1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo trình mỹ học đại cương

178 5 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Mỹ Học Đại Cương
Tác giả PGS. TS. Nguyễn Văn Huyền, GS. TS. Đỗ Huy
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 25,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy cỏi đẹp là một ý niệm tấn ai độc lập, chỉ phối mại hiện tượng cụ thể 6 í niệm trong nghệ thuật Nhiều nhà mỹ hoc thai cổ Hy Lạp như Hờraclit, Đờmụerit đó từng bàn tối học thuyết bất c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

KHOA TRIET HOC

Trang 2

PS, T$ NGUYÊN VĂN HUYẾN (Chủ biên)

Gs Ts DO HUY

LỠI NHÀ XUẤT BẢN Những năm gắn đây, công với quá trình đổi mối, phát triển đất nước, đồi sống nhân dân ta ngày càng được nâng cao, như cấu tính thần, hưởng thụ cát đẹp và các giá trị thẩm mỹ trong: nhân dân, đặc biệt là tắng lớp trẻ đang ngày càng tang

"Để đáp ứng nhụ cấu dó, việc nghiên cứu mỹ học nói chung biên soạn Lài liệu, giáo trình mỹ học phục vụ công tác giảng dạy cho sinh viên, đào tạo cao học và nghiên cửu sinh ở các trường

si hoe và cao ding được quan tâm hơn, nhiều công trình đã

“được xuất bản Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu và biên soạn đói

“cồn những hạn chế chưa đáp ứng được như cầu học tập và tham khảo ngày càng táng của học viên

`Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hoàn thiện các giáo trình mỹ học nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy - đào tạo và định hưởng các giá trị thẩm mỹ - nghệ thuật vốn rất da dạng và phong phú hiện nay, PGS, TS Nguyễn Văn Huyền và GS, TS Đỗ Huy đã biên soạn cuốn Giáo trình mỹ học đại cương

“Tập giáo trình này được kết cấu thành 9 chương: - Chương [- Quá trình hình thành và phát triển khoa học

mỹ học,

“Chương HT: Mỹ học với tử cách là một khoa học

~ Chương II Các quan hệ thẩm mỹ của cơn người với đời

sống hiện thực

(Chương IV: Các phạm trù thẩm mỹ cơ bản

~ Chương V: Chủ thể thẩm mỹ và các hình thức hoạt động

“của nó

Trang 3

“Chương VI: Bản chất nguồn gức, chức năng của nghệ thuật

“Chương VII: Đặc trưng và cầu trúc của nghệ thuật

“Chương VIII: Vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội

= Chương [X: Giáo đọc thẩm mỹ vì sự phát triển con người

toàn điện - hài hoà

"Đây là những vấn để cân bản, hệ thống và bao quát các nội

dung của mỹ học rất bổ ích với công tác giảng dạy, đào tạo

"nghiên cứu sinh, cao học và công tắc nghiên cứu vể mỹ học

Xin trân trong gid thiệu cuốn sch với bạn đọc

“Hà Nội, tháng 08 năm 2004 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

CHƯƠNGL

'QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHAT TRIEN

KHOA HQC MY HOC

1- KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ MỸ HỌC TRƯỚC MÁC

Mỹ học trở thành một khoa học độc lập được diễn ra

trong một quá trình lâu dài Trước khi trở thành một khoa

"học độc lập, các tư tưởng mỹ học của loài người đã xuất hiện từ rất sôm trong các nến van hóa Đồng - Tây cổ đại Nếu không kể các tư tưởng thẩm mỹ được dân gian hoá mà chỉ kế những tư tưổng có ý nghĩa lý luận thì các quan niệm thẩm

mỹ đã ra dời từ thời văn - sử - triết bất phần Nhiều tác giả nổi tiếng thải cố đại như Héractit, Đêmôcrit, Pitago, Êmpẻđôno, Xôcrat đã có những tư tường mỹ học xuất sắc

‘Tuy nhiên mốc đấu tiên quan trong nhất, tiêu biểu nhất trong lịch sử mỹ học của loài người phải kể đến hai nhà mỹ

"học lớn ð phương Tây, đồng thời cũng là người đại diện cho

"hai hệ thống mỹ học đối lập nhau là: Patôn và Aristôt

1 Patên (427-347 Tr CN) là một bọc giả uyên bác Các

tử tưởng mỹ học của ông được để cập đến trong một số tác phẩm mỹ học chính như: Nhà nước lý tưởng, Phác, lon, Yến tiệc: Grand Hippias Trong đó các tứ tường mỹ học dược thể hiện dưới các hình thức đối thoại và xoay quanh 4 vấn để lớn:

7

Trang 4

4) Vấn để cái đẹp

Phatôn coi cái đẹp là một ý niệm Cái đẹp là một ý niệm

‘chung được “hâm nhập” vào các hiện tương cụ thé mà trổ

thành vật đẹp Trong Phédre, Platén di cho ring efi đẹp có

tính vĩnh cửu trong mọi thời gian, mọi địa điểm, mọi ý nghĩa

bi vì nó là một ý niệm chữ không phải là một vật cụ thể

“Trong cuốn Grand Hippias, thông qua đổi thoại giữa Xôcrat

vA Hippas, Platon Mippias trả lời: "đẹp là một cô gái” X8erat lại hồi "có lẽ nào đã để cho Xöcrat đặt ra câu hỏi: đẹp là gi?

con ngựa cũng đẹp được chảng” Câu trả lời là không phải

con ngựa nào cũng đẹp Xöcrut lại hổi: "hậu đất có đẹp được

chang?” Cau tri lai là “không phải chậu đất nào cũng xấu”

Hàng loạt câu hồi về cái cụ thé mà Xôcrat đã dật ra về cát

đẹp nhưng không có một câu trả lồi nào giải đáp được cái

đẹp là gì mà chỉ trả lồi cái gì là đẹp Con ngựa đẹp, cô gấi

dep, efi tap để đẹp, người khâu giày dep Va cuối càng bằng lời của Xôerat, Platôn đã dẫn đến hai kết luận

- Người ta hỗi đẹp là gì, tì tại sao anh lại

là đẹp

“Cái đẹp là cát khó, nhưng nó phổ biến và trữu tượng bồi

.vì nó là linh hồn của một vật cụ thể Nhờ ý niệm mà cái ban,

‘con ngựa, cô gái trở nên đẹp Vậy cái đẹp là một ý niệm tấn

ai độc lập, chỉ phối mại hiện tượng cụ thể

6) Ý niệm trong nghệ thuật

Nhiều nhà mỹ hoc thai cổ Hy Lạp như Hêraclit, Đêmôerit

đã từng bàn tối học thuyết bất chước trong nghệ thuật

“Trong cuốn NÀÀ nước lý tưởng, Platôn đã cho rằng: nếu nghệ

thuật bắt chước cát tự nhiên là bắt chước cái không bản chất

bởi vì giới tự nhiên chỉ là cải vẻ bế ngoài của thể giới chân

thật Cái bản chất thật sự củn thế giới là ÿ niệm Nếu nghệ

“Trong cuốn Nãa nướt lý tường Platôn đã khẳng định

“bất chước chỉ nắm được ảo ảnh chữ không nắm được chân

ly, Họa sĩ không biết gì về kỹ thuật làm giấy vẫn có thể vẽ

được cái giấy và người thợ giầy Người xem tranh cũng chẳng

hiểu gì về nghề đó, nhưng cũng có thể phân đoán được và cũng có thể tin được bức tranh đó là thật Thì sĩ cũng chỉ biết

"bất chước dựa vào ngôn ngữ, các độc giã chỉ đựn vào chữ viết cđể phán đoán”

©) Lý luận của Piatôn bế sảng tạo nghệ thuật Lấy tư tưởng cái đẹp là một ý niệm làm nến tăng, Piatôn

để ra học huyết lịnh cằm trong sắng tạo nghệ thuật Trong tác phẩm đối thoại lon, Phtôn cho rằng nhà nghệ

sĩ không có trì thúc thật đối với sự vật được miều tả, sâng tạo nghệ thuật chủ yếu đựa vào Linh eam Học thuyết lình cảm của Piatôn cho rằng, sáng tạo thơ là không có ính người, nó là đo thần nhập "Những bài thơ hay, thơ đẹp không có tính người, không phải là tác phẩm của con

"người, chủng có tính thần thánh và do thần làm ra Các nhà thở không phải cái gỡ khác hơn là người phát ngôn cho thần thánh Mỗi nhà thơ là vật sẽ hữu của một vị thắn mà ông ta chịu ảnh hưởng Chính để chứng minh điều này mà thần đã cổ

- đật bài thơ tình hay nhất vào miệng nhà thơ tổi nhất”

Trang 5

“Theo Platôn, "sáng tác” nghệ thuật không phải là một thữ kỹ nghệ mà là một thứ linh cảm, do một loại thần lực

làm phấn chấn giống như điều xảy ra đối với hòn đá nam

châm mà mọi người thường gọi là hêracle Hòn đá đó không

chi hút các vòng sắt mà còn truyền sức bút cho các vòng sắt

Nữ thần thơ ea cũng giống như hén dé nam chim, nàng

truyền linh cảm cho một số người rồi tiếp tục truyền tạo thành một vòng xích,

“Trong học thuyết linh cảm của Platôn, “nhà thơ trữ tình 'không có lý trí khi họ làm các câu thơ hay tâm linh của họ

‘sau khi vừn chịu sự chỉ phối của nhạc, họ cảm thấy cuồng

loạn của thần rượa Chịu ảnh hưởng của thử linh cảm này,

“ng giống như nữ tín đồ của thắn rượu được thần nhập nên

s6 thể lấy sữa và mật từ nước sông lên, một việc họ không

thể lâm được khi bọ tỉnh táo”,

Platõn chia link cảm làm hai trạng thái:

~ Trạng thái bệnh tật

‘Trang thái thần nhập

Do thần nhập mà có ¿hẩn lực Sáng tạo nghệ thuật là một

“8ự thần nhập tạo ra thần lực,

4) Chức năng của nghệ thuật

Platôn đã coi nghệ thuật phẫn ánh cuộc sống, nhưng ông không phủ nhận tác dụng của nghệ thuật Trái lại, vì thấy

ảnh hưởng quá to lôn của nghệ thuật “bắt chước” nên ông đã

"bỏ rất nhiều công sức tìm cách hợp pháp để đuổi các nhà thơ

ra khỏi nước cộng hòa lÿ tưởng «au khi đội lên đầu họ vòng

"nguyệt quế, PIatôn hiểu rất rõ tác dụng to lớn của giáo dục

nghệ thuật trong việc hình thành tính cách công dân Trong

học thuyết của mình, Platôn yêu cấu trước khi học thể dục, “quân sự, khoa học, triết học, mỗi công dân trong "nhà nước lý

10

tưởng” phải tiếp thu âm nhạc và cần có chế độ kiểm tra nghệ thuật Trước hết, nghệ thuật phải phù hợp với cương lĩnh đạo đức và chính trị của nhà nước lý tưởng Platôn đã công

"kích Hômêre và Hêdiôt khi các tác phẩm của các ông này mô

tả các thần cổ tính ghen tuông, tỉ tiện, ham mê sắc đẹp và vì sắc đẹp, vì tình dục đã tranh giành nhau

“Trong Nhả nướ lý tường, Platôn đã viết: “Thin dh lam gì thì đều tốt, đếu công bằng Thần trừng phạt là trừng phạt đúng, tất cả mọi người đều thấy rõ điều đó Không thể cho phép nhà thơ miều tả khi thần trừng phạt gây nên bỉ kịch gây nên sự đau khổ Nếu hiểu rõ chính trị của chúng ta, bất

cứ người nào cũng không nói được lời nói đó bằng kịch thơ hay văn xuôi”

'Đểổ với PÌatôn, nghệ thuật không những có hại là đã đã kích thần, mà côn có hại là đã khêu gợi tình dục, kích động

“quả nhiều đức tính xấu trong mỗi con người

XXuất phát từ quan niệm về linh hồn của con người bao gồm ba bộ phận: lý trí, ý chí và tình đục ông chia xã hội làm

ba đẳng cấp phù hợp với ba bộ phận ưu tiên trong mỗi con người là lý trí thuộc về bộ phận của đẳng cấp thống tị ý chí thuộc về bộ phận của những người hoạt động quân sự các

"nhà đạo đức, tình dục thuộc về các thứ dân và thường dân Nếu nghệ thuật kích động tình dục là nghệ thuật xấu, nó chỉ phục vụ cho thứ din Bi kịch là một loại nghệ thuật bắt

‘chute tinh dye dễ làm xúc động, khoan khoái thỏ mãn chứ hông làm tâng giá trị của lý trí và ý chí

"Nghệ thuật kích động tình dục là phản lại lý trí và ý chí

nó làm cho sự xúc động thúi quá chống lại những người thống trị, Nếu làm cho người thống trị không thống trị được

kẻ bị trị là võ chính trị, Hài kịch thường châm biểm, tố cáo

và chế nhạo những người ở đẳng cấp cao Nó tạo ra cái võ lý

Trang 6

để mà khoan khoái Piatôn viết: Nếu anh cho rằng bộ phận

của linh hồn chúng ta mà các nhà thơ làm chơ thỏa mãn và

vai thích bằng sự miều tả của họ, chính là bộ phận vữa rối

“Chúng ta cố gắng chế ngự nó khiến chúng ta phải gập tai

họa, phát khóc lóc, than thỏ, rên rỉ vì tỉnh dục là bản tính

của thơ,

Đổi với hài kịch anh sẽ thấy xấu hổ khi anh cười, dáng lý

phải bài xích cái xấu thì anh lại thỏa thê cười Ông viết

“Nếu nhà thơ đến thành bang của chúng ta, bọ triển lãm bản

thân họ và thơ ca của họ, ta coi họ là một nhân vật kỹ lạ

“Chúng ta vui vẻ cung kính họ, nhưng chúng ta phải bảo cho

họ biết trong thành bang của chúng ta không có một người

"nào giống như họ Pháp luật không cho phép một người như

thế Chủng ta hãy trao cho họ những thứ thuốc thơm và dội

Tên đấu bọ vòng nguyệt quế rồi đuổi họ ra khi thành bang

“của chúng ta"

2 Arixtét (384-322 Tr CN) la hoe trd cia Platén, nhưng

thực chất hệ thống mỹ học của Arixtốt khác về cơ bản với hệ

thống mỹ học của Platôn Arixiất tuyên bố rằng: "Đối vi ôi

eä Phtên và chân lý đếu quý giá, nhưng vì sự thật, tôi yêu

chân lý hơn”

Hệ thống mỹ học của Arixtốt được thể hiện qua một số

laận điểm như sau:

4) Bản chất của cái đẹp

Arixtốt coi cái đẹp là một thực thể vật chất bao gồm trật

tự, tỷ lê, kích thước và sự cảm nhận Trong-tác phẩm nổi

tiếng Nghệ thuật thơ ca ông viết: "Cái đẹp - kể cả động vật

quá bé không thể trở thành đẹp, vì thoát nhìn đã

Tưng ip the nn ft go lờ củng hông tề

trở thành đẹp vì một lúc không thé nhìn bao quát vật đó gay được, tính nhất trí và tính hoàn chỉnh bị mất đi bởi

"người nhận n6"! Như vậy, theo Arixtốt cái đẹp không nằm

"ngoài sự vật, không nằm ngoài kích thước, tỷ lệ, trật tự sự cân đối và khả năng cảm nhận nó trong tính hoàn chỉnh Quan niệm này tiếp cận gắn với đường lối mô tả hiện thực của ĐêmôcríL

Khi Arixtốt thừa nhận một hiện tượng đẹp thống nhất giữa hình thúc và vật chất tạo ra một ấn tượng trong cảm

“quan của con người thì luận điểm ấy khác hẳn với cải dẹp là một ý niệm của Platôn Platôn cho rằng, cái chung tách khởi cái cá biệt, còn Arixtốt tìm tôi mối liên hệ biện chứng giữa trì đắc, cảm giác, ghỉ lại những cái cá biệt, Đây là những tìm tồi một cách tự phát mối liện hệ giữa đối tượng thẩm mỹ và các giai đoạn của quá trình nhận thức thẩm mỹ

®) Cái bì

“Arixtit cho ring: DE rút ra một định nghĩa về bản chất

“của nó, bị kịch là sự bắt chước một hành động quan trọng và hoàn chỉnh Bí kịch không phải bắt chước con người mà là bất chước hành động cuộc sống, niềm hạnh phúc và điều bất hạnh Bì kịch phải bất chước cái khủng khiếp và cái đáng thương (bởi đó là đặc điểm miêu tả của nghệ thuật) cho nên không nền miêu tả người tốt đang từ hạnh phúc rơi vào bất

"hạnh, vì như thế không khủng khiếp và đáng thương mà lại đáng ghét; căng không nên miều tả người xấu dang từ bất 1- Art: Nghệ (ủuột thơ có, Nxb Văn ho ‹ Nghệ thuật, Hà Nok

964, e749, 81,5

Trang 7

Cái mới trong tư tưởng Katharais của Arixtốt là dàng bí

kịch để tạo nên sự đồng cảm, đồng khổ thông qua khủng

khiếp và xót thương mà giáo dục con người Phát triển lý

luận về cải đẹp - thiện (Katayalocia) của nền vàn hóa cổ Hy

Lạp, học thuyết bí kịch của Arixtốt cho rằng khi bí kịch thỏa

"mãn nhủ cầu về cái Kallos(đẹp) Agatos (thiện) thì đồng thời

do 4g hãi và thương xót mà con người trở nên trong sạch

Điều này chinh trong Ham Bua bink hich, Lessing khi

thích về quan niệm Katharis của Arixtốt đã cho rằng: Khén

giả bị kịch xuyên qua sự hồi hộp và lòng xót thương đối vôi

nhân vật của bí kịch mà làm trong sạch đạo đức của họ

VŨ ĐÊM a ea cal a A Ap pe

cdiểm sau:

- Gần liền với hệ thống triết học đạo đức học nhiều yếu tố biện chứng tự phát

- Gần liền tình cảm, ý thức với các dang vật chất cụ thể,

vôi việc bắt chước

Coi con người là mẫu mục, chuẩn mục của đánh giá

tCoi nghệ thuật là bất chước, mô tả cuộc sống

Các tư tưởng mỹ học của Piatôn, Arixtốt đã đặt cơ sở cho

bai hệ thống mỹ học khác nhau: hệ thống mỹ học của chủ

nghĩa duy tâm khách quan và hệ thống mỹ học của chủ

nghĩa đuy vật Vào những thời kỳ phát triển tiếp theo của

lịch sử loài người, ở cả phương Đông và phương Tây, các tư

tưởng về cải đẹp và cái xấu khi thì gấn với các quan niệm

đạo đức, lúc thì gắn với thần học, hoặc khái quất khi con

người suy nghiệm vế mình và tự nhiên Các tư tưởng của

Phật giáo, của Khổng tử, Mạnh tử Bách gia chư tử và nhà

thắn học Tômát Đacanh, cũng như của nhà bách khoa vĩ đại

Lé6na do Vanhxi thời Phục hưng đã để lại những con đường

khác nhau tìm tời các quan niệm thẩm mỹ của loài người,

16

ev

4 Alechxande Gothiev Baumgaeten (1714 - 1702) là

một trong những người sáng lập khoa mỹ học đầu tiên trong

lịch sử Các nhà sử học đếu cho rằng khoơ mỹ học cứi tế

cách là một khoa học đóc lập được hình thành thật sự do

căng lao của nhà gốc học ít tên tuổi người Đức tến là

Baumgacten Nam 1735 mới 21 tuổi, Baumgacten đã viết

một bài tiểu luận bằng tiếng La tỉnh nhan dé: Meditationes

Philosophical de nonnulis ad pocma pertinetibus (Những suy sét về triết học có quan hệ đến việc xây dựng thơ ca) Năm

