1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương bài giảng tâm lý học sai biệt

81 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Bài Giảng Tâm Lý Học Sai Biệt
Tác giả ThS. Bùi Thị Thanh Diệu
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Đề cương bài giảng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, trong “binh thư yếu lược” có nêu tám điểm trong phương pháp xem người: 1/ Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không 2/ Gạn gùng bằng lời xem có biến hóa không 3/ Cho gián điệ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

TÂM LÝ HỌC SAI BIỆT

ThS Bùi Thị Thanh Diệu

Đà Nẵng, 06/2018

Trang 2

Ý KIẾN NHẬN XÉT

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Trang 3

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

1 Tên học phần: Tâm lý học sai biệt

2 Số tín chỉ: 2

3 Trình độ: Dành cho sinh viên năm thứ 4

4 Phân bổ thời gian:

- Lý thuyết: 25 tiết

- Thực hành: 5 tiết

5 Điều kiện tiên quyết: Tâm lý học đại cương, Phương pháp luận và phương pháp

nghiên cứu tâm lý

7 Mô tả vắn tắt nội dung của học phần:

Học phần gồm các vấn đề cơ bản sau: những vấn đề chung của tâm lý học sai biệt, những đặc trưng cá nhân của các quá trình tâm lý, hệ tọa độ cá tính của cá thể con người, con người trong nhóm, phân loại cá nhân

8 Nhiệm vụ của sinh viên:

- Dự lớp và thảo luận

- Làm bài tập, chuẩn bị bài ở nhà trước khi dự học ở trên lớp

- Kiểm tra giữa kỳ

- Thi hết học kỳ

9 Tài liệu học tập:

- Ngô Công Hoàn, Tâm lý học sai biệt (2012), NXB ĐHSP Hà Nội

- Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Tâm lý học đại cương (2010), NXB ĐHSP Hà Nội

- Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lý học nhân cách (1998), NXB Giáo dục

- Phạm Bích Hợp, Tâm lý học dân tộc (1993), NXB TP Hồ Chí Minh

Trang 4

- Http://www.tamlyhoc.net

- Http://www.Tamly.com.vn

- http://psyk53.blogspot.com

10 Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:

- Thái độ học tập, thực hành, thảo luận, kiểm tra giữa kỳ … : trọng số 0,4

- Thi kết thúc học phần: trọng số 0,6

11 Thang điểm: A, B, C, D

12 Nội dung chi tiết học phần:

Chương 1 Những vấn đề chung của tâm lý học sai biệt

1 Tâm lý học sai biệt với tư cách một khoa học

2 Những khái niệm cơ bản

3 Những nguyên tắc cơ bản của việc phân tích sai biệt tâm lý

Chương 2 Những đặc trưng cá nhân của các quá trình tâm lý

1 Những đặc trưng cá nhân của các quá trình nhận thức

2 Những đặc trưng cá nhân của cảm xúc

3 Những đặc trưng cá nhân của các quá trình điều khiển

4 Những đặc trưng cá nhân của ngôn ngữ và ý thức

Chương 3 Tính cá thể của con người

Chương 4 Con người trong nhóm

1 Sự biến đổi không gian sống theo lứa tuổi

2 Những khác biệt về giới

3 Vị thể xã hội kinh tế của cá nhân

4 Dân tộc và chủng tộc

Chương 5 Phân loại cá nhân

1 Các kiểu dạng và sự phân loại

2 Các dạng cá nhân

Trang 5

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC SAI BIỆT

(4 tiết)

1 Mục tiêu

Sau khi học xong chương này, SV đạt được các mục tiêu sau đây

1.1 Tri thức

- Chỉ ra được đối tượng, nhiệm vụ, ý nghĩa của TLH sai biệt

- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt cá nhân

- Trình bày được phương pháp nghiên cứu sự khác biệt cá nhân

- Nhận ra được ý nghĩa của tâm lý học sai biệt trong cuộc sống, nghề nghiệp

2 Nội dung bài học

1 Tâm lý học sai biệt với tư cách một khoa học

2 Những khái niệm cơ bản

3 Những nguyên tắc cơ bản của việc phân tích sai biệt tâm lý

3 Phương pháp giảng dạy, học tập

- Phương pháp thuyết trình, diễn giảng

- Phương pháp vấn đáp

- Phương pháp thảo luận, làm việc nhóm

- Phương pháp tự học, tự nghiên cứu

4 Câu hỏi ôn tập

1 Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu sự khác biệt tâm lý cá nhân?

2 Phân tích những nội dung cơ bản khác biệt cá nhân về sinh lý

3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt cá nhân

4 Phân tích những điểm khác nhau giữa khái niệm cá thể, cá nhân và nhân cách

5 Tại sao phải chú ý đến giáo dục những khác biệt về kỹ năng, năng lực cho cá nhân?

5 Nội dung chi tiết

Trang 6

1 Tâm lý học sai biệt với tư cách một khoa học

TLHSB là một khoa học độc lập được hình thành từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX Những thành tựu nghiên cứu về khí chất, tính cách, tập tính học, di truyền … đã tác động đến sự hình thành và phát triển TLHSB

1.1 Đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của tâm lý học sai biệt

1.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- TLHSB nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến những khác biệt tâm lý của các

cá nhân, cộng đồng xã hội, dân tộc

- TLHSB nghiên cứu các quy luật chi phối vào quá trình hình thành, phát triển, biểu hiện sự khác biệt tâm lý cá nhân và nhóm người

TLHSB nghiên cứu bản chất và nguồn gốc những khác biệt tâm lý cá nhân và các nhóm người

1.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- TLHSB là khoa học ứng dụng, tiếp tục nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện các khái niệm, phạm trù, các luận điểm riêng cho mình như các khác biệt về nhận thức, nhân cách, xúc cảm …

- Nghiên cứu vị trí, vai trò các yếu tố di truyền sinh học, các yếu tố môi trường, yếu tố nuôi dưỡng và giáo dục chi phối vào sự khác biệt tâm lý cá nhân

- Nghiên cứu, thiết kế, xây dựng các loại phương pháp nhằm phát hiện, xác định những đặc trưng cá nhân chi phối vào quá trình tạo ra sự khác biệt tâm lý ở các cá nhân

- Thiết kế, xây dựng các loại trắc nghiệm đánh giá, đo lường được những khác biệt tâm lý giữa các cá nhân và nhóm người

- Nghiên cứu những khác biệt tâm lý căn bản của cá nhân như nhận thức, xúc cảm, ngôn ngữ, ý thức … Đồng thời nghiên cứu những khác biệt tâm lý qua các đặc trưng nhân cách của cá nhân

- Nghiên cứu những khác biệt về giới, lứa tuổi, vị thế xã hội – kinh tế của cá nhân cũng như những khác biệt dân tộc và chủng tộc

1.1.3 Ý nghĩa của Tâm lý học sai biệt

- Đối với giáo dục

+ Cần đánh giá sự khác biệt nhận thức của học sinh để phân lớp theo trình độ nhận thức và xây dựng những biện pháp tác động phù hợp

Trang 7

+ Mỗi cá nhân phải nhận thức được sự khác biệt của mình với cá nhân khác thông qua năng lực, trí tuệ, tính cách …

+ Là cơ sở cho việc lựa chọn và định hướng nghề nghiệp

- Đối với công tác quản lý

+ Dựa vào những khác biệt cá nhân để phân công lao động hợp lý, đề ra những phương pháp, cách thức khơi dậy tiềm năng, kích thích sáng tạo, khơi nguồn hứng thú

và những xúc cảm của người lao động …

- Đối với đời sống xã hội

+ Những khác biệt cá nhân giúp ta định hướng giao tiếp xã hội tốt hơn

+ Trong gia đình trên cơ sở khác biệt mà mọi thành viên có cách ứng xử phù hợp + Giúp các nhà tội phạm học, quản lý xã hội có những nhận biệt khác biệt về tâm

lý, hành vi của tội phạm ở các độ tuổi, đặc biệt là trẻ vị thành niên – để có những biện pháp giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn hành vi phạm tội

1.2 Khái quát lịch sử Tâm lý học sai biệt

1.2.1 Một vài cách tiếp cận nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân ở Trung Quốc

cổ đại và phong kiến

Ngay từ thời chiếm hữu nô lệ Trung Quốc, ngoài nguyên tắc “Lập thích dĩ trưởng bất dĩ hiền” đã có tư tưởng dụng người hiền tài thông qua các chính sách khảo sát, tuyển lựa, giới thiệu, bổ nhiệm, đãi ngộ …

* Từ xã hội Tây Chu, có “Quan nhân giải”, “cửu dụng” và “thất thuộc” là lý luận

nhiệm dụng người hiền tài “Cửu dụng” được xem là nguyên tắc bổ nhiệm quan lại sớm nhất trong lịch sử, căn cứ vào chín mặt tài năng khác nhau mà bổ nhiệm quan lại

- Người chính trực, nhân nghĩa và có mưu lược thì quản lý nhà nước, cai trị bá tánh

