác nó lại ở một ngóc ngách nào

đó trong trí nhớ Rồi một ngày đó, tuổi thơ bỗng lướt qua như một sự nhắc nhớ về bản thân mình:

Trang 39

“Tuổi thơ và người thân và con đường ven sông, và mối tình từ đầu năm mười bốn đến năm mười bảy tuổi Tan tác hết Không còn gì nữa cả Đến bầy gà bọn cướp cũng bắt đi”

“Bầy gà nào?

“Phía sau nhà em có một con lạch nhỏ Cha em trồng một bụi mía Má em đi chợ mua về cho mỗi đứa em một con gà hay là một con vịt con để nuôi Con gà của em lớn, nó thành một con gà mái, đẻ ra trứng, ấp ra một đàn gà con Nó dẫn con đi kiếm

ăn trong bụi mía, em chạy ra đếm con cho nó, không bao giờ đếm xong vì thế nào cũng có con này hoặc con kia khuất sau một cây mía không thấy được”

“Vì sao mà phải đếm”

“Vì em sợ bọn nó rơi xuống lạch chết”

“Gà con lông màu gì?”

“Khi mới nở thì lông tơ phơn phớt vàng, nhưng bây giờ không hẳn vậy Em không biết màu gì Mỗi con gà con là một túm lông đang chờ có màu hiện lên từ từ,

chứ bây giờ thật sự không có màu gì cả, không tả được…” [37, tr.83]

Những dòng chảy của tuổi thơ đã trở về ào ạt trong cô, sự hiện diện ấy giống như chưa bao giờ bị bỏ ngỏ, quên lãng Những kí ức thật non nớt, thật hồn nhiên, vô tư Có

lẽ, trong chính tiềm thức của cô vẫn luôn khao khát được trở về, được sống lại trong kí

ức ấy, để rồi trong một ngày cô cảm thấy thế giới này là còn là gì nữa thì tuổi thơ ấy lại hiện về, rõ ràng và sống động hơn bao giờ hết: “Em nói rằng bọn cướp ấy lấy hết của em mọi ký ức Những lần em gọi không phải để nói em đi làm điếm thì em không bao giờ nói về đàn gà cả Bây giờ thì em nhớ đến chúng, nhớ đến cả lông gà con còn đang chờ có màu Tuổi thơ em rõ ràng tự bao giờ hết” “Em nhớ lại, như người chết

nhớ lại tất cả cuộc đời mình trong phút chót” [37, tr.84] Không ai sống mà không có

tuổi thơ Tuổi thớ ấy dù là vui vẻ, hạnh phúc hay bất hạnh khổ đau thì vẫn là một sự

ám ảnh sẽ ôm lấy tâm hồn của chúng ta mãi tận sau này

Nỗi ám ảnh quá khứ không chỉ tồn tại ở nhân vật Mây mà với nhân vật Q, đó cũng chính là một vết thương không thể nào lành da, nó ảnh hưởng suốt cuộc đời còn lại của cô Quá khứ của Q được miên theo dòng tâm tưởng của nhân vật Mây Ở đó, Mây dường như chứng kiến sự bất hạnh của Q và mang theo sự đồng cảm cùng với tình yêu dành cho nhân vật này.Q là “đồng nghiệp” của Mây trong nhà chứa Huyền

Trang 40

Trân Sở dĩ Mây để ý tới cô bởi Q rất đặc biệt “Q hai mươi hai tuổi và không bao giờ

để cho dấu vết gì của cuộc đời, của những hạnh phúc và bất hạnh và thân thể mình”

“Q đẹp không phải vì mắt, mũi, miệng và tóc đẹp, cũng không phải vì sự hài hòa của những thứ ấy…em nhận ra Q đẹp bằng một giác quan nào đó khác.Và có lẽ cái đẹp

cũng không hiện diện, chỉ có cái hồn của cái đẹp mà thôi ” [37, tr.103] Q là một cô

gái câm, quê ở Duy Hà, một tỉnh đất ít màu, trời ít mưa, trời nóng Q con nhà nghèo,

ba đứa con của cha mẹ Q sinh ra đều bị một cái tật gì đó và những tật đó thì không giống nhau “Anh Q có một chân quá ngắn, và em gái Q bị bệnh tim bẩm sinh, nó sống sót nhưng yếu đuối Nhà chỉ có Q và mẹ có đủ sức khỏe để đi làm Hai người đi làm

cỏ mướn trả công theo ngày và nuôi cha bị bệnh Năm Q mười bảy tuổi, cha mất, mẹ

gửi Q đi học đan tre…” [37, tr104] Q không phải bị câm bẩm sinh, mà do mấy năm

trước Q treo cổ, người làm vườn kịp cứu sống nhưng từ đó Q không nói được nữa Nương theo dòng tâm tưởng của nhân vật tôi đã hé mở ra quá khứ đầy ám ảnh của Q Quá khứ ấy đã làm cho cô gái kia trở nên câm lặng đi, trở nên như hòn đá Người ta thường nói rằng, là trẻ con thì rất dễ quên đi, nó bị té, đau và khóc, rồi chỉ cần một cây kẹo mút hay một lời dỗ ngọt thì nó sẽ nín ngay Nhưng đó chỉ là vết thương thể xác, trầy da tróc máu thì một thời gian sau sẽ lành, không còn đau nữa, có thể là còn sẹo Còn vết thương của tâm hồn thì sao? Vết thương tâm hồn là một nỗi đau biết gào khóc nhưng không thể phát ra tiếng, chỉ là những tiếng gào trong vô vọng, những tiếng kêu cứu xin ai đó hãy cứu mình ra, nhưng tất cả đều vô nghĩa Chỉ còn lại bản thân giằng