B0 ông cho xuất bản cuốn Mỹ học tập L Năm 1788 ông cho

xuất bản cuốn My hoe tap IL

“Các tác phẩm của Baumgacten đã thực sự xác lập mỹ học -với tư cách là một khoa học độc lập, có hệ thống khái niệm phạm trù riêng, có đối tượng và các phương pháp riêng Nó

"mỡ đầu cho việc xây dựng mỹ học trở thành một khoa học

‘Tuy vậy, tinh chất của khoa mỹ học lúc này hướng rất nhiều 'YỀ tình cảm thơ ca và vân học Mỹ học duy lý Baumgacten đã

"hình thành một số khái niệm: sensitive per cepti9 (cảm giác

của thụ cảm), Cognitao sensitive (cảm giác của sự nhận thúc)

Và đặc biệt khái niệm Aesthestika (mỹ học)

“Chính vì vậy, Mendenxon trong cuốn Bên cổ cơ sử của mỹ thuật cò của khoa học lúc đó đã đánh giá trong mỹ học của

'Baumygacten có hai nhược điểm là: mỹ học duy văn bọc và ít Tấm được kết luận có ính lý thuyết

“Theo Baumgacten cái hoàn mỹ là cơ sở của cái đẹp Sự hoàn mỹ là nhận thức thuần túy bao gồm cả lý tính cảm

tình và ý chí Do đó sự hoàn mỹ là sự thống nhất của chân - thiện - mỹ Đaumzacten là nhà mỹ học duy lý Ông không

'êu các đặc trưng riêng của quan hệ thẩm mỹ Ông cho rằng 'bản chất là một còn khi nào là chắn, là thiện là mỹ là do

“ch thúc nhận thức tạo ra là khoa

Trang 8

học nhận thức cảm tính Về phương diện nhận thức luận nó

cũng giống như chủ nghĩa duy lý L«pnít và Vônphơ ð Đức

Chủ nghĩa duy lý trong mỹ học Baumgacten khi đống nhất

cái đẹp vôi cái hoàn thiện đã đồng thời oi nhận thức thẩm, "mỹ không đạt được đến bản chất của sự vật và nâng lực của

thẩm mỹ không thể sánh cùng tư duy lôgíc

4 Etmun Béced (1729 - 1797) là nhà mỹ học duy cảm

người Anh Ngược lại vôi mỹ học duy lý của Baumgacten,

năm 1756, nhà mỹ học duy cảm Etmaun Baced di cho xuất

bản cuốn Nghiên cứu triết học vé nguồn góc những nhận thức

của chúng ta vé cái cao cả tả cái đẹp, đã phân tích nguồn gốc

những cảm giác thẩm mỹ là ở mối quan hệ giữa các giác

“quan và đối tượng Cøi giác quan của con người có tính thuần

túy sinh học với những đặc điểm tâm lý vĩnh cửu và các hiện

tượng thẩm mỹ mang các dấu hiệu cố định như sự mịn

màng, sự đa dạng, sự mềm dẻo của kết cấu, sự thuần khiết

và âm dịu của màu sc Eumun Bảxeo đã xác lập chủ nghĩa

kinh nghiệm mỹ bọc Anh thế kỷ XVIII thống nhất với các

quan điểm triết học của Lees vit Hium 4

Cả chủ nghĩa duy lý Baumgacten và chủ nghĩa kinh

"nghiệm Bócc9 đã vạch ra bai con đường nhận thức thẩm mỹ

và nó cũng mang lại các khả nâng phát hiện được những

tình cảm thẩm mỹ mới và những khía cạnh mới của đối

tượng thẩm mỹ Tuy nhiên, cả hai khuynh hướng mỹ bọc

thời Khai sáng này đều đưa khoa mỹ bọc phần cực ngày càng

sâu Trong tình hình đó mỹ học Cantø xuất hiện với hai

nhiệm vụ rõ rùng: 1, Điều hòa, hay nói đúng hơn là làm một chiế cầu nổi

giữa chủ nghĩa duy lý mỹ học và chủ nghĩa kinh nghiệm

“chuyển vào triết bọc phê phần, thống nhất và hợp lý hóa các

"khái niệm tất yếu và tự do trong lĩnh vực lý trí thuần táy, lý

tí thực tiễn tà khả năng phần đoán

6 Immanuen Canta (1734 - 1804) nhà triết học duy thm chủ quan người Đúc Cũng như hệ thống triết học của

‘minh, my học Cantơ không nghiên cứu các hiện tượng thẩm

mỹ khách quan mà chỉ nghiên cũu những tình cảm chủ (quan được trải nghiệm qua thế giới khách quan Triết học thối kỹ phê phân của Canta nghién cứu ba lĩnh vực quan trọng của hệ thống tâm lý - tinh thần, đó là tr thức, ý chí

Và tình cảm Phê phán lý trí thuần ấy là tác phẩm lớn

"nghiên cứu giác ính, thực chất đó là nhận thức luận Canto Phe phán lý tính thực tiến xây dựng trên giả thiết linh hến

"Đất điệt và ý chí tự do, thực chất là đạo đúc học Canta, Con

mỹ học Canta nghiên cửu các khối niệm không khái niệm, nghiên cửu các khả năng phán đoán Đó là khả năng tự hận thức mình, tìm thấy mình và biết được mình, Để điều Iida giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm nối hung, nén ting triét hoe Cantơ xây dựng trên khái niệm tiên nghiệm Nói đẳng hơn là khái niệm tiên nghiệm tổng Äợp Đó là một hình thức tiên thiên của nhận thức có trước Xinh nghiệm: thời gian, không gian, nhân quả, tất yếu,

phạm trò với 4 mật chính của nó: chất, lượng quan hệ

phương thức Dối với Canto, khả năng của trì thức là sự thống nhất giữa kinh nghiệm và sau kính nghiệm mà điểm 'Khồi xưởng của nó là kịnh nghiệm và điểm hội tụ là khái iệm “vặt tự nổ”

MY hoe Canto được trình bày trong tác phẩm Phể phán

hổ năng phản doán Đó là tác phẩm được xuất bản sau

“công trong bộ ba tác phẩm phê phần của ông năm 1790 Với

“đẳng ÿ nghĩa sau cùng của nó là phải đồng thời thực hiện

Trang 9

“được hai nhiệm vụ mà Canto dat ra cho triết học của mình:

điều hòa giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm

đồng thời nối liền, điều hòa và hoàn chỉnh hệ thống triết

học được bắt dầu từ Phế phán lý tính thuần tủy nghiên cứu

giác tính và Phê phán lý tính thực tiến nghiên cứu lý tính,

nằm trong một hệ thống một chỉnh thể, Có thể nói một

cách hình ảnh: Phê phán khả năng phản đoán là tác phẩm

lấp đầy hố ngân cách giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa

kinh nghiệm, đồng thời lấp đầy các đường biên cứng nhắc

mà Phê phản lý tính thuần tiy và Phê phản lý tính thực

tiến tạo ra các ranh giỏi nghiêm khắc của trì thức và đạo

đúc, của cái chân và cái thiện

Coi nhận thức (giác tính), đạo dúc (lý tính) và mỹ cảm

vừa khác biệt vừa thống nhất, mỹ học Canta trude hết bất

nguồn từ các phán doán lôgic hình thức để phân tích các

phán đoán thẩm mỹ Công như lôgíc được trình bày trong

Phé phan lý tính thuần tủy, khi phân tích các khoải cảm

thẩm mỹ, Cantø đã chia các phán đoán thẩm mỹ thành bốn

phương diện khác nhau: sể chất, sể lượng, vf quan he vd of

phường thức

"Về chất: nếu phán đoán logic là một phán đoán khái

niệm, phán đoán lý tính, thì phán doán thẩm mỹ là phán

đoán tỉnh cảm Để tránh rởi vào chủ nghĩa kinh nghiệm

thẩm mỹ đơn thuần Cantø cho rằng phán đoán thẩm mỹ là phán đoán không những không dối tượng mà còn không vụ

lợi lợi ích vật chất trực tiếp Đây là một quan điểm rất eo bản

của mỹ học Canto nhằm tìm cách khấc phục những khiếm

khuyết của chủ nghĩa duy lý mỹ học, chủ nghĩa kinh nghiệm,

thẩm mỹ và phân xuất các tình cảm các khoái cảm trong vài

ngoài thẩm mỹ, những khoái cảm gắn với đối tượng và

những khoái cảm không gắn với dối tượng

20

w “Theo ông, các khoái cảm thủ tiêu đối tượng và nhờ dối

tượng tác động vào hệ thần kinh thì không phải là khoối cảm thẩm mỹ Khoái và giải khát không phải là khoái cảm thẩm mỹ đã dành, cảm lóc ăn no, tắm mắt, ngửi hương thơm

"nhưng cả các khoái cảm do việc tôn kính được lại cũng không

"phải là các khoải cảm thẩm mỹ bởi nó đưa tối phép tắc, ràng buộc tự do, quy dịnh ý chí Bản chất su kín của khoái cảm thẩm mỹ là khoái cảm tự do Canto cho rằng: "Một phần (đoán thẩm mỹ nếu pha trộn chút ít tính toán lợi hại sẽ rất

“hiên tư Đó không phải là phán đoán thẩm mỹ đơn thuần

(Cần phải giữ sự thờ ø đổi với đối tượng mới làm chủ được

'hững thú thẩm mỹ”

(Q6 thể nói, đổi với Canta, khoái cảm thẩm mỹ là khoái

“cằm không đối tượng vô tư tự đo, không mục dich, không vụ Nó khác với nhận thúc và căng không đồng nhất vả tình

em đạo đúc, bồi vì nhận thức cần đến khái niệm xi cải thiện

là gắn với lợi ích với mục đích mà ý chí hướng tôi Canta eho rằng: "Muốn xem một đối tượng là thiện chúng ta phải biết “được đổi tượng đó dũng để làm gi, đối vi nó phải có một khái

"niệm Nhìn thấy cái đẹp trong đổi tượng thì không cắn đến 'khái niệm về nó Những bức vẻ hoa cổ tự do các hoa văn với ceác đường nét giao nhau không mục địch, không khái niệm

vin nay sinh mỹ cảm”

'Khác với phán đoán löyíc cắn quan tâm tối đối tượng, cần

cổ trì thúc về đối tượng cắn hiểu thấu tính chất của đổi tượng, phán doán thẩm mỹ chỉ quan tâm đến cảm giác chủ quan, các thang bậc của khoái cảm chủ quan về đối tượng

1 Cantar Phê phón khả nắng phón đoin (uếng Nga), Nah Piưcheêc T9 u62 3.4, tế 4

a

Trang 10

“Thiên chức của phân đoán thẩm mỹ không phải là hoạt động

nhận thức mà là một hoạt động khoái cảm về cái đẹp Khoải cảm về cát đẹp khác với khoái cảm nói chúng ở

tính hình tượng gợi mở

“Tính hình tượng này vừa có tính chất cá thể, vừa có tính

chất phổ biến Nó mang ý nghĩa giá trị Cant đã khẳng định

rằng: Dep không dé cập đến khái niệm mà làm cho người ta

khoan khoái phổ biến Năng lục tìm cái phổ biến cho cái cá

biệt là bản chất của khỏ năng phán đoán

(Quan diểm của Cantø về chất lượng của phán đoán thẩm

mỹ là cơ sở của toàn bộ mỹ hoe Cantø Trên e s tính vô tư,

không mục đích không đối tượng, không khái niệm của phần

đoán thẩm mỹ về mật chất lượng, Cantơ nghiên cứu phán

đoán thẩm mỹ về mật số lượng,

‘V6 lugng: Phin đoán thẩm mỹ mang bản chất của cát đơn

nhất, có nghĩa là mọi phán doán thẩm mỹ không bắt buộc

giống nhau, đổng nhất và không thể giống nhau, đồng nhất

bởi vì những trạng thái và các liên tưởng không giống nhau

“Tuy nhiên, phán đoán thẩm mỹ muốn tạo được khoái cảm

thẩm mỹ thì trước hết phải phán đoán Khoái cằm không thé

ddi trước phán đoán, vì lý do đó, cũng như lôgíc, khoái cảm

thẩm mỹ phải có ý nghĩa phổ biến

“Tính chất phổ biến của khoái cảm thẩm mỹ tuy mang sie

thải cá biệt nhưng nổ tạo ra một tỉnh cảm tự do, kéo dài

nguồn nhận thức lôgíc và lây lan một cách phổ biến trong

"hình thức hình tượng Phán đoán thẩm mỹ là phán doán chủ

‘quan do đó cái c6 thể truyền dạt phổ biến không phải là trì

thức về đổi tượng, mà là trạng thái xúc động tự do, tâm,

trạng khoan khoái hài hòa

Cảm nhận rằng cái đẹp thuần túy, võ tư, vô mục dịch,

không vụ lợi không đối tượng là hiểm hơi và thuộc về lý

2

thẩm mỹ trong "cái đẹp nương tựa" với nhận thức và đạo eS a catalan

cải đẹp tự do và cái đẹp nương tựa Cái trước không đối tượng, không khái niệm làm tiến đế Cái sau thì phải lấy

"khái niệm và sự hoàn thiện đối tượng tương ứng làm tiển để .Cái trước là đẹp của bản thân, cái sau bị chế ước bửi các điển

'vụ lợi nhưng vẫn gắn với lợi ích 'Đó là cách giải quyết và

tách bù đấp những thiếu hụt của cả chủ nghĩa duy lý lẫn chủ

Sat tách giải quyết mối quan hệ giữa phê phán lý tính thuần a ma 20x túy

'hán lý tính thực tiễn

HH đu có nguồn gốc tiên nghiệm, phán đoán thẩm mỹ sá ,a ae m dập là một bình thức phán đoán nên cũng được giả định rằng nó só

“năng lực cảm giác chung” Nang lực cảm giác chung là nÄwˆ

"nhiên (mật thứ 4) trong qu trình phần đoán thẩm mỹ Nâng Tực cảm giác chung là phương thức của phán đoán thẩm mỹ Mật như nhiên, tất nhiên của nâng lực cảm giác chung được

đoán thẩm mỹ Cantø viết: Chúng ta đếu giả định một nàng lực cảm giác chung lÀ một điểu tất nhiên của tính có thể truyền đạt phổ biến của trí thức D6 Ia tiến để mà mọi thứ:

1 4d, tết I6

Trang 11

lôgfe và mọi nhận thức luận đều phải giả định

Cùng với việc phần tích cái dẹp, nghiên cứu các phán

cđoán thẩm mỹ, mỹ học Cantø khi điều hỏa giữa mỹ học duy

ý và mỹ học kinh nghiệm đã trình bay cát cao cả như một bội

phận hợp thành của phân đoán thẩm mỹ Canto chia sự

phán doán thẩm mỹ làm hai phán: 1) sự phân tích cải đẹp; sự phân tích cải cao cả Trên cơ sở cái đẹp nướng tựa, Canta

oles fa lý tính ohn i $88 ei il

- cát đẹp t của quan

dạo đc Đồ chính là cả cHnỀn nn n

“rong mỹ học Cantø, cái cao cả vừa thống nhất vừa khác

biệt với cái đẹp Nó thống nhất ở tính khái niệm không khái

niệm, mục dích không mục dich, Khác với cái đẹp là cái có "hình thức, tình cảm cao cả là quan niệm của lý tính không có

eh He a ae vả Cantø viết: “Tự nhiên đem lại

“cao cả chủ yếu vì sự hỗn loạn của nó; sự hỗn loạn, {hd nw yt cnn Np dds trưng ở chất, thì cái cao cả được đặc trưng ở lượng Ching a

loại tính chất khoái cảm của cái dẹp và cái cao cả là khác

"nhau Cảm giác đẹp mang tính khoan khoái vô tư, khoái cảm,

eao cả mang tính tôn kính và 6 thé nói nó là tự do bị hạn

chế Cái dẹp mang lại khoái cảm hình thức, cái cao cả là

khoái cảm sâu lắng tâm linh và thấm nhuần quan niệm vế

tính phù hợp mye dich cao hơn Trạng thái tình cảm dep

thường êm ä, yên tính, nghĩ ngơi, còn tâm linh về cao cả sau,

ˆkhi khắc phục sự sợ bã: thì rung động mạnh mẽ

TPhân tích cái cao cả, Cantø đã chia thành hai loại cao cả:

‘cao ci về số lượng và cao cả về uy lực Cao cả về số lượng có

niệm, trừu tượng không mang nội dung xác định Do khả tăng cảm tính chỉ đạt tôi bình thức hữu bạn, nó cần nhờ lý

"ánh bù đáp thiểu bụt đó để cảm quan có xung động vươn lên cao hơn, xa hơn và mạnh mẽ hơn Bự hỗ trợ của lý tính cho tinh cảm, cho tưởng tượng đồ là phương thức, là nâng We

‘chm giác chung về cải cao cả xét trên bình diện sổ lượng

‘Canta di cho ring “cảm quan lý ính chỉ coi đối tượng là một chảnh thể để nâng lực tưởng tượng chứng tỏ khả nâng vượt trên mọi tiêu chuẩn cảm quan” Phán đoán thẩm mỹ thuần đáy về cái cao cả không lấy khái niệm về dối tượng làm cân

cứ quyết định Cái cao cả chỉ nhìn thấy trong tự nhiên hoang:

đã, chỉ để cập đến thể ích trong những cảm quan về phong

ba, về biển nổi sóng, về các đỉnh thiên sơn hùng vi

(Cùng với các cảm quan cao củ về số lượng còn có cảm quan cao cả về uy lực Cảm quan cao cả vế uy lực là sức mạnh của con người vượt lên mọi thử thách, bất chấp mợi

"khó khăn khinh thường mọi lực lượng khắc phục mọi *Ơ

bi Canta vide:

“Phan đoán thấm mỹ nếu coi tự nhiện là một uy lực không thể chỉ phối chúng ta thì tự nhiên bộc lộ tính cao cả vÉ lục lượng”, “đốc đá cheo leo dường như muốn áp đảo con người, mấy den và tia chốp tram kín bắu trời, núi lửa chữa y ty lực iêu diệt con người Trận cuồng phong như muốn

Trang 12

“qUết sạch mật đất biển cả đang cuộn sóng thác nước dé Am

ào tạo ra cảnh tượng khiến con người nhỏ bé trước chúng

nhưng nếu ta được bảo vệ, được an toàn thì cảnh tượng này,

đầy hấp dẫn đổi với chúng ta, được chúng nhân sức mạnh

tâm linh ta vượt ra ngoài bé nhỏ đời thường, tạo cho ta

khí và súc mạnh so với sức mạnh siêu phàm của tự nhiên” Cái eao cả là biểu hiện sức mạnh kỳ điệu của con người

‘dang trước tự nhiên làm cho con người vượt mọi hiểm nguy,

“đứng cao hon tự nhiên Trong phán đoán thẩm mỹ, tự nhiên

là cao cả không phải vì tự nhiên hàng vĩ mà là nó thức tỉnh sức mạnh lớn lao của con người làm cho con người khác

"phục được sự hoang đã thổ bạo, sợ hãi làm cho tâm lĩnh bản "hoan, phấn khích để tự khẳng định sức mạnh của mình lên hơn sắc mạnh của tự nhiên Cảm giác thẩm mỹ cao cả sau

khi nhìn thấy sức mạnh của mình thì đồng thời xuất hiện sự

sùng kính Đó là quan điểm bù đấp sự thiếu hụt về đối tượng

cao cả mà nhà kinh nghiệm mỹ học Anh Bđeeơ môi chỉ tiếp

củn được về mật khách thể trong cuốn sách Nghién cứu triết "học uể nguồn gốc nhữngg nhận thiếc của chúng ta tế cái cao cả

tử cái đẹp,

“Cũng với sự phân tích công phu vế cái dep, Canta cin

phân tích cái cao cả sâu sắc hơn hẳn các tác giả trước ông về

mật chủ quan Phê phan Bhd nang phản đoán của ông là một “công trình nghiên cứu việc thưởng thức và trình bày cả sáng:

tạo nghệ thuật,

“rong tác phẩm Phê phán khả năng phán đoán, Canto đã

phân tích sự khác biệt giữa tự nhiên - cái van động và biến hhồa Với nghệ thuật - cái phải tạo ra một cái mới thông qua lý

mẽ Theo ông sự nghiệp của văn hóa nghệ thuật là công vite

theo đuổi mục dích vươn ra khỏi tự nhiên, chuyển vào trạng

thái đạo đức Đạo đức nâng tình cảm lên trên tính tất yếu tự _—=

‘con ong làm tổ là ở tính mục đích, tính dự kiến và tính hình

kiến

"—.

