Kí hiệu học không chỉ được vận dụng ở các nước từ Nga qua Mĩ, từ Tây âu cho đến Đông Âu, mà ở Việt Nam kí hiệu học cũng được rất nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm và được khỏi xướng bởi nhà ng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ ANH PHƯƠNG
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ THƠ Ý NHI
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ ANH PHƯƠNG
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ THƠ Ý NHI
ĐÀ NẴNG – 2020
Trang 6THE IMAGE OF THE WOMAN IN POETRY OF LAM THI MY DA AND Y
NHI FROM THE SEMIOTICS
Major: Linguistic
Full name of Master student: Nguyen Thi Anh Phuong
Supervisor: Associate Professor Ph.D Tran Van Sang
Traning institution: Da Nang University of Education
Abstrack: The thesis points out the aesthetic values through the images of women in the poems of Lam Thi My Da and Y Nhi We have a comprehensive overview of the research situation of the female image, the trends of studying the female image from the standpoint of semiotics From here we statistically and classify the signals Aesthetics, the symbolic indicating only the woman to better understand the position of the woman in modern poetry Through aesthetic cues pointing to women in poetry, it helps us to have a more realistic view of the values and qualities of women, and thereby reflect reality as well as express feelings feeling, thinking about women in society To do this we have
to implement research tactics with methods such as classification, description… If successful, the thesis will provide a basic picture of the female image in the poems Lam Thi My Da and Y Nhi The dissertation will be useful materials and documents for language, literature, linguistics, social sciences and humanities students and staff working in the education sector.The next research direction in the coming time will explore the image of women in society today, in order to have an overview of the role, position and good values and reflect the existence in society for women.We also do not forget to send the most sincere thanks to Assoc.Prof.Dr Tran Van Sang for enthusiastic guidance, orientation, giving the best method to better complete the thesis, meet the schedule and leave a lot of love Nice feeling between students and lecturers I sincerely thank
Key words: The image of the woman in poetry; The woman in the poems Lam Thi My Da and Y Nhi; The image of a woman from a semiotics perspective; Modern female poet; Women and poetry
Associate Professor Ph.D TRAN VAN SANG NGUYEN THI ANH PHUONG
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp, thủ pháp, nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 6
1.1 Lí thuyết về kí hiệu học 6
1.1.1 Về khái niệm kí hiệu, tín hiệu, dấu hiệu 6
1.1.2 Kí hiệu học hai bình diện của F de Saussure 8
1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pierce 10
1.1.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương 11
1.2 Lí thuyết hoạt động giao tiếp 18
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 18
1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương 20
1.3 Giới thiệu về tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi 23
1.3.1 Lâm Thị Mỹ Dạ - tác giả và tác phẩm 23
1.3.2 Ý Nhi - tác giả và tác phẩm 24
1.4 Tiểu kết 25
CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ THƠ Ý NHI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 26
2.1 Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 26
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 26
2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể 29
Trang 82.2 Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Ý Nhi 49
2.2.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Ý Nhi, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể 49
2.2.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Ý Nhi , xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể 54
2.3 So sánh sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi 69
2.3.1 Điểm tương đồng 69
2.3.2 Điểm khác biệt 71
2.4 Tiểu kết 72
CHƯƠNG 3 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ THƠ Ý NHI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 73
3.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 73
3.1.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 73
3.1.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 79
3.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Ý Nhi 90
3.2.1 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ trong thơ Ý Nhi 90
3.2.2 Giá trị biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ người phụ nữ trong thơ Ý Nhi 97
3.3 So sánh hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi trên bình diện cái được biểu đạt 107
3.3.1 Điểm tương đồng 107
3.3.2 Điểm khác biệt 109
3.4 Tiểu kết 111
KẾT LUẬN 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- CĐBĐ : Cái được biểu đạt
- CBĐ : Cái biểu đạt
- THTM : Tín hiệu thẩm mĩ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Kết quả khảo sát tín hiệu hằng thể chỉ hình tượng người phụ nữ
2.2 Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể chỉ người phụ
2.3 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người phụ
2.4 Kết quả khảo sát về các tín hiệu là danh từ/ danh ngữ trong thơ
2.11 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người phụ
2.12 Kết quả khảo sát tín hiệu kết hợp là danh từ trong thơ Ý Nhi 57 2.13 Kết quả khảo sát, tín hiệu kết hợp là động từ trong thơ Ý Nhi 59 2.14 Kết quả khảo sát biến thể kết hợp là tính từ trong thơ Ý Nhi 63
2.15 Kết quả khảo sát các biến thể quan hệ chỉ thời gian trong thơ Ý
2.16 Kết quả khảo sát các biến thể chỉ không gian trong thơ Ý Nhi 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, lí thuyết kí hiệu học – một lí thuyết nền tảng của ngôn ngữ học hiện đại đủ sức phát hiện và lí giải các thực tế mới trong nghiên cứu và ứng dụng ngôn ngữ Ngày nay, cùng với xu hướng tiếp cận mới, nhằm vận dụng lí thuyết
kí hiệu học để phân tích, giải mã các tác phẩm văn chương, cách tiếp cận này được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhờ đó, mỗi cá nhân có thể tự khám phá thế giới văn chương riêng trên nhiều phạm vi khác nhau
Hơn nữa, nghiên cứu bình diện tạo nên kí hiệu theo cơ chế của kí hiệu học thì tín hiệu thẩm mĩ được xem là một loại tín hiệu văn chương đặc biệt, có tính cấu trúc, tính hàm súc đa nghĩa và tính biểu trưng hóa cao Và xét ở bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong hệ thống tín hiệu thẩm mĩ thì nó có mối quan hệ từ chiều sâu, có tính hai chiều cho nên quá trình tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ cũng là quá trình tiếp cận, lí giải những ý nghĩa cuộc sống đi vào ngôn ngữ, vào ngôn từ nghệ thuật rồi lại trở về cuộc sống với một chất lượng ưu việt hơn Qua đó có thể ứng dụng vào việc dạy – học văn trong nhà trường ở giai đoạn hiện nay
Đến với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi – những nhà thơ nữ tài năng của nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta sẽ được nhìn ngắm, được chiêm ngưỡng thỏa mãn, được no say nhãn quan, được đắm chìm vào một thế giới thơ mang một thứ màu sắc riêng, đầy rung động nội tâm nhưng cũng đầy khát khao mãnh liệt và rất tinh tế, ý nhị trong việc sử dụng ngôn ngữ Đó là những vần thơ giản dị mộc mạc nhưng có thể xây dựng lên những hình tượng người phụ nữ đẹp lấp lánh như con người thi sĩ của họ
mà ít nhà thơ nữ nào có được Bởi vậy càng đi sâu tìm hiểu giá trị nghệ thuật ngôn ngữ thơ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi chúng ta mới thấy được cái hay cái đẹp cái độc đáo của hai nhà thơ này ở nhiều bình diện khác nhau như giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh, Tuy nhiên, việc xem xét hình tượng/biểu tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ của hai tác giả này dưới góc độ ngôn ngữ học bằng lí thuyết kí hiệu học vẫn
còn là một khoảng trống Do vậy, đề tài luận văn của chúng tôi nghiên cứu Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi dưới góc nhìn kí hiệu học là một
hướng nghiên cứu mới, có lí luận và tính thực tiễn cao trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương từ cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ với văn chương hiện nay
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lí thuyết kí hiệu học (semiotics) ra đời gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu ngôn ngữ và nhân học của thế kỉ XX Có thể nói như vậy, bởi một lẽ, mãi
đến năm 1916, năm mà Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F.de Saussure [49]
được xuất bản, người được xem là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại và cũng là một
Trang 12trong những người khai sáng chủ nghĩa cấu trúc, thì người ta mới chú ý đến vai trò của
kí hiệu học Luận điểm của F.de Saussure đề xuất: ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu,
và ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học, xét theo một phương diện nào đó Lí
thuyết kí hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học nhị diện của F.de Saussure, cũng từ đây, được xem là tiền đề cho các công trình nghiên cứu kí hiệu học chuyên sâu về sau như “chức năng thi pháp” và “tính đa chức năng của ngôn ngữ” trong nghiên cứu R.Jakobson [25], “cấu trúc kí hiệu học biểu thị và kí hiệu học hàm thị” của R.Barthes [3]; đặc biệt
là các nghiên cứu về “lí thuyết kí hiệu học tam diện” của Ch.Pierce, lí thuyết "kí hiệu học văn hóa" của Yuri M Lotman [59], lí thuyết kí hiệu học của Umberto Eco [57],