- Người từ tốn, nhân đức và biết điều thì làm cho quan cơ sở, quản lý nhà nông

- Người chính trực, nồng hậu làm việc công bằng có thể để họ đốc thúc bách quan

- Người công bằng, chính trực và giỏi giải quyết việc đúng, sai thì để coi khiếu kiện, tố tụng

- Người làm việc vô tư, công bằng chính phái thì để nắm tài chính thu chi

- Người cẩn thận, trong sáng, công bằng vô tư thì để họ phụ trách phân phối, thu chi và khen thưởng

Trang 8

- Người giỏi mưu tính kinh doanh, lao động thì cho họ phụ trách nông nghiệp và các công việc kỹ thuật khác

- Người giỏi giao tế có quan hệ tốt với mọi người thì cho làm quan ngoại giao

- Người dũng mãnh, cương nghị, đa mưu có thể giao cho công việc bảo vệ biên cương

* Đến thời Xuân Thu (770 – 476 TCN) do các nước chư hầu xung vương nên một số nước đã bỏ tục lệ cũ, chế độ thế khanh thế tộc đổ vỡ Lúc này, nhân tài được chú trọng không kể đến địa vị, tầng lớp xuất thân.Những tư tưởng tiến bộ khi xem xét những khác biệt tâm lý cá nhân để lựa chọn quan lại lần lượt ra đời như: “trí – tín – nhân - dũng - nghiêm” của Tôn Vũ, “pháp – thuật – thế’ của Hàn Phi Tử …

Trải qua các triều đại Tần, Hán, Tam Quốc … việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài được đặc biệt chú trọng Trong “Gia Cát Lượng tập” có chương viết “tri nhân tính”, dựa vào những khác biệt tâm lý cá nhân để tuyển chọn kỹ lưỡng, như:

- Thứ nhất: hỏi các vấn đề đúng sai, phải trái để xem ý chí của họ

- Thứ hai: đặt một vấn đề cần biện luận tới nơi tới chốn, rồi từ đó xem diễn biến

tư tưởng của họ

- Thứ ba: bàn bạc về mưu kế với họ để xem kiến thức của họ ra sao

- Thứ tư: báo cáo cho họ biết trước những khó khăn nguy hiểm để xem lòng dũng cảm của họ tới đâu

- Thứ năm: cho họ uống rượu say để biết tính tình chân thật của họ

- Thứ sáu: cho họ tiếp xúc với quyền lợi xem sự liêm khiết của họ

- Thứ bảy: hẹn với họ về một việc gì để xem họ có giữ đúng chữ tín hay không

* Đến thời Tùy – Đường thì chế độ khoa cử xuất hiện Thời Võ Tắc Thiên còn sáng lập ra võ cử …

* Người ta tìm thấy các kỹ thuật đánh giá sự khác biệt cá nhân khá sớm ở TQ cổ đại như trắc nghiệm tuyển chọn nhân viên cách đây khoảng 4000 năm của ngành dân chính Các công chức phải chứng minh tài năng của mình 3 năm 1 lần, thông qua kiểm tra bằng lời Thời nhà Hán, các test văn bản được sử dụng để đánh giá tài năng trong các lĩnh vực: pháp lý, quân sự, nông nghiệp và địa lý

1.2.2 Vài nét nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân ở Việt Nam

Việt Nam với hơn 4000 năm lịch sử nhưng việc lưu giữ những tài liệu về chọn lựa, tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài bắt đầu từ thời nhà Lý (1010) Dấu ấn là năm 1070

Trang 9

lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, 1075 mở kỳ thi nho học gọi là “tam trường” đầu tiên, lấy

10 người trúng tuyển, Lê Văn Thịnh đỗ đầu khoa thi này Năm 1076 lập trường Quốc

Tử Giám cạnh Văn miếu làm nơi cho con em quan lại học Đến khoa thi cuối cùng nhà Nguyễn vào năm 1919, nước ta đào tạo khoảng 1599 tiến sĩ

- Thời Trần (1125 - 1400) chế độ khoa cử được phát triển hơn, các khoa thi mở đều đặn để chọn người hiền tài nhưng chỉ dành cho con cháu nhà quan Nhìn chung, việc lựa chọn nhân tài ở nước ta được đánh giá thông qua khoa cử Cụ thể, trong “binh thư yếu lược” có nêu tám điểm trong phương pháp xem người:

1/ Hỏi bằng lời nói xem trả lời có rõ ràng không

2/ Gạn gùng bằng lời xem có biến hóa không

3/ Cho gián điệp thử xem có trung thành không

4/ Hỏi rõ ràng tường tất xem đức hạnh thế nào

5/ Lấy của mà thử xem có thanh liêm không

6/ Lấy sắc đẹp mà thử xem có đứng đắn không

7/ Lấy việc khó khăn mà thử xem có dũng cảm không

8/ Cho uống rượu say để xem có giữ được thái độ không

1.2.3 Nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân theo trắc nghiệm tâm lý

- Sir Galton (Anh, 1822 - 1911) là người đặt nền tảng và có những đóng góp quan trọng cho sự ra đời của Tâm lý học sai biệt khi có những nghiên cứu khoa học, có thể định lượng được như:

+ Bản đồ thời tiết

+ Là người gợi ý có thể dùng dấu vân tay để nhận dạng người

+ Ông tìm cách xác định xem nước nào có nhiều phụ nữ đẹp

+ Ông đo được mức độ nhàm chán khi đọc sách khoa học

+ Galton tin rằng, nếu có sự khác biệt cá nhân quan trọng giữa con người thì có thể đo lường và phân loại sự khác biệt ấy Ông là người đầu tiên đo trí thông minh xuất phát từ quan điểm cho rằng: trí thông minh thuộc lĩnh vực tinh tế của các giác quan vì con người nhận biết được thế giới là nhờ các giác quan Giác quan càng tinh nhạy, người ta càng thông minh Sự tinh nhạy của giác quan là do di truyền tự nhiên nên trí thông minh là do di truyền Tuy nhiên ông không phủ nhận yếu tố chuyên cần

và gắng sức, nó sẽ giúp khả năng thông minh di truyền đạt được mức vượt trội

Trang 10

+ Ông đã sáng tạo “phòng thí nghiệm đo con người” tại London năm 1884 Tại đây, ông đo được 9337 người/ 1 năm theo bất cứ kiểu nào mà ông nghĩ ra

Nhìn chung, những đóng góp của ông cho tâm lý học sai biệt là:

1/ Về lý luận: đề cập một cách khá sâu về nghiên cứu bản tính và sự nuôi dưỡng của môi trường

2/ Xây dựng trắc nghiệm: qua việc sử dụng bảng hỏi, sử dụng trắc nghiệm từ liên tưởng để đo lường (định lượng) trí thông minh

3/ Nghiên cứu trẻ sinh đôi để xét tương quan giữa di truyền tự nhiên với môi trường nuôi dưỡng

4/ Nghiên cứu hình ảnh

5/ Đưa các thuật toán, phương pháp thống kê toán học để đo lường sự khác biệt

cá nhân, mà ông gọi là các tương quan hay kỹ thuật tương quan

Tuy nhiên, do hạn chế lịch sử, Galton cho rằng thiên tài mang tính di truyền Ông cho rằng sự xuất chúng đã được truyền qua nhiều thế hệ gia đình, việc giáo dục ảnh

hưởng không đáng kể đến trí thông minh Ông đưa ra thuật ngữ Ưu sinh học, khởi

xướng phong trào cải thiện dòng giống của loại người bằng cách ứng dụng học thuyết tiến hóa – kế hoạch hóa gia đình Những người ưu tú về mặt sinh học được khuyến khích lai giống với nhau, còn những người thấp kém thì khuyên không nên sinh con

Từ đó sự phân biệt chủng tộc, dân tộc ngày càng có cơ sở để phát triển

- Sau Galton thì J.M.Cattel (1860 - 1944) cũng tin rằng trí thông minh có tương quan đến sự nhạy cảm của giác quan và chủ yếu do di truyền Năm 1890 lần đầu tiên ông sử dụng khái niệm trắc nghiệm trí khôn Trắc nghiệm của Cattell dùng để đo trí thông minh giả thuyết rằng:

+ Nếu một số trắc nghiệm của ông đo cùng một điều (trí thông minh), kết quả của các trắc nghiệm này phải có tương quan rất cao với nhau

+ Nó cũng giả thiết rằng, nếu các trắc nghiệm đang dùng để đo trí thông minh, chúng phải có tương quan rất cao với kết quả học tập tại trường

Năm 1901, Clark Wissler, học trò của Cattell, đã tiến hành trắc nghiệm các giả thiết của Cattell, kết quả trắc nghiệm khác nhau với kết quả học tập Do đó, chương trình trắc nghiệm của Cattell sụp đổ

- Sau đó, theo hướng này có các trắc nghiệm A.Binet (1857 - 1911), nhà tâm lý học người Pháp, nghiên cứu sự khác biệt giữa các cá nhân, bắt đầu từ 2 người con gái