động tự nhiên”, các hoạt động bản nâng sinh vật mà nó còn

SE wit ofc hout dine Bên bo le va cha owes

the phẩm đó, Cantø đã phân xuất trí thức khoa bọc với eb

lượng nghệ thuật dồng thời gắn bó chất lượng nghệ thuật

“với trì thức khoa học, trí thức khảo cổ, trí thức lịch sử ngôn

— erie

Bec ees

thuật tự do, không rằng buậc và được nhìn nhận là một Hà chơi, khác với nghề thủ công mang rõ tính thực dụng

ánh kế (rendemen0, là lao động có hiệu quả, lo động ©i0nG

bite Theo Canto, giữa nghệ thuật và nghề thủ công chỉ: ¬ phân biệt ð một đặc trưng nghệ thuật - trò chơi, nghề thủ

Tag in

tưởng tượng của giác tính OAs KT nang besten ot OO ng

nhưng phải gắn bó với nhận thúc và giống với tự ose

1 Sit, ee 28,

a

Trang 13

'iống nghệ thuật và nghệ thuật chỉ trở thành nghệ thuật khi "bể ngoài của nó như tự nhiên” "

“Thiên tài là tài năng thiên bẩm Nghệ thuật là sản phẩm

“=ủa thiên tài Sáng tạo là thiên tính của thiên tài và thiên tài sáng tạo quy tắc cho nghệ thuật

“hiên tài sing tạo quy tắc cho nghệ thuật Quy tắc nghệ thuật khác với quy tắc khoa học Quy tắc nghệ thuật nằm chim trong các sáng tạo của tác phẩm và không thể bắt

*hước được, còn "trong khoa học, người phát minh vi đại nhất Yà người bắt chước chuyên cần nhất chỉ khác nhau về trình

”- Thiên tài nghệ thuật khi tạo ra các khuôn mẫu mới trong tác phẩm khuôn mẫu không thể giải thích về mật khoa học Nó tự nhiên, như nhiên trong suốt như cái đẹp thuần túy vậy “Thiên tài nghệ thuật mộc mật là khả năng tưởng tượng của mình thì dồng thời các đường biên của

tự do vô hạn, mặt khác lạ bị quy luật ức chế, Một mật sáng +ao không phụ thuộc vào mục đích mặt khác các sản phẩm

lại phải thể hiện rõ tính phả hợp mục đích”, Đối -aua thiên tài thì mọi thứ đổu có linh hần và phải đẹp Vì thế ‘mol vật, dà hình thức thẩm mỹ như thế nào, nhưng thông với Canto,

thiên tài chính là chủ thể sáng tạo cái đẹp của nghệ thuật thuật do hing thd tạo thành Thiên tài tạo ra sức tưởng “Thiên tài là một tài năng tự nhiên tạo ra chất lượng nghệ kh da thong qua sáng tạo của thiên tài thì bao giờ cũng đẹp

tượng còn hứng thú tạo ra hình thức nghệ thuật Mỹ học Cantø rất phong phủ, nhiều mật, có hệ thống dể

“cao thực tiễn tỉnh thần tạo ra bước ngoật cân bản trong lịch ‘ni my học phương Tây cận dại Các thành tựu mỹ bọc của

1 S44, tế 45 3 S4, tết 4a

x là một hệ tiểu cảm nhưng là một hệ tiểu cám uyên

_ phân tích sâu sắc của ông về cái đẹp, cái one m5

“=-

eä những nhà mỹ học đương thời khi phân tích mật chủ thẩm mỹ Không những thế, các tư tưởng quan trọng nhất

của ông về sự thống nhất và khác biệt giữa nhận thức luận

“đạo đức học và thẩm mỹ học đột ra từ 200 nâm trước đây, ngày nay còn tiếp tục md ra những suy nghĩ mới esac 7

đạo sâu rộng Khi bàn đến "cái đẹp nương tựa”, cái cao cá Camtø đã làm rõ có sở đạo đức của các quan hệ ce 'Toàn bộ các tư tưởng mỹ học của Cantø được đột trên tảng đạo đúc, giải phóng cá nhân và hướng về mục tiêu tự do

“—— —-.-

năng phán đoán khả năng cái riêng chứa dựng trong cái

‘chung ma bắc cầu cho các hoạt động nhận thức và hoạt động đạo đức, bắc cầu giữa cái tất nhiên của giới tự nhiên và cái Bt eros aa ok aon ane

hủ quan và cái khách quan, giữa tất yếu và tự do, giữa tình

cảm nói chung và tình cảm thẩm mỹ mà mỹ học trước Mác

thường giải thích một chiếu hoặc bên nu eee

mà chính Cantø cũng chỉ mới giải quyết được một phần Trong See

We1hsfs sợ và cÍi ấp Song tựa, si dự Và se S1 ` cao cả số lượng và cái cao cả uy lực cho đến nay eee vẫn

Trang 14

"Tuy nhiên, chủ nghĩa tiểu cảm của mỹ học Canta di rit

‘shu sắc nhưng nó vẫn chưa bao quát được hơi thổ của cuộc

“sống Sự nghiêng về tư biện, về chủ nghĩa duy lý làm cho che

tư tưởng mỹ học của Cantơ bị thực tế nghệ thuật khuếch đại vé mat hình thức và hơn nữa, nhiều giá trị phong phú của

kề ng không được mỹ bịccủn ng đố ập

‘anto goi mỹ học của mình là mỹ học phê phán nhằm

chống lại các giả thuyết, nhưng toàn a wee Ma ndasie

ông vẫn đật cược trên các giả thuyết "Phê phán thuần tủy” đặt cược trên giả thuyết "vật tự nó” “Phê phán lý tính thực tiễn” đật cược trên giả thuyết "linh hồn bất diệt và lý tính

tự do giả thuyết “năng lực cảm giác chung và mục đích" Cũng theo hướng nay, Canta coi my học của mình nhằm phê phán ý chí, “Phô phán năng lực phán đoán” đật cược trên

Site Us west ah cote te nghiệm thẩm, ý, nhưng khi o lý d

và dể ngà dượig, kê uc re ki

Trong cuốn Phê phán khd năng phán đoán, nùa phần

du ng bye chang, a pe sce ho ek ee

nghiên cứu sự hoàn thiện Tuy nhiên, mỹ học của ông chưa

dat tdi sự hoàn thiện nghệ thuật Những vấn để ông dé lại

Về mỹ học duy lý đã dược Hêghen di sâu vào thế giải nghệ

thuật và đạt tối một đình cao Còn những vấn để ông dat ra eg kề nh nghiệm dã được nhà mỹ bọc dân chủ cách

mong Nea Tséen liếp tục nghiên a

sree bee Tastes tiếp tục nghiên cứu và cũng đạt

'6 Gioocgiơ Vinhem Phêdrich Hêghen (1770 -

đại biểu xuất sắc của mỹ học cổ điển Đức lờ bạirát san một trong ba đỉnh cao sáng chói của nhắn loại trước khi mỹ

học mácxft xuất hiện Những tư tưởng mỹ học của Hôghen “được trình bày trong cuốn điiện tượng luận sinh thắn, sau đó

30

y

được trình bày trong tác phẩm Triết học nh thần, những tập trung nhất vẫn là tập Bài giảng oể Mỹ học của ông ở trường đại học Haydenbéc và trường dại học Béclin từ năm 'I8I đến năm 1829 Hêghen không viết thành những chuyên khảo mỹ học hoàn chỉnh Bốn năm sau khi ông mất, một

"người học trò của ông là Hôthô đã sử dụng các bản thảo bài igiing của Héghen cùng với những ghỉ chép của ba học trỏ

“năm 1826 và 5 học trò khác của ông năm 1828 - 1820 xuất bản thành cuốn Mỹ học Hảghen

'Mỹ học Hêghen xuất phát từ quan điểm về hiện tượng

"kiện tỉnh thần Tình thần tuyệt đối lần lượt thể hiện trong

"nghệ thuật, tôn giáo và triết học Tình thân tuyệt đối thể

"hiện trong mỹ học của Hêghen đó là sự thể hiện bằng hình

nh Tuân thủ hệ thống triết học của mình, Hêghen chia mỹ

“Độc thành: 1) Học thuyết về cái đẹp ni chung: 2) Học thuyết

VỀ những hình thái đặc biệt của nghệ thuật; 3 Học thuyết vé

‘he nginh nghệ thuật riêng biệt Các trì thúc mà Hêghen

"ảnh bày trong từng phần này là vô cùng sâu sắc

[My học Hághen là tác phẩm đổ sộ có thé tom lược thành 8 điểm chính như sau:

Sỹ Quan niệm của Hêghen về cái đẹp Hêghen nói rằng

“đối tượng của mỹ học là cương quốc rộng lớn của cái đạp

Và để dùng một thuật ngữ thích hợp hơn cả đối với khoa học

"này là triết và nghệ thuật, hay nói một cách chính xác hơn,

là triết học về mỹ thuật” "Khái niệm Aesthética không

"hoàn toàn phù hợp Song tôi sẵn sàng dũng nó nhưng phải

"hiểu là triết học về nghệ thuật Theo ông, định nghĩa này

1 M&ghen: Mỹ học, tài liệu dịch, đánh máy, tại viện Triết bực, 2

“Yeem các đạn trích cọ thể của Tseceusepski về Hàyhen ð phần sau

Trang 15

đã loại bỏ được cải đẹp cụ và rà khỏi khoa học về cái

dep dé chi xét ring về cái đẹp nghệ thuật

.Đổi vôi Hôhen, đẹp là sự biểu hiện của tỉnh thần tuyệt đổi

cdưêi đắng vẻ cái cụ thể, cải riêng lẽ Như vậy là cái dẹp chân,

thật có trước gi tự nhiên và tiếp theo đó, ý niệm của cái dẹp

vin động Vào những sự vật riêng lễ và trỏ thành cái đẹp của tự nhiên Ý niệm về cái đẹp bị những sự vật vật chất làm mỏi

đi và trong quá trình vận động, ý niệm đã thể hiện dây dã

{ong những sự vật riêng lẻ Sự hòa hợp tính đếu dặn tính

gân xứng: tính quy luật là những dấu hiệu liên tục của vẻ dẹp

len chế của tự nhiên Cái dẹp là chân lý "được thực hiện”

tưng cảm tính, như các hình vuông, hình tam giác, hình trên,

trong bầu trời, cánh đồng, dòng sống và con suối

Ð) Cái đẹp của nghệ thuật Trong mỹ học của mình,

Hghen cho cải đẹp nghệ thuật chính là đối tượng của mỹ

'học Bồi vì theo ông, cái đẹp của nghệ thuật là cái đẹp có chủ

ích cái dẹp đã được xử lý bằng quan hg tink thén, chi dep

đit (Mộ sắp xếp có chủ ÿ của lý rating Lý tưởng ilA nội dung và hình thúc, giữa cá tỉnh và hoàn cảnh Lý Tông Cái đẹp của nghệ thuật có sự phát triển biện chứng trong nghệ thuật là sự kết hợp cân đối giữa cái chung và cái của về dẹp

tường ỉnh thần là bản chất cái đẹp nghệ thuật “Theo Hêghen,

cái đẹp của nghệ thuật tức là ý niệm được thể hiện ong hình tương Nghệ dhuột là sự cụ thể hóa y nim bằng hình tượng Quá trình cụ thể hóa này càng dáy dụ

bao nhiêu thì nghệ thuật càng dẹp bấy nhiều Sự thống nhất

iln ÿ niệm phổ biến và hình tượng làm cho nghệ thuật khác

‘di khoa hoe và tôn giáo

©) Đổi với Hêghen, để có cái đẹp nghệ thuật thì ý niệm,

nh thần phải tự sản sinh ra mình trong các hình tượng

bằng các hoạt động lao động Sự tự ÿ thức trong nghệ thuật

az

omnes nemcmncenrae

tiến”, với thế giới bên ngoài, từ mối quan hệ đó cùng nảy ra

tình thắn cải tạo thế giới đó cũng như cải tạo :

thuật là một tư tường mỹ học sâu sắc Trên quan điểm lịch

sử, khi trình bày sự vận động của tinh thần tuyệt đối trong

#® phát triển lịch sử, Hêghen đã trình bày các nguyên lý cơ bản của nội dung và hình thức nghệ thuật Theo ông, nội dụng và thình thức có quan hệ biện chứng với nhau, nội dụng là sự quá độ trở thành hình thức và hình thức là sự

“quá độ trở thành nội dung nội dang của nghệ thuật không tách khỏi hình thức của nó Sự độc lập giữa nội dung và hình thức đếu tốn tại trong một thể thống nhất Chính sự đồng

nhất này là biểu trưng cái đẹp của ý niệm tuyệt đối Hêghen

đã nêu lên tính chất động và tính quyết định của nội dung đối với hình thức nghệ thuật Theo Hêghen, nghệ thuật tạo hình phương Đông ít tính hiện thực là do nội dung của nó yêu cầu Sự đối tượng hóa lý tưởng, ý niệm khác nhau sẽ tạo +a các hình thức khác nhau Nội dung nghệ thuật chính là ý' tuyệt đối và là lý tưởng cao cả

Gana tac ucs arate tate đổi tạo ra các nội dung và hình thức nghệ thuật khác nhau, Hôghen đã giải thích lịch sử nghệ thuật bằng đối tượng hóa ae einen ee

cuốn Mỹ học, Hêghen đã trình bày sự vận động của tính

thần tuyệt đối thành ba giai đoạn phát triển: nghệ thuật

tượng trưng, nghệ thuật cổ điển và nghệ thuật lãng mạn

Trang 16

Phân tích một cách sâu

khái niệm tượng trưng và di

„ nghệ thuật phương Đông cổ đại, Hêghen đã làm rõ hơn các quan hệ của nội dung và

hình thức

“Trong nghệ thuật tượng trưng, chẳng hạn kiến trúc, tính

thắn tuyệt đối và các hình thức biểu hiện không phù hợp

nhau Tính không giun của ý niệm trong nghệ thuật phương

Đông là một không gian thuộc về quá khử Nghệ thuật

phương Đông mà điển hình của nó là kiến trúc chưa thực

"hiện được sự thống nhất cân đối giữa hình thức và nội dung

‘Su vin động của tỉnh thần tuyệt đối trong nghệ thuật tượng:

trưng là sự vận động chưa đầy đủ, hình thức kiến trúc chưa bao chữa hết ý niệm Những mô típ kiến trúc sinh thực khí,

những hình tượng nửa người nửa vật, những kim tự thấp

.đều chưa biểu hiện sự hòa nhập của nội dung và hình thức

“Trong nghệ thuật cổ điển, chẳng hạn trong điều khắc, sự

vận động của tình thần tuyệt đối đã có sự phù hợp giữa nội

dung và hình thức Nghệ thuật cổ điển được coi là chủ nghĩa

©ổ diễn Nếu nghệ thuật tượng trưng được độc trưng bằng

nghệ thuật kiến ttrúc, vật liệu cảm tính chiếm ưu thể đối với

niệm thì điêu khắc đã là một loại hình nghệ thuật cao bơn

“rong nghệ thuật cổ điển, ý niệm hòa hợp với các hình thức

trong nhân hình Nhân hình điêu khắc hòa điệu hoàn toàn

‘sida ý niệm và nghệ thuật cảm tính

Trong nghệ thuật lãng mạn, ÿ niệm chiến thắng vật

chất, Nghệ thuật lãng mạn bao gốm ba loại hình nghệ

thuật eơ bản: âm nhạc, hội hoạ, thơ ca Theo Hẻghen, nghệ

thuật lãng mạn trong mỹ học là nghệ thuật cơ đốc giáo và

nghệ thuật hiện đại Trong hình thức lãng mạn, ý niệm là

nội dung của nghệ thuật vượt quả hình thức của nó Ở đây

diễn ra sự mất cân đối về mật nghệ thuật giữa hình thức và

%

TỶ tội dụng, do đó tỉnh thần tuyệt đối bất đấu chuyển sang

"hình thức cao hơn là tôn giáo Tôn giáo là ý niệm được thể hiện trong biểu tượng, cùng như triết học là ý niệm dược thể hiện trong khái niệm Do vige phn chia sự vận động của ÿ niệm trong nghệ thuật thành nghệ thuật tượng trưng, nghệ thuật cổ điển và

‘nghé thuật lãng mạn nên Hêghen đã tập trung phân ích

‘nim logi hin nghệ thuật cơ bản là kiến trúc, điêu khắc, âmm_ nhạc, hội họa và thơ ca Mặc di dng có nghiên cứu thin thoại, kịch, song với bệ thống của minh, Héghen đã làm cho Tịch sử nghệ thuật trở nên nghêo nàn

'Wêghen đã xuất phát từ hai nguyên lý để giải thích lịch

"sử nghệ thuật: Mớt là, biên độ của lịch sử nghệ thuật chỉ giới than từ nghệ thuật tính tượng trưng đến nghệ thuật lâng