của Daniel Chandler [13] Kí hiệu học không chỉ được vận dụng ở các nước từ Nga qua Mĩ, từ Tây âu cho đến Đông Âu, mà ở Việt Nam kí hiệu học cũng được rất nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm và được khỏi xướng bởi nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu,… Những công trình được xem là khởi đầu của khuynh hướng
nghiên cứu ngôn ngữ văn chương từ góc nhìn kí hiệu học phải kể đến là Từ thi pháp học đến kí hiệu học của Hoàng Trinh [55], Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu [6], Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học của Nguyễn Lai [29], Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán [54], Tín hiệu thẩm mĩ không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn [33], Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học của Mai Thị Kiều Phượng [40], Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ - sóng đôi trong ca dao dưới ánh sáng của lí thuyết kí hiệu học của Trần Văn Sáng [47], Phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên [34], Ký hiệu và liên ký hiệu của Lê Huy Bắc
[4] Trong đó, khuynh hướng đáng chú ý nhất vẫn là cách giải mã thơ dưới ánh sáng của lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ Mặc khác, trong việc vận dụng lí thuyết kí hiệu học vào nghiên cứu trong mỗi lĩnh vực trong đó có văn chương, cho đến nay, vẫn chưa có được cách tiếp cận thống nhất và chưa vạch ra một bộ khung lí thuyết đủ rõ và nhất quán để vận hành nó một cách hiệu quả, đặc biệt là có sự khu biệt khá rõ giữa cách tiếp cận theo quan điểm của kí hiệu cấu trúc và kí hiệu học hậu cấu trúc trên các phạm vi ứng dụng: kí hiệu học ngôn ngữ, kí hiệu học văn hóa, kí hiệu học văn chương
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy số những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các
lí thuyết kí hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong một tác giả cụ thể không thật sự nhiều mà chủ yếu là những bài nghiên cứu riêng lẻ về lí thuyết hoặc các phương diện nào đó của kí hiệu học
Các luận văn, luận án trước đây đã nghiên cứu về đề tài hình tượng người phụ
nữ, các tín hiệu thẩm mĩ, các biểu thức chiếu vật như:
1 Lê Thị Tuyết Hạnh (2017), Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, ĐHSP-
Trang 13Đại học Sư phạm Hà Nội
Và cho đến nay, ít có một công trình nào nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi như đề tài của chúng tôi
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cụ thể sau:
- ác lập được vị trí, vai tr của các hình thức ngôn ngữ biểu đạt về người phụ
nữ như là một bộ phận làm nên bình diện “cái biểu đạt” của hình tượng người phụ nữ
trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi
- Chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể và tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ về người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi ; qua đó góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của hai tác giả về người phụ nữ
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết về kí hiệu học, tín hiệu thẩm mĩ, về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn;
- Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại tín hiệu hiệu thẩm mĩ chỉ về người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi
- Phân tích, miêu tả đặc điểm hình tượng người phụ nữ được khảo sát trên bình
diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi ; tìm hiểu,
so sánh các đặc điểm về sự biểu đạt bằng ngôn ngữ và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ của hai tác giả
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi từ góc nhìn kí hiệu học cấu trúc : mối quan hệ liên ngành giữa ngôn ngữ với văn chương
Trang 144.2 Ph m vi nghiên cứu
Về phương diện khảo sát, luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên
cứu đối tượng kể trên ở các phương diện cái biểu đạt: tín hiệu hằng thể, tín hiệu biến thể với đặc điểm cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, các biểu thức ngôn từ chỉ về người phụ nữ tương ứng trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi
Về tư liệu khảo sát: luận văn khảo sát trên các tác phẩm thơ của hai tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi đã công bố rộng rãi, in bằng chữ quốc ngữ:
- Lâm Thị Mỹ Dạ- Trái tim sinh nở- Bài thơ không năm tháng- Đề tặng một giấc
mơ
- Ý Nhi – Ngọn gió qua vườn - Tuyển tập thơ và truyện ngắn
5 Phương pháp, thủ pháp, nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê, phân lo i
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các loại tín hiệu hằng
thể và tín hiệu biến thể và phân loại theo những tiêu chí cụ thể
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các hình thức biểu đạt về người phụ nữ, tức cái biểu đạt, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa biểu trưng của chúng và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu chuyên biệt sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp trường nghĩa,
6 Đóng góp của đề tài
- V l luận Củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ bản của lí thuyết tín
hiệu thẩm mĩ, kí hiệu học, góp phần làm r thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương; xác lập được một số cơ sở và thao tác để xác định các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể/biến thể được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa
- văn học vào nghiên cứu hình tượng/biểu tượng trong tác phẩm chương
- V th c tiễn Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc nghiên
cứu và giảng dạy tín hiệu thẩm mĩ về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
và thơ Ý Nhi nói riêng và trong giao tiếp văn chương nói chung; cung cấp thêm cơ sở
và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị và nét độc đáo của ngôn ngữ thơ trong các tác phẩm nổi tiếng của hai nhà thơ này, từ đó giúp ích thêm cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương từ góc nhìn kí hiệu học đồng thời mở rộng vốn kiến thức để vận dụng giảng dạy linh hoạt trong các tác phẩm ở Trường THPT trong bối cảnh hiện nay
Trang 157 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và những vấn đ liên quan: Chương này trình bày
những vấn đề lí thuyết quan yếu nhất đến việc triển khai đề tài khóa luận, đó là: lí thuyết kí hiệu học và tín hiệu thẩm mĩ Từ đó, chúng tôi cũng trình bày những định hướng của việc vận dụng những lí thuyết đó vào việc nghiên cứu đề tài
Chương 2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ D và thơ Ý Nhi dưới góc nhìn cái biểu đ t: Trong chương này, chúng tôi triển khai việc khảo sát,
phân loại các tín hiệu hằng thể và biến thể chỉ người phụ nữ trong tập thơ “Ngọn gió qua vườn” của Ý Nhi và ba tập thơ: “Trái tim sinh nở”; “Bài thơ không năm tháng”
và “Đề tặng một giấc mơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ trên các phương diện: cấu tạo và quan
hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh Từ đó, chúng tôi so sánh các tín hiệu chỉ người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ của nhà thơ Ý Nhi với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trên bình diện cái biểu đạt để tìm điểm tương đồng và sự khác biệt trong ngôn ngữ thơ giữa hai tác giả
Chương 3 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ D và thơ Ý Nhi dưới góc nhìn cái được biểu đ t: Ở chương 3, chúng tôi sẽ chỉ ra các ý nghĩa biểu
trưng của các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể và tín hiệu thẩm mĩ biến thể chỉ về người phụ
nữ trong tập thơ “Ngọn gió qua vườn” của Ý Nhi và ba tập thơ: “Trái tim sinh nở”;
“Bài thơ không năm tháng” và “Đề tặng một giấc mơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ; qua đó góp phần chỉ ra những đặc trưng văn hóa dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của
hai tác giả về người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay
Trang 16Trước khi bàn về vấn đề này, chúng ta biết hiện nay có nhiều cách hiểu khác
nhau về kí hiệu, tín hiệu, dấu hiệu với nội hàm và ngoại diên của khái niệm không
đồng nhất Trong luận văn này, chúng tôi không đi vào bình luận cách hiểu khác nhau
này mà thống nhất cách hiểu: kí hiệu được sử dụng đồng nhất với tín hiệu và dấu hiệu, nhất là khi nói về tín hiệu thẩm mĩ Chẳng hạn, tín hiệu ngôn ngữ, kí hiệu ngôn ngữ, dấu hiệu ngôn ngữ được hiểu đồng nhất; tương tự, kí hiệu thẩm mĩ và tín hiệu thẩm mĩ
cũng được sử dụng đồng nhất Theo cách gọi phổ dụng, chúng tôi sử dụng thuật ngữ
tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ làm cơ sở lí luận của đề tài; còn khái niệm
kí hiệu học cũng là khái niệm quen dùng nên được chúng tôi sử dụng đồng nhất với tín hiệu học và dấu hiệu học Luận văn chọn cách dùng thuật ngữ kí hiệu học
Cuộc sống của con người được bao quanh bởi các tín hiệu như: tín hiệu đèn giao thông, tín hiệu ngôn ngữ, tín hiệu hàng hải, các nghi lễ, biểu tượng, các hoạt động giao tiếp, đường nét, âm thanh, màu sắc, tiếng kêu của động vật…mỗi một sự vật, hiện tượng đều có thể trở thành một tín hiệu Như vậy, điều gì làm cho một sự vật, hiện tượng trở thành một tín hiệu?
Có nhiều các quan niệm khác nhau về tín hiệu liên quan đến cách hiểu rộng hẹp
khác nhau của các tác giả Trong số những cách quan niệm khác nhau đó, đề tài của chúng tôi đồng ý với quan niệm của P.Guiraund về tín hiệu ngôn ngữ theo nghĩa rộng
đã được tác giả Đỗ Hữu Châu đề cập trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”
như sau: “một tín hiệu…là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [7, tr.51] Theo quan niệm này, tất cả những hình
thức vật chất nào gợi ra một “hình ảnh ký ức” đều được xem là tín hiệu/kí hiệu
Như vậy, dù bằng dấu hiệu hình thức nào, tín hiệu cũng“gợi ra một cái gì đó”