Trang 11

của ông, như: trí nhớ, sự sợ hãi tuổi thơ, tính đáng tin cậy của các chứng cứ tận mắt, tư tưởng không hình ảnh, thuật xem chữ viết …

- Theodore Simon (1873 - 1961) nghiên cứu sự chậm phát triển trí khôn ở trẻ em nhằm đánh giá sự yếu kém tri thức Sau này Binet – Simon đã xây dựng thang đo trí thông minh năm 1905 gồm 30 trắc nghiệm Hai ông không chấp nhận thuyết bẩm sinh

về trí thông minh mà nhờ vào hoạt động học tập

- Sau này, Stern người Đức, Lewis Terman của Mỹ, Charless Spearman người Anh, đo trí thông minh tổng quát Họ vẫn tin rằng trí thông minh tổng quát được quyết định bởi di truyền Từ đó, nhiều thang đo trí thông minh ra đời nhằm xác định “thiên tài hay ngu dốt” của Lewis Terman, xác định sự đần độn của người nhập cư do Goddard đề xuất …

Tóm lại, theo hướng nghiên cứu thang đo trí thông minh để đánh giá sự khác biệt

cá nhân thì hầu hết các nhà tâm lý học Mỹ, Anh cho rằng yếu tố di truyền sinh học quyết định Ứng dụng đỉnh cao là trục xuất hàng nghìn người lao động nhập cư vào

Mỹ từ các nước Châu Âu (1912 – 1913 - 1914) Trong khi đó, các nhà tâm lý học Pháp cho rằng cá nhân có thể làm tăng tri thức bằng học hỏi, học tập, hoạt động tích cực bền cạnh yếu tố di truyền

1.2.4 Nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân qua đặc điểm thể chất

1.2.4.1 Đặc điểm về thể hình

Ngay từ thế kỷ V trước công nguyên, Hyppocrate đã thiết lập bảng phân loại bốn nhóm mẫu người mà ta dễ dàng gặp ngoài đời:

+ Người nông nổi: có da thịt rắn chắc, hình dạng mập mạp

Trí tuệ hời hợt, tính tình cởi mở + Người u sầu: thân hình gầy nhom, hộp sọ lớn so với thân hình yếu ớt

Nóng nảy, dễ xúc động, bi quan, kiêu căng, sống khép mình + Người nóng tính: thân hình to nhưng gày, da dẻ vàng vọt

Dễ bị kích động, rất đa nghi, hung hãn và táo bạo + Người có khí chất bạch huyết: thân hình mập mạp, có khi béo phì

Hoạt động chậm chạp, lạnh lùng, nhạy cảm với ám thị và thôi miên

- Trường phái các nhà khoa học Pháp gồm Sigaud và Mac Auliffe lại chia thể hình ra các mẫu trội đặc điểm sau: loại cơ bắp, loại hô hấp, loại ý chí, loại tiêu hóa

- Theo kiểu Ý, Viola chia thể tạng con người ra hai hệ thống:

Trang 12

a) Hệ thống của đời sống thực vật (toàn bộ các cơ quan nội tạng) được tượng trưng bởi thân mình

b) Hệ thống của đời sống quan hệ (hệ thần kinh và các cơ vân) được tượng trưng bởi các chi

Nếu hai hệ thống a, b đều phát triển ta có con người bình thường, hài hòa Nếu a trội là người Ngũ đoản, b trội có người cao lêu nghêu

+ Loại ngũ đoản: cơ thể phát triển mạnh theo chiều ngang, bụng lớn, sức nặng đáng kể, mỡ dưới da dày, sức mạnh và dẻo dai, chức năng tiêu hóa tốt Về tâm lý: rất nghị lực, vui tính, đầy sinh khí, dễ thay đổi tính tình từ niềm vui phấn chấn sang dửng dưng, trầm uất

+ Cao lêu nghêu: cơ thể phát triển mạnh theo chiều dọc, lồng ngực dài, bụng thẳng, các chi dài hơn thân, cổ nhỏ dài, cơ bắp nhỏ, dài … Về tâm lý: thiếu ý chí, dễ sa sút tinh thần Trí thông minh, lanh lợi nhưng não và thần kinh mau mệt, có khuynh hướng tự khép mình trong cô đơn và mơ mộng Trí tuệ thường chiếm ưu thế

- Ngoài ra, Kretschmer dựa vào thể hình chia thành 3 loại sau:

+ Loại lực sĩ: to con trên mức trung bình, khuôn mặt oval, dài cổ chắc nịch và dài Cơ bắp phát triển, ít mỡ, chân nhỏ…

+ Loại khẳng khiu: cao, gày gò, chi khẳng khiu, bàn tay xương xẩu, các ngón tay nhọn, bụng lõm mềm nhão, xương yếu dễ gãy, mặt tam giác, tái xanh và gầy … Về tâm lý: nội tâm, lý tưởng, châm chọc, hay cười nhạo, thù dai, sợ phụ nữ, bi quan, khả năng kiềm chế tình cảm tốt

+ Loại dày cơm: cơ thể phát triển theo chiều ngang hơn chiều cao, thân trung bình, hộp sọ, lồng ngực và bụng phát triển theo chiều ngang, mặt đầy đặn, mập mạp, to bụng … về tâm lý: cởi mở, dễ gần, nhanh nhẹn, dễ thích ứng, hài hước, nhiệt tình, hào hiệp, không thù dai, lạc quan, khiêm tốn, thích ăn uống và phụ nữ đẹp…

1.2.4.2 Nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân qua kết hợp giữa đặc điểm thể chất

và tâm lý

Năm 1942, Seldom nghiên cứu mối quan hệ giữa tính khí (khí chất) và cá tính (tính cách) Ông chụp hình 4000 sinh viên và chia ra 5 vùng: 1 – đầu; - lồng ngực; 3 – phần bụng; 4 – vai, tay và bàn tay; 5 – các chi dưới Từ hàng nghìn mẫu thể, ông nhóm lại và phân ra 3 loại sau:

Trang 13

1/ Loại nội tạng: tập trung vào phát triển cơ quan nội tạng Việc tiêu hóa và sự thoái mái là hai mục tiêu chính của cuộc sống Con người lạc quan, ham ăn, mong muốn được âu yếm, tình yêu đồng loại chiếm ưu thế

2/ Loại cơ bắp: hoạt động cơ bắp vượt trội, hành động mạnh mẽ là mục đích cuộc sống, can đảm, thích đấu tranh, tính khí ổn định, hiếu động, kiên cường trong đau khổ 3/ Loại trí tuệ: hoạt động trí tuệ thể hiện rõ nét, không ngừng cảnh giác, tinh thần sâu lắng, trách nhiệm cao, nhút nhát, nói năng thận trọng

1.2.4.3 Nhận biết sự khác biệt cá nhân qua kiểu thần kinh

Pavlop (1849 - 1963) đã khám phá ra hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn

và ức chế Chúng có 3 thuộc tính cơ bản là: cường độ, tính cần bằng và linh hoạt Sự kết hợp khác nhau giữa 3 thuộc tính này tạo ra 4 kiểu thần kinh khác nhau chung cho

cả người và động vật Đó là cơ sở tự nhiên cho sự khác biệt tâm lý cá nhân mà ta gọi là khí chất

4 kiểu thần kinh 4 kiểu khí chất tương ứng

+ Kiểu mạnh mẽ, cân bằng, linh hoạt + Hăng hái

+ Kiểu mạnh mẽ, cần bằng, không linh hoạt + Bình thản

+ Kiểu mạnh mẽ, không cân bằng, linh hoạt + Nóng nảy

1.2.5 Hướng nghiệp

Ở các nước Âu, Mỹ người ta sử dụng những trắc nghiệm tâm lý vào hướng nghiệp nhằm giúp cho thanh thiếu niên nhận biết được mức độ phát triển trí tuệ, khả năng hứng thú nghề nghiệp của mình Ví dụ: bộ trắc nghiệm đánh giá hứng thú nghề nghiệp qua hình ảnh của Jearn Claude Stontage do học viện nghiên cứu lao động và hướng nghiệp Inetop – Paris, thông qua hệ thống hình ảnh với 78 ngành nghề chia thành 7 nhóm, khối nghề đã được thích ứng ở 25 quốc gia Bộ trắc nghiệm này đang được thích ứng ở Việt Nam

1.2.6 Tâm lý học lâm sàng

Tuy ra đời muộn nhưng TLHSB nhanh chóng sử dụng các thành tựu của nhiều ngành tâm lý học ứng dụng để đánh giá những khác biệt cá nhân về sức khỏe tâm lý Qua thăm khám, tư vấn, có thể tiên đoán sức khỏe tâm lý, rối nhiễu tâm lý của cá nhân

Trang 14

Do đó, để có được những nhận xét khách quan, khoa học, nhà tâm lý cần có được những thông tin đầy đủ hơn về người bệnh qua trắc nghiệm hay nghiên cứu về gia đình, trở ngại trước đây, tiền sử bệnh …