"mạn Nghệ thuật tượng trưng là hình thức thấp, nghệ thuật

Tăng mạn là hình thức cao Nghệ thuật tượng trưng là một

"nghệ thuật Ẩn dụ, nó diễn tả nhiều nghĩa gián tiếp Trong ‘sing tạo của nghệ thuật tượng trưng chứa nhiều bí ẩn, không thể có lời giải đáp chính xác Hai la, che giai đoạn từ tượng trưng đến lãng mạn đều có sự thể hiện thống nhất của tỉnh thần tuyệt đối mà đỉnh cao của nó là kịch thơ Kịch thơ

là biểu hiện tính thần tuyệt đổi một cách kỹ diệu

Sự phân tíh của Hêphen vế nghệ thuật cổ điến Mêghen được biểu hiện với một thái độ tán thưởng rõ rệt Khi Hêghen coi nghệ thuật cổ diển là biểu tượng toàn vẹn eủa sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, thì ông khẳng định nội dung của nghệ thuật cổ điển là hạt nhân,

là tình thần trở thành đối tượng của mình và con người trở thành để tài của nghệ thuật, Chẳng hạn như nến nghệ thuật Hy Lạp cổ đại là nến nghệ thuật vì đại sinh động

và phong phủ Nó biểu hiện sự cân bằng về dạo đức và

36

Trang 17

chính trị thời kỳ hưng thịnh của các quốc gia đô thị

Khi trình bày nghệ thuật lăng man, Héghen để cao để tài

tôn giáo, cổ vũ các để tài chân dung và khuyến khích các để

tài về tình yêu Héghen hop nhất hai nến nghệ thuật, hai

“quan điểm mỹ học, hai xã hội tôn giáo trung - cổ và tư sẵn

thành một nghệ thuật lãng mạn Đây là một sự xung đột

thỏa hiệp trong tư tưởng mỹ học của Hêghen Mỹ học củ,

Hêphen đã có đồng góp trên lĩnh vực nghệ thuật là ở chỗ

ông xem xét lịch sử nghệ thuật trong quá trình xung đột và

vin động biện chứng

©) Hêghen đã phân tích tỷ mỹ mỹ học hoạt động và tình

"huống Đây là một tư tưởng rất quan trọng đổi với việc phần

tích nghệ thuật Trong tư tưởng mỹ học Hêghen, hoạt động va tinh huống là tập hợp những hoàn cảnh mà tính cách

nhân vật, tính thắn con người được biểu hiện ra Nhà sáng

tạo nghệ thuật xây dựng các nhân vật của mình không thể

tách rời hoàn cảnh của nhân vật, phải vạch ra được những

tình huống quan trọng nhất "để cho những quyển lợi quan

trọng, sâu sắc và nội dung chân chính của tỉnh thần được

biểu hiện ra”"

‘Theo ông cắn phải khắc phục tính cứng đờ và tính bất

động của nghệ thuật như kiểu nghệ thuật điều khắc Ai Cập

Hy Lạp và cần làm cho việc miêu tả các nữ thần ở nhiều tư

thế vận động khác nhau Các tình huống thơ ea cần được quy

vào những sự kiện nào đó Cắn phải miêu tả các xung đột

cia con người với con người, con người với tự nhiên dé lam

xuất hiện các tình huống cao nhất Có thể nói, khi quan tâm

đến phạm trù tình huống Hêghen tập trang vào mỹ học

1,êghen: Than tập, (Tếng Nga) MAtxeovs, 1836, 12, tr 203,

hành động Hành động là sự phát triển của xung đột và giải quyết xung đột Hành động là sự thể hiện rõ nết cá tính và nhân cách Trong xung đột, các tính cách đại biểu cho các quyền lợi, các quan điểm đối lập nhau xuất hiện, các tính chất xã hội của tình huống được bộc lộ Xung đột dân tộc, giai cấp, thời đại làm rõ bản chất xã hội của tính cách Héghen néi rằng xung đột là “những nguyên nhân vi đại” của nghệ thuật ở mọi thời đại Trong nhà hát Xöphóclo ở Hy Lạp, tuy thần lính là lực lượng quyết định nhưng các xung .đột, các tình huống đều là phản ánh của cuộc sống cơn người thôi đại của con người đang vận động, đang hoạt động

Trong học thuyết về hoạt động tình huống Hêghen đã phân tích các cảm hứng - súc mạnh của tình cảm, hạt nhân Vĩnh viễn của nghệ thuật Cảm hứng dù là của cá nhân

"nhưng vẫn mang tính thời đại Mọi loại hình nghệ thuật đò

là văn học hay nghệ thuật tạo hình, dù miều tả con người

"hay tự nhiên, đều cắn phải phục tùng cảm hứng Nên nghệ thuật lý tưởng đồi hỏi "cảm hững phải được biểu hiện như là

‘eim hang cia tinh thần phong phú và toàn điện”

‘Tinh cách trong nghệ thuật là cái chung của tính cụ thể, Đó là cảm hứng được phát triển trong hoạt động cụ thể Tính cách được bộc lộ ra trong tính chung của những nét đặc thù cá thể không lập lại Mỗi tính cách có thể là đuy nhất trong loại của nó Tính cách nghệ thuật là đa dạng là không trừ tượng Tính cách sinh động là tính

‘lich trong đó nét chủ động được bộc lộ rõ trong những nét

Trang 18

mạnh mẽ hùng hậu đối với hiện thực và nắm bắt được

hiện thực"!

Ð Trong mỹ học Hêghen, từ lý luận xung đột ông dã

trình bày các xung đột về bi kịch chiếm một vị trí đặc biệt

quan trọng Trong cuốn Hiện tượng luận tính thắn Hêghen

Eọi bi kịch là “ngôn ngữ cấp cao” Theo Hêyhen, bì kịch là

mật trăng của các nghệ thuật và thâu tôm trong nó toàn bộ

nghệ thuật

Hèghen coi thơ ca có vị trí hàng đầu trong sự vận động

“của tỉnh thần tuyệt đổi trong lịch sử nghệ thuật và được ông

chia làm ba hình thức: a) Sử thi, nặng về tính khách quan:

Ð) Thơ trữ tình, nặng về tính chủ quan; e) Kịch thơ là sự

thống nhất giữa chủ quan và khách quan và nó là đình cao

nhất của sự phát triển mỹ thuật và thơ ca Trong kịch thơ bị

kịch thì phép biện chứng giữa chủ thể và khách thể được tập trung nhất

Đổi với Hêghen mâu thuẫn là ed sở của bi kịch Xung đột

bì kịch là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn trong bì kịch

“Trong học thuyết về tình huống, Hêghen đã để cao và phân

tích xung đột Trong thuyết về bi kịch, Hồghen chia xung đột

làm ba loại:

- Xung đột ngẫu nhiên là loại xung đột thấp, có những:

nguyên nhân tự nhiên tự phát như bệnh tật và tai nạn

tạo nên,

+ Xung đột về quyến thừa kế, địa vị xã hội, đẳng cấp do

các nguyên nhân gia đình, tình dục tạo nôn và nó chưa mang tính bản chất

Xung đột cao nhất là xung đột tình thần Đó là các xunyc

1 Sad te 247

T

đột về ý tưởng, về quan điểm có nguồn gốc sâu rộng trong xã Bội Chẳng hạn Ơdip giết cha và lấy mẹ để ra các em của

‘minh nên đã sa vio bi kịch xung đột tính thần cao ~ một

&uộc xung đột nội tâm Cytemnét dã giết chống là 'Agamenông vừa từ chiến trận trỏ về nên con của họ là Oresti (đã giết mẹ trả thù cho cha Đó là một cuộc xung đột tính thần to lồn trong toàn bộ xã hội, về vai trò của phụ nữ trong chế độ mẫu hệ

(Các xung đột về luân lý về đạo đức, về tỉnh thần công cđân, về các chuẩn mục xã hội là các xung đột tình thần nên thường dẫn tối những bi kịch sâu sắc Hêghen gọi đó là bị Xịch của tính phiến diện, bì kịch của sai lệch về đạo đức Bị kịch của sự sai lệch không phải là sự phủ định mà là sự khẳng định, sự thắng lợi của lý trí đạo đức, tính phiến diện

Đị thủ tiêu và xung đột được hòa giải Với trì thức bị kịch cổ dại sâu sắc, Hêyhen đã phân tích tắc xung đột tịnh thắn đầy tính bị kịch thời cổ đại

Cái chết của Xöcrat là một bi kịch Ý thức thành bang

‘Aten đã phát triển rực rõ Ý thúc cá nhân phát triển độc lập đã bắt đầu tách ra khỏi tính thin phổ biến Xôcrat là

"một nhà thông thái và anh minh bồi vì ông nhận thức được một nguyên tắc tỉnh thắn môi bất đầu xuất hiện một cách tất yếu cao hơn các nguyên tắc Linh thắn đang tổn tại Khi

‘Xéerat nêu lên một nguyên tắc sống mới, đồng thời cũng là Múe tuyên chiến với một trật tự cũ đang chiếm địa vị thống trị Điểu ấy phá hoại trực tiếp đời sống tỉnh thần và các chuẩn mục đạo đức của người dân thành bang Người Aten mặc dò biết rất rõ là các nguyên tắc sống môi mà Xôcrat phát hiện ra là bợp lý, nhưng họ vẫn tố cáo ông phạm tội tôn kính các thần tượng mới chống lại tập tục của cha me,

họ hàng và cộng đồng của ông Do vậy, Xóerat đã bị xử tử

Trang 19

Cái chốt của Xôcrat là cái chết cả nhân chữ không phải là

cái chết của nguyên tắc sống mới mà ông dại biểu Cuối

‘cing người Aten vẫn nhận thấy nguyên tắc mới mà Xácrat phát hiện đã ân sâu vào cơ sở xã hội Aten Và chính cái

chết của ông đã thức tỉnh người Aten, đã gây nên sự sim

hổi 6 Aten va vì thế Xócrat lại trổ thành bất tử Máu thuẫn

bi kịch này cả người Aten và Xôerat vữa vô tội vừa có tội

Mỗi người bị trừng phạt và được bất tử theo cách khác

nhau Sự phản kích của người Aten đối với bất cứ ai, kể cả

XX6erat vi đại, khi đã vi phạm pháp luật, chân lý đạo đức

phổ biển Vì đó là một quyền hợp pháp và nghĩa vụ thiêng

liêng của thành bang Xöerat mất đủ, các nguyên tắc mới ein đó, 8 thắng lợi của tình thần thông qua mất mắt cá

nhân đó là sự xung đột bì kịch mang mầu sắc lạc quan Mêghen đà dẫn vỏ bi kịch nổi tiếng Angugôn của

Xéphdelo (496-406 Tr, CN) Đây là vờ kịch tiếp theo vỏ OMip

làm vua Ođíp khi biết mình phạm tội giết cha, lấy mẹ đã

tự chọc mù mất và tự đuổi mình ra khỏi thành Tebo

Angtieôn là con gái hiếu thảo của Odip da dit cha di tim

nơi nướng náu nhưng tôi Cölônhơ thì Ođíp chết Angtigôn

rủ về thành Tebơ sống với cậu ruột là Crèöng lúc này tạm

thay Odip Trong cuộc chiến tranh giữa Acgốt và Tcbơ, hai

canh trai của Angtigôn là Polinixơ và Etôclơ đếu chất Vì căm Kiện Pôlinixø, Crẻông đã hạ lệnh cấm chôn cất PöNnixơ vì

Pồlinixở đã đem quân nước ngoài vế đánh lại tổ quốc

Angtigén cùng với Hêmông con trai của Công, lại là người

yeu cia minh chống lại cha mình Ảngtigôn đã chôn Polinixs

cđể làm trồn đạo đúc và phong tục Crêông đã bất Ăngugồn

jam vào trong nhà mồ của giỏng họ nàng Ẳngtigön tự tử

trong ngục Hêmông, người yêu của nàng đã tự đâm kiếm vào

neve chét theo, Me Héméng cũng chết theo con và sự đau khổ

‘eda than bang phải được tôn trọng các hành vì phạm pháp

đi bị trừng phạt

ko trên nguyên tắc đạo lý như Crêông, Ăngtigôn chôn 'eất Pôlinixơ là "bổn phận thần thánh”, có thể vượt lên trên luật nhà nước Mọi sự sợ hãi chống lại đức tin sẽ bị

tạ bình me gi tr do ng tren a độc giữa bai lực lượng luân lý tối cao, đó là luật pháp

thấy thánh ạt nhấp nhà nước Mod thể hắn mộ

ực lượng luân lý Mỗi bên đều có tính phiến diện và đều có giá trị, nhưng chúng lại xung đột và triệt tiêu nhau Chính nghĩa đã phát hiện và phản đối tính phiến diện này của mỗi 'bên Do sự phiến điện mà hai bên đổu thất bại còn chính

"hghìa toàn thắng, đồng thời các phiến diện được khắc phục 1h) Cong nhu Canta, mỹ học Hêghen đã đặc biệt quan tam tôi chủ thể sáng tạo nghệ thuật Đây là một chương viết hiện đại và súc tích Trước tiên, khí coi nghệ thuật gấn liến với hư cấu 7 Mêghen phân biệt năng lực tưởng tượng thông thường và tử» lực oởng bượng nghệ thuật Mà ở chế năng lực hông tượng có tính sáng tạo nghệ thuật vì chúng bao quát được hiện thực Theo Hêghen, “nghệ sĩ phải rút ra từ cuộc sống

một chất lượng cho nghệ thuật chứ không phải là có tư tưởng

trữu tượng, Nghệ thuật không phải là tư tưởng mà là bổ cục

Trang 20

'bể ngoài, là súc mạnh của sáng tạo”!, cho nên đồi hỏi người tiết cuộc sống, hiểu biết con người và suy ngẫm vế chúng để nghệ ®ĩ phải thấy nhiếu, nghe nhiều, phải không ngừng hiểu

nấm được thực chất, truyền đạt lại điều đó bằng các hình

tượng ginh động

“Nghệ thuật đời hỏi chủ thể phải có năng khiếu bẩm sinh

VÀ có tài năng thực sự Chẳng hạn, năng khiếu âm nhạc của

người ltalia và hình khối trong con mất người Hy Lạp là

"những hiện thực rõ rệt về bẩm sinh Người nghệ sĩ phải có

khả nâng sáng tạo, cỏ cuộc sống phong phủ, nhiều vẻ, nhiệt

tình cũng chưa đủ mà phải cộng với kỹ xảo cao Nghệ sĩ phải

“đưa được đối tượng vào cuộc sống của mình, làm cho nó sống “động: đồng thời, nghệ sĩ "phải bị đối tượng thu hút” Nghệ «ĩ

, thiếu phong cách thì không có sing tạo

Héghen quan tâm sâu sắc đến tính độc đáo của sắng tạo

nghệ thuật Ông viết: "Người nghệ «j phải thấm nhuần ý ghis khách quan của cuộc sống, cần phải từ bỏ tính kỳ di,

ính tùy tiện; cắn phải tránh sự bay bổng tính tưởng tượng điều đắng lưu phóng ding và biến tác phẩm thành một sự hỗn tạp, những ÿ chưa từng thấy Nghệ

sĩ phải lắng sâu vào nhận thức và phản ánh chính các đối tượng Cần phải bỏ

những cái gì tùy tiện chủ quan để hòa làm một với các đối

tượng mà trong dó nghệ sĩ cần phải từ bỏ bản thân Không có một kiểu cách nào cả ‹ đây là kiểu cách vi đại duy nhất của

“các thời đại Chỉ ở chỗ đó, chỉ với ý nghĩa đó, chúng ta cần gọi Môme, Xôphôclo, Raphaen Sẻchxpia là độc đáo”*

"Như vậy, Hêghen đồi hỏi thiên tài nghệ thuật là người

“7 Nicôlai Gavrilvich Teécnwsépxki (1828 - 1889): là

‘mt trong ba nhà mỹ học lớn trước Mác và cũng là một trong

"những nhà mỹ học lớn của mi thời đại Tự tưởng mỹ học của Lông tạo thành một hệ thống mỹ học mà ý nghĩa của nó đặt tiến tắng cho sự ra đồi của mỹ bọc Mác - Lên : Khác với mỹ học của Canta di sâu vào thế giới của chủ

‘thé và có khát vọng điều hòa giữa chủ nghĩa kinh nghiệm mỹ bhọc với chủ nghĩa duy lý mỹ bạc, mỹ học Héghen đi sâu vào thế giới nghệ thuật để trở thành một tập đại bách khoa về

"nghệ thuật, mỹ bọc Tsécnusépxki khi khắc phục sự thống trị tinh thin của thời đại ông đã hướng toàn bộ sự phê phán

“của mình vào mỹ học Hêghen và xác lập một con đường mối -

‘con ding tim cái đẹp trong cước sống Các tư tưởng mỹ học

“của Taécnưsépxki được trình bày trong luận án tiến sỹ Quan

"hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối cử hiện thực

4) Quan niệm tể cái đẹp

“Trước khi dưa ra định nghĩa về cái đẹp, Teécnusépxki đã phê phán tất cả các luận điểm về cái đẹp của Héghen Ong viết "cái đẹp là một ý niệm dưới một hình thức biểu hiện có

"hạn; cái đẹp là một đối tượng cm tính riêng lẻ Cái đẹp là “ự phù hợp hoàn toàn, sự đồng nhất hoàn toàn giữa ý niệm

và hình tượng từ đó Héghen rút ra định nghĩa về cái đẹp nhưng sau dé né không thé đứng vững và đã bị mợi người phê phán”!

1 Xem: T;êcndeepsht: Quan he thdim mỹ củo nghệ thuật đổi tớ

‘ign thu Nab Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội 1968 tr

Trang 21

“sécnưsépxki cho rằng quan niệm của Hêghen coi cái

cđẹp là sự phủ hợp hoàn toàn giữa một đối tượng riêng lẻ với

“ý niêm của nó là một định nghĩa vừa quá rộng vừa quá hẹp ôi vì nếu coi cái gì có vẻ là sự thực hiện đầy đủ của ý niệm

của loại ấy thì cái đó mới hình như là đẹp, có nghĩa là một

‘vit dep cần phải có tất cả những gì có thể là đẹp trong vật

cùng loại và không thể tìm được cái gì là đẹp trong vật khác “cùng loại

“Tuy nhiên, ông cũng đồng ý với Hãghen khi nói “dy

biểu hiện đấy đủ của (Quan điểm đó có khía cạnh đúng của nó vì đẹp là một đối ý niệm trong một đổi tượng vie

tượng sống, riêng lẻ, chứ không phải là một tư tưởng tượng Tsécnưsépxki nối thêm rằng, tư tưởng ấy của Hêghen ám chỉ một cách đúng đần đến đặc tính của những tác phẩm trừu

nghệ thuật chân chính Đáng tiếc, ý tưởng của Hâghen “cái

oor fh tng nh te nid va hin ugg” chi nb li đẹp của tác phẩm nghệ thuật chứ

ái cái đẹp của tự nhiên, area

“Tsécnưsépxki thường nói rằng xây dựng cái mới khó hon

là phá bỏ cái cũ, phòng ngự khó hơn là tấn công Quan niệm HH tp my co I ng ch chắc dã thỏa mtn wh

la, tuy vậy cần phải hướng tới hi

một định nghĩa quan trọng về cái đẹp: "Mée thue thể đẹp la thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan

nid của chủng ta; một đổi tượng dep là đổi tượng trong đó

cuộc sống được thể hiện hay nó nhắc ta nghĩ tôi cước sống”

Đổi với Tsécnưsépxki, quan điểm mỹ bọc thống nhất với

“Cuộc sống là trí tuệ Là lao động, là sáng tạo

“Cuộc sống "theo quan niệm của chúng ta” do xuất phát tí các lý tưởng xã bội và lý tường đạo đức khác nhau mà quan niệm về cái đẹp có sự khác nhau Mỗi dân tộc, mỗi giai cấp, mỗi thời dại có những như cầu thẩm mỹ riêng “Quan niệm của chúng ta" theo Tsécnưsépxki là quan niệm của những

người lao động, đặc biệt là nông dân lao động Ông đã từng

phê phán cái đẹp của các cô thiếu nữ Pêtécbua mảnh dẻ, gáy

gò, “gió thổi bay” Ông ca ngợi cái đẹp của thiếu nữ nông

thôn do làm việc nhiều mà cơ bắp rắn chắc, nở nang, sức khỏe dối dào

8) Quan niệm cể cái cao cả

“Trong hệ thống mỹ học của Hêghen và Phí, cái cao cả

“được coi là ưu thế của ý niệm đối với hình thức, là biểu hiện

“của cái tuyệt đổi Thécnusépxkš cho rằng, ưu thế của ý niệm đổi với hình thúc không tạo ra khái niệm cao cả mà tạo ra khái niệm mơ hồ, không rõ rột và "cực xấu” (Dae Hassliche)