Hay nói cách khác, tín hiệu bao giờ cũng mang nội dung thông báo đến một đối tượng nào đó Nếu không mang nội dung thông báo, tín hiệu không còn là tín hiệu Nội dung thông báo đó được các nhà nghiên cứu lí thuyết thông tin gọi là những yếu tố mang
“tin”; còn các nhà nghiên cứu nghĩa học gọi là các yếu tố mang “nghĩa” Trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, màu đỏ gợi cho ta thông tin “không được phép đi”, màu vàng gợi cho ta một ý niệm về “sự chuẩn bị”, màu xanh đồng nghĩa với thông báo
Trang 17“người tham gia giao thông được phép đi” Đám mây gợi cho ta một hình ảnh “cơn mưa”, một câu hỏi “bạn có đồng hồ không?” chỉ muốn biết thông tin về giờ giấc thời
gian, chứ không phải tìm hiểu vật sở hữu của người khác
Từ sự phân tích các quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi thống nhất quan niệm tín hiệu trong đề tài như sau: tín hiệu là đơn vị có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, được chủ thể lí giải, nhận thức và lĩnh hội trong một hệ thống nhất định
1.1.1.2 Các điều kiện của tín hiệu
Theo quan niệm của P Guiraud, một “kích thích” có thể gợi ra “hình ảnh kí ức” đối với những kích thích khác là quan niệm có tính bao quát, vừa đề cập đến tín
hiệu tự nhiên và nhân tạo, vừa bao hàm cả tín hiệu giao tiếp lẫn tín hiệu phi giao tiếp
Và điều kiện để một “kích thích” trở thành một tín hiệu được tác giả Đỗ Hữu Châu [7]
trình bày đầy đủ Theo đó, một tín hiệu phải th a mãn các điều kiện cơ bản sau đây: Thứ nhất, nó phải được các giác quan cảm nhận, phải có một hình thức cảm tính là cái
biểu đạt của tín hiệu Thứ hai, phải nói lên được một nội dung “ý nghĩa” gì đó khác
với chính nó Tín hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt Thứ ba, cái biểu đạt
và cái được biểu đạt phải được chủ thể nhận thức, lĩnh hội Thứ tư, phải nằm trong một
hệ thống nhất định
Trong khi đi tìm một cách hiểu về tín hiệu, các nhà nghiên cứu đã phân chia các tín hiệu thành nhiều loại khác nhau dựa trên những tiêu chí phân loại không giống nhau Ở đây chúng tôi trình bày một cách khái quát nhất các cách phân loại của các tác
giả đã được trình bày trong giáo trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng”
Trong cách phân loại của R.Buhler, tín hiệu có thể được phân thành ba loại
khác nhau như: biểu tượng (Symbole), triệu chứng (Symbone) và tín hiệu (Signal)
Đặt trong mối quan hệ với sự vật, người nói, người nghe, Buhler đã thấy được rằng ứng với ba yếu tố nói trên, tín hiệu thực hiện đồng thời cả ba chức năng: chức năng biểu thị, chức năng biểu cảm và chức năng thỉnh cầu Tín hiệu có thể được xem là
những “biểu tượng” (Symbole), những “hình hiệu” (icones), những “chỉ hiệu”
(indices) trong cách phân loại của Ch.Pierce Tuy nhiên, theo tác giả, tín hiệu chỉ là cái biểu đạt tách riêng; trong khi cơ chế tín hiệu học theo F de Saussure [49], tín hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt Về sau, Ch.Morris bổ sung vào mô hình của
Ch.Pierce bằng cách thêm vào các “chỉ hiệu” (sign indices) và các “định hiệu” (sign caractevisant) Ngay trong các “định hiệu” cũng tồn tại các “hình hiệu” và các “biểu trưng”
Từ cách nhìn tổng thể về những “kích thích” của thế giới cảm tính, P.Guiraud
không đặt các tín hiệu trong sự lưỡng phân giữa tín hiệu tự nhiên và tín hiệu giao tiếp
mà đặt trong mối quan hệ giữa thực tế và nhận thức của con người Theo đó, tín hiệu là
Trang 18những “kích thích liên tưởng” bao gồm nhiều loại khác nhau: tín hiệu tự nhiên, tín
hiệu nhân tạo, các hình hiệu và ước hiệu trong mối quan hệ hoặc v đoán (đối với các ước hiệu) hoặc có lý do (đối với các ước hiệu có tính hình hiệu…)
Vận dụng nhiều tiêu chí phân loại khác nhau, tác giả Đỗ Hữu Châu [7] đã có được bảng phân loại tín hiệu một cách đầy đủ và bao quát nhiều loại hình khác nhau Bằng cách này, tín hiệu được phân thành tín hiệu giao tiếp và tín hiệu phi giao tiếp, tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo, tín hiệu thị giác và tín hiệu thính giác, tín hiệu sơ cấp và tín hiệu thứ cấp, tín hiệu miêu tả và tín hiệu phi miêu tả…
Cách phân loại trên có ưu điểm là đã bao quát nhiều tiêu chí phân loại: về nguồn gốc tín hiệu, cấu trúc cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu, chức năng của tín hiệu cũng như đặc tính vật lí cái biểu đạt của tín hiệu Đây cũng là quan niệm
về tín hiệu của chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài, góp phần nhận diện tín hiệu trong tính chỉnh thể, tính hệ thống
1.1.2 Kí hiệu học hai bình diện của F de Saussure
1.1.2.1 Tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt Tín hiệu ngôn ngữ được xác định là loại tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp, tín hiệu nhân tạo, ước hiệu (v đoán)…Như vậy, dưới góc nhìn kí hiệu học, ở bất kì góc độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt) và ở bất kì cấp độ nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định
Về vấn đề này được nhà ngôn ngữ học F.de Saussure đề cập trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, chia ra hai loại quan hệ hệ thống có tính phổ biến trong ngôn
ngữ Đó là: quan hệ đồng nhất-đối lập và quan hệ khác biệt; quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn
Trình bày về cặp quan hệ thứ nhất, đối với F.de Saussure thì “trong ngôn ngữ chỉ có những sự phân biệt mà thôi” [49] Một tín hiệu ngôn ngữ có nghĩa không phải
bản thân tự nó có nghĩa Nó có nghĩa là vì nó ở thế đối lập với các yếu tố khác cùng hệ thống, một yếu tố ngôn ngữ nào đó mới có nghĩa
Trình bày về cặp quan hệ thứ hai, F.de Saussure lưu ý đến tương quan ngữ đoạn nối kết các từ theo một trật từ tuyến tính, nó xác định nghĩa cho các từ, và tương quan liên tưởng giữa một từ với các từ có một hay một số nét chung nào đó do kí ức ta gợi
nên Mỗi nhóm như vậy “tạo nên chuỗi tiềm tại trong trí nhớ, kho ký ức” theo nhận
xét của R.Barthes
Ngôn ngữ học hiện đại bổ sung các loại quan hệ mới, sau hai cặp quan hệ mới Saussure đã đề ra Đó là: quan hệ tôn ti giữa các cấp độ ngôn ngữ; quan hệ hiện thực
Trang 19hóa bình diện trừu tượng và cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của tín hiệu
Khi nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, và không phải mọi tín hiệu đều là ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ thường chú ý đến vấn đề chức năng và tính đa chức năng của tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện được dùng không chỉ để giao tiếp mà
còn phục vụ cho tư duy: “Một đơn vị ngôn ngữ phải vừa phục cho giao tiếp vừa phục
vụ cho tư duy Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt tín hiệu ngôn ngữ và các tín hiệu khác của hệ thống giao tiếp thuần túy với các tín hiệu tư duy thuần túy” theo như nhận
định của Đỗ Hữu Châu [7] Mặt khác, ngôn ngữ trong khi làm nhiệm vụ quan trọng của mình, ngoài chức năng làm phương tiện để giao tiếp và công cụ để tư duy c n thực hiện chức năng làm công cụ để tổ chức xã hội, duy trì những quan hệ giữa người với người, duy trì sự sống của con người cũng như góp phần lưu trữ kinh nghiệm của dân tộc tích lũy hàng ngàn năm lịch sử
Về tính đa chức năng của ngôn ngữ, ý kiến của nhà ngôn ngữ học R.Jakobson [25] có đóng góp quan trọng trong việc nhận diện các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ R.Jakobson dựa vào những tiến bộ của lí thuyết thông tin để phân tích một hiện tượng giao tiếp bằng cách phân nhỏ thành sáu yếu tố: người gửi, bối cảnh, thông điệp, kênh,
mã, người nhận Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện sáu chức năng cơ bản ứng với sáu yếu tố nêu trên: chức năng biểu cảm, chức năng quy chiếu, chức năng thẩm mỹ (thi pháp), chức năng tiếp xúc, chức năng thỉnh cầu, chức năng siêu ngôn ngữ Điểm R.Jakobson lưu ý là chức năng thẩm mĩ trở nên quan trọng khi ngôn ngữ được sử dụng một cách nghệ thuật nhằm sáng tạo ra những công trình văn chương
Chúng tôi nhận thấy rằng, chức năng thẩm mĩ thường được coi là chức năng riêng biệt của thơ ca, nhưng thực ra trong các hoạt động ngôn ngữ khác, sự phân tích ngôn ngữ học về vă chương cũng không nên bị hạn chế trong chức năng thẩm mĩ Nếu nội dung phân tích ngôn ngữ về chức năng thẩm mĩ phải vượt ra ngoài ranh giới văn chương, thì mặt khác, sự phân tích ngôn ngữ học về văn chương cũng không nên bị giới hạn trong chức năng thẩm mĩ và phải bao quát mọi quan hệ biện chứng giữa chức năng thẩm mĩ với các chức năng khác
Như vậy, tính đa chức năng đã làm cho ngôn ngữ và các yếu tố của nó phân biệt
rõ ràng với các hệ thống giao tiếp khác của con người Xuất phát từ cơ sở của giao tiếp, tác giả Đỗ Hữu Châu [7] lưu ý đến tính đa chức năng của ngôn ngữ thông qua việc thực hóa các từ trong hoạt động nói năng Theo đó, ngôn ngữ có chức năng miêu
tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn và chức năng cú học
1.1.2.2 Các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ
Nói đến tín hiệu ngôn ngữ là nói đến tính v đoán, tính hình tuyến của cái biểu
đạt và tính hệ thống cấu trúc Vì thế, có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của ngôn ngữ
Trang 20trên tất cả các đơn vị mang nghĩa ở nhiều cấp độ khác nhau: từ, ngữ, câu, đoạn, văn bản Một từ, một phát ngôn không những thực hiện chức năng miêu tả, chức năng định danh mà còn thực hiện chức năng bộc lộ, thỉnh cầu, chức năng siêu ngôn ngữ, chức
năng thẩm mĩ…Một phát ngôn như “xin lỗi!” hoàn toàn có chức năng thỉnh cầu khi nó chỉ có nghĩa là “Xin tránh đường cho tôi!” Một người có thể nói “Trời rét nhỉ!” mà
không nhằm miêu tả về thời tiết mà chỉ nhằm mục đích gợi chuyện để làm quen với người khác