xé mình mà thôi Cũng giống như Q, đó là vào một buổi chiều tan học ở một trường miền núi “Một cô học trò rủ bạn về nhà chơi Ăn cơm, rửa chén bát xong, hai đứa con gái, một đứa mười ba, một đứa mười bốn tuổi, đi ra vườn xem hạt gieo mới lên Cha

cô gái chủ nhà gọi hai đứa vào, rồi đột nhiên chốt cửa, xé quần áo hai cô gái Con gái

bị hại trước, bỏ chạy thoát vào rừng, đêm không dám về sáng hôm sau, cô đi tìm bạn,

thấy bạn nằm chết ở suối…” [37,tr.88] Một đứa con gái mười ba mười bốn bị chính

người cha của mình hãm hiếp, chứng kiến xác bạn chết dưới suối “suối chảy ra sông,

cả dòng sông nhuốm máu loãng sẽ còn theo mãi cuộc đời vô tri của Q” [36, tr.93] Dòng sống ấy nhuốm máu loãng, cũng là nhuốm lên sự bi thương của Q, bi thương ngược dòng thành sông Không một ai hiểu được tâm hồn của một cô bé tuổi dậy thì, nỗi đau da thịt, nỗi ám ảnh trong tim khi phải trải qua những chuyện khủng khiếp như

Ngày đăng: 03/11/2023, 21:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Tú Anh (2013), Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Hành trình khoa học xã hội, tập 58, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lê Tú Anh
Nhà XB: Hành trình khoa học xã hội
Năm: 2013
2. Lê Tú Anh (2015), “Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng nghĩ về văn học chấn thương và quan điểm nghiên cứu”, nguồn: http://www.sachhay.org/diem- sach/ChiTiet/2903/tu-truong-hop-doan-minh-phuong-nghi-ve-van-hoc-chan-thuong-o-viet-nam-va-quan-diem-nghien-cuu , truy cập ngày 27/02/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng nghĩ về văn học chấn thương và quan điểm nghiên cứu
Tác giả: Lê Tú Anh
Năm: 2015
3. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
4. Nguyễn Thị Lan Anh (2018), Nhân vật mang dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam, Luận án Tiến sĩ văn học, Trường ĐHQG Hà Nội – ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật mang dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Nhà XB: Trường ĐHQG Hà Nội – ĐH KHXH&NV
Năm: 2018
5. Thái Phan Vàng Anh, (2010), Những cái tôi kể chuyện trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, Số 62A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cái tôi kể chuyện trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học Huế
Năm: 2010
6. Thái Phan Vàng Anh, (2007), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – Lạ hóa một cuộc chơi, nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI – Lạ hóa một cuộc chơi
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: nxb Đại học Huế
Năm: 2007
7. Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu khoa học
Năm: 2005
8. Trương Thị Ánh, (2014), Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Tạ Duy Anh
Tác giả: Trương Thị Ánh
Nhà XB: Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2014
9. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
10. Nguyễn Hồng Dũng & Phan Tuấn Anh (2011), Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghiên cứu văn học Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, tập 66,3, tr.5-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghiên cứu văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng & Phan Tuấn Anh
Năm: 2011
11. Nguyễn Hồng Dũng (2013), Triết học ngôn ngữ trong văn học hậu hiện đại, Ngữ học toàn quốc 2013 – Diễn đàn học tập và nghiên cứu, Hội ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học ngôn ngữ trong văn học hậu hiện đại, Ngữ học toàn quốc 2013 – Diễn đàn học tập và nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Năm: 2013
12. Nguyễn Hồng Dũng (2014), Quá trình tiếp nhận các công trình nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình tiếp nhận các công trình nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Năm: 2014
13. Nguyễn Hồng Dũng (2016), Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 – 2010, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 – 2010
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Năm: 2016
14. Trần Thái Đỉnh (2015), Triết học hiện sinh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2015
15. Nguyễn Thị Minh Huệ (2009), Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huệ
Nhà XB: Trường Đại học Vinh
Năm: 2009
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
17. Vũ Thị Hương (2019), Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết văn học đương đại (Qua một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu), Luận án Tiến sĩ văn học, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết văn học đương đại (Qua một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu)
Tác giả: Vũ Thị Hương
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường ĐH KHXH&NV
Năm: 2019
18. Bùi Thị Minh Hảo (2018), Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thủy, Đại học sư phạm Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đỗ Bích Thủy
Tác giả: Bùi Thị Minh Hảo
Năm: 2018
19. Lê Anh Hoài (2008), “Hậu hiện đại đã và đang được Việt hóa”, nguồn: https://www.thotre.com/luutru/include/printview.php?id=1801 , truy cập ngày 15/03/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu hiện đại đã và đang được Việt hóa
Tác giả: Lê Anh Hoài
Năm: 2008
20. Phạm Quốc Hoàng (2015), Cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết Vô tri của Milan Kundera, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Huế - Trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết Vô tri của Milan Kundera
Tác giả: Phạm Quốc Hoàng
Nhà XB: Đại học Huế - Trường Đại học Sư phạm
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w