“ái cục xấu có khi là cao cả nếu nó khủng khiếp, cái mơ hổ không rõ rật làm tâng thêm ấn tượng cao cả do cái khủng khiếp hay cái to lớn tạo nên nhưng cái cực xấu, nếu bản thân nổ không phải là cái khủng khiếp thì có khí chỉ là ghê tôm hay khong dep”! “Theo quan niệm của Toécnueépxki, cái cao cả không phải

là ð ưu thế của ý niệm đối với hiện tượng mã là ở tính chất bản thân hiện tượng Mầm non của lá, khi phát triển xé rách

vỏ cái chối đẻ ra nó, nhưng biện tượng ấy không thuộc loại hiện tượng cao cả

1.844 tri,

Trang 22

“hông thời kỷ đó, ngoài dịnh nghĩa cái cao cả là ưu thế

“tủa ÿ niệm đối với hình thức, còn có quan niệm "cái cao cả là

*w biểu hiện của ý niêm về cái vô hạn” Quan niệm này ảnh

hưng rất sâu sắc trong mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã

hội ở nước Nea thé ky XIX Từ ý nghĩa của cuộc sống,

“Tsécnusépxki đã phê phần tất cả các tư tưởng mỹ học ấy

(Ong cho ring bin thin cuộc sống là cao cả chứ không phải ý

niệm gợi ra trong thâm tâm cải eao cả Núi Kaddbếch hùng,

vĩ là tự nó Biển hòng vĩ là tự nó Xéda, Catông vĩ dại là tự

"nó chữ không phải ý niệm về cái vô hạn tạo ra “heo Tsécnusépxki đổi tượng mà ta thấy cao cả không,

phải là võ hạn, trái lại nó hoàn toàn đổi lập với cát võ hạn

Nui Mongblang hay núi Kadabéch đu hùng vi và cao cả,

nhưng không một ai phản lại mắt mình mà cho rằng độ lớn

của chúng là vô hạn hay không thể thống ước được Biển

đđổi với chúng ta là mênh mông võ hạn khi ta không nhìn

thấy bờ của nó; nhưng tất cả các nhà mỹ học déu khẳng

định một cách đúng đấn rằng, khi ta đã nhìn thấy ba thi

biển lại cằng hùng vi hơn là khi ta không nhìn thấy ba

Giêng tố là một hiện tượng thiên nhiên hùng vi nhất

nhưng phải có một trí tưởng tượng bị kích thích quá mạnh

Và đầy thành kiến mới hình dung được mối quan hệ nào đó

Kia giông tố và cất vô hạn,

“Tsécnưépxki coi "ái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những

cái mà ta đem so sánh với nổ”, "một sật cao cả là một vật có quy mô vượt hẳn những vật mà ta đem so sánh với nớ”L

‘mau thuin va hinh thúc biểu hiện cao nhất của nó là xung

(đột về dạo đúc, đó là một quan niệm mới Tsécnusépxki cho ằng, khái niệm bí kịch trong mỹ học Dúc lúc này được hợp

"thất với số phận bi thảm của con người Trong mỹ học ấy, bị Kkigh được trình bày như sự xung đột của con người dii với số 'phận, như là kết quả của sự can thiệp của số phận

'Mâu thuẫn, xung đột trong xã hội được thể hiện dưỡi

“nhiều hình thức Đấu tranh là một dạng mâu thuần, của mung dot xã hội Tuy nhiên, theo Tsécnusépxki thì không phải cuộc đấu tranh nào cũng nảy sinh bi kịch Chẳng hạn gui thiy thủ đấu tranh với biển cả, bảo táp và đá ngắm Sinh hoạt của họ thật gian khổ, nhưng đó không phải là bí Ikich Trong các cuộc đấu tranh không chỉ có đau khổ mà còn

6 vinh quang và vui sướng Đấu tranh có bì kịch và có kịch ánh, Kịch tính không phải là bì kịch

Trong dấu tranh với thiên nhiên, bì kịch không mang Aính tất yếu mà là kết quả ngẫu nhiên Teécnưsépxki cho

ng chỉ riêng điều đó đã đập tan lý thuyết coi bí kịch là quy luật của vũ trụ, Các biến cổ lớn lao trong lịch sử không nhất

thiết bao giờ cũng gắn với cuộc đấu tranh gian khổ Thí dụ,

lễ rữa tội của những người Phrảng là một biến cố lớn lao

"nhưng không phải là đấu tranh gian khổ Số phận của các vĩ

“hân có phải là bà kịch không? Theo Tsếcnưeépxki có khi là

bi kịch, có khi không Ở đây không có tính tất yếu nào cả Số phận của họ có bi kịch hay không còn tùy thuộc ở hoàn cảnh

Trong lịch sử thế gii người ta ít gập những vi nhân có bì kkjch hơn là những vi nhân có cuộc đồi đây kịch tính Crédut, Pongpé, Xéda đã có một số phận bì kịch Nhung Pongpiliut, 'ManioL, Sila, Ogreatd đã kết thúc cuộc đồi họ rất bạnh phúc

Đo đó, Tsếcnusépxki không tán thành với quan điểm của Hôghen đã nêu lên cot bi kịch của sự sai lệch là xune

Trang 23

đột về mật đạo đức phổ biến, theo sau tội lỗi bao gi cũng là

sự trừng phạt kế có tội bằng cái chết hay bằng sự dây vò

lưỡng tâm Đó là một tư tưởng hoang đường Theo

'Tsếcnusépxki, cói bí kịch là một sự dau khổ hay la cái chết

eủœ người ta Cái bí kịch là cái khủng khiếp trong đời

người Định nghĩa như thế là hoàn toàn đầy đủ trong cuộc

sống tô trong nghệ thuật

4) Quan niệm tế cái hài

“Theo Teécntsépxki thì vào những năm 40 của thế kỷ XIX

phần lớn những người có học thức ở nước Nga đều ham thích

mỹ học Đức Trong số các tác phẩm mỹ học Đức được giải trí

thức Nga yêu thích, có cuốn MY hoe hay là khoa hoe vf edi

“đẹp củn Phíeø Phíteø là người theo cánh tả của trường phái

Môhen Lúc đầu Teécnusépxki không tiện dẫn tên Phí,

nhưng ông nghĩ luận chiến chống ai nếu không dẫn tên thì

như đấm vào không khí Vĩ thể ông đã nêu đích danh các tư

tưởng của Phíteơ ở nhiều lĩnh vực trong đó có quan niệm vế cất hài Teécnsépxki viết: “Người ta có thể không thừa nhận

cái định nghĩa đang thịnh hành về cái hài kịch: cái hài kịch

là ưu thế của hình tượng đối với ý niệm, nói cách khác là sự

vô nghĩa và trống rồng bên trong được che giấu bồi cấi vẻ

"ngoài mà cái vẻ ngoài này lại có hoài bão muốn là nội dung và

“6ý nghĩa thực sự nhưng đồng thời phải nói rằng, Phíte? ‹ tác

giả của tập Khái luận về mỹ học ưu tú nhất ở Đức đã quả bó

hẹp khái niệm về cái hài kịch Để duy trì phương pháp biện

ching của Héghen trong sự phat triển các khái niệm, ông chỉ

xem khái niệm về cái hài kịch đối lập với khái niệm vế cái

co cả mà thôi, Cái hài kịch thấp hên hay cái hài kịch ngụ

xuẩn đần độn di nhiên là đối lập với cái cao cả Nhưng cái

hài kịch quái dị, cái hài kịch xấu xí thì sao? Theo sự trình

bày của Phíteơ thì cái cao cả có thể là xấu xí Làm thế nào

48

mà cái bài kịch xấu xí lại có thể đồi lập với cái cao cả khí mà

chúng khác nhau không phải về bản chất mà vế mức độ không phải về chất mà về lượng khi mà cái xấu xí thấp hên

là thuộc về hài kịch còn cái xấu xí to lớn hay không khiếp lại

“huộc về cái cao cả”"!

© Quan niệm cể nghệ thuật

Ngoài các tư tưởng quan trọng của Tsécnưsépxki về các phạm trò mỹ học cơ bản, ông còn đật cơ sở cho các quan niệm duy vật về nghệ thuật Tsếcnưsépxki coi nghệ thuật không

‘chi là vương quốc của cái đẹp mà là sự phản ánh nhiều mật

Ga cuộc sống, nghệ thuật không phải là để mua vui mà là

phương tiện để nhận thức cuộc sống Khi phân tích những ý kiến của Hêghen về "cái đẹp của nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên”, Taécnusépxki đã chứng minh rằng, cái dep 'eũa tự nhiên là nguồn gốc của cái đẹp trong nghệ thuật Chỉ

6 sự phong phú củn cái đẹp tự nhiên mới tạo ra sự phone

phú của cái đẹp trong nghệ thuật Tsécnưsépxki viết: “Theo

những quan điểm mỹ bọc đang thịnh hành th nguồn gốc côn

nghệ thuật là ð chỗ con người muốn làm cho cái đẹp tránh được những khuyết điểm Khuyết điểm này đã làm cho cái đẹp ở mức độ tồn tại thực sự của nó trong hiện thực không thỏa mãn hoàn toàn được con người Cái đẹp do nghệ thuật sáng tạo ra không mắc phải những khuyết điểm của cái đẹp trong biện thực” Để bảo vệ cho cái đẹp trong hiện thực nguồn gốc cái đẹp trong hiện thực, Tsécnưsépxki đã coi cái đẹp của hiện thực hơn hẳn cái đẹp của nghệ thuật “Cái đẹp

trong nghệ thuật thì đẹp một cách không linh hoạt, không sảnh khí Cái đó lại cảng tệ hơn nhiều Người ta có thể ngắm

Trang 24

nhìn diện mạo của một người dang sống hàng mấy tiếng đồng hổ còn tranh vẽ thì chỉ ngầm mười lam phat đã làm

eho người ta chân ngấy và rất hiếm có những người say mê

"Nghệ thuật đứng hàng giờ trước một búc tranh So vi các tác sa sinh động hơn Nhưng ngay cả thì ca cũng làm cho chúng ta chồng chắn Dĩ nhiên, chẳng có người nào lại có thé doc phẩm hội hoạ, kiến trúc và diêu khắc thì những tác phẩm thì

"hâm lẫn liền một cuốn tiểu thuyết, thế nhưng cuộc sống với

những bộ mật sinh động và những biến cố thực tế thì lại rất

"hấp dẫn vì tính muôn hình muôn vẻ của ching”!

“Xuất phát từ quan điểm này, Teécnusépxki đã đạt nhiều

thành qué trong việc nghiên cứu các loại hình nghệ thuật

như kiến trúc, điêu khác, hội họa, âm nhạc và thơ ca Ông đã

"nêu lên mục dich đầu tiên của nghệ thuật là miệu tả hiện

thực Ông phân tích rằng, việc mô tả tự nhiên khác với bắt

chước tự nhiên và nghệ thuật có vai trò quan trọng trong

iệc giải thích cuộc sống

1 NHỮNG CƠ SỐ LÝ LUẬN XÁC LẬP SỰ MINH THANH CAC TU TƯỞNG MỸ HỌC MÁCXÍT

CMe (1818 - 1883) và Ph Angghen (1820 - 1895) da

từng coi khuyết điểm của toàn bộ triết học trước các ông

à chỉ nhằm giải thích thế giới Tuy nhiên, các ông đã tiếp

thụ toàn bộ các giá trị tư tưởng triết học, kể cả mỹ học

trước các ông Mỹ học trước C.Mác chưa phát hiện toàn

điện các mối quan hệ thẩm mỹ vôi các mối quan hệ xã hội

khác Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, bai ông dã giải

thích quá trình phát triển xã bội trên lập trường duy vật

1 84M, tr

ching C.Mác và PhÂngghen đã khẳng định mối

quem it en hiện gv i chia eh ‘og mbién và lịch sử xã hội :

(Các tư tưởng của C.Mác PhAngghen vi nim rai rie

“trong tat ci ce tae phiim lin như điền thỏo hính đế chính trị _niim 1844; Gia đình thần thánh; Hệ tư tưởng Đức, Tư bản 'Yà những bức thư rất quan trọng trao đổi vải nhau về các

“quan hệ thẩm mỹ và các giá trị nghệ thuật - 'C Mác và Ph Ảngghen không để lại một tác phẩm nào có

“tinh bé thống bàn về mỹ học Tuy nhiền hệ thống triết học

“Của C.Mác và Ph Ảngghen đã khắc phục được toàn bộ những

_ˆ hạn chế của các hệ thống mỹ học trước các ông

— Những quan điểm triết bạc và mỹ học của C-Mác - 'Ph Ảngghen dã làm cơ xd cho các nhà mỹ học mácxít xây dựng hệ thống của mình, đó là 6 quan điểm chính đưới đây:

_ a) Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của

(C Mác và Ph Ảngghen đã nối hiến giữa tự nhiên và tư tưởng

“của các nhà mỹ hợc trước các ông

b) Quan điểm thực tiễn của C.Mác và PhAngghen chính cấu bắc giữa khách thể và chủ thể C.Mác đã từng nói lapel y rare ar epemep rena ae trước kia, kể cả chủ nghĩa duy vật của Phdbách là ở chỗ: sự

ật, hiện thực cảm tính chỉ được xét dưỡi hình thức khách thể hay dưới hình thức trực quan chứ không phải với tư cách

t động cảm tinh của con người

ko sau Các nhà mỹ bọc trước C Mác thường xem tư tưởng của con người là một bộ phận của thượng đế hoặc tình cảm của con người như một trạng thái tâm lý tỉnh tại, boặc như sản phẩm trực tiếp của vật chất CMéc và Ph Ẳngghen coi tư tưởng tình cảm của con người

là sản phẩm của: a) Tộc loại; b) Lao động; c) Tống hòa các

51

Trang 25

quan hệ xã hội C Mác và PhÂngphen thường nói ring:

"người là tộc loại người; người là động; vật biết chế tạo công cụ

lao động; trong thực tiễn về bản chất, người là tổng hòa các quan hệ xã hội

4) Trong bộ TV bản, Mác đã bàn đến lao động là nguồn

Bốc của mợi giã trị và C,Mác đã chia hàng hóa làm bai thứ 1 tri giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Học thuyết

giá trị

“của C Mác là hòn đá tẳng của quan điểm giá trị thẩm mỹ mà

mmỹ học trước ông chưa từng biết đến,

.4) Những hiểu biết bách khoa của Œ Mác và Ph Angghen

Về nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật và các giá trị nghệ thuật là "hờn đá tảng để những nhà mỹ học mácsít tiếp tục xây dựng

hệ thống mỹ học mới, trong đó lý luận nghệ thuật hiện thực

e6 một vai trò rất quan trọng Những tư tưởng của C.Mác về

‘chi đẹp cái bí, cái hài và các hình tượng nghệ thuật góp phần định hướng quan trọng cho các nhà mỹ học mácxít xây

dựng hệ thống mỹ học của mình,

©) V-Lênin đã cùng với nhiếu nhà mỹ học mácxít khác

phát triển quan điểm và các tư tưởng mỹ học của C.Mác và Ph Angghen trong thời đại mới Các quan điểm về phép biện

chững, về thực tiễn của C.Miác đã được VLênin khái quát và trình bầy một cách sâu sắc và sáng tạo Trong

tác phẩm Mác, V.Lênin đã dựng lại toàn bộ hệ thống triết học và tư

tưởng về xã hội học của C.Mác Từ đó, ông đã xây dựng một *ổ cơ Rồ quan trọng cho mỹ học

'Quan điểm của V.Lanin về lý luận phản ánh là một bệ

thống tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến những nghiên cứu mỹ học của những người mácxít trong thời đại chúng ta

- Học thuyết của V.Lânin về nhận thức về chân lý, về chân:

lý tưởng đối và chân lý tuyệt đối có vai trỏ quan trọng trong

cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đuy tâm chủ quan về mỹ bọc

~ Học thuyết vế hai dòng văn hóa trong một nến văn hóa _eủa V.lênin là một định hướng lớn xác lập các yếu tố dân _ghủ và xã hội chủ nghĩa trong van hóa thẩm mỹ = Quan điểm của V Lênin về kế thừa những yếu tố dân

“chủ của nến van hóa quá khứ và quan điểm kế thửa có phê phán là một quan điểm lớn định hưởng cho các quan hệ văn

“hóa thẩm mỹ mỗi của chủ nghĩa xã hội

~ > Quan điểm về tính đảng của vân hóa nghệ thuật được -W.Lênin nêu lên gắn chật với tính nhân dân là một quan điểm chứa đựng một năng lượng cách mạng rất tiếm ẩn

‘rong quá trình các dân tộc bị áp bức, bóc lột, xây dựng lại

Những tư tưởng mỹ học sâu sắc và rộng lớn của C.Mác, -Ph.Ẳngghen và V.Lênin sẻ được để cập tới trong các

.€hướng sau

IIL, MOT VAI NET VE TRAO LUU MỸ HỌC

PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

“Công với sự phát triển của khoa bọc, với kính nghiệm xây

‘dyng hệ thống, vớt sự phát triển của trí tuệ và cá nhân, chủ “nghĩa phì duy lý đã xuất hiện để đổi lập vớ chủ nghĩa duy lý

mg hoc Sy chuyén biến của mỹ học phương Tây hiện đại

"gầy càng tạo ra rất nhiều trào lưu phi duy lý mới Mỹ học đời sống của Đintáy và Bécxông dã mở rộng việc nghiên cứu thời gian sống sang trực giác, lý trí và cải hài Mỹ học phân tâm của Phrớt đã bàn về vô thức và bản nâng trong các quan

“hệ thẩm mỹ Mỹ học dựa trên tâm lý cá thể của Adlø và tâm

ý phân tích của dung cùng chủ nghĩa Phrớt mới là những

biểu hiện môi trong các quan hệ thẩm mỹ

My hoe của Giác Maritanh về nhận thức và tín ngường

53

Trang 26

khoa hoe và tôn giáo đạo đức và nghệ thuật phản ánh nhiều

ấn để tâm linh của con người trong một hệ tư tưởng công

"nghiệp thực chất là chủ nghĩa Tômát mới một biến tưởng:

“của mỹ học của chủ nghĩa Tômát

Mỹ học của chủ nghĩa thực dụng xuất biện từ mối quan

hhệ liên tục giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ

Điuây nêu lên quan điểm giải quyết các vấn để mỹ học theo

đường vòng trên cơ sở vận dụng nguyên tắc tương đối với

tính liên tục của quan hệ chủ thể và khách thể Chủ nghĩa

thực dụng âm mưu đánh đồng cái thẩm mỹ với cái phi thẩm

mỹ Các ranh gii giữa cái đẹp và cái xấu, cái bí và cái bài,

sái cao cả và cất thấp hền, cái hài hòa và không hài hòa bị

phá võ trong mỹ học của chủ nghĩa thực dụng Cái xấu, cái

khủng khiếp, cái để tiện được mỹ học thực dụng năng lên

thành những giá trị thẩm mỹ Cùng giống như mỹ học bản

năng của Phrớt, Đìntây coi tình cảm thẩm mỹ là các khoái cảm bản nâng Các quan niệm vé đạo đức và tôn giáo, về

kinh nghiệm và nghệ thuật của Piếxơ, Giêmxơ, Diuây

thường bó hẹp vào chủ nghĩa phi lý

Mỹ học hiện sinh ra đồi có tham vọng trả lồi tất cả những:

vấn để sinh học, xã hội trên nến tảng Áðsur (phí lý) “của chủ thể, Thế giới là một cảm giác xa lạ, sinh tần của con Quan điểm hiện sinh vé mỹ học là loại cảm giác phí lý

ngưồi vừa là của mình vừa không của mình Sinh tần dich

thực là sinh tổn trừ tượng Họ cho thế giới là phí lý Tổn tại của cuộc đời, Sự kinh hoàng, võ vọng là trạng thái thẩm my người là phí lý Con người bị ném vào sự hỗn loạn đến phí lý

thường xuyên ở con người Mọi thứ đếu "buổn nôn” Và cái

đẹp đã đánh đồng với cái xấu Cái bỉ bị tiêu diệt bồi cát chết

Các giá trị thẩm mỹ, các chuẩn mực nến tắng đều bị đão lộn “Mỹ học của Kiếckêgo, Haidogs, Giaspø, Méclo Ponts,

“Ximông đơ Bỏvoa, Anhe Camuy, Giảng Pôn Xáctdrd tuy thống nhất ở hiện sinh nhưng rất khác nhau Mỹ học hiện

‘sinh của Pônti gắn liền hơn với dục vọng Gbrien Macxen

“chứa đầy hiện sinh tôn giáo và Camuy thì công kích nến van 'hồa xã hội chủ nghĩa

My hoe phương Tây đã có tham vọng giải quyết các vấn

46 quan trọng của xã hội tư sản Nó đã nêu lên các vấn để

“nhân bản, vấn để tha hóa, vấn để kỹ trị và các phương thức khác nhau để con người tổn tại trong thế giới diy những nghịch lý Tuy nhiên nến mỹ học phương Tây, do tính da

“nguyên của nó, mỗi khuynh hưởng mỹ học chỉ nhìn thấy một

"bộ phận của thế giới và cũng chỉ tuyệt đối hóa một mật, một eäch giải quyết thế giới Sự thiếu hụt về mặt thế giỏi quan, 'Về cách nhìn tổng thể các quan hệ thẩm mỹ đã dẫn nó đến đổi lập với hệ thống mỹ học mácxít Chính do chỉ thấy sự đối lập này mà một số nhà mỹ hợc mácxít đã phủ định một cách

‘eye đoan, siêu hình các tư tưởng mỹ học phương Tây hiện

“đại bỏ qua những giá trị nhất định của hệ thống mỹ học đó

Để phát triển học thuyết của mình, các nhà mỹ học

"mácxít cần phải tiếp thu toàn bộ các giá trị mỹ học truyển

“thống Chính C Mác và Ph.Ảngghen cũng không hể có thái độ phủ định sạch tron Canto, Héghen và những nhà mỹ học tấm thường khác Các ông cũng đã tìm thấy các hạt nhân

"hợp lý của nó để kế thừa Trong những năm vừa qua, ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, mỹ học phương Tây biện đại không những bị một số nhà nghiên cứu bình thường giải thích một cách phiến diện

mà ngay cả những nhà nghiên cứu chuyên sầu công thiếu sự hiểu biết đầy đủ về chúng Cho nên, quá trình phê phán mỹ học phương Tây hiện đại trở nên lúng túng thiếu tính thuyết phục

55

Trang 27

“Mỹ học phương Tây hiện đại tốn tại như một hiện thực có

tắm quốc tế Nhiều khuynh hướng nhiều trường phái xuất

hiện rất sôi động như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực

dụng, chủ nghĩa thực chứng và những thời kỳ đổi mỗi như

chủ nghĩa Cantø mới, Hêghen môi và hàng chục những triết

học mỹ học mới khác C6 thé nói ở thế kỷ XX, mỹ học

phương Tây là một hệ thống cực kỳ phong phú Các học thuyết đó ra đời xuất phát từ sự phát triển mau chóng của

cdời sống xã hội Các học thuyết đó không nhất thành bất

biến, chúng thay dổi nhanh chóng và thay thế lẫn nhau để thích ứng, trong đó nhiều học thuyết hướng

tôi cách tân có

tính cách mạng

“Trí tuệ loài người đã trưởng thành một bước cơ bản Một

hệ vấn để lên về số phận con người và số phận mỗi dân tộc đã được đật ra Nhiều nhà mỹ học phương

Tây có tâm huyết

đã phản ánh những vấn dé nhân sinh một cách sâu sắc Chủ

nghĩa thực chứng chủ nghĩa nhân vị chủ nghĩa Tômát môi

chủ nghĩa hiện sinh, học thuyết cơ đốc giáo đã là chỗ dựa tỉnh thần cho một bộ phận, một số tắng lớp xã hội

Một lần sóng duy vật môi của mỹ học phương Tây hiện

dai đã được hình thành ở nữa cuối thế kỷ XX Việc tìm kiếm con đường thứ ba trong mỹ học, việc ứng dụng khoa học đã

làm cho mỹ bọc phương Tây có màu sắc mới Do từ lâu chúng

ta chỉ công nhận triết học mỹ học mácxít là triết học mỹ học

duy nhất đúng đắn, khi những biến đổi của triết học mỹ học "goài mácxít gia tang các nhân tố hợp lý của thời đại thì

nhiếu lúc chúng ta đã bị ngõ ngàng Một số người trong:

chủng ta quen có cách nhìn hạn hẹp, không theo dõi diễn hội xuất hiện đều chịu ảnh hưởng các các tư tưởng này Thí biến của chúng, nên đã không lường hết được các trào lưu xã

dy, một số đẳng chính trị mới ra đồi ở Đức và một số nước

56

Kkhác 8 Ding Au vữa qua déu bất nguồn và chịu ảnh hưởng

"mạnh mê từ các tự tưởng triết hoe, my hoe tn iáo

Chính vì vậy đật ra vấn đế nghiên cứu mỹ học NT

“Tây biện dại lúc này cần phải khẩn trương và nghiêm (

.Đã đến lúc chúng ta không thể nghiên cứu mỹ học es

‘yin dei Ding vai né chấm pt Nem nbo rine he huynh bường mỹ bọc phương Tây hiện ạt được bt ngiền

‘er nh chu lý giải một số mặt nổi bật đang gay cấn của _ Sống hiện thực, nó cổ trì thúc sâu và cũng có tính hợp

Km mã của mỹ học phương Tây nữa cuối thế kỷ XÃ “Khác với nữa đầu và càng khác với thế ky XIX Nó gắn với

‘che vấn dể tâm lình, tôn giáo, các phong trào xã hội và độc Đệt cuộc cách mạng khoa học - kể thuật công nghệ rất sốt

“động cả về bể sâu và chiều rộng Nó vượt lên trên nến l học cổ điền và m rộng các kinh nghiệm xây dựng hệ tống

và các phương pháp mới Trong từng mấy chục năm tồ lại đáy, các nhà nợ học phương Tây re sức làm phong phì Tà xác dịnh một hệ phương pháp mới cho my he Neos Phường pháp Hiếp cận ch sử nó còn mồ rộng các be b

HA te tập vn bo then We phi nh phân tâm, nhân bản ;

fh nh ức dọng mạnh ite eh mh đề sống, các hình thức toán học hóa dang là một nhủ cu yếu của phân tích logic đã làm ảnh hưởng mạnh mê đến tứ luy mỹ học biện đại thống các khái niệm, các phạm trù của nến =! i phương Tây hiện đi rất phức tạp,nựày cảng đ sân vo tâm của cơn người và dự báochơ một nứn vàn mình mi, văn mình tin học Các vấn để mỹ học mà họ đưa ra nhằm chống lại các chuẩn mục mà họ cho là cứng nhắc và kêu eo

st

Trang 28

'wð về cái tôi tự do, tự phát triển, cái tối trong một thế giới

‘VALI đầy quyển lực

“Các cách giải quyết vấn để, các phạm trù khái niệm, tư

cduy lý luận trong mỹ bọc phương Tây hôm nay phản ánh nến khoa học và cách suy tường trên các ÿ niệm lôgíc môi, chứa

đựng các lớp tin nhiều tắng mà nến khoa học ở các nước phát triển đã đạt được Nhưng thực chất đó là sự chứa dựng một

hệ thống chống đổi tình vi trước những chuẩn mục của cuộc

sống xã hội

Ho cho ring, bệ vấn để của nến văn minh là không trùng

hít lên khái niệm hình thái kinh tế - xã bội Trong mỗi hình

thúc tổ chúc xã hội có nền văn minh, có các mẫu thuẫn va các lực lượng điều hòa Theo họ, nến vân minh là có ý nghĩa

toàn cầu chữ không phải của một hình thái kinh tế ‹ xã hội

nào Tất nhiên nhiều vấn để mỹ học về môi sinh, về sinh học xã hội, về hòa bình và chiến tranh, về gìn tăng dân số và nạn

đổi, về các nghịch lý giữa văn hóa và phát triển, giữa van

‘minh và văn hóa, giữa đẹp và xấu, cao cả và thấp hen chi 6 thé giải quyết trên phạm vi toàn nhân loại chứ không thể

chỉ của một hình thái kinh tế - xã hội nào Song, ý kiến của họ vẫn có tính chất phiến diện, do đó chưa có sức thuyết

phục bởi vì nó chưa giải đáp được triệt để vấn để nguồn gốc “của chiến tranh, đối nghèo và lạc hậu của nhiều nước và

nhiều khu vực trên thế giới nếu không gắn vớ lý luận hình

thái kinh tế © xã hội mà chỉ lược quy vào một nguồn gốc duy

nhất là do phát triển, do gia tăng dân số v.v

Mỗi trào lưu triết học phương Tây đều hình thành các hệ

phạm trủ, khái niệm theo các nguyên lý xuất phát để giải quyết những nhiệm vụ trọng tâm mà nó để ra Chủ nghĩa

thực chứng và chủ nghĩa thực chứng mới đều có sự phát triển về khái niệm Chúng đếu có nội hàm và ngoại diên

58

và go phép tấp cận không giếng nhau, Sự

Jeet bon nản gân ác nhà mỹ bọc des Wh ce hh

mỹ học phương Tây hiện đại còn thể hiện ở hệ vấn đế mà các

‘nha mỹ học phương Tây nêu lên là hoàn toàn ó tính cá

nhấn Tính cá nhân là một đặc điểm nổi bật của mỹ học

“phương Tây Những ý kiến cá nhân của họ gặp nhau, phản 'ảnh được các vấn để xã hội cùng quan tâm thì nó sẽ hình seach ảng ải và đưy dé on ite nce nk mg he met vi ác xã bội ba

tha ng boc rnamg Tayo chune We King chek ft

Song, có một số nhà mỹ học mácxít có thể hiểu rõ hơn ý

Anh văn bố ý nhĩ nhân văn ca tớ go so và các nhà

reeked age Tame mat nt in nhưng chôn ta

cũng chưa có một eở chế đủ mạnh để trình bày vấn để này 'Ngoài ra, một số vấn để dân chủ quyền con người, v.v cũng

Öÿ mỹ bọc phương Tây xâm nhập su được vàn là áo Chỉng

đã để trống trận địa, chưa đi sâu nghiên cứu để có giải

(đáp đây đủ Các khuynh hưởng tìm về bên sắc dân lạc dc

“khát vọng tự do, dân chủ, công bằng xã hội đáng lý phải mục tiêu của các nhà mỹ học mácxít, nhưng khi để cập đến

“các vấn để đó thì các nhà mỹ học phương Tây lại gắn như độc

quyền Sự phê phán của chúng ta đổi với mỹ học phương Tây cắn phải có quan điểm toàn diện hơn trên nén ting che git

M tee đã đến lúc chúng ta cắn phải đổi mới về cánh thot nahn eu ia Dy mi Bo tte Nes may Ta ng akin the it ve nein ce mp Boe sn TY

phương Tây tất yếu sẽ dẫn các nhà nghiên cửu điến cả việc

hth etn em em

cho mỹ học mácxít không chỉ là vũ khí, là điểu kiện, 7

Ấm to vặ ngiêncủu nỹ họ phường Tây, ohne

Trang 29

thông qua việc nghiên cứu mỹ học phương Tây, ó ` s người ta sẽ

hiểu rõ hơn các giá trị mà chủ nghĩa Mác đã đạt được, trình 49 tu duy của vân hóa thẩm mỹ xã hội chủ nghĩa,

“Nghiên cứu giảng dạy mỹ học phương Tây nhất thiết

phải đưa vào phép biện chứng mácxít, bởi vì đó là cách thức

tết nhất để tiếp cận những mật tích cực, tiến bộ cũng như phô phán những mật hạn chế của mỹ học phương Tây Có rất

nhiều khuynh hướng mỹ học phương Tây chống chủ nghĩa

Mác một cách cực đoan Chỉ có trên eơ sở của phép biện

chứng duy vật, chủng ta môi có đỏ khả năng chống lại các

phản văn bóa bằng một trình độ vân hóa cao, chống trả

các luận điểm phản khoa học bằng khoa học chân chính nay, chúng ta phải làm rất nhiều việc, cụ thể là "Để đổi mới cách thức giảng dạy mỹ học phương Tây hiện

8) Phải xây dựng được một hệ thống thông tin mỹ

nhanh và mạnh, giép chúng ta không lạc hậu võ thợ g nhanh chóng rút ngắn khoảng cách này

b) Phải xây dựng được một đội ngũ chuyên gia giỏi về văn

bw noi ngủ, có kiến thúc mỹ bọc sâu, có tư duy lý luện

©) Phải có một cơ chế đúng đắn để phát triển mọi sáng

tương tự do nghiên cửu từ ti éu, reo tếp khọx bạ đế,

sáng kiến cá nhân,

-4) Cần có được thông tin đầy đủ và khách quan về các tư

tưởng, trường phái, quan điểm mỹ bọc tư sẳn hiện dại

CHƯƠNG II

MỸ HỌC VỚI TƯ CÁCH LA MOT KHOA HOC

1- PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA MỸ HỌC

“Cho đến nay, lịch sử mỹ học của nhân loại đã hình thành năm hệ thống khác nhau chúng có đối tượng phương pháp Tnghiên cứu và hệ thống các phạm trũ, quy luật khác nhau?

1 Hệ thống mỹ học của chủ nghĩa đuy tâm khách quan

“Xem xét đối tượng nghiên cứu trung tâm là ý niệm và ÿ niệm

“tuyệt đổi Từ ý niệm này, các đại biểu của chủ nghĩa duy Lâm khách quan đã phản ánh trong hệ thống của mình những

"phương diện nghiên cứu khác nhau

Ty Hẻ thống nổ học của chả nghĩa duy tâm chủ quan oi

tự tưởng, tình cẩm, tâm lý là đối tượng quan trọng nhất của

tống sỹ hẹ ch chủ na lợ vật Mắc cứ

hiện thực cuộc sống là đối tượng quan trọng nhất của mỹ học 'Và nghệ thuật

` Hồ thống mỹ bộc mácgí dã tiếp thủ và khếc phục sự phiến diện của ba hệ thống mỹ học trước đó và trên cơ sở

‘quan điểm duy vật biện chứng đã nghiên cứu cả chủ thể thẩm mỹ, đổi tượng thẩm mỹ và nghệ thuật

6, Hệ thống mỹ bọc tư sản hiện đại gồm nhiều khuynh

Trang 30

hướng khác nhau, nhưng tựu trung là duy lý và phí duy lý

mới, trong đó gồm rất nhiều phong cách trưởng phái và

‘quan niệm mỹ học khác nhau

Mỗi hệ thống mỹ học đều dựa trên nguyên lý xuất riêng

Vi tự cách như một khoa học độc lập mỹ học bao giờ cũng,

e6 đối tượng riêng, phương pháp riêng và hệ thống các khái

niệm, phạm trù riêng

Dei tuo của mỹ hoe không phải nhất thành bất biến,

Mỹ học trước Mác có hệ thống được giới hạn trong các tư

tưởng triết học và nghệ thuật khác nhau `

Mỹ bọc của chủ nghĩa duy tâm khách quan, đại biểu lên

"Nhìn tổng quát, mỹ học trước Mác có ba loại quan niệm

Yể đối tượng chính Âfộ a, mỹ học nghiên cứu các tình cảm

thẩm mỹ của con người diễn ra trước cuộc sống, khi cảm thụ

nghệ thuật, lúc sáng tác nghệ thuật Hai lẻ, mỹ học nghiên

cứu bản thân cuộc sống, xem xét nguồn gốc các hiện tượng

thẩm mỹ diễn ra như thế nào, cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài,

cái cao thượng sẽ xuất hiện ra sao và mang những bản chất

gi? Ba là, mỹ học chuyên nghiên cứu nghệ thuật, edi đẹp

"nghệ thuật trên nến ting ý niệm và ý niệm tuyệt đối

“Trước khi mỹ học được xây dựng trên cơ sở phương pháp

biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác thì cái thẩm mỹ bị

tách rồi nhau, các bộ phận của chủng bị xó vụn ra từng

và như là các khuynh hướng riêng lẻ Hệ thống tiểu

‘cia Canto d& nghiên cứu sâu thế giới tình cảm thẩm mỹ hue tidn tỉnh thần tức là nghiên cứu thể thẩm mỹ Quan điểm duy vật của Trécnưsépxki dã

“Mỹ học Teéenvsépxki tập trung nghiên cứu khía cạnh

“thực cuộc sống trong quan hệ thẩm mỹ Chủ nghĩa duy (khách quan Héghen dã đưa cả một lịch sử nghệ thuật vào phạm vi nghiên cứu mỹ học trên ÿ tưởng về sự nh tt iia my be, au

ih phạm vi nil cia „ quan Nệm hứng dã tên kết những nh vực răng ‘che quan hệ thẩm mỹ của con người vào một thế giới nhất Trong các quan điểm duy vật biện chững, người

“Vhấy có rất nhiều kiểu suy nghĩ khác nhau về phạm vÌ

‘edtu cia khoa học mỹ học Có người cho rằng, không Xxác định trước phạm vi nghiên cứu của mỹ học hay bất ‘khoa bọc nào khác Bồi vi, hiện thực có mổ liên hệ lớn, mỗi khoa học không phải là phạm vi các hiện viếng lễ, mà là toàn bộ thể giới được thụ nhận dưới điểm nhất định