Như vậy, các đặc trưng kí hiệu học của ngôn ngữ, những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể … trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về tín hiệu ngôn ngữ trong quá trình hoạt động, thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, và trong giao tiếp nghệ thuật nói riêng
1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pierce
Cùng thời với F de Saussure, Ch S Peirce xuất phát từ triết học ngữ nghĩa đã trở thành người nghiên cứu kí hiệu học vào loại sớm nhất Ông cho rằng tư duy chính
là kí hiệu và nó tồn tại đương nhiên trong các kí hiệu Tất cả mọi vật đều được tri giác
là kí hiệu nếu nó được mã hóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), theo đó kí hiệu là một tam phân
với ba diện:
- Cái biểu đạt (Representament), là phương tiện chuyển tải và tri giác được
- Đối tượng (Objet) là cái được biểu đạt/ được đại diện là vật thể tương liên với
cái biểu đạt
- Cái thuyết giải (Interpretant) là cái trung gian giữa hai cái trên (cái biểu đạt
và đối tượng), là cái lí giải quan hệ giữa hai cái đó, nghĩa là nhờ nó, trong tư duy
người tiếp nhận sẽ có một tín hiệu tương thích được tạo ra
Theo phân tích tam diện, Ch.S.Peirce có nhận thức khác với F de Sausure, theo
đó kí hiệu là “một hợp thể ba mặt, không thể xem xét tách rời từng cặp nhị diện một”
[dẫn theo 48, tr.84-85] và bản thân cái biểu đạt (Representament) có tính vật lí, và là
một kí hiệu một khi được mã hóa Nhà kí hiệu học cũng cho rằng mã hóa là quá trình
sử dụng tư duy để làm trung gian cho mối quan hệ giữa cái biểu đạt (kí hiệu) và đối tượng Trọng tâm lí luận của Ch S Peirce đặt vào cương vị giải quyết kí hiệu trong
công đoạn kí hiệu hóa (Semiosis)
Ngôn ngữ học hậu cấu trúc ra đời với các khuynh hướng nghiên cứu như lí thuyết phân tích diễn ngôn, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, lí thuyết ba bình diện trong phân tích câu… đều được hình thành trên cơ sở và gợi dẫn từ lí thuyết kí hiệu học ba bình diện của Ch.S Peirce và C Morris; đặc biệt là vai trò của bình diện thứ ba: bình diện dụng học, bình diện người lí giải
Trang 211.1.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
1.1.4.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ (hay kí hiệu thẩm mĩ) là khái niệm được đưa vào mĩ học do có liên quan đến việc lý giải các quá trình nghệ thuật từ lập trường kí hiệu học Tín hiệu thẩm mỹ (THTM) ra đời gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc trong nghệ thuật và mĩ học
trong những năm 60 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về “nguyên lý tín hiệu học” của F.de Saussure, “chức năng thi pháp” của R Jakobson, “cấu trúc kí hiệu học” của
R Barthes…,đặc biệt là “lí thuyết kí hiệu học” của Ch Morris và Ch.Pierce, đều góp
phần miêu tả THTM trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều phương diện khác nhau [dẫn theo 48, tr.12]
Theo từ điển “150 thuật ngữ văn học” [30], tín hiệu thẩm mĩ được miêu tả gắn liến với nhiều quan niệm khác nhau của nhiều trường phái nghiên cứu trên thế giới”
Trong quan niệm của trường phái kí hiệu học Mỹ, Ch.Morris đề xuất lí thuyết về THTM trên cơ sở sự phân loại các tín hiệu của nhà logic Ch.Pierce Theo đó,
Ch.Morris xác định tín hiệu trong nghệ thuật là “tín hiệu miêu tả hoặc tạo hình; nó giống với khách thể mà nó miêu tả về vẻ ngoài hoặc cấu trúc” [dẫn theo 48, tr.13] Những người chủ trương quan niệm này xem nghệ thuật như một “ngôn ngữ đặc biệt”, khác với mọi phương tiện truyền thông khác Tác phẩm nghệ thuật đưa ra những
THTM phức tạp, những tín hiệu này sẽ sẽ tham dự vào giao tiếp Tính cấu trúc, tính phổ quát và sự tương ứng với các quan hệ giá trị được Ch.Morris nêu như những đặc tính cơ bản của THTM
Giới nghiên cứu Xô Viết những năm 60 – 70 của thế kỉ XX, khảo sát THTM
trong tương quan với hình tượng nghệ thuật Theo họ, THTM được xem như “một cấu trúc của hình tượng nghệ thuật Ngoài chức năng thay thế thực tại và chức năng làm phương tiện thông tin, các tín hiệu trong nghệ thuật còn có đặc tính bất biến, lặp lại, khác với đặc tính độc đáo duy nhất của hình tượng nghệ thuật” [dẫn theo 48, tr 13]
Ở Việt Nam, khái niệm THTM được biết đến qua các công trình, bài viết của một số tác giả như Nguyễn Lai, Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi Minh Toán, Bùi Trọng Ngoãn, Trần Văn Sáng,
Theo đó, THTM có thể là những ẩn dụ, những hoán dụ cố định, các phúng dụ,
tượng trưng, những hình tượng đã được “mài mòn”, “cố định hóa” về mặt ý nghĩa
trong quan niệm của Kharapchenko [28]; một bức họa, một vở múa, một hình ảnh ẩn
dụ, một hình thể từ ngữ trong văn học mang đặc tính biểu trưng (Symbole) trong phân
tích của Hoàng Trinh [dẫn theo 48, tr.13]; “những dấu hiệu mang tính tượng trưng, ước lệ, ẩn dụ, hoán dụ” mà từ ngữ, THTM chỉ là “phương tiện của quá trình gợi dẫn”
Trang 22theo nhận xét của Nguyễn Lai [30]; những“thần cú”, những sự kết hợp ngôn ngữ một cách “lệch chuẩn”, những tín hiệu mang phẩm chất thẩm mĩ, những “chuỗi kết hợp bất thường về nghĩa” vì mục đích thẩm mĩ…trong sự phân tích của tác giả Phan Ngọc, Hữu Đạt, Đinh Trọng Lạc; những “motip”, những “công thức truyền thống” những
kết cấu nghệ thuật…trong quan niệm của Nguyễn Xuân Kính, Bùi Mạnh Nhị; những
“tín hiệu có tính biểu trưng cao” trong thơ và ca dao trong sự nghiên cứu của tác giả
Trần Văn Sáng được đề cập trong các công trình nghiên cứu công bố gần đây [dẫn theo 48, tr.13]
Từ những “chất liệu” cái biểu đạt, chúng ta có thể xét đến nguồn gốc các
THTM ở hai khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, tín hiệu thẩm mĩ là các yếu tố của hiện thực (cảm giác, cảm quan),
của nội tâm, sự kiện có nguồn gốc ngoài ngôn ngữ: cây đa, bến nước, sân đình, con thuyền, dòng sông,…Đó là các THTM dễ nhận thấy, THTM “phải tương ứng với một vật quy chiếu nào đấy trong thế giới hiện thực là cái được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực và xây dựng nên, sáng tạo ra” theo sự phân tích của tác giả Đỗ Hữu Châu
[dẫn theo 48, tr.14]
Thứ hai, tín hiệu thẩm mĩ bắt nguồn từ ngay trong các sự kiện của ngôn ngữ tự nhiên Trong thực tế, ngôn ngữ tự nhiên tự nó cũng là một hiện tượng trong hiện thực khách quan Ngôn ngữ tự nhiên có thể được dùng với tư cách là một tín hiệu để nói lên
một cái gì đó ngoài nó ra Ngôn ngữ sinh ra “vốn để nói về đối tượng giờ đây lại là công cụ nhận thức đối tượng” [48, tr.73] Đó chính là quá trình biểu trưng hóa các tín
hiệu ngôn ngữ Khi đi vào tác phẩm văn chương, các từ ngữ, các kiểu câu tự nó mang những tín hiệu nhất định; các hành vi ngôn ngữ (hỏi, hưa hẹn, cam đoan, cảm thán…) được dùng như những THTM P.Guiraud có một nhận xét mà chúng ta đáng phải lưu ý
“ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ tự nhiên đã sáng tạo lại, đã được một ngôn ngữ khác chồng lên Ngôn ngữ tự nhiên là phương tiện để chuyên chở các tín hiệu thẩm mĩ” [dẫn theo 48, tr.14]
Hệ thống THTM tồn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và quy luật của tín hiệu ngôn ngữ vì mục đích biểu đạt giá trị thẩm mĩ Do vậy, THTM mang trong mình những đặc tính nhằm mục đích biểu đạt hình tượng và ý nghĩa thẩm mĩ Về vấn đề này, tác giả Trương Thị Nhàn [33] đã có dịp trình bày và phân tích khá chi tiết
khi nghiên cứu các “tín hiệu thẩm mĩ – không gian” trong ca dao Theo đó, THTM có
những đặc tính sau: Thứ nhất, tính đẳng cấu xét trong tương quan hệ thống chất liệu khác nhau hoặc trong tương quan giữa các hệ thống của THTM Thứ hai, tính tác động
của THTM trong bản chất của một “kích thích vật chất” và trong sự thực hiện chức
năng giao tiếp nghệ thuật Thứ ba, tính biểu hiện của THTM qua sự thực hiện chức
Trang 23năng phản ánh hiện thực – chức năng chung của nghệ thuật Thứ tư, THTM không dừng lại ở nội dung mang tính tái hiện hiện thực mà còn mang thông tin thẩm mĩ, đó là tính biểu cảm của THTM Thứ năm, THTM có tính biểu trưng tương quan trong tương
quan cái biểu đạt và cái được biểu đạt, một mối quan hệ “không hoàn toàn võ đoán”
Thứ sáu, tính trừu tượng và tính cụ thể qua mỗi lần xuất hiện các biến thể của THTM Thứ bảy, tính truyền thống và cách tân qua sự kế thừa và sáng tạo, đổi mới trong việc
sử dụng THTM của mỗi tác giả, tác phẩm Thứ tám, tính hệ thống, THTM phải đặt trong một hệ thống thẩm mĩ cố định Giá trị các THTM là kết quả tổng hòa của các mối quan hệ trong đơn vị cấu trúc – chức năng cụ thể Và cuối cùng là tính cấp độ của THTM, THTM vừa là cấp độ cơ sở, vừa có cấp độ xây dựng, THTM là một đơn vị có thể dùng xây dựng nên những THTM mới
Với cách nhìn như trên về THTM, các tác giả đã bao quát được các vấn đề nguồn gốc THTM, mặt thể chất cuả THTM, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của THTM cũng như vấn đề chức năng và đặc tính tổ chức của THTM Theo
đó, THTM được xác định là tín hiệu nhân tạo; tín hiệu thính giác; tín hiệu sơ cấp, chưa nguyên mã; tín hiệu giao tiếp có chức năng thẩm mĩ, chức năng bộc lộ, biểu cảm, chức năng hệ thống; và là tín hiệu – biểu trưng nghệ thuật
Từ sự phân tích về các đặc tính của THTM cũng như mối quan hệ giữa tín hiệu với THTM, có thể hình dung THTM theo sơ đồ hai mặt của tín hiệu như sau:
CBĐ: tín hiệu ngôn ngữ
THTM = -
CĐBĐ: ý nghĩa thẩm mĩ mang hàm ý biểu trưng
1.1.4.2 Phân loại tín hiệu thẩm mĩ
Về phân loại tín hiệu thẩm mĩ, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau của
Đồ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi minh Toán, Trần Văn Sáng, trong luận văn
này, chúng tôi trình bày cách phân loại của Mai Thị Kiều Phượng [40] trong cuốn “Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học” như sau:
- Dựa vào tiêu chí tính quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín
hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ đơn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ phức