2 Những khái niệm cơ bản và các yếu tố chi phối sự khác biệt cá nhân

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Cá thể

- Quá trình phát triển cá thể bắt đầu từ thời điểm lọt lòng (ra đời) một sinh thể đến phát triển trưởng thành, già và chết (một vòng đời) một thực thể sinh học – tồn tại thực Mỗi cá thể là một tổ chức sống có một không hai, dưới kích thích tác động của môi trường tự nhiên, những đặc điểm cá thể được bộc lộ nhằm thích nghi với môi trường sống để tồn tại và phát triển Cá thể có các tính chất sau:

+ Là một tổ chức vật chất ở các bậc thang tiến hóa vật chất nhất định

+ Sự tồn tại và phát triển cá thể do các chương trình sinh học được mã hóa ở các gene trong tế bào quy định

+ Sự hoạt động của các chương trình sinh học, các gene do kích thích tác động từ môi trường tự nhiên quy định

+ Quá trình hoạt động các chương trình sinh học, các gene phù hợp, tương ứng với những tác động kích thích từ môi trường tự nhiên, gọi là quá trình thích nghi giữa

cơ thể với môi trường

2.1.2 Cá nhân

- Cốt lõi của cá nhân là cá thể Cá nhân là một người cụ thể, có một không hai, với một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh, thống nhất, tự nó có thể tồn tại, vận động và phát triển trong môi trường tự nhiên và xã hội nhất định với tư cách là con người Cá nhân có những tính chất sau:

+ Phải là một cá thể

+ Cá thể ở bậc thang tiến hóa cao nhất của vật chất được gọi là con người

+ Có nhiều đặc tính khác biệt sinh học, có một không hai để phân biệt với con người khác

+ Do tồn tại phát triển trong môi trường xã hội nên cá nhân hình thành những đặc trưng xã hội mang tính người

+ Cá nhân, có nhiều đặc tính xã hội khác biệt có một không hai, nhờ đó ta phân biệt được người này với người khác

Trang 15

2.1.3 Nhân cách

- Nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội – lịch sử

và của sự tiến hóa cá thể của con người (Rubinstein - 1940)

- Nhân cách chính là kết quả của quá trình chín muồi của những nét di truyền dưới tác động của môi trường xã hội (Leonchiev)

- Nhân cách có những khác biệt căn bản sau:

- Cơ chế di truyền sinh học như cấu tạo thể chất nói chung, não, tủy sống, hoạt động của hệ thần kinh, các giác quan, cấu tạo và chức năng của các tuyến nội tiết … luôn là một trong những yếu tố quy định sự khác biệt cá nhân về tâm lý

2.2.2 Môi trường

- Môi trường hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh có tác dụng tương hỗ với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người

- Trong tài liệu này, môi trường được xem xét gồm 2 loại:

+ Môi trường vật lý gồm toàn bộ các sự vật, hiện tượng vật chất tác động đến sự tồn tại và phát triển của cá nhân

Môi trường này ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất và tinh thần con người Ví dụ: theo nghiên cứu của Ware thì chứng trầm cảm có liên quan tới các mùa Một số người thường bị trầm cảm suốt mùa đông

+ Môi trường xã hội gồm các quan hệ xã hội, các sản phẩm văn hóa xã hội do con người tạo ra, các hình thái ý thức xã hội như hệ tư tưởng, nghệ thuật, pháp luật, đạo đức …

Trang 16

Môi trường này gây áp lực lớn, tác động đến mỗi cá nhân thông qua các nhóm xã hội như gia đình, nhà trường, làng xóm … Nó tác động đến hành vi của con người, ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ con người Sự ảnh hưởng đó như sau:

1/ Tác động văn hóa đến sự khác biệt cá nhân

2/ Nhóm gia đình và xã hội

3/ Nhận thức xã hội

4/ Tương tác giữa các cá nhân

5/ Phản ứng cảm xúc và cơ thể

6/ Không gian cá nhân

7/ Mật độ dân số và sự đông đúc từ môi trường sống và hoạt động của các cá nhân

8/ Tiến ồn, ô nhiễm không khí, khí hậu

9/ Môi trường xây dựng

2.2.3 Giáo dục

Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình tác động có ý thức, có mục đích, có chương trình, kế hoạch của người lớn đến thế hệ trẻ Có ba hình thức giáo dục đến cá nhân, đó là giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội Sự khác biệt tâm lý cá nhân chịu ảnh hưởng lớn từ giáo dục gia đình

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là sự chuyển giao hiểu biết và đặc biệt là trạng thái của tâm hồn (Ngô Công Hoàn, Giáo dục gia đình, NXB GD, Tr 65)

- Giáo dục gia đình ảnh hưởng đến sự khác biệt tâm lý cá nhân như sau:

+ Tiền đề của sự khác biệt cá nhân bắt đầu ngay từ lúc trong bào thai thông qua chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý, giao tiếp của mẹ

+ Sau khi trẻ ra đời đến 3 tuổi, hoạt động tâm lý của trẻ phát triển mạnh và sự khác biệt cá nhân bắt nguồn từ những tác động giáo dục tự phát và tự giác của gia đình, thể hiện qua những nội dung như:

• Về ngôn ngữ, sự khác biệt về vốn từ, cách phát âm, ngữ điệu … đến 3 tuổi trẻ đã đạt khoảng 1000 từ trong khi một số trẻ ở môi trường ngôn ngữ không thuận lợi chỉ có vài trăm thậm chí chưa biết nói

• Dấu hiệu xã hội khác biệt đầu tiên là đứa trẻ được đặt tên và trẻ sớm nhận biết sự khác biệt giữa mình với người khác chính là tên gọi

Trang 17

• Trẻ bắt chước nhiều mẫu hành vi xã hội từ mẹ, người thân, những người gần gũi trẻ trong gia đình như: tiếng cười (phản ứng, hành vi xúc cảm, biểu cảm), dáng

đi, tư thế, cách biểu đạt nhu cầu của mình với mọi người xung quanh … Nhiều mẫu hành vi trở thành thói quen Đây chính là nền tảng hình thành sự khác biệt tâm lý cá nhân

• Sự hình thành và phát triển năng lực nhận biết màu sắc, hình dạng, sự tập trung của chú ý, trí nhớ … cảm thụ âm nhạc, đặc biệt là các chuẩn nhận cảm về hành

vi đúng sai, tốt xấu …

• Trẻ xuất hiện một số cá tính và chức năng tâm lý bậc cao như ngôn ngữ, tưởng tượng, ý thức … nhờ có sự phát triển của tiếng mẹ đẻ Hình thành tình cảm, kỹ năng thông qua chế độ sinh hoạt, giao tiếp …

Tóm lại, giáo dục gia đình đã tạo ra khung nhân cách, gốc nhân cách cho cá nhân

là nơi hình thành và nuôi dưỡng tâm hồn cho mỗi cá nhân

- Giáo dục nhà trường và xã hội ảnh hưởng đến sự khác biệt tâm lý cá nhân như sau:

Giáo dục trong tương lai phải là nền giáo dục toàn diện, liên thông các giá trị, các loại kiến thức và năng lực, là nền giáo dục bình đẳng cho mọi người Các sản phẩm của giáo dục là đào tạo ra những công dân toàn cầu tích cực đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội Như vậy, sự khác biệt tâm lý cá nhân do giáo dục nhà trường và xã

hội tạo ra là: bên cạnh các năng lực sáng tạo, tưởng tượng, phát minh và sáng chế,

người học phải có được các năng lực tự tin, tự lãnh đạo, tự định hướng, tự đảm bảo cuộc sống sung túc, tự quản và đặc biệt là có năng lực giao tiếp tốt (Nguyễn Anh,

Tương lai học: điểm tựa xác định, Giáo dục và thời đại, tháng 4/2010)

3 Nguyên tắc và phương pháp phân tích sai biệt tâm lý

3.1 Những nguyên tắc cơ bản nghiên cứu những khác biệt tâm lý cá nhân

3.1.1 Nguyên tắc quyết định luận

Quyết định luận duy vật – quan điểm cho rằng mọi hiện tượng tâm lý, mọi hoạt động của con người đều do các hiện tượng vật chất chi phối Các hiện tượng vật chất

là nguyên nhân dẫn đến các kết quả hành vi hoạt động vật chất hat hoạt động tâm lý

3.1.2 Giản hóa luận và thuyết tương tác

- Giản hóa luận là nguyên tắc nhận thức sự khác biệt tâm lý cá nhân có thể rút

gọn, quy về một mô hình nào đó Tuy nhiên, một mô hình nào đó chi phối quy định sự