(Công trồng này, Hệghen công cho rằng: “Không thể nói được lögïc bọc là thế nào mà chỉ sau khi trình bày nó

ny i i tt tt kh vế,

‘ign nay tuyệt đại đa số các nhà mỹ hợc theo quan niệm

“Sữa chủ nghĩa duy vật biện chững đếu tân thành một giải

- Pháp xây dựng khoa bọc là phải xác định rõ đối kượng nghiên

L— Vu của mỗi khoa học Tất nhiên, ð mỗi lĩnh vục khoa học *

=

1 Méghen: Toa ap (ing Naw), Matxoovn, 1891.15

Trang 31

đều có vùng sảng của đối Lượng, só vành ngoài và các vũng

giáp ranh Các vùng giáp ranh là các vùng tối Nó có ki

năng hình thành các đối tượng của các khoa học mới

"Tuy vậy, mỗi khoa bọc trước hết phải khẳng định được

các vùng sáng thuộc về đối tượng của mình Không xác định

“được các vùng sáng thì không thể hình thành các khái niệm

các phạm trù - bậc thang, mắt khâu riêng biệt để xây dựng:

khoa học đó

Cùng nghiên cứu các mối quan hệ của con người với hiện

thực, song mỗi khoa học thưởng chú ý đến những mật trội

của các quan hệ ấy Người ta thường nói kinh tế học thì

nghiên cửu cát lợi, cái hại vể mật vật chất; lôgíc học thì

nghiên cứu cái đúng, cái sai vế mật tư duy: đạo đức học

nghiên cứu cái thiện, cái de; mg học thường nghiên cứu cái

đẹp, cái xấu

“Trong các mối quan hộ của con người với hiện thực, con

người tổn tại trong không gian và thời gian như một cơ thé

Vật lý Nó cũng tuân theo các quy luật trọng lượng, bảo toàn

và chuyển hóa năng lượng Với tính cách là một cơ thể sống

là một sinh vật xã hội, con người lại có các quan hệ tâm lý và

thức bao gồm trí tuệ, tình cảm và ý chí Chính với tư cách

là một sinh vật xã hội cơn người đã tạo đựng một quan hệ

cđậc trưng khác với quan hệ vật lý, sinh vật thuần tủy

(Quan hệ đặc trưng đầu tiên của cơn người là nó không chỉ

thỏa mãn nhu cầu của mình bằng việc sử dụng đối tượng có

sẵn, mà cải biến đối tượng và tạo thêm đối tượng mới Đó là

“quan hệ thực tiễn của con người Trong hoạt động thực tiễn

con người đã biến hoạt động tự nhiên thuần túy thành tự

nhiên của con người, cho con người và xi con người; đồng thời,

“con người lao động cùng nhau để tạo ra xã bội của mình

“quan hệ đạo đức, quan hệ thẩm mỹ đã xuất hiện

> Mỹ học đã coi quan hệ thẩm mỹ của con người là đổi

“tượng nghiên cứu Đối tượng thẩm mỹ không phải duy chỉ sự

“tạo thành cả thể có ý nghĨa cơ cấu nào đó trong cấu trúc hiện

“tượng, vì thế đối tượng của mỹ học còn phải là sự tác động

“qua lại giữa chủ thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ

Tại Hội nghị mỹ học thế giới năm 1989 ở Anh, phạm trù

‘efi thẩm mỹ trong mỹ học Xöviết được coi là một đóng góp

‘quan trọng trong khoa học mỹ học biện dại để xác định

“Phạm vì nghiên cứu của mỹ học Tuy vậy, về khái niệm cái

thẩm mỹ ở Viết Nam, nhiều nhà mỹ học khẳng định chính

“nó là các quan hệ thẩm mỹ Bởi vì theo cách lý giải của các nhà mỹ học Nga thì cái thấm mỹ thống nhất trong ba bộ

"phận: Đổi tượng thẩm mỹ; Chủ thể thẩm mỹ: Nghệ thuật

Trên ý tưởng đó, với tính cách là một khoa học triết học, 'ta xác định đối tượng nghiên cứu của khoa học mỹ học

“Miện đại như sau:

4 M3 hoc là khoa học triết học nghiên cửu sự tận động của

‘ede quan hệ thẩm mỹ trong hiện thực, trong tâm hến vd

trong nghệ thuật Quan hệ thẩm mỹ là phạm trù nến tảng:

ella my hoe Cai dep là phạm trù trung tâm, hình tượng là

ide trưng cơ bản, nghệ thuật la biểu hiện tập trung nhất của

“my hoe

Phạm vì nghiên cứu của mỹ học rất rộng và rất sâu Nó

Ấhbng ch nghiên cứu cái dẹp, cái xo cái bi, cái bi, ải co

thượng, mà còn nghiên cứu cả ý thức thẩm mỹ, bản chất và

‘he trào lưu nghệ thuật Nhiệm vụ của mỹ học là nghiên cứu

‘the tư tường mỹ học của loài người.

Trang 32

Ngoài nhiệm vụ bảo vệ cái đẹp, cái thiện, cổ vũ cái cao

thượng và cái anh hùng, phê phân cái xấu cái ác mỹ học

còn phải làm xuất hiện các tình cảm mới các nhu cầu thẩm

mỹ đúng đần, các thị hiếu thẩm mỹ tốt và các lý tưởng thẩm

mỹ cao đẹp Loài người văn mình coi mỹ học như một khoa học ghóp

phấn rất quan trọng cho việc xuất hiện các giá trị nghệ

thuật Mỹ học sẽ làm cho thế giới nghệ thuật của con người

thêm phong phú nàng nghệ thuật lên thành những sản

phẩm quý giá nhất của con người

LÔ Hội nghị mỹ học quốc tế năm 1989, văn hóa thẩm mỹ

được coi là sản phẩm cao nhất của văn minh Mỹ học tiến bộ

không thể nào không làm xuất hiện một nến văn hóa thẩm

mỹ cao đẹp, ở đó có sự xuất hiện tuyệt vời của cái đúng, cái

tốt và cái đẹp

II- KẾT CẤU CỦA MỸ HỌC HIỆN ĐẠI

Sau khi khu biệt hóa được đổi tượng của mỹ hợc thì

quan trọng là phải xác định các phạm trù, các khái niệm

của nó như một hệ thống khoa học Không có hệ thống

phạm trù, khải niệm thì mỹ bọc không thể trở thành một

khoa học

"Mỹ học có một cơ cấu, một hệ thống khái niệm chật chế:

Mỗi phạm trò, khải niệm, thuật ngữ đều phản ánh nội hàm:

và nội dung nhất định trong đó đã chứa đựng nội hàm cơ

bản, nội bàm mô rộng và nội hàm đầy đủ

Mỗi khoa học đều có cơ sở và nguyên lý riêng Bản thân

mỹ học cũng có những nguyễn lý xuất phát khác nhau, vì thế

đã hình thành một hệ các phạm trò, các khái niệm mà nội

"hàm ed bản, nội bàm mở rộng và nội hàm đầy đủ của chúng

không giống nhau Có nguyên lý chỉ xuất phát từ đồi sống,

sên hệ phạm trủ chỉ phân tích một số quan hệ thẩm my trong đời sống Thí dụ cái đẹp, cái bi cái hài của đời sống

(Côn các nội hàm về cái đẹp, bi, hài nghệ thuật đẹp bi, bài không được phần ánh đầy đủ

“Công có hệ thống mỹ bọc lại lấy nguyên lý xuất phát từ tình cảm thẩm mỹ nên hệ phạm trò và khái niệm của nó '€hỉ xoay quanh những yếu tố tình cảm, thị hiếu lý: tưởng thẩm mỹ Thí dụ hệ thống tiểu cảm của Cantơ coi việc tự nhận thức mình là cơ sở của mỹ học Nếu nguyên lý xuất

phát là nghệ thuật, thì hệ khái niệm, phạm trù của mỹ học

sẽ phản ánh chủ yếu là các quan hệ về cảm hứng nghệ

thuật, sáng tạo nghệ thuật loại hình nghệ thuật, giá trí

nghệ thì và công chúng nghệ thuật Thí dụ hệ thống

mỹ học của Hêghen đã coi cái đẹp nghệ thuật cao hơn cái

.đẹp cuộc sống Mỗi nguyên lý xuất phát đều có thế giồi quan riêng vÀ (đều có cách giải thích cơ cấu phạm trù, khái niệm mỹ học khác nhau Đứng trên quan điểm tiến bộ xã hội và quan

điểm duy vật biện chứng mỹ học hiện đại có một hệ các phạm trù và khái niệm phong phú, nhiều mật, phan ánh đã dang che hoạt động thẩm mỹ và thế giới thẩm mỹ của con

“người Cơ sở nguyên lý xuất phát của mỹ học tiến bộ hiện đại

'Yào chủ thể thẩm mỹ hiện diện trong nghệ thuật Quan hệ

thẩm mỹ được mô hình hóa như sau:

Trang 33

tạo nên một quan hệ cao nhất của cái thẩm mỹ trong nghệ

thuật Chính vì điểu đó mà Hêghen đã gọi hiện thực cao hơn

tổn tại Cái đẹp của nghệ thuật cao hơn cái đẹp của tự nhiên

Quan hệ thẩm mỹ chứa đựng: cái thẩm mỹ khách quan cái

thẩm mỹ chủ quan và cái thẩm mỹ nghệ thuật

Cái thẩm mỹ khách quan ehính là đối tượng thấm mỹ

Đối tượng thẩm mỹ bao gồm 5 phạm tra cg bin: efi đẹp,

cái xấu, cái bí, cái hài, thống phạm trả của đổi tượng thẩm mỹ như sau: cái cao cả Ta có thể mô hình hóa hệ

Thể, | - Cái bí và các dạng phái sinh (chết chó, thống

Thể" | khổ quần qui bì đáo - Cái hài và các dạng phái sinh (đáng cười, châm

biếm, trào lộng, đã kích

- Cái cao cả và các dạng phái sinh (hùng tráng vĩ cđại, hùng vi uy nghỉ )

“Trong kết cấu của đối tượng thẩm mỹ cát dep là phạm

trù trung tâm Các phạm trù cái xấu cái bi,cái hài, cái cao

ce đều tồn tại xung quanh cái đẹp,

"

Cải thẩm mỹ chủ quan chính là chủ thể thẩm mỹ Chủ thể thẩm mỹ bao gồm các hoạt động thẩm mỹ của cơn người Đ là các loại hoạt động: thưởng thức, đánh giá, sáng tạo (Các hoạt động thẩm mỹ có hai chiếu: chiếu hướng nội và

“hiểu hướng ngoại Cả hai chiều đều thông qua các giác quan thẩm mỹ, đó là giác quan tai, mất, các khả năng thẩm mỹ

“của cơ thể Hoạt ding của chủ thể thẩm mỹ được bao chứa trong hệ khái niệm: nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ Ly

“tưởng thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ Ta có thể mô hình hóa

"bệ thống khái niệm của chủ thể thẩm mỹ như sau:

Cha quế | - Chủ thế thường ngoạn thẩm mỹ

‘mj trong nghệ thuật biểu hiện ở cả người thưởng thức, người ‘sing tạo và bản thân tác phẩm nghệ thuật, Cái thẩm mỹ) 'trong nghệ thuật tồn tại dưới dạng tác phẩm nghệ thuật Kết cấu của phạm trủ nghệ thuật trong mỹ học là kết cấu

“của thế giới nghệ thuật, bao gốm: sáng tạo nghệ thuật; cảm thụ nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật; quá trình nghệ thuật; lại bình nghệ thuật; bản chất xã hội của nghệ thuật; đặc vựng nghệ thuật và phê bình nghệ thuật Mỗi phạm trù này đếu có một đặc trưng riêng: a) Sáng tạo nghệ thuật có đặc trưng cảm hứng nghệ thuật `) Cảm thụ nghệ thuật có đặc trưng khoái cảm nghệ thuật

Wn’ vets gg

Trang 34

.©) Tác phẩm nghệ thuật có đặc trưng eơ cấu nghệ thuật

4) Quá trình nghệ thuật có đặc trưng lịch sử nghệ thuật

©) Logi hình nghệ thuật có đặc trưng hình thái nghệ

thuật

Ð Bản chất xã hội của nghệ thuật có đặc trưng dân tộc,

giai cấp và thôi đại của nghệ thuật

J) Đặc trưng chung của phản ánh nghệ thuật là hình

tượng và phản ánh nghệ thuật

®) Phê bình nghệ thuật có đặc trưng đánh giá nghệ thuật

Ngoài phần lịch sử mỹ học hiện dai do ba bộ phận chính

hợp thành: đối tượng thẩm mỹ, chủ thể thẩm mỹ và nghệ

thuật, chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau Cả ba bộ

phận này đều dựa trên một nguyên lý xuất phát là lấy quan

hệ thẩm mỹ làm nền tảng cái đẹp làm trung tâm, nghệ

thuật là biểu hiện tập trung nhất Cơ cấu này thống nhất với

đối tượng và nhiệm vụ của mỹ học Việc phân chia c cấu này

làm ba bộ phận chỉ có ý nghĩa tướng đối để tiện cho việc

giảng dạy và nghiền cứu Thực chất mỗi bộ phận đều là biểu

hiện của cả quan hộ chủ thể thẩm mỹ và đối tượng

THỊ - QUAN HỆ GIỮA MỸ HỌC

‘VOI CAC KHOA HOC KHAC

Mỹ học là một khoa học triết học Các phạm trù mỹ học

iu khái quát các quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện

thực Nó cũng gắn bố với cơ sở hạ ting và kiến trúc thượng

tầng Mỹ học nghiên cứu tính quy luật chung của cái dep

trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong tâm hồn và trong

nghệ thuật

Lich sit cde tf tung mỹ học gắn liền với lịch sử của triết

học Trong các hệ thống triết học, mỹ học luôn luôn là một bộ

0

" phận hợp thành Mỹ học chịu ảnh hưởng mạnh mê của triết

học Các nhà triết học có thế ii quan như thế nào thì quan điểm mỹ học chịu bị ảnh hưởng bởi thế giới quan dy, Canta

Tà nhà triết học duy tâm chủ quan nên các quan điểm mỹ học

‘ein ông thể hiện rất rõ sự chỉ phối của ý niệm tuyệt đổi 'Hêghen là nhà duy tâm khách quan nên mỹ học của ông thể hiện rất rõ sự chỉ phối của tỉnh thần tuyệt đ, tình thần vô

“thượng, C Mác, Ph Ảngghen, V.L/ênin là những người theo 'ehủ nghĩa duy vật biện chững, các quan điểm mỹ học của các lông dựa trên phép biện chứng duy vật và quan điểm thực tiên Lý luận phản ánh của V.Lênin tạo cơ số cho mỹ học di sgâu vào những lĩnh vực sâu kín của cuộc sống `

“Các nhà triết học lớn đếu xây dựng hệ thống mỹ học của mình trên ba trục Chân, Thiện, Mỹ Dù là hệ thống triết học

"nào thì các nhà triết học cũng quan tâm tôi mật này hay mật khác của quan hệ thẩm mỹ Có thể nói cái chân, cát thiện,

“cái mỹ là những chị em sinh ba [Mg học có quan hệ bản chất với đạo đúc học Các phạm

“tù thiện ác, lương tâm, danh dự, nghĩa vụ, ý nghĩa cuộc sống, nhụ cầu đạo đức, luân lý có liên hệ mật thiết với các phạm trà mỹ học Không thể làm sáng tổ các phạm trù cái đẹp, cái xấu của mỹ bọc nếu tách chúng khi việc giải thích eái thiện, cái ác của đạo đức học Ngay các nhà triết học duy tâm cũng đặt việc nghiên cứu các quan hệ đạo đúc gắn liển

‘vdi các quan hệ thẩm mỹ

Những nhà mỹ học mácxít và nhiều nhà mỹ bọc khác đã từng coi quan hệ đạo đức là cơ sở của quan hệ thẩm mỹ [Mg học có ảnh trở lại với đạo đúc học Cả hai khoa học này cùng khái quát những hiện tượng đạo đúc và thẩm my của cuộc sống Chúng có đường giáp ranh khi bàn đến cái (đẹp và cái xấu, cái cao cả và cái thấp hên của con người Mỗi

n

Trang 35

phát hiện của đạo đức học làm sâu sắc thêm những phạm

trù của mỹ học và mỗi phát hiện của mỹ học làm đa dạng

hóa các phạm trò cin đạo đức hoe

My hoe cũng có quan hệ mật thiết với văn học và nghệ

thuật và là những phạm trù định hưởng cho vân hóa học

'Khi xác định những nét đặc trưng của mỗi nến van hóa, văn

hóa thẩm mỹ bao gồm eä văn hóa nghệ thuật và luôn luôn

quan tâm đến trình độ phát triển của con người Nếu vân

"hóa học coi trình độ người là đối tượng trung tâm thì mỹ học

không tách rồi quan hộ thẩm mỹ của con người Văn học,

nghệ thuật làm phong phú và cụ thể hóa các tư tưởng mỹ

"bọc Mỹ học giúp vần hóa và nghệ thuật đi sâu phát hiện bản

chất các đối tượng mà chủng nghiên cứu, đặc biệt là các hệ thống giá trị

Sự tướng tác giữa mỹ bọc với văn học và nghệ thuật là sự

tương tác giữa phương pháp luận chung và phương pháp

Tuận cụ thể Mỹ học là phương pháp luận chung nó xây dựng

một số phạm trù cho nghệ thuật học và văn hóa, n6 ba dip

"những thiếu hụt của mỹ học khi phải xâm nhập vào các hiện

tượng cụ thể,

Nhiều người đã nhẩm lẫn mỹ học và nghệ thuật học

đồng thời các phương pháp của mỹ học với nghệ thuật học

Mỹ học chỉ tiếp thu các khía cạnh hợp lý các khoa học cụ thể

Nếu biến phương pháp luận của các khoa bọc cụ thể làm

phương pháp luận chung để nghiên cứu các hiện tượng thẩm

mỹ thì sẽ làm chơ mỹ học nghèo nàn đi rất nhiều

“Quan hệ giữa mỹ học với tâm lý học và xã hội bọc: Mỹ học

là khoa bọc xã hội nhân vân, gắn liền với đời sống xã hội của

con người Khi nghiên cứu các như cầu thẩm mỹ, lý tưởng

“cho xã bật học nghệ thuật và tâm lý sảng tạo Mỹ học có thể chỉ ra các con đường cho tâm lý sáng tạo bằng các để nahi

“khám phá các nơi liên tưởng, tưởng tượng của ộc mớ

Mỹ bọc là một khoa cắn được đổi xử một cách khoa học

“Moi sự học tập và giảng dạy tùy tiện thiếu khoa học sẽ

“mang lại những nguy hiểm lôn cho sự phát triển xã hỏi Trong dòng chảy hiện nay, mỹ học sẽ bắc nhiều chiếc cầu để

‘che din tộc hiểu biết lẫn nhau và trao đổi các nến văn mình trên cơ sở của cái đẹp

Ta

Trang 36

'CHƯƠNG Iĩ

CAC QUAN HỆ THẤM MY CUA CON NGƯỜI

VỚI ĐỜI SỐNG HIỆN THỰC

1- QUAN HỆ VÀ QUAN HỆ THẤM MỸ

Như trên đã trình bày, đối t của mỹ lac

unghie cde quan thi wp cde en au vhf

thực Vấn để ở đây là phải làm sáng tổ quan hệ thẩm mỹ, nội

ddung co bin và đặc trưng của nó eo với các quan hệ khác

‘Con người có rất nhiều mối quan hệ với thế giới, và chính

thế mà cuc sống của cơn người vô cùng phang phú Trước

hết, con người có quan hệ với tính vật lý của thế giới Cơ thể

con người có trọng lượng tốn tại trong không gian và thời

Í ï bởi quy luật vạn vật hấp Ẵ

P nhường n tôngdie hi niên ce

lượng “Trên bình điện vật lý, eon người không có đặc trưng

riêng so với các hiện tượng vật lý khác Xét vế phương diện

vật lý thì không thể phản ánh hết tính phong phú và phức

tạp của con người

Con người là một thực thể sống động, là “sinh vật, vì

ead Seal ses asa a ei ge ad ne kế

mối quan hệ của con người với các sinh vật khác trong hiện

1

“thực Về phương diện này, con người là một động vật củo cấp,

“Mi quy định bờ các quan hệ inh học Con người phải trao đổi

“hít với môi trường dể tổn tại Các nhụ cầu xinh lý thường

“Tuyên được lập lại ở con người Đồ à các như cẤu An, ô, mộc

“thi lĩnh đổi tượng Sự hoạt động của các nhu cầu tạo re

“ác quan hệ thực dụng của con người đối với hiện thực, Các

“Sun hệ này phúc tạp hón các quan hệ vật lý Đổ vớ con

“Ngư, quan hệ sịnh họ là quan hệ căn bản cho cơ thể sống

ei nó như các cơ thể sống khác

'Ngoài hai quan hệ cơ bản đó với hiện thực, con người có

"những quan hệ độc trưng riêng của mình

L Để thỏa mãn các nhu cầu vật lý, nhu cầu sinh học con

“ngs đã không chỉ sử dụng những sản phẩm sẵn có trọng tự

“Bhiên mà còn tạo rà những vật phẩm để thôn mãn những

“nhụ cầu của mình Chúng ta gọi cơn người là động vật biết

“Ko động sản xuất Lao động sản xuất là đặc trưng riêng biệt “Sa con người trong thế giới hiện thực Lao động sản xuất đã