- Dựa vào tiêu chí tính hằng thể và biến thể trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta
có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ
hằng thể; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ biến thể
- Dựa vào tiêu chí tính tạo nghĩa trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia
tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nghĩa tự thân; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nghĩa kết hợp
Trang 24- Dựa vào tiêu chí tính chất trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia tín
hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ trừu tượng – khái quát; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cụ thể
- Dựa vào tiêu chí tính chất có mặt và vắng mặt về ý nghĩa trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn
ngữ thẩm mĩ điển dạng; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hiện dạng
- Dựa vào tiêu chí chức năng giao tiếp trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm, ta có thể
chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ miêu tả; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ phi miêu tả
- Dựa vào tiêu chí tính chất từ loại được cấu tạo trong tín hiệu ngôn ngữ thẩm
mĩ ở cấp độ từ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thực từ; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ hư từ
- Dựa vào tiêu chí tính chất từ loại các từ xét về mặt cấu tạo của tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở cấp độ từ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ có cấu tạo là từ đơn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ có cấu tạo là
từ phức (từ láy, từ ghép)
- Dựa vào tiêu chí tính chất quan hệ của tín hiệu ở tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ, ta
có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ
thuộc bình diện kết học; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thuộc bình diện nghĩa học; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thuộc bình diện dụng học
- Dựa vào tiêu chí tính cấp độ các đơn vị ngôn ngữ trong tín hiệu ngôn ngữ
thẩm mĩ, ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra ba loại: tín hiệu ngôn ngữ
thẩm mĩ ở cấp độ từ vựng – ngữ nghĩa; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ cấp độ ngữ pháp; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ở cấp độ văn bản
- Dựa vào tiêu chí chuyển mã nhiều hay chuyển mã ít, chúng ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ chuyển mã nhiều tầng nghĩa, tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ chuyển mã ít tầng nghĩa
- Dựa vào tiêu chí số lượng ý nghĩa hàm ẩn, chúng ta có thể chia tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ thành ra hai loại: tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ nhiều tầng ý nghĩa hàm ẩn; tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ ít tầng ý nghĩa hàm ẩn
1.1.4.3 Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
Khi đề cập đến các đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ, các nhà nghiên cứu thường nói đến những đặc tính sau: tính đẳng cấu, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống Trong công trình này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu tính biểu trưng - một đặc tính quan
Trang 25trọng bậc nhất việc tiếp cận các giá trị hàm ẩn của các hình tượng trong ngôn ngữ văn học Về đặc tính biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi dựa vào kết quả nghiên
cứu trong công trình "Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương" của tác giả Trần Văn Sáng [48] như sau:
a) Về khái niệm tín hiệu biểu trưng
Về khái niệm biểu trưng và biểu trưng trong thơ ca đã được tác giả Trần Văn Sáng trình bày một cách hệ thống và chi tiết, với sự phân tích những ví dụ cụ thể trong
từng lĩnh vực qua các bài viết: “Một số vấn đề về biểu trưng và ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ trong văn học”, “Hoa mai, ẩn ngữ và biểu trưng”, “Biểu trưng của mùa xuân trong thơ ca”, “Hoa đào - từ biểu tượng văn hóa đến biểu trưng văn học”, Đề tài chúng tôi sử dụng quan niệm của tác giả Trần Văn Sáng làm cơ sở lí
luận cho việc phân tích giá trị biểu trưng của hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi ở các chương sau
Trước khi bàn về cơ chế hình thành các tín hiệu thẩm mỹ trong ngôn ngữ văn
chương, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm về biểu trưng và biểu trưng hóa
Biểu trưng, hay còn gọi là biểu tượng (symbol), là một hiện tượng khá lý thú và
phổ biến ở các dân tộc Biểu trưng là lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện
một cách tượng trưng, ước lệ một cái gì đó có tính chất khái quát Cái cân biểu trưng cho công lý Hoa hồng biểu trưng cho tình yêu và sắc đẹp Chim bồ câu biểu trưng cho
h a bình…Khi một sự vật, hiện tượng mang giá trị biểu trưng, nó sẽ gợi lên cho ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững Người Mỹ, người Đức, người Pháp liên
tưởng màu trắng với biểu trưng về tinh thần, linh hồn; người Ucraina lại liên hội với lòng thủy chung và sự trung thực, trong khi người Ba Lan thì gắn màu trắng với sự
bình tâm, thanh thản Như vậy, biểu trưng phản ánh quan niệm tâm lý của mỗi dân tộc
và liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng Điều này giải thích tại sao ở một số nước văn hóa như Việt Nam,
Trung Quốc, Nhật Bản, con rồng là biểu trưng cho các bậc vua chúa, được tôn thờ ở những nơi tôn nghiêm như đền, đài, lăng tẩm Người Việt còn xem rồng là biểu tượng của dòng giống cao quí: con rồng cháu tiên; trong khi văn hóa châu Âu quan niệm rồng đơn thuần chỉ là một loài bò sát,một con vật tưởng tượng có thể phun ra lửa, thậm
chí là con vật ác trong truyện cổ tích…
Biểu trưng, như đã nói, là một hiện tượng tâm lý xã hội, do đó cách thức hình thành, lối xếp đặt, cách giải thích biểu trưng được nhiều ngành khóa học quan tâm
Quá trình biểu trưng hóa các sự vật làm mất đi giá trị biểu vật và biểu niệm, thay vào đó nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng được phát huy tác dụng
Có thể thống nhất quan niệm: nghĩa biểu trưng thuộc nghĩa văn bản, được hình
Trang 26thành trong văn bản, do những mối quan hệ nhất định Đó là những nghĩa hàm ẩn, mang tính liên hội
Vậy thì, điều gì làm cho một tín hiệu ngôn ngữ thông thường (thuyền, bến là sự vật) trở thành một tín hiệu thẩm mĩ có giá trị biểu trưng (thuyền, bến là người con trai
và người con gái trong quan hệ lứa đôi)? Đó chính là quá trình biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp văn chương Nói biểu trưng hóa là muốn
thiên về biểu thị cái quá trình biến những từ ngữ thông thường thành những ẩn dụ, những biểu trưng, biểu tượng, nghĩa là những từ ngữ có nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng
Cũng như vậy, khi dùng cơ chế biểu trưng hóa là muốn nhấn mạnh rằng biểu trưng hóa diễn ra theo một cơ trình với những quy tắc riêng của nó Nếu như biểu trưng hóa
là một cơ trình, tức một quá trình diễn ra có tính quy tắc, giống như sự hành chức của
một bộ máy, thì biểu trưng là hệ quả, là sản phẩm của cơ trình đó Vậy hệ quy tắc
biểu trưng hóa với tư cách là một trong những cơ chế cấu tạo nên các THTM là gì? Có làm r điều này thì mới có thể xác định được rõ bản chất của các biểu trưng (biểu tượng) với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ
b) Về cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương
Từ sự nhân đôi mô hình lưỡng phân CBĐ và CĐBĐ trong tín hiệu ngôn ngữ của F.de Saussure, cả L Hjelmslev và R.Barthes đều xem THTM là một loại “siêu tín hiệu”, tín hiệu chồng lên tín hiệu so với tín hiệu ngôn ngữ thông thường Cái gọi là ngôn ngữ đặc biệt, siêu tín hiệu của THTM trong văn chương đều được nhìn từ bình diện kí hiệu học Ở đây, chúng tôi chỉ bàn luận giản lược về cơ chế hình thành THTM trong văn chương từ lăng kính kí hiệu học qua các luận điểm sau:
Thứ nhất, trong ngôn ngữ văn chương, hệ thốngTHTM tồn tại và hoạt động
theo những quy luật của tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ Do vậy, THTM được xác định
là tín hiệu nhân tạo, tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp có chức năng thẩm mĩ, chức năng biểu cảm, chức năng hệ thống và là tín hiệu – biểu trưng nghệ thuật Các tín hiệu
ngôn ngữ con dao vàng, lá trầu vàng xuất hiện trong câu ca dao: Con dao vàng rọc lá trầu vàng – Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa, trở thành những tín hiệu thẩm mĩ con dao vàng, lá trầu vàng nhằm biểu đạt các giá trị thẩm mĩ: sự hài hòa, cân xứng
đến mức tuyệt mĩ trong tình yêu, cũng đã trải qua quá trình tạo nghĩa của tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ
Thứ hai, khác với THTM trong các ngành nghệ thuật điêu khắc, hội họa, âm nhạc…, THTM trong văn chương được biểu đạt bằng tín hiệu ngôn ngữ Có thể nói, ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm văn chương vừa là chính nó, vừa là cái biểu
đạt cho THTM Để trở thành các THTM thuyền, bến, trầu, cau…dù có thể bắt nguồn
từ chính các sự vật này trong cuộc sống thì khi đi vào văn chương, chúng phải được
Trang 27biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ, đó chính là các danh từ: thuyền, bến, trầu,
cau…trong tiếng Việt, nghĩa là chúng được kí hiệu hóa thêm một lần nữa để trở thành
THTM
Thứ ba, tham gia vào vai tr CĐBĐ, THTM phải trải qua con đường biểu trưng
hóa các tín hiệu ngôn ngữ, nghĩa là tham gia vào quá trình tạo nghĩa hàm ẩn Đây là
quy luật mà L Hjelmslev đã chỉ ra khi nói đến đặc điểm của ngôn ngữ liên hội: ngôn
ngữ với CBĐ và CĐBĐ của mình đến lượt nó lại trở thành CBĐ cho một CĐBĐ khác