Trang 18

khác biệt tâm lý cá nhân, không thể phản ánh toàn diện về nguồn gốc, nguyên nhân chi phối, ảnh hưởng sự khác biệt tâm lý cá nhân Song giản hóa luận có thể giúp ta khái quát nhanh yếu tố ưu thế, nhân tố quyết định trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra những khác

biệt tâm lý cá nhân

- Thuyết tương tác là nguyên tắc giải thích các sự kiện tâm lý bị chi phối bởi hai

hay nhiều nguyên nhân, dựa vào các mức độ phân tích khác nhau

3.1.3 Tranh luận tự nhiên – nuôi dưỡng

Hai nguồn tự nhiên – nuôi dưỡng hỗ trợ lẫn nhau chứ không đối lập và cách chúng tương tác lẫn nhau mới là tiêu điểm quan tâm hiện đại

3.1.4 Nguyên tắc nghiên cứu khác biệt nhân cách, mô tả cá nhân và ý nghĩa hành

vi – kinh nghiệm xã hội

Có ba cách tiếp cận khi sử dụng nguyên tắc này:

- Tiếp cận 1: Nghiên cứu những khác biệt nhân cách thông qua các khía cạnh chung trong nhân tính, là những định hướng khám phá các quy luật chung về hành vi người Nhờ các quy luật này, các nhà nghiên cứu có thể dự đoán về cách ứng xử của

đa số con người trong một tình huống nhất định

Cách tiếp cận này thường sử dụng phương pháp thống kê khi nghiên cứu nhân tính về số lượng khác biệt ở người bình thường, đánh giá theo nhóm tìm sự khác biệt chung giữa các nhóm

“Đau mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt có mình em đâu”

- Cách tiếp cận 2: Nghiên cứu mô tả cá nhân đi sâu tìm hiểu tính chất cá nhân và

sự khác biệt ở con người cụ thể

Mục tiêu của nghiên cứu cá nhân gồm: có thể hiểu thấu đáo về một cá nhân sẽ dẫn đến việc phát hiện ra những nguyên tắc chung áp dụng cho mọi người, thông qua tiếp cận cá nhân có thể hiểu biết chi tiết về một cá thể với tư cách là một sinh vật hoàn thiện

- Cách tiếp cận 3: nghiên cứu ý nghĩa hành vi – kinh nghiệm xã hội

Cách này nhằm tìm hiểu, nhận biết con người giải thích kinh nghiệm và sử dụng các hình thức tượng trưng khác nhau nào? Chuyển tải các ý nghĩa của đời sống con người như thế nào?

Trang 19

Cách tiếp cận này thường quan tâm đến chất lượng các dữ liệu hay chất lượng các sản phẩm hoạt động của cá nhân

Tóm lại, tiếp cận khác biệt tâm lý giúp chúng ta dự đoán được cơ chế nhân quả trong hành vi con người Nguyên tắc này nhấn mạnh nghiên cứu cái tổng thể và cái riêng, cá thể

3.2 Những phương pháp nhận biết sự khác biệt cá nhân

3.2.1 Một số phương pháp nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân ở Phương Đông a/ Thời cổ đại của Trung Quốc

1/ Quan thành (quan sát sự chân thành)

- Với người phú quý thì xem ở sự bố thí của họ

- Với người bần cùng thì xem ở phẩm chất của họ

- Với người đang được sủng ái thì xem có kiêu sa hay không

- Với người đang khốn khổ thì xem có sợ hãi không

- Lúc họ còn trẻ xem có cung kính bề trên, cần cù học tập hay không, ở tuổi tráng niên xem có liêm khiết thiết thực không, có thể chiến thắng sự riêng tư của mình không Lúc tuổi cao, xem ở suy nghĩ thận trọng của họ có quy cũ không …

2/ Khảo chí (khảo sát tâm chí)

Khảo chí là xem xét tâm chí của một cá nhân, tức chí hướng trong lòng thông qua ngôn luận Người có chí hướng lớn lao mà sâu xa, khí chất của họ khoan hậu, nhu thuận, sắc mặt ôn hòa không bợ đỡ, không che dấu thiếu sót … mỗi ngày tiến thêm một bước Nếu người lên mặt ta đây, cho rằng mình tài cán hơn người, che lấp thiếu sót, khoe khoang tài năng … mỗi ngày sẽ lùi thêm một bước

Một cá nhân trước việc mừng giận mà sắc mặt không đổi, gặp việc phiền muộn

mà chí hướng không đổi, trước sự uy hiếp mà không hạ mình, là người có tấm lòng bình ôn, giữ được chí hướng

3/ Thị trung (Xét nội tâm)

Trang 20

Nội tâm bộc lộ ra trước tiên ở thanh âm và hơi thở Người có tâm tính phù hoa, không thiết thực thì thanh âm li tán Người tâm tính hòa thuận, thành thực thì thanh âm tiết chế …Nghe thanh âm hơi thở có thể thấy hành vi của họ Xem xét duyên cớ hành

vi có thể thấy sự an tâm của họ Từ hành vi trước đây mà thấy việc sau này của họ … Đấy là phép thị trung

4/ Quan sắc (quan sát sắc mặt)

Nội tâm biểu hiện ra ở sắc mặt Con người có 5 loại xúc cảm phổ biến: mừng, giận, tham muốn, sợ sệt, lo âu, chúng được biểu hiện ra ngoài, qua sắc mặt, tính tình của mỗi người không thể che lấp được Khi cao hứng thì mừng vui hiện ra, khi bị khinh nhờn thì vẻ bực tức đầy mặt, khi muốn lấy của người khác thì vẻ tham muốn lộ

rõ ở mặt, khi sợ sệt thì bỗng nhiên biến sắc, còn lo âu, bi thương thì lộ rõ ở vẻ mặt, mệt mỏi, bất an

5/ Quan ẩn (xem điều ẩn chứa)

Quan ẩn là thấy được cái mà người ta cố che giấu Con người thường có xu hướng ngụy trang tình cảm của mình, nếu không giỏi quan sát thì không biết được sự

ẩn giấu đó

6/ Quỹ đức (xem xét đạo đức)

* Phương pháp tuyển chọn nhân tài của Lưu Thiện (tác giả cuốn “Nhân vật chí”, được xem là trước tác nhận biết người tài năng).Ông cho rằng tài trí, tính tình của mỗi người là nhận được từ tự nhiên, do tính tình khác nhau mà mỗi người có những biểu hiện đặc trưng riêng biệt Dựa vào thuyết âm dương ngũ hành của chủ nghĩa duy vật thuần phát, như người tính kim thì có nghĩa lý, người tính mộc có nhân ái

Để nhận biết con người, Lưu Thiện cho rằng cần sử dụng 3 quan điểm cơ bản: 1/ Xem xét nhân tài bằng quan điểm biến hóa phát triển

2/ Dựa vào quan điểm âm dương thống nhất, đối lập nhận biết những khác biệt cá nhân

3/ Chú ý đến hoạt động thực tiễn tích cực của cá nhân để tu sửa nhận thức, nhận biết nhân tài

Phương pháp nhận biết cá nhân của ông gồm: tam đàn, ngũ thị, bát quan, cửu trung

- Tam đàn: quan sát mức độ nhận thức thường ngày của cá nhân

- Ngũ thị: quan sát xu hướng hành vi cá nhân

Trang 21

- Bát quan: quan sát tổng hợp: thiện ác, sự biến đổi tình cảm và thái độ thường ngày, xem xét phẩm chất, tính cách, nhận biết thực giả từ các tình huống, xem sự yêu mến, kính trọng để biết thông đạt hay bế tắc, xem tình cảm để hiểu bụng dạ, xét sở đoản để biết sở trường…

- Cửu trưng: khảo sát trọng điểm các phương diện tâm lý của con người

* Phương pháp suy đoán tính mệnh của cá nhân dựa trên cơ sở dữ liệu của năm tháng, ngày, giờ sinh

- Phương pháp suy đoán vận mệnh của con người (Tử Bình)

+ Hành kim: thích tự lấy mình làm trung tâm, làm việc quyết đoán, cứng nhắc Tính tình nóng nảy, kiên định, không thỏa hiệp, độc lập, có khả năng thành công + Hành hỏa: mạo hiểm, tiến thủ và có trí lớn, hoài bão lớn, có lòng tin và luôn tìm cái mới, quyết đoán, kiên cường, có khả năng lãnh đạo

+ Hành thủy: thỏa hiệp, hòa giải, có sức thuyết phục, thuần hóa, bị động, ỷ lại, thích đồng tình, khiêm tốn, không kiên định, nhạy cảm

+ Hành thổ: ổn định, bảo thủ, chậm chạp, cứng nhắc, thiếu trí tưởng tượng, thận trọng, sợ gánh vác hiểm nghèo

+ Hành mộc: cởi mở, tuần tự mà tiến, trí não sáng suốt, chăm chỉ công bằng…

* Quan sát qua diện tướng: quan sát những dấu hiệu bên ngoài về hình thể, cấu tạo

hình dáng các bộ vị trên mặt như mắt, mũi, trán, tóc, khuôn mặt … xuất phát từ quan điểm tâm là nguồn gốc của tướng mạo, tướng mạo là dấu hiệu bên ngoài, biểu hiện của tâm Ví dụ:

“Ở đời nên chọn bạn mà chơi Chơi với những ai mắt sáng ngời Biết mình biết bạn không tự đắc Những người như thế mới nên chơi”

+ Miệng là biểu hiện hoạt động bên ngoài của nội tạng cơ thể:

Khỏe mạnh thì môi miệng tươi sáng

Trang 22

Môi xanh tím có dấu hiệu bệnh tim Môi trắng bệch có dấu hiệu bệnh máu Môi xanh có dấu hiệu bệnh gan Môi đỏ hồng có dấu hiệu nhiễm độc + Diện tướng khái quát:

• Loại người tình nghĩa: chân mày thanh tú, mắt sáng nhưng không lộ, nhìn thẳng, thấy phải thì làm, dám nói, không sợ uy quyền

• Loại khẳng khái: mày đẹp, trán rộng, ánh mắt kiên cường, mũi ngay thẳng và cao, tính tình độ lượng

• Loại gian xảo: lông mày thô, đậm quá mức, lòng trắng mắt có nhiều tia hồng, chuẩn đầu méo mó, mũi gãy lệch, thích nói chuyện kín người khác

Hoặc:

• Tướng người ngay thẳng: ngũ quan đoan chính, mắt nhìn thẳng, không ba hoa

• Tướng người ít khôn khoan: lông mày đậm, che hết mắt, mắt ngắn và nhỏ, mũi vẩu răng khập khểnh

• Tướng người phản bội: mắt lồi, đỏ, liếc ngang, nhìn trộm, lông mày thưa, lưỡng quyền gồ cao không tương xứng với mặt, trán có nếp nhăn lộn xộn

• Tướng người gian tham: đầu nhọn, lông mày xoắn mắt vàng hình tam giác, mũi ngắn, thấp, lông mày ngược, da tái xám

• Tướng người hung ác: mắt si dại như ngái ngủ, các thớ thịt ở mặt phát triển theo chiều ngang, mũi lõm, lưỡng quyền cao, tóc cứng, tiếng nói thô, cộc

* Quan sát dáng đi: quan sát dáng đi đứng, tốc độ, người ta có thể nhận biết sức khỏe, cuộc sống, tính cách của con người, ví dụ:

+ Bước chân lảo đảo như người không có gân cốt là người không quyết đoán + Bước chân nhanh nhẹn tự nhiên là người nhanh nhẹn

+ Bước chân gấp, ngắn là người hẹp hòi, hay chấp nhặt

+ Dáng đi đẹp là bước linh hoạt, vững chắc, khoảng cách giữa hai chân cân xứng nhau, thân hình ngay thẳng …

* Quan sát dáng ngồi: tư thế ngồi ẩn chứa nhiều nội dung khác biệt tâm lý cá nhân như tính cách, sức khỏe, vị trí xã hội …

+ Ngồi rung đùi thì tán tài

+ Ngồi lệch, nhìn ngang ngửa là người không đứng đắn

Trang 23

+ Ngồi vững như núi là người có quý tướng

+ Ngồi như chó là người phú quý, giàu sang

+ Ngồi mà thân ẩn không lộ là người có đức hạnh

* Quan sát dáng nằm:

+ Người ngủ hay trở mình dễ bị loạn thần kinh

+ Người nằm cong như tôm thì ý chí mỏng, cẩu thả

+ Nằm úp sấp hoặc úp mặt vào gối là tướng ương ngạnh, cố chấp

+ Nằm ngửa, thần sắc tự nhiên là người có tâm hồn cương trực, giàu trí tuệ + Ngủ hay ghếch một chân lên, thường có tính thất thường

+ Ngủ mà hai tay đặt trước bụng thì cẩn thận, trung thực, sống có lễ nghĩa

+ Hay nhìn cao là người kiêu ngạo

+ Hay nhìn thấp là người gian tà

* Quan sát dáng ăn

+ Ăn ít mà vẫn béo là người khoan hòa

+ Ăn nhiều mà vẫn gầy thì tính tình hay thay đổi

+ Ăn nhanh thì hung bạo

+ Ăn đều thì hiền hòa

+ Ăn như lợn là tướng bần tiện

+ Ăn mà lộ răng là nghèo khổ, đoản mệnh

+ Ăn như trâu là người phúc lộc

* Quan sát qua giọng nói

+ Giọng nói ấm áp du dương là người có sinh lực dồi dào

+ Giọng trầm, sâu là dấu hiệu người thích thống trị, điều khiển và trịch thượng + Giọng khàn khàn và nhanh là người bi quan, độc đoán

+ Giọng the thé thường ganh tị, đố kị, để bụng

+ Giọng cao dễ nổi giận

Trang 24

* Quan sát qua tiếng cười

+ Cười ha hả, tiếng to, thân thể rung động, đầu cuối xuống, ngẩng lên không ngừng thể hiện tinh lực dồi dào, ý chí cao, khẳng khái, khoáng đạt

+ Cười nhếch mép không thành tiếng là cười châm biếm, mỉa mai

+ Cười gượng, âm thanh không tự nhiên, không có âm lượng là người nhu nhược, không thích giao tiếp

+ Cười hì hì, miễn cưỡng, cố nén nhịn nhưng cứ bật ra thể hiện sư do dự, tính toán

Tóm lại, phương pháp quan sát được sử dụng lâu đời, mang tính khoa học Tuy nhiên kết quả của nó phụ thuộc vào phần lớn chủ thể quan sát Chủ thể phải nắm vững tri thức tâm lý, có kỹ thuật và kinh nghiệm

3.2.2 Một số phương pháp nhận biết sự khác biệt tâm lý cá nhân ở Phương Tây a/ Phương pháp quan sát

- Quan sát qua phản ứng hành vi của cá nhân: tốc độ, cường độ, nhịp điệu của các phản ứng hành vi: xúc cảm, biểu cảm, cử chỉ thân thể, tư thế

+ Qua các mẫu hành vi có tính ước lệ, ví dụ: gật đầu, chắp hai tay vào nhau + Qua các mẫu hành vi mang tính chuẩn mực xã hội đặc biệt trong hành vi ngôn ngữ Ví dụ: gọi dạ, bảo vâng, cảm ơn …

- Quan sát qua hoạt động và sản phẩm hoạt động của cá nhân

+ Cá nhân thích thú lựa chọn và hoạt động thuộc lĩnh vực nào, ví dụ, chia theo đối tượng như: hoạt động tiếp cận với đối tượng là con người, đồ vật, kỹ thuật, nghệ thuật, khoa học, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự

Theo các sản phẩm mà cá nhân tạo ra từ hoạt động: qua sản phẩm tạo hình, qua sản phẩm lao động chân tay, trí óc, sản phẩm hợp tác, sản phẩm sáng tạo

b/ Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn là phương pháp hỏi và đáp giữa nghiệm viên và nghiệm thể thông qua trả lời của nghiệm thể để thu thập những thông tin, dữ liệu cần thiết theo mục đích và nhiệm vụ đặt trước

Khi sử dụng phương pháp phỏng vấn cá nhân, cần lưu ý những vấn đề sau:

- Có mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu rõ ràng

- Câu hỏi đặt ra rõ ràng, mạch lạc có thể trả lời được

- Câu trả lời chứa đựng thông tin cần thiết cho mục đích nghiên cứu

Trang 25

- Câu hỏi kích thích được tính độc lập, tích cực ở nghiệm thể

- Có nhiều dạng câu hỏi tùy theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Loại câu hỏi kích thích suy luận hợp lý, logic

+ Câu hỏi thăm dò khác biệt kiểu loại tư duy

+ Câu hỏi thăm dò khác biệt về tính cách, khí chất

- Hạn chế sử dụng loại câu hỏi có/không, nếu có thì kèm theo câu hỏi “tại sao?”

- Chú ý sắp xếp câu hỏi theo trình tự, tiêu chí để dễ dàng nhận xét, đánh giá sự khác biệt cá nhân

c/ Phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm là phép thử nhằm đo lường, đánh giá các mức độ khác biệt cá nhân thông qua quá trình thực hiện và kết quả thực hiện các bài tập, tình huống, câu hỏi trong bộ trắc nghiệm

Một trắc nghiệm được coi là một công cụ đánh giá khách quan phải đáp ứng ít nhất 3 yêu cầu: độ tin cậy, tính hiệu lực, chuẩn hóa và các chuẩn

- Độ tin cậy, là mức độ chính xác của phép đo Độ tin cậy cho biết bài trắc nghiệm đo cái cần đo, ổn định đến mức độ nào Thường thông qua những thang điểm nhất quán hoặc dựa trên các lần tái trắc nghiệm

- Độ giá trị, là mức độ mà một trắc nghiệm đo được đúng cái mà nó định đo

- Chuẩn hóa, là thực hiện chính xác quy trình trắc nghiệm cho tất cả mọi người theo cùng những điều kiện như nhau Thông qua phương pháp này có thể xây dựng chuẩn hoặc một chuẩn mang tính thống kê

Test tâm lý có thể đo lường gần như tất cả các phương diện hoạt động của con người gồm trí lực, nhân cách, trí sáng tạo, ngôn ngữ … Test là công cụ tiết kiệm dễ sử dụng và cung cấp cho ta những thông tin, dữ liệu chuẩn dưới dạng định lượng, nhờ đó

dễ dàng nhận ra sự khác biệt tâm lý cá nhân

d/ Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân

Phương pháp này ghi chép những sự kiện, biến cố lớn theo năm, tháng, ngày giờ

ở các giai đoạn phát triển cá nhân, từ lọt lòng đến thời điểm nghiên cứu

e/ Phương pháp song sinh

Phương pháp này so sánh những thành tích hoạt động của những đứa con sinh đôi cùng trứng và khác trứng ở các môi trường giáo dưỡng khác nhau, để xem yếu tố môi trường và di truyền ảnh hưởng như thế nào đến sự khác biệt tâm lý cá nhân

Trang 26

g/ Bút tướng pháp

Là phương pháp nghiên cứu tính cách của con người qua chữ viết Phương pháp này phát triển mạnh ở Phương Tây những năm cuối thế kỷ XX Theo các nhà tâm lý học phương Tây, chữ viết là biểu hiện quan trọng của trí tuệ, cụ thể

- Lĩnh vực trí tuệ: sự nhanh nhẹn của ý nghĩ, khả năng chú ý, trí tưởng tượng, khả năng phán đoán…

- Lĩnh vực xã hội: Lương tâm nghề nghiệp, óc sáng tạo, khả năng thích ứng, năng lực hợp tác

- Lĩnh vực cá tính: sự can đảm, hướng nội, hướng ngoại…

Ngoài ra, còn có một số phương pháp như: tự thuật của nghiệm thể, phương pháp tạo tình huống … để nhận biết những khác biệt cá nhân về tâm lý

Trang 27

Chương 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CÁ NHÂN CỦA CÁC QUÁ TRÌNH TÂM LÝ

(10 tiết)

1 Mục tiêu

Sau khi học xong chương này, SV đạt được các mục tiêu sau đây

1.1 Tri thức

- Phân tích được những khác biệt cá nhân về quá trình nhận thức

- Trình bày được những loại cảm xúc cơ bản của con người

- Kể tên các phương tiện biểu hiện cảm xúc

- Phân tích nguồn năng lượng cảm xúc

- Phân tích được những khác biệt cá nhân về ý chí, ngôn ngữ

- Phân tích mối quan hệ giữa ý thức, vô thức và tự ý thức

- Tôn trọng sự khác biệt cá nhân

- Có thái độ tích cực trong việc xây dựng hình ảnh bản thân

2 Câu hỏi ôn tập

1 Phân tích những khác biệt cá nhân về cảm giác, tri giác các SVHT hiện thực khách quan

2 Tại sao các cá nhân nhận thức về con người lại khác nhau?

3 Phân tích sự khác biệt cá nhân qua kiểu loại tư duy và hướng tư duy

4 Vì sao nói sự khác biệt cá nhân về tưởng tượng rõ nét nhất biểu hiện ở cách xây dựng hình ảnh tâm lý mới

5 Bài tập tình huống

Có 3 người qua cầu treo (2 người sáng mắt A,B; 1 người mù Y) nhưng tải trọng của cầu chỉ cho phép 2 người qua cùng một lúc 2 người sáng mắt đều ngại không muốn đi cùng với người mù vì sợ rơi xuống sông Sau khi thỏa thuận: A đi cùng Y, B

đi một mình Hỏi ai là người rơi xuống sông? Tại sao?

3 Nội dung chi tiết

Trang 28

1 Những đặc trưng cá nhân của các quá trình nhận thức

1.1 Những khác biệt tâm lý cá nhân về nhận thức cảm tính

Khi xét về đặc trưng hoạt động nhận thức của cá nhân, thường có hai cách tiếp cận: tiếp cận nhận thức sự vật, hiện tượng và tiếp cận nhận thức con người

1.1.1 Những khác biệt cá nhân về cảm giác và tri giác

a/ Sự khác biệt cá nhân về cảm giác

Theo nghiên cứu của Patricia.Bernard và Michael E Bernard Ph.D (2010) thì trẻ

em sinh ra không phải như tờ giấy trắng Ngay sau khi sinh trẻ đã có 9 biểu hiện đặc trưng khác biệt cá nhân, dẫn đến sự phản ánh cảm giác khác nhau, là:

+ Vận động: một số trẻ luôn tay luôn chân, một số khác thì không khi trẻ thức + Nhịp sinh học hay tính đều đặn: thể hiện qua các hoạt động ăn, ngủ, bài tiết + Tiếp cận, rút lui: trẻ khác nhau ngay từ những phản ứng đầu tiên khi tiếp xúc với điều mới lạ

+ Khả năng thích ứng: sự dễ dàng hay khó khăn khi làm quen với cuộc sống mới + Cấp độ của ngưỡng cảm giác: mỗi trẻ em phản ứng khác nhau với các kích thích giống nhau (nghe nhạc, độ ồn, tiếng la hét …)

+ Tâm trạng tích cực, tiêu cực: thái độ trẻ thoải mái, vui vẻ, hòa đồng và ngược lại, khó chịu, buồn khi tiếp nhận kích thích

+ Cường độ phản ứng: năng lượng (nhiều, ít, mạnh, yếu) khi phản ứng

+ Khả năng tập trung chú ý khi có kích thích: tập trung, dễ bị phân tán

+ Sự kiên trì và khoảng thời gian tập trung: nhanh chóng di chuyển chú ý vào đối tượng mới hay chậm chạp, khả năng tiếp tục vận động khi bị cản trở

Những quan sát khoa học trên cho thấy, bẩm sinh trẻ đã có những biểu hiện khác nhau về các phản ứng hành vi tiếp nhận các kích thích Theo đó, các sản phẩm cảm giác về thuộc tính của sự vật hiện tượng sẽ được hình thành khác nhau trong đầu óc trẻ Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng hoạt động của các giác quan, hệ thần kinh và não bộ … của trẻ Con người nhận thức thế giới bằng giác quan của mình Khi đã có vốn kinh nghiệm thì chúng lại chi phối rất mạnh vào hoạt động cảm giác, vào chuẩn nhận cảm của mỗi cá nhân

Ví dụ: Trăng của mỗi người – Lê Hồng Thiện

“Mẹ bảo: trăng như lưỡi liềm Ông rằng trăng tựa con thuyền cong mui

Trang 29

Bà nhìn như hạt cau phơi Cháu cười: quả chuối vàng tươi ngoài vườn

Bố nhớ khi vượt Trường Sơn Trăng như cánh võng chập chờn trong mây”

b/ Sự khác biệt cá nhân về tri giác

Sự khác biệt cá nhân về tri giác được thể hiện trong các quy luật tri giác

- Tính đối tượng của tri giác: việc nhận biết đối tượng nhanh, chậm nhờ đặc điểm nào? Màu sắc, hình dạng hay tính chất, chức năng sử dụng là khác nhau giữa các cá nhân Sự khác nhau này do vốn sống, kinh nghiệm của cá nhân chi phối Ví dụ: người thấy đồng bảng Anh thì mô tả được, còn người chưa nhìn thấy thì không thể

- Tính ý nghĩa của tri giác: mỗi sự vật, hiện tượng mà ta nhận thức đều có ý nghĩa đối với cá nhân, con người hoặc cộng đồng xã hội Thậm chí ý nghĩa của đối tượng khác nhau khi lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn khác nhau Ví dụ: khi tri giác hiện tượng nhật thực, các nhà khoa học tìm hiểu xem nó diễn ra như thế nào, trong vòng bao lâu; nhà nhiếp ảnh xem thời điểm nào, góc độ nào sẽ tạo ra bức ảnh đẹp nhất, người bình thường xem vì hiếu kỳ, một số khác không quan tâm

- Tính ổn định của tri giác, đó là sự nhất quán về nhận thức khi thông tin tri giác được thay đổi

- Tính lựa chọn của tri giác: mỗi nhiệm vụ, mục đích hoạt động đòi hỏi hoạt động nhận thức của cá nhân khác nhau Mỗi người sẽ lựa chọn đối tượng tri giác riêng tùy vào sở thích, hứng thú, nhu cầu, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính …

Nhiều chứng cứ khoa học đã chứng minh cách tri giác, nhận thức khác nhau của mỗi người là khác nhau Ví dụ: có người tri giác từ tổng thể đến thành phần các sự vật, hiện tượng, ngược lại có người lại nhận thức từ thành phần đến tổng thể Có người xử

lý thông tin theo thói quen từ dưới lên, cách này giúp ta xử lý các đặc điểm cơ bản của kích thích Ngược lại từ trên xuống giúp ta mang kinh nghiệm của mình vào tri giác