"go ra những sự vật môi để thỏa mãn như cầu của con người “Người ta phát hiện ra loài Antrdpôit là tổ tiên của con người

“Biết duy trì hướng thích nghĩ, có sự phát triển của não và

“ela hai bàn tay Và từ đây con người đã trở thành một động Vật xã hội Sau khi cải tạo tự nhiên, do nhụ cầu tổn tại và phát triển con người đã tạo ra các quan hệ xã bội Các con

"người đơn lễ có nhủ cầu tốn tại với những người khác thành

Trang 37

Khoa hoe mỹ học khác với các khoa học khác ở chỗ nó tập

trung nghiên cứu các quan hệ thẩm mỹ Các quan hệ vật lý,

quan hé sinh học, quan hệ thực dung của con người đã có các

khoa học khác nghiên cứu Cùng một hiện tượng mà con

"người tiến hành, nhiếu khoa học khác nhau có thể nghiên

cứu, Chẳng hạn, mộc người bơi thuyền trên biển, nhà vật lý

+6 thể nghiên cửu các quan hệ vật lÿ của con người với hiện

bực: nhà sinh học có thể nghiên cứu các quan hộ sinh học

cin con mEưỞi trong việc bơi thuyến, và nhà mỹ học lại

"nghiên cứu vẻ đẹp, tâm hồn sảng khoái, bầu trời cao rộng,

"nước biển trong xanh trong lúc con người dua thuyền,

(Con người nằm trong quan hệ khác nhau với hiện thực

Xung quanh Các quan hệ đó, một mật được quy dịnh bồi

và không gian với những tư cách: quan hộ vật lý, quan hệ

sảnh học, quan hệ thực dụng, quan hệ thẩm mỹ

` thúc của cơn người rất phúc tạp Nó chia làm ba mặt

cân bản: tình cảm, lý trí và ý chí Mì quan hệ qua lại của

“on người với toàn bộ hiện thực là rất phức tạp Lúc nào con người là một chủ thể thực dụng chủ thể vật lý, chủ thể sinh

học, chủ thể thẩm mỹ là do hoạt động thực tiến của con

"gườt quyết định Chính mỹ học mácxít đã nhận thấy điều

46, Tuy nhiên, cái gọi là quan hệ thẩm mỹ đơn giản thì

không phải đến mỹ học mácxít mồi có

(Khái niệm quan hệ thẩm mỹ được các nhà mỹ học duy

vật nêu lên tir thé ky XIX Nam 1855, nhà mỹ bọc duy vật

dân chủ cách mang Nea Tsécnuséprki đã viết tác phẩm

Quan h¢ thẩm mỹ của nghệ thuật đổi uới hiện thực, rất nổi

tiếng Trong tác phẩm này, khái niệm quan hệ thẩm mỹ đã

76

_

'eả bi hài tốn tại trong cuộc sống và các hiện tượng này là

“nguồn gốc của tình cảm thẩm mỹ của con người và giá trị

im mỹ của nghệ thuật

Tớ những tư tưởng mỹ học các nhà đuy vật, mỹ bọc

Mác - Lênin khí khẳng định quan hệ thẩm mỹ là aa tượng

ee eee eres

E=.

'tượng thẩm mỹ đếu có mối liên hệ bên trong và tương quan

đlân nhau với các quan hệ khác, Quan hệ thẩm mỹ đó là

“Quan hệ của con người về mặt thẩm mỹ Đó là quan eres en aaa eee hệ của

ere careers

“tập, trong cuộc sống Một buối sáng mai dậy, người ta nhìn

'WWấy bình mình rụng rô lòng phấn chấn vui thích khôn

'Nguôi Tình cảm phấn khải, sung sướng đó gắn nhiến với “ 5a

“thgười Đó là một trong những quan hệ thẩm mỹ của con ese -.-—-—— TT

“Khách thú khi ngắm nhìn các thành quả lao động của mình

“Niếm vụi tràn ngập về các giá trị của công việc mình làm Đó '#ông chính là một quan hệ thẩm mỹ của con người đối với

Trang 38

hệ thẩm mỹ Quan hệ thẩm mỹ không phải là quan hệ sẵn

có Những xúc động, niềm vai sưởng của con người có ý nghĩa

thẩm mỹ chân chính bởi lao động đà sáng tạo ra cái môi, làm

ra một vật hữu ích cho xã bội Lao động khi tạo được ra một

sản phẩm mới thì cũng tạo ra sy ty tin, tài năng, trí tuệ

tình cảm của con người Lao động đã mang các giá trị bên

trong của con người thể hiện ra bên ngoài Các giá trị ấy

được mọi người tôn trong Quá trình lao động ấy cũng là quá

trình con người hiếu biết các giá trị cuộc sống để làm phong

phú bản thân mình Vì thế, người ta thường nói, lao động là

nguồn gốc của mọi quan hệ thẩm mỹ, Trong lao động con

người vừa đổi mới cuộc sống và cuộc sống cũng lại làm đổi

mới eon người Đó là quá trình hoàn thiện cuộc sống Lao

động, sáng tạo là điểm tập trung của quan hệ thẩm mỹ, là

chỗ khác nhau giữa con người có ý thức thẩm mỹ và con vật

không có ý thức thẩm mỹ

C Mác đã chỉ ra rằng súc vật chỉ sin xuất theo nhu cầu

“sống của nó, trải lại, cơn người tiến hành hoạt động sản xuất

ngay cả khi thoát khỏi như cầu vật chất Con vật chỉ hoạt

“động theo bản năng còn hoạt động sẵn xuất của con người là

"hoạt động có mục đích có định hướng Trong hoạt động sản

xuất vật chất, con người không chỉ sing tạo ra của cải vật

chất để duy trì sự tổn tại của bản thân mình, mà còn nhào

nặn nó theo quy luật của cái đẹp, sáng tạo ra những giá trị

thẩm mg,

Lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học, C.Mác đã khẳng

định rằng lao động là nguồn gốc của mọi quan hệ thẩm

mỹ, Hoạt động sản xuất của con người là vương quốc

“hân chính của các quan hệ thẩm mỹ Bằng lao động của

minh, con người đã phát hiện ra quan hệ thẩm mỹ với tự

nhiên và lâm cho thiên nhiên có giá trị thẩm mỹ và chủ

7

thế thực dụng người trở thành chủ thể thẩm mỹ

Lao động sáng tạo ra giá trị mới theo quy luật của cái

dep trong đó sáng tạo nghệ thuật là biểu hiện tập trung của

táng tạo thẩm mỹ Sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật

là hoạt động mang bản chất người, mang tính chất biến đổi

“đối tượng tạo ra một sản phẩm thẩm mỹ mới chưa Lừng có trong tự nhiên Đó là một quan hệ thẩm mỹ rất cơ bản, Quan

hệ thẩm mỹ còn được biểu hiện trong đánh giá thẩm mỹ Đánh giá thẩm mỹ là phán đoán về giá trị thẩm mỹ của Xkhách thể, của tác phẩm đồ đối với cơn người, với xã hội Đánh giá thẩm mỹ là quá trình thẩm định mức độ phô hợp Kồa khách thể, của tác phẩm đối với lý tưởng thấm mỹ, với 'hững chuẩn mực, những tiêu chí nhất định, mà những

“chuẩn mục, những tiêu chí này được rút ra từ thực tiễn xã

"hội và nghệ thuật Đánh giá thẩm mỹ là hoạt động phúc tạp

'ủa quan hệ thẩm mỹ 'Nó là tống hợp của các yếu tố như: đối

“tượng đánh giá chủ thể đánh giá, cơ sở đánh giá và tính chất

“đả nh giá

Đối tượng của hoạt động đánh giá ở đây là đời sống thẩm

“mỹ, trong đó có nghệ thuật với tất cả tính độc đáo của nó (Nghệ thuật là sản phẩm đặc biệt của sự sáng tạo và là đỉnh

‘eno cha che gid tri thiim mỹ Hiện thực cuộc sống bao giờ

teũng là cội nguồn nội dung của nghệ thuật Cái đẹp trong

"nghệ thuật trước hết là sự phản ánh cái đẹp trong cuộc sống

"hưng trong nghệ thuật, cái đẹp của cuộc sống được thể hiện ập trang hơn Tác phẩm nghệ thuật chính là nơi hội t của

‘efi đẹp, là đỉnh cao của quan hệ thẩm mỹ của con người với thế giới Vì thế, đánh giá thẩm mỹ về bản chất là một quan

thẩm mỹ năng động ane nh bat mt ton định á về đã số

thẩm mỹ nào, đánh giá nghệ thuật là biểu hiện tập trung

70

Trang 39

của hoạt động dánh giá Quan hệ thẩm mỹ trong dánh giá

nghệ thuật có cơ sở khách quan bao gồm chuẩn mục, những:

tiêu chí thẩm mỹ như: tính tư tưởng tính nghệ thuật, tính

“điển hình, tính đáng, chân lý nghệ thuật Các tiêu chuẩn

này liên kết với nhau tạo rà một hệ thống tiêu chuẩn có khả

năng vạch ra được giá trị của một hệ thống thẩm mỹ cụ thể

trong tính phong phú, muôn vẻ của nó Đương nhiên, hệ

thống các tiêu chuẩn của sự đánh giá này không phải hoàn

toàn cố định và cứng nhắc Tùy theo tính chất của khách thể

thẩm mỹ, mà tiêu chuẩn này hay tiêu chuẩn khác được nhấn

mạnh trong quan hệ thẩm mỹ,

Đánh giá thẩm mỹ không phải là dánh giá thuần túy

lögíc Trong đánh giá thẩm mỹ, những cảm xúc thẩm mỹ do

tác động của đời sống tạo nên là không thể thiếu được

Đương nhiên, những cảm xúc thẩm mỹ ấy chỉ có thể làm

xuất phát điểm, hỗ trợ cho sự đánh giá Tuyệt đối hóa mật

cảm tính trong đánh giá thẩm mỹ, sẽ dẫn tôi những sai lắm,

phủ nhận những giá trị thẩm mỹ khách quan, đích thực

trong đời sống thẩm mỹ

Đánh giá thẩm mỹ cũng như mọi hoạt động đánh giá nói

chung chủ thể đánh giá đếu phải cân cứ vào những tiêu

chuẩn nhất định, những tiêu chuẩn đó là cơ sở khoa học cho

mọi hoạt động đánh giá Do đặc điểm của sự đánh giá thẩm

mỹ là sự thống nhất giữa phương pháp phân tích khoa học

và năng lực cảm thụ trực tiếp, cho nên trong quá trình đánh

giá thẩm mỹ, chủ thể vận dụng các tiêu chuẩn, mà các tiêu

chuẩn này gắn kết với nhau không phải theo một cơ chế logic

nghiêm ngật, ứng nhắc như trong đánh giá khoa học,

(uuan hệ thẩm mỹ xuất hiện trong đánh giá thẩm mỹ có

sự thống nhất giữa tình cảm và lý trí, giữa kinh nghiệm cá

nhân và các chuẩn mục xã hội Đánh giá thẩm mỹ không chỉ

so

ta hoot động riêng của thị hiếu thẩm mỹ, nàng lục đánh giá thẩm mỹ là năng lực của toàn bộ thế gii tính thần của con người, từ quan điểm lý tưởng thẩm mỹ, trì thức, vốn kinh

"nghiệm, tình cảm, thị hiểu và không thể không nói đến tài Tăng của chủ thể đánh giá Theo cơ chế này, chủ thể có thể

"nhấn mạnh tiêu chuẩn này hoặc để cao tiêu chuẩn khác, có Thể đặc lên hàng đấu hoặc làm nổi bật một nhóm tiêu chuẩn nào đó trong tổng thể các tiêu chuẩn đánh giá, nhờ đó, chủ thể có thể tiếp cận khách thể, tiếp cận tác phẩm ở những

“chiếu, cạnh nhất định Đánh giá thẩm mỹ mà đặc biệt là

“đánh giá nghệ thuật là một hoạt động rất phúc tạp của quan

hệ thẩm mỹ

Quan bệ thẩm mỹ cũng thể hiện rõ ð dường thức dhẩm

"mỹ Thường thức thẩm mỹ là hoạt động có tính tự nguyện ý

do cia timg chủ thể Thường thức thẩm mỹ là hoạt động do chủ thể tự lựa chọn Thường thức thẩm mỹ là hoạt động của toàn bộ thế giới nội tâm của con người, chịu sự chỉ phối của Tmột loạt các vếu tổ bên trong như: quan điểm, lý tường thẩm

mỹ, tình cảm, trì thúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ và sỰ tig tri, Wi sống đạo đúc, sự am hiểu nghệ thuật, điểu kiện tâm sinh lý

"rong tất cả những yếu tố tham gia vào hoạt động thường thức thẩm mỹ của chủ thể, yếu tố trì thức thẩm mỹ tạo rA sự nhạy cảm, tinh té trong thưởng thúc thẩm mỹ Các quan điểm và lý tưởng căng có dự phần vào hoạt động thưởng thức thẩm mỹ, nó định hướng cho tình cảm và thị hiểu thẩm mỹ

“O6 thể nói, các quan điểm và lý tưởng thẩm mỹ cùng khuynh hướng trong thưởng thúc, nhưng đây là khuynh hưởng chung, khuynh hưởng nhớm của các tập đoàn người, khuynh hưởng giai cấp

Mỹ học mácxít dã khẳng định, thưởng thức thẩm mỹ là

Trang 40

một biếu hiện tổng quất của quan hệ thẩm mỹ Nói đến

thưởng thức thẩm mỹ là nói đến hoạt động của chủ thể

“Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt dong die thù của con người,

của từng chủ thể Thưởng thức thẩm mỹ không phải là mộ

hoạt động tùy tiện mà là một hoạt động lựa chọn Sự lựa chọn trong hoạt động thưởng thúc thẩm mỹ không phải

thuần tủy do lý trí, mà còn chủ yếu do tình cảm trong quan

hộ thẩm mỹ quyết định

“Thường thức thẩm mỹ là hoạt động có mục dích của chủ

thể Chủ thé thưởng thúc có thể có nhiều mục địch, nhưng

mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo ra sự thích thủ, nhằm

đạt tới khoái cảm thẩm mỹ Đương nhiên, không phải là

khoái cảm thẩm mỹ thông thường mà là khoái cảm có cường

độ cao nhất, lâu nhất Nếu trong quá trình thưởng thức

thẩm mỹ, ch thể không dạt được khoái cảm thẩm mỹ hoặc

khoái cảm không cao thì như vậy hoạt động thưởng thức đó

chưa đạt được mye dich Vi như, nghe một bài hát hay không

chỉ làm cho chủ thể thích thú đấm say lúc đó, mà ngay cả

khi bài hát đã qua rồi thì dư âm của nó vẫn còn làm ngây

"ngất người thưởng thúc, những giai điệu của bài hát vẫn làm

ngân lên trong lòng họ làm cho họ muốn được nghe lại,

muốn được cùng bát lên để giữ mâi cảm xúc huyền diệu đó,

thưởng thức như vậy mối trọn vẹn, mới đúng nghĩa của nó

“rong quá trình thưởng thức thẩm mỹ chủ thể đạt được

khoải cảm càng cao càng tất, càng lâu bón càng hay Cho nên

phải có quan hệ thẩm mỹ với đối tượng mới có thưởng thức

thẩm mỹ

Nói quan hệ thẩm mỹ xuất hiện trong quá trình sáng tạo,

“đánh giá và thưởng thức thẩm mỹ, có nghĩa là quan hệ thẩm

mỹ xuất hiện mọi nơi trong cuộc sống, trong lối sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày

82

Khia cạnh thẩm mỹ của lối sống cũng là biếu hiện rất

'eø bản của quan hệ thẩm mỹ trong đời sống Nói cái đẹp là

trung tâm của quan hệ thấm mỹ, vì cát đẹp gắn bó toàn

điện với cuộc sống và lối sống của con người Nó gắn với môi trường sống phương thức và nhân cách sống Một lối sống đẹp phải là lối sống có đạo đức, nhân đạo Lối sống

đạp phải gắn liền với các quan hệ thẩm mỹ hài hòn gi0a

‘eh nhân và cộng đồng giữa thể chất và tỉnh thần, giữa

tình cảm và lý trí Sự phát triển tự do của mỗi người phải

là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người Lai

“ống đẹp phải là lối sống yêu lao động, có thái độ tự giác trong lao động, vươn lên làm chủ khoa học, kỹ thuật, phai

Lên giữ và bảo vệ môi trường (Quan hệ thẩm mỹ được thể hiện trong lối sống gắn bố 5 'hật chế với cái hữu ích, cái hài hỏa các giá trị nhân ái và sự

'tôn trọng lẫn nhau

Lãnh vực phổ biến nhất của quan hệ thẩm mỹ là cái đẹp

trong đời sống hàng ngày Đời sống hàng ngày của con người

là đa dạng phức tạp Nó gắn với cái ăn, cái mặc, cái ở của

teen người Ấn có thẩm mỹ mặc có thẩm mỹ, ở có thẩm mỹ ino tiếp có thẩm mỹ Đó là sự vận động của quan hệ thẩm

mỹ trong đời sống của con người

Sống vân mình, hạnh phúc là một đậc trưng quan trọng

“của quan hệ thẩm mỹ trong dồi sống Ngôn từ gắn với giao

tiếp xã hội Lãi hay, ý đẹp là gắn với vàn minh, lịch sự và sự Kiáo dục xã hội lời nói phải gắn với việc làm ‘Tye ngữ Việt Nam có câu:

Xồi chín thí nên lôm mới,

Nói mười làm một, kẻ cười người chê

“Chúng ta đang xây dựng các quan hệ thẩm mỹ môi Cần

thiết phải đưa cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng vào đời sống

Ngày đăng: 03/11/2023, 21:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thành  một eở cấu  có sự ổn  định  tương đối về cấu trúc, - Giáo trình mỹ học đại cương
nh thành một eở cấu có sự ổn định tương đối về cấu trúc, (Trang 48)
Hình  ảnh một bông hoa để gợi  nhớ và vĩnh cửu hóa  cảm giác - Giáo trình mỹ học đại cương
nh ảnh một bông hoa để gợi nhớ và vĩnh cửu hóa cảm giác (Trang 119)
Hình  tượng. - Giáo trình mỹ học đại cương
nh tượng (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w