R Barthes cũng có quan điểm tương đồng khi ông cho rằng văn chương thuộc trường
hợp này vì bản thân ngôn ngữ đã là một hệ thống kí hiệu, kí hiệu học biểu thị, đảm
nhận chức năng CBĐ của THTM; còn hệ thống kí hiệu thứ hai là siêu ngôn ngữ, tức kí
hiệu học hàm thị, đảm nhận chức năng CĐBĐ cho THTM Nhờ biểu trưng hóa mà
trăng không c n mang nghĩa biểu vật, biểu niệm nữa (là một thiên thể) mà đã chuyển
sang biểu thị ý nghĩa hàm ẩn, ý nghĩa thẩm mĩ để chỉ tâm lí tình cảm của con người:
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu (Hàn Mặc Tử)
Thứ tư, trong mối quan hệ giữa THTM với tín hiệu ngôn ngữ - CBĐ cũng chính
là các biến thể và các hằng thể, các hiện dạng và điển dạng của chính THTM đó trong
tác phẩm văn chương Không chỉ có trăng, mây, trầu, cau, mâm, sập,…mà có cả trăng
vàng, trăng thổn thức, trăng hờ hững, trầu vàng, cau xanh, sập vàng,…Nghiên cứu
bình diện biểu đạt của THTM cũng chính là nghiên cứu hoạt động của các biến thể và
các hằng thể trên các đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, theo quy luật
của tín hiệu ngôn ngữ thông thường
Từ lí thuyết kí hiệu học, có thể sơ đồ hóa về cơ chế hình thành THTM trong
ngôn ngữ văn chương như sau:
Chẳng hạn, ta có 2 hình thái: TRĂNG (1) (kí hiệu ngôn ngữ) được xem là CBĐ
của THTM và TRĂNG (2) (tín hiệu thẩm mĩ) là khác nhau Trăng (1) biểu thị một
hành tinh nhìn thấy về ban đêm, gần trái đất nhất trong hệ mặt trời; Trăng (2) nội dung
của nó chứa đựng những ý nghĩa thẩm mĩ nhất định: “Trăng” trong sự miêu tả - cụ thể
hóa có sự khác nhau giữa “trăng tròn”, “trăng lạnh”, “trăng nằm sóng soãi trên cành
liễu”,…đều được liên tưởng tới những ý nghĩa thẩm mĩ khác nhau, là tình cảm, là
nhân tình, và không còn được hiểu là hành tinh nhìn thấy về ban đêm, gần trái đất
nhất trong hệ mặt trời
Trang 28Mối quan hệ trên cho thấy cùng một dấu hiệu hình thức/thể chất cho ta hai giá trị khác nhau: giá trị tín hiệu ngôn ngữ (thuộc hệ thống ngôn ngữ tự nhiên) và giá trị tín hiệu thẩm mĩ (thuộc hệ thống ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ)
Như vậy, trong bốn đặc trưng kí hiệu học của tín hiệu thẩm mĩ nêu trên, biểu trưng hóa được chúng tôi xem là đặc tính quan trọng nhất trong bốn cơ chế hình thành THTM, đặc biệt là quá trình chuyển mã ngôn ngữ (thuộc CBĐ) sang mã hình tượng,
mã thẩm mĩ (thuộc CĐBĐ) trong ngôn ngữ văn chương R ràng, ngoài những đặc
tính khác của THTM (như tính đẳng cấu, tính truyền thống, tính cụ thể hóa…), việc một tín hiệu ngôn ngữ thông thường trải qua một quá trình tạo nghĩa liên tục để trở thành một THTM, chắc chắn phải trải qua một cơ chế chuyển nghĩa theo hướng biểu trưng hóa các tín hiệu ngôn ngữ
1.2 Lí thuyết hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cùng toàn bộ các nhân tố tham gia vào hoạt động đó chính là không gian sống, là cái nôi mà ở đó ngôn ngữ THTM tồn tại Trong luận án này, việc tìm hiểu những nhân tố cụ thể của hoạt động giao tiếp (người tạo lập, người tiếp nhận, ngữ cảnh cụ thể, diễn ngôn…) cũng chính là tìm hiểu những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong việc sử dụng và tiếp nhận ngôn ngữ thẩm mĩ của các tác phẩm
1.2.1 Các nhân tố của ho t động giao tiếp
Có nhiều hệ thống phân loại và miêu tả các nhân tố giao tiếp theo quan điểm ngữ dụng học Một cách khái quát nhất, theo tác giả Đỗ Hữu Châu tổng kết [9], có thể
kể ra ba nhân tố giao tiếp cơ bản là: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Do tính quan yếu ở các mức độ khác nhau đối với đề tài, dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày chi tiết tiếp nhận của mình về nhân tố ngữ cảnh; hai nhân tố còn lại, luận án chỉ trình bày ở mức khái quát nhất
1.2.1.1 Ngữ cảnh
Thông thường, ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [9, tr.97] Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: Đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn
Đối ngôn là người tham gia giao tiếp (nên c n được gọi là nhân vật giao tiếp)
Một cuộc giao tiếp cần có ít nhất hai đối ngôn Giữa các đối ngôn có hai kiểu quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau: quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân Trong
đó, quan hệ tương tác là quan hệ luân phiên giữa vai người nói và vai người nghe trong một cuộc giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngôn được hiểu là “tất cả những cái tạo thành môi trường
cho một cuôc giao tiếp” loại trừ diễn ngôn và đối ngôn của nó [9, tr.106] và được phân
Trang 29thành một số hợp phần chính như sau:
Hoàn cảnh giao tiếp: Là một hợp phần rất rộng, “bao gồm toàn thể các nhân tố
chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế các công trình, các tổ chức…tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hóa – địa lí cho các cuộc giao tiếp” [9, tr.111] Bối cảnh rộng lớn ấy giống như những chỉ dẫn quan trọng, như hệ tọa độ để người xem có thể định
vị, đánh giá đúng những yếu tố còn lại của giao tiếp đang diễn ra trên sân khấu ngôn ngữ
Thoại trường hay hiện trường giao tiếp: Là không gian, thời gian cụ thể, xác
định mà ở đó diễn ra cuộc giao tiếp “Thời gian, không gian thoại trường không tách nhau Nó là một thể thống nhất vừa có tính trừu tượng, tính điển dạng vừa có tính cụ thể, hiện dạng, ít nhiều đã quy ước hóa thành những mô típ nhất định, hình thành nên những câu thúc đối với diễn ngôn cả về hình thức, cả về nội dung [9, tr.112]
Hiện thực được nói tới hay hiện thực đề tài: Là “cái gì đó” mà các đối ngôn nói
tới trong cuộc giao tiếp “Cái gì đó” này có thể là một hay một số yếu tố ngoài diễn ngôn (gọi là hiện thực đề tài ngoài diễn ngôn, có thể là hiện thực nội tâm hoặc hiện thực khách quan), cũng có thể là yếu tố nào đó nằm trong diễn ngôn đã có trước đó hoặc trong diễn ngôn đang được tạo lập (gọi là hiện thực đề tài trong diễn ngôn)
1.2.1.2 Ngôn ngữ
Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tố giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ
cụ thể với các biến thể mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của họ Các nhân
tố thuộc về ngữ cảnh và ngôn ngữ kể trên cần thiết được các đối ngôn lĩnh hội, hiểu biết về chúng và có ý thức đưa chúng vào hoạt động giao tiếp Các đối ngôn của một cuộc giao tiếp cũng không phải có hiểu biết hoàn toàn giống nhau về các nhân tố đó, tuy nhiên, giữa học buộc phải có một số điểm thống nhất, những hiểu biết chung quan yếu và cần thiết đối với cuộc giao tiếp đó, tạo thành cái gọi là “hiểu biết nền” (background knowledge) hay “tiền giả định bách khoa” để giao tiếp được diễn ra một cách suôn sẻ Như vậy, xét cho cùng, nhân tố con người (mà ở đây cụ thể là các đối ngôn) vẫn giữ vai trò trung tâm, quyết định đối với các nhân tố còn lại của hoạt động giao tiếp
1.2.1.3 Diễn ngôn
“Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói
hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và cụ thể hoa thành các thành phần của diễn ngôn” [9, tr.148] Hiểu như vậy, diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng của cuộc giao tiếp giữa các đối ngôn,
Trang 30trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn trong giao tiếp
Diễn ngôn có hai phương diện: Hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng…)
và các yếu tố phi ngôn ngữ (yếu tố kèm lời và phi lời) được dùng khi các đối ngôn tạo
ra diễn ngôn Nội dung của diễn ngôn gồm hai thành phần: thành phần nội dung thông tin (hay nội dung miêu tả) “thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của tín hiệu học và bị quy định bởi tính đúng – sai lôgich” [9, tr.148]; và thành phần nội dung liên cá nhân ứng với các chức năng c n lại của giao tiếp (các chức năng: tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động) thuộc về lĩnh vực dụng học của tín hiệu học và không bị quy định bởi tính đúng – sai logich Tuy nhiên, hai thành phần nội dung này không tách rời nhau trong diễn ngôn
Các diễn ngôn viết, do đặc thù bởi tính cách cách, “sự vắng mặt” và bất khả phản hồi ngay lập tức của một bên đối ngôn, việc không đồng thoại trường giữa các đối ngôn sẽ tạo ra những khó khăn, rào cản nhất định cho việc thuyết giải diễn ngôn đúng với ý đồ của người tạo lập Đây là trường hợp phổ biến khi xem xét các diễn ngôn văn học từ góc độ lí thuyết hoạt động giao tiếp
Tóm lại, các nhân tố giao tiếp kể trên (ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn) không tách rời nhau trong từng cuộc giao tiếp, mà ngược lại, chúng nhất thiết phải phối hợp chặt chẽ và tác động lẫn nhau, tạo thành sự vận động chung của cuộc giao tiếp mà ở đó con người – người tham gia giao tiếp – nắm giữ vai tr điều phối và tác động lẫn nhau… Giao tiếp trong văn chương là một hình thức giao tiếp đặc thù với những đặc trưng riêng biệt Điều này sẽ được chúng tôi trình bày ở mục 1.2.2 sau đây
1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương
1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)
a) Về độc giả (người nhận)
Số lượng độc giả trong giao tiếp văn chương có thể rất lớn chứ không phải chỉ
là một hay một vài người nghe như trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường Tác phẩm càng có đời sống lâu dài bao nhiêu thì lượng độc giả càng lớn bấy nhiêu, ngược lại số lượng độc giả càng lớn thì đó là dấu hiệu về sức sống của tác phẩm
Độc giả trong giao tiếp văn chương có thể thuộc về những thời gian văn hóa và không gia văn hóa khác biệt với tác giả Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, người nói và người nghe thường cùng một ngữ cảnh: cùng hiện diện trong một thời gian văn hóa hoặc cùng cả không gian văn hóa (một nền văn hóa) Trong giao tiếp văn chương, giữa tác giả và độc giả cũng có những trường hợp cùng thời gian và không gian văn hóa như vậy: Những người tiếp nhận tác phẩm của một tác giả sống cùng với thời mình và cùng dân tộc với mình