Sự khác biệt cá nhân về nhận thức cảm tính còn bộc lộ rõ ở năng lực quan sát Vì vậy, với cùng một sự vật hiện tượng nhưng mỗi người lại tiếp nhận thông tin và xử lý

theo cách riêng của mình “Hai người cùng nhìn xuống, một người thấy vũng nước,

người kia thấy các vì sao”

1.1.2 Những khác biệt cá nhân về nhận thức con người

a/ Mô hình quy nạp

Trang 30

Một trong những mục tiêu đầu tiên khi tìm hiểu con người, đó là tìm nguyên nhân dẫn đến hành động của họ

* Nguyên nhân khách quan và chủ quan

- Đầu tiên ta hướng suy nghĩ về các nhu cầu, thái độ xúc cảm hoặc tính cách, theo đó ta sẽ biết được phần nào nhân cách hoặc cá nhân họ (chủ quan)

- Có thể hướng suy nghĩ về các nguyên nhân bên ngoài, theo đó ta sẽ biết được tính cách của người đó (khách quan)

Harold Kelly (1967) lấy một ví dụ về Mary xem phim, bà ta cười khi xem một bộ phim Câu hỏi đặt ra là vì sao bà ta cười:

1/ Tính riêng biệt: nếu Mary chỉ cười khi xem bộ phim đó thì đó là bộ phim hài

Nếu Mary cười khi xem hầu hết các phim thì có thể hiểu hành vi cười của Mary là do

tính cách cá nhân

2/ Tính đồng thuận: những người khác xem phim cùng Mary có cười không, nếu

có nghĩa là hành vi cười do phim gây ra Nếu Mary là người duy nhất cười, vậy do nguyên nhân bên trong tâm lý gây ra

3/ Tính nhất quán: Mary có cười mỗi khi xem lại bộ phim đó không? Nếu không,

thì ta không thể suy đoán được bất cứ điều gì về Mary từ hành vi đó

* Gán các đặc điểm cho cá nhân

Ví dụ: H là người cùng tham gia xây dựng ban nhạc ngay từ đầu thành lập, nhưng việc H sử dụng ma túy có thể làm ban nhạc tan rã R, đội trưởng, sau khi suy nghĩ rất nhiều về H đã quyết định không để H biểu diễn nữa Vài ngày sau đó người ta tìm thấy H chết dưới đáy bể bơi nhà anh

a/ Một số người cho rằng R là người khiến cho H tự sát, theo đó người ta cho rằng R độc ác, nhẫn tâm

b/ Số người khác cho rằng R quan tâm hàng đầu đến sức khỏe của H

c/ Người khác lại cho rằng R hy vọng sau quyết định này H sẽ tìm cách cai nghiện ma túy

* Khuynh hướng và thiên hướng trong quy nạp

Tình huống 1: Bạn quan sát thấy một thanh niên chen ngang vào một hàng dài người xếp hàng mua vé xem bóng đá

a/ Nếu bạn chỉ là người qua đường, bạn sẽ thấy hành động chen ngang là khiếm nhã, nhưng có thể lý giải là người nào đó trong hàng giữ chỗ cho anh ta

Trang 31

b/ Nếu bạn đứng trong hàng, dưới người đó có nhiều người thì sự quy nạp như thế không tốt, bạn cho rằng hành động thế là xấu, thậm chí bạn bực dọc, tức giận lên tận nơi kéo anh ta ra

Sự liên quan đến lợi ích cá nhân sẽ tác động khác nhau đến sự quy nạp

Tình huống 2: Nhiều công trình nghiên cứu và quan sát chọn lọc cho thấy một người tốt bụng, khoan dung, nhân hậu – Khi thấy một đứa trẻ phạm tội lần đầu – dễ dàng tha thứ và nhận xét đứa trẻ thật đáng thương Ngược lại, với người nghiêm khắc yêu cầu cao về giáo dục thì với đứa trẻ phạm tội lần đầu phải phạt nặng để lần sau không tái phạm

* Sắp xếp trật tự ảnh hưởng

Thông thường, khi nhận thức về người khác, những thông tin đầu tiên mà ta tiếp nhận có ảnh hưởng nhiều hơn những thông tin sau Thực nghiệm của Solomon Asch (1946) như sau:

Đặc điểm tâm lý A Đặc điểm tâm lý B

Ấn tượng chung của bạn về hai người này như thế nào? Kết quả thực nghiệm cho thấy phần nhiều người ta đánh giá người A tích cực hơn người B, mặc dù thông tin cung cấp ở hai người giống nhau

b/ Mô hình nhận thức xã hội

Mô hình nhận thức xã hội cho rằng, con người có sẵn các giản đồ hoặc các khái niệm mang tính khuôn mẫu về cách thức hoạt động xã hội được học hỏi từ thời thơ ấu

và lúc trưởng thành

* Mô hình nhận thức người khác qua nghề nghiệp

Ví dụ: A, B là nhà giáo – tư cách, nhân cách nhà giáo thường mẫu mực, từ đó có nhận xét tốt, kính trọng người giáo viên

X, Y vô công, rỗi nghề, thất nghiệp, hay uống rượu hoặc cờ bạc, bỏ bê con cái, người ta thường có xu hướng “mặt mày trông sáng sủa mà trộm cắp”

Trang 32

* Nhận thức người khác qua uy tín, vị trí xã hội của họ

Ông A là tiến sĩ khoa học thuộc lĩnh vực Sinh học, nhưng dưới con mắt mọi người, ông có thể biết nhiều thứ về chăn nuôi, trồng trọt …

* Nhận thức người khác qua chức danh của họ mà xã hội thừa nhận

Ông B là đại biểu Quốc hội, vậy mọi thắc mắc hoặc boăn khoăn gì về pháp luật

cứ hỏi ông ấy là ông biết hết, ông sẽ giải đáp cho

* Một người thường xuyên đánh giá cao bản thân mình thì dễ dàng nhận thức được điều thấp kém ở người khác

c/ Ấn tượng ban đầu

Ấn tượng ban đầu về người khác thường định hướng cho thái độ, hành vi của ta cho những lần giao tiếp sau đó

Ví dụ: lần đầu gặp 1 người với gương mặt thiện cảm, nụ cười cởi mở, dễ mến …

ta dễ có nhận xét tốt về họ, từ đó có thái độ tích cực hợp tác với họ ở những lần tiếp xúc khác Ngược lại, khi lần đầu tiên gặp ai đó với gương mặt lạnh lùng, khó chịu, ta thường có có những cảm xúc tiêu cực, thiếu thiện cảm và không thích tiếp xúc sau đó

d/ Sự khác biệt cá nhân khi nhận thức về người khác

Sự khác biệt này phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan của cá nhân như: tình cảm, trí tuệ, thái độ, giới tính …

- Những hiện tượng gây cho mình cảm xúc thì dễ dàng nhận biết được cảm xúc của người khác về hiện tượng đó

- Người có trí tuệ phát triển cao thường nhận xét người khác tốt hơn người có trí tuệ ít phát triển

- Người từng trải, nhiều kinh nghiệm giao tiếp, hợp tác với những người xung quanh nhận thức về người khác chính xác hơn người ít giao tiếp

- Người có tri thức ít rập khuôn hơn trong việc nhận thức người khác

- Nữ giới nhận thức trực giác về người khác chính xác hơn nam giới

- Khi yêu, mến ai đó, ta thường nhận thức về họ với nhiều tính cách, hành vi tốt Ngược lại, nếu ghét, không thích thì thường thấy ở họ những hạn chế, hành vi tiêu cực

- Khi cơ thể bênh tật, đau yếu, mệt mỏi hoặc ở trạng thái xúc cảm tiêu cực thường nhận thức về người khác kém chính xác

1.2 Những khác biệt cá nhân về trí nhớ

Trang 33

* Trí nhớ cảm giác: là loại trí nhớ mà ưu thế nhớ thuộc về các thông tin, tư liệu

vừa được tiếp nhận do các giác quan trực tiếp đem tới

- Ví dụ, trí nhớ cảm giác thị giác lưu giữ cảm giác nhận khoảng 1 – 2 giây Loại trí nhớ này phụ thuộc vào: độ sáng, độ dài lâu của tác nhân kích thích, hoặc bị mất đi khi một tác nhân mới kích thích Trí nhớ cảm giác thị giác phát triển ở các họa sĩ, nhà văn …

- Trí nhớ cảm giác âm thanh: sự phân biệt và nhớ lại trường độ, cao độ, tiết tấu

âm thanh, giọng nói khác nhau Nhờ đó mà ta nhận biết nhanh giọng nói của người quen qua điện thoại

- Trí nhớ về cảm giác, mùi vị của mỗi cá nhân là khác nhau Nhờ đó mà người ta

có thể phân loại được một số thuộc tính vị, thuộc tính mùi một cách chính xác

* Trí nhớ ngắn hạn: là loại trí nhớ lưu giữ các thông tin, tư liệu đã được chuyển

ra ngoài trí nhớ cảm giác Thông tin chỉ tồn tại khoảng