Trang 31Sự khác biệt về thời gian và/hoặc không gian văn hóa giữa tác giả (quá trình sáng tác) và độc giả (quá trình tiếp nhận) chẳng những là một thách thức đối với hoạt động lĩnh hội, hoạt động giao tiếp giữa và độc giả, mà còn tạo ra những hứng thú, khoái cảm nghệ thuật như khi đến với những miền đất lạ
b) Về tác giả (người phát)
Thường có sự khác biệt giữa thể phát và người phát: Điều này thể hiện rõ ở những cuộc giao tiếp giữa các nhân vật trong tác phẩm Thể phát và thể nhận trực tiếp
là các nhân vật, nhưng nguồn phát là tác giả, c n đích nhận là độc giả Ví dụ như trong
tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao, hai nhân vật chính là Độ và Hoàng thực hiện nhiều
cuộc nói chuyện với nhau về cuộc kháng chiến chống Pháp đương thời, về dân ta, về
bộ đội, về dân tộc ta, về Bác Hồ; qua đó thể hiện hai sự đánh giá khác nhau, hai điểm nhìn khác nhau Nhưng đó chỉ là những nhân vật bề nổi Đằng sau hai nhân vật đó là tác giả muốn giao tiếp với độc giả về những vấn đề mà hai nhân vạt đang đề cập đến,
để từ đó tác giả muốn truyền đến độc giả một cách nhìn nhận thích đáng nhất
Có sự khác biệt giữa tác giả và người kể chuyện: Có thể, người kể chuyện xuất hiện trực tiếp và đóng vai một nhân vật trong tác phẩm, lần lượt kể lại những biến cố, những sự kiện xảy ra Có thể người kể chuyện là một con vật, một đồ vật được nhân
hóa như người Ví dụ như trong truyện Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Dế mèn kể
lịa câu chuyện cuộc đời của nó, nhưng thật ra nó chỉ đóng vai thể phát, c n người phát
là tác giả Tô Hoài Qua lời kể của Dế Mèn, tác giả muốn phát đi thông điệp đến độc giả nói chung và độc giả thiếu nhi nói riêng về những thăng trầm, những ưu điểm và hạn chế, những kinh nghiệm và sự non nớt trong quá trình trưởng thành của một con người
Rất thường gặp là trường hợp tác phẩm không có người kể chuyện, đương nhiên vẫn có tác giả Đây là trường hợp thường được gọi là kể chuyện ở ngôi thứ ba Tác giả không xuất hiện trong tác phẩm dưới bất cứ hình thức nào, nhưng lại như là người biết tất cả câu chuyện (tác giả toàn tri), đứng ngoài các biến cố và để cho câu chuyện diễn ra trước mắt người đọc, hiển hiện với tất cả mọi phương diện cụ thể của
nó (thời gian, địa điểm, nhân vật, sự kiện bên ngoài, tâm lý bên trong, điểm bắt đầu và điểm kết thúc, nguyên nhân và hệ quả…) Chỉ thông qua sự lựa chọn, sự quan sát, góc nhìn nhận, từ ngữ sử dụng, kết cấu tác phẩm… mà tác giả thể hiện tư tưởng thẩm mĩ
của mình Chẳng hạn như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan…là những tác phẩm được sáng tạo theo phương
thức này
Như vậy, trong văn chương, liên quan đến vai tác giả, cần phân biệt nguồn phát
và thể phát, người kể chuyện và tác giả, tác giả và nhân vật, những thực thể này có
Trang 32quan hệ với nhau nhưng không phải trùng hợp, càng không phải đồng nhất với nhau Ngay một nhân tố như điểm nhìn đối với sự vật, sự việc được trần thuật trong một tác phẩm tự sự, thì giữa tác giả, người kể chuyện và cả các nhân vật trong truyện có thể đồng nhất trùng hợp, nhưng cũng có thể khác biệt
1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
Ngữ cảnh trong giao tiếp văn học cũng hết sức đặc biệt và đóng vai tr quan
trọng Trong các loại hình giao tiếp khác, yếu tố ngữ cảnh ít có sự biến đổi hoặc có sự biến đổi thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc hiểu thông điệp Trong khi đó, với văn chương, ngữ cảnh cho sự ra đời của một tác phẩm có thể cố định nhưng ngữ cảnh tiếp nhận tác phẩm lại thay đổi liên tục Nó thay đổi trong không gian và thay đổi trong thời gian Bởi vì người tiếp nhận, giải mã tác phẩm văn học thuộc nhiều thời đại
và ở nhiều nơi khác nhau Chính sự thay đổi về ngữ cảnh giao tiếp là một yếu tố quan trọng dẫn đến việc hiểu thông điệp tác phẩm cũng thay đổi
Những sự khác biệt giữa tác giả và độc giả về thời gian và không gian văn hóa cũng chính là sự khác biệt về ngữ cảnh trong giao tiếp ở lĩnh vực văn chương Ngữ cảnh sáng tác của nhà văn có thể khác biệt, thậm chí khác biệt rất lớn với ngữ cảnh tiếp nhận của độc giả Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường hằng ngày, những sự khác biệt này không lớn Người nói và người nghe thường có chung những kiến thức nền hay những tiền giả định tương đương bởi vì cả hai thường sống trong cùng một thời gian và không gian văn hóa Chẳng hạn, khi giao tiếp mua bán ở các chợ Việt
Nam giữa người mua và người bán trong những năm đầu của thế kỷ XXI, cụm từ rau sạch đã được nói đến và lĩnh hội với một cùng một ý nghĩa, nghĩa này có thể khác với nghĩa của cụm từ đó ở thế kỷ XX về trước: rau sạch không phải là rau không lấm bùn
đất hay rác rưởi mà là loại rau không nhiễm hóa chất, cho nên lành, không độc hại cho
cơ thể
1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Đó là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ cao Mỗi văn bản văn chương bao giờ cũng là lời nhắn gởi trực tiếp hay gián tiếp, kín đáo hay công khai của người viết vế cuộc đời và cuộc sống Bằng sáng tạo nghệ thuật theo phong cách riêng của mình nhà văn tạo ra tác phẩm bao gồm yếu tố khách quan và chủ quan nhằm gây một tác động đặc biệt lên tâm hồn người đọc
Ngôn ngữ nghệ thuật khá đa dạng về thể loại, phong phú về màu sắc, biến hóa
về tính sáng tạo và thống nhất ở ba đặc tính cơ bản là tính hình tượng, tính biểu cảm và
Trang 33tính hàm súc THTM trong tác phẩm văn chương là một hình thức tồn tại đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật
1.3 Giới thiệu về tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi
1.3.1 Lâm Thị Mỹ D - tác giả và tác phẩm
Lâm Thị Mỹ Dạ - nhà thơ nữ hiếm hoi thời hiện đại Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là thơ trực cảm, giàu ý tứ, bất ngờ và đầy nữ tính Mỹ Dạ sáng tác tương đối nhiều, cà
mỗi tập thơ mang những điểm nhấn riêng Tập thơ Ðề tặng một giấc mơ (1) của chị đã
khẳng định một thi pháp riêng Thi pháp ấy lấy chính bản thân mình làm đối tượng và dám vực dậy từ những giấc mơ tro vùi, những "Dư âm mặn như nước mắt", "Những chiếc lá phát sáng mầu huyền thoại" và nỗi buồn "Chết như từng giọt sương - Rơi không thành tiếng để mơ thành giấc mơ", để nhìn ra tha nhân và nhận lại những ngọt ngào, hy vọng sau khi đã soi thấy tận sâu thẳm tâm hồn mình "như bầu trời thấy mình qua dòng sông" Ở đó, tác giả tự thanh lọc và rút ra quy luật "Sức mạnh phù du chỉ là thoáng chốc", bởi vì muôn đời "vầng trăng xanh biếc" và "trái tim dịu dàng - Dịu dàng đến tận cùng trong suốt" vẫn đang đồng hành cùng tình yêu và c i nhớ
Ðêm dịu dàng - Đêm - Bài thơ đầu tập lấy làm tên cho tập thơ là lối vào thế
giới những hình ảnh và tâm trạng kỳ thú
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là tiếng nói đồng cảm đầy khẩn thiết của bao nhiêu số phận, trong đó, hướng về chung quanh trong sự khai thác cạn kiệt chính mình là cái nhìn nhân ái, là thi pháp tự suy đã qua chiêm nghiệm và thay đổi ngôn từ thi ca Thơ chị kết hợp được chất thực cuộc sống và ngôn ngữ đa dạng, tạo ra những dồn ép, biến
ảo, chồng chéo về hình ảnh, đối tượng như huyền thoại, cổ tích nhưng không hề có dấu vết của sự làm dáng Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, tuân thủ cảm xúc và từ trái - tim
- thi - sĩ - nhạy - cảm mà thành Tặng nỗi buồn riêng, Ðề tặng một giấc mơ, Giấc ngủ mặt trời là những bài thơ như thế
Với Ðề tặng một giấc mơ, Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm giàu có và phong phú thêm giọng thơ đầy nữ tính và nhân bản vốn có của mình từ Trái tim sinh nở (1974) đến Bài thơ không năm tháng (1983) và Hái tuổi em đầy tay (1989), nhưng giờ đây tính triết
lý, nghiệm sinh được tăng cường và sự khẩn thiết nhìn lại mình để thấy bước đi của thời gian và nỗi buồn không thể khác của con người và chính mình Từ đó, hướng khát vọng thi ca vào những chân trời mơ mộng Sức hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ
Dạ nằm trong đường biên của cái tôi và cái ta, giấc mơ và hiện thực, sự tự chôn vùi và
sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những gì sẽ đến; bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ không xa rời thi pháp truyền thống nhưng luôn phá và thay để làm giàu có cái phần hiện đại cần thiết của thơ Thơ chị tự nhiên cứ tưởng thốt
Trang 34ra là thành, không cần sửa chữa nhiều lắm nhưng đó là cái tự nhiên của một tâm hồn
đã chín, của những tứ thơ câm lặng, lãng quên được đánh thức sau giấc ngủ mặt trời, lúc mà cái - tôi - nghệ sĩ được lên ngôi cùng với những giấc mơ phát sáng mầu huyền thoại
1.3.2 Ý Nhi - tác giả và tác phẩm
Ý Nhi được xem là một nhà thơ khá nổi bật của thơ ca cuối giai đoạn chống Mỹ_ một gương mặt ấn tượng, một tài năng đặc biệt của thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật nên có lẽ Ý Nhi hiển nhiên hoặc may mắn mang trong mình tâm hồn nghệ sĩ sẵn có Ông nội là một nhà nho hay chữ vừa làm thơ và bốc thuốc cứu người Cha là nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian tài năng_Nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký Chính vì vậy mà có lẽ Ý Nhi được thừa hưởng từ cha và ông nội lối tư duy khúc chiết, mạch lạc Còn mẹ lại là một người rất yêu Thơ mới (thơ 1930-1945) , thêm nữa Ý Nhi được yêu và sống với người chồng là một nhà nghiên cứu và giảng dạy đáng kính nên tất cả những điều đó cũng góp phần làm nên một Ý Nhi độc đáo và riêng biệt như bây giờ
Đến với thơ Ý Nhi, ta sẽ tìm thấy một chất thơ mới lạ, giản dị nhưng đậm chất trí tuệ, giọng điệu thơ trầm lắng, suy tư, thiết tha mà chua xót.Với ngôn ngữ đậm chất triết luận thơ Ý Nhi là một sự kí thác sâu lắng của một trái tim không khi nào thôi khắc khoải trên hành trình đi tìm ý nghĩa của cuộc đời
Bén duyên với thơ ngay từ nhỏ, nhưng trên con đường làm thơ của Ý Nhi gặp không ít trở ngại và khó khăn Tuy nhiên, ý thức được khả năng thơ ca của mình, Ý Nhi đã dám dũng cảm dùng cả sự đam mê của mình để h a vào d ng thơ công chúng
và bắt đầu in chung với nhà thơ có tên tuổi như Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh Để có cái nhìn nghiêm túc về bản thân cũng như nhận được những phản hồi tích cực từ bạn
đọc, Ý Nhi đã phải băn khoăn tìm cho mình một con đường riêng và tập thơ Đến với
dòng sông (1978) là sự lí giải khá r cho con đường thơ c n gian nan ấy Nhưng cuộc
đời vốn dĩ không phụ lòng một ai, nếu có ý chí theo đuổi đến tận cùng đam mê ấy; vì
vậy,cánh cửa may mắn đã mở khi tập thơ Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi xuất
hiện Với tập thơ này, tên tuổi Ý Nhi được chú ý rộng rãi hơn bởi những vần thơ giản
dị, đời thực nhưng lại mang tính triết lí và chiều sâu Đó là cái chất liệu riêng để làm nên điểm khác biệt ở nhà thơ Ý Nhi so với các nhà thơ nữ cùng thời Chưa dừng lại ở
đó, bằng nguồn cảm hứng dâng trào các tập Ngày thường, Mưa tuyết, Gương mặt,
Vườn lại tiếp tục khẳng định tài năng và làm nên tiếng vang cho nhà thơ Ý Nhi Chính
những bước trưởng thành qua năm tháng đó, chúng ta mới có được một Ý Nhi sâu sắc,
ý nhị, tinh tế như hôm nay Và Ý Nhi xứng đáng được xem là một trong nhà thơ nữ tiêu biểu trong nền văn học hiện đại
Trang 351.4 Tiểu kết
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu lí thuyết về kí hiệu học và các vấn đề liên quan, chúng tôi đã khái quát hóa được các vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ và ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ; mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ, kí hiệu học trong ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Cũng trong chương 1, chúng tôi điểm qua vài nét
về tác giả và tác phẩm thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi Những vấn đề này sẽ là
cơ sở lí luận để chúng tôi tiếp tục phát triển ở các chương sau của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ THƠ Ý NHI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI
BIỂU ĐẠT
Từ xưa đến nay, người phụ nữ luôn chiếm một vị trí trung tâm và là đối tượng chính trong thơ văn Việt Nam Theo dòng chảy của lịch sử, người phụ nữ vẫn là hình tượng xuyên suốt qua các tác phẩm văn học Đặc biệt, dưới cái nhìn đầy tình cảm và trân
trọng của người phụ nữ đối với những người phụ nữ, Lâm Thị Mỹ Dạ và Ý Nhi đã đi khai
thác nội tâm nhân vật một cách sâu sắc và tinh tế Trong thời chiến cũng như thời bình, người phụ nữ vẫn hiện lên những phẩm chất truyền thống tốt đẹp, nhưng lại đan xen bởi những cung bậc cảm xúc phức tạp, những tâm sự sâu kín, những trăn trở trong cuộc đời
Để giải mã được những nội dung mang tính nghệ thuật nói trên, chúng ta phải
xuất phát từ việc tìm hiểu ngôn ngữ biểu đạt của hình tượng tượng người phụ nữ trong
thơ của Mỹ Dạ và thơ Ý Nhi Đó cũng là nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm được chúng tôi đề cập trong chương 2 này
2.1 Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ D
2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ D , xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể
Qua việc khảo sát hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi đã thống kê được các tín hiệu thẩm mĩ hằng thể chỉ người phụ nữ xuất hiện trong
các tác phẩm là 12 lần Có thể xác định các tín hiệu hằng thể như : người mẹ, người con gái, người chị, người đàn bà, Thông qua hình tượng người phụ nữ, các tín hiệu
hằng thể là những từ ngữ đồng nghĩa/biểu thức đồng quy chiếu về hình tượng người phụ nữ trong thơ
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát tín hiệu hằng thể chỉ hình tượng người phụ nữ trong thơ
Trang 37Từ khảo sát tín hiệu hằng thể trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chúng ta thấy hình tượng
người phụ nữ biểu hiện qua các tín hiệu như : hình tượng “em”, người mẹ, người con gái, người chị, thiếu nữ,… Nhưng trong đó chiếm tần số khá cao là hình tượng“em” với 42.1 %, tiếp theo là người mẹ chiếm 35.4 %, người chị chiếm 4.4 %, người đàn bà
chiếm 4.0%,…Mỗi lần xuất hiện các tín hiệu hằng thể đều mang những hàm ý biểu trưng khác nhau
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, tín hiệu hằng thể “em” có tần số cao nhất
Tuy nhiên, xét về mặt cái biểu đạt ngôn ngữ trong từng ngữ cảnh qua mỗi bài thơ, thì
tín hiệu hằng thể “em” có thể bao gồm cả hình tượng người con gái trong tình yêu,
người con gái trong gia đình, người con gái trong cuộc kháng chiến, hay có thể là
người vợ, người mẹ, hay chính tự bản thân nhà thơ,…Chẳng hạn như nói về người con gái đang yêu:
Hãy chỉ cho em cái kém
Để em nên người tốt lành Hãy chỉ cho em cái xấu
Để em chăm chút đời anh
Hay tín hiệu hằng thể “em” được đổi vai liên tục để biểu hiện tình cảm của người vợ, người mẹ và người con gái vừa lắng đọng, vừa da diết:
Phần yêu em gửi cho anh Còn phần hi vọng em dành cho con
Mấy phần chờ đợi mỏi mòn
Mẹ em đã nhận lúc tuổi còn xinh
(Trái tim sinh nở)
Trang 38Trong bài thơ, tác giả chỉ dùng một tín hiệu hằng thể chung là “em”, nhưng ở từng ngữ cảnh của câu thơ, người “em” lại có một vị trí đặc biệt Trường hợp“em” trong quan hệ với “anh” và “con” thì họ là người vợ luôn thương yêu chồng, còn trong quan hệ với “con”, “em” lại là một người mẹ thương con vô bờ bến, nhưng đồng thời trong quan hệ với “mẹ” thì “em” mang hình ảnh của người con gái, luôn nhớ về người mẹ kính yêu Như vậy, chúng ta thấy rằng, trong thơ Mỹ Dạ, hằng thể có
thể là tín hiệu đa diện, bao gồm một tín hiệu chung nhưng lại mang nhiều ý nghĩa biểu trưng khác nhau
Ngoài ra, tín hiệu hằng thể chỉ người mẹ xuất hiện với tần số khá cao trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Mỗi bài thơ, hình ảnh người mẹ hiện lên với những nét nổi bật mang
vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Hình ảnh người mẹ biểu trưng cho
người phụ nữ đảm đang, chịu khó, tháo vát luôn vì gia đình, chồng con Với tình mẫu
tử bao la, người mẹ luôn dành tình yêu sâu đậm nhất cho con mình Và cũng vì những
sự hi sinh thầm lặng ấy mà Lâm Thị Mỹ Dạ dành rất nhiều tình cảm cho người mẹ
trong thơ của mình:
Mẹ yêu con cho dòng sông biết hát
Cho những ngôi sao biết soi mặt đất cười
Một tiếng gà sang canh mẹ lo con thức giấc Một buổi xa nhà mẹ nhớ con khôn nguôi
(Nghĩ v mẹ )
Hay hình ảnh người mẹ bình dị, đảm đang:
Mẹ ngồi đãi thóc ban trưa
Gió se se sóng bóng dừa nghiêng in Thóc vàng nước gợn thêm xinh Hạt chắc, hạt lép mới nhìn giống nhau Cũng màu tơ khác gì đâu
Mà sao mẹ đãi rất lâu, đãi hoài
(Đãi thóc)
Trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chúng ta còn bắt gặp những hình ảnh các cô gái
xung phong, dũng cảm làm việc với phong thái ung dung, mang vẻ đẹp chất phác chẳng sợ hiểm nguy:
Màu vàng bom bi trộn lẫn trong màu vàng của lúa Bom nổ chậm không làm ta sợ nữa
Bao năm chiến tranh lòng đã quen rồi
Nào chị em mình gặt đi thôi
Trang 39Mỗi người một đội vành trăng nhỏ Chấp chới nghiêng trên thảm lúa vàng
Tổ gặt con gái làng tôi đó
Mười hai chiếc nón sáng đêm thâu
(Gặt đêm)
Hay hình ảnh cô gái trong Khoảng trời, hố bom đã tiếp tục vẽ nên bức tranh về
một thời chống Mỹ anh hùng, các cô gái mở đường, những cô gái thanh niên xung phong họ bất chấp hiểm nguy hi sinh vì Tổ quốc Hình ảnh những cô gái đó biểu trưng cho người phụ nữ anh hùng, bất khuất, kiên trung:
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng quân thù Hứng lấy luồng bom…
(Khoảng trời, hố bom)
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, tín hiệu hằng thể người đàn bà cũng xuất hiện nhiều lần
Ở đây hình tượng người phụ nữ không nêu rõ một cách cụ thể, tuy nhiên xét ở ngữ
cảnh của mỗi bài hình ảnh người đàn bà có thể là những người phụ nữ chung trong xã
hội như người chị, người vợ,…, hay có thể là tác giả_ cái tôi trữ tình của nhà thơ:
Người đàn bà đi ra đường
Gió mùa xuân choàng qua vai thiếu phụ
Người đàn bà nói một câu thật nhỏ
Chỉ để mình nghe Chỉ để gió nghe…
…
Nàng choàng chi màu đêm
Bộ áo đen như chiếc quan tài
(Người đàn bà mặc áo choàng đen)
Người đàn bà, chỉ người phụ nữ đã lấy chồng, hoặc người phụ nữ đã trạc tuổi trung
niên, họ không còn trẻ nữa, đã qua đi cái thời xuân sắc họ trở về với chính mình _ một người đàn bà lặng lẽ nhìn lại quá khứ, tiếc nuối, ngậm ngùi, xót xa
Các tín hiệu hằng thể xuất hiện trong mỗi câu thơ đều mang hàm ý biểu trưng
đa chiều, đa dạng về con người, phẩm chất, thân phận của người phụ nữ nói chung
2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ D , xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể
Khảo sát thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng tôi đã thống kê và phân loại các THTM
Trang 40biến thể theo bình diện cái biểu đạt Các tín hiệu biến thể chỉ người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ chính là sự miêu tả - cụ thể hóa các tín hiệu hằng thể trong mối quan
hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ kết hợp và liên tưởng qua ngôn ngữ biểu đạt hình tượng người phụ nữ trong thơ
Kết quả được thể hiện qua bảng tổng hợp dưới đây:
Bảng 2.2 Số lượng và tần số xuất hiện của tín hiệu biến thể chỉ người phụ nữ trong
thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
BIẾN THỂ Số
lƣợng
Tần số (Slxh)
Tần suất (%)
2.1.2.1 Các biến thể từ vựng của tín hiệu thẩm mĩ chỉ người phụ nữ trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát, phân loại các biến thể từ vựng chỉ người phụ nữ trong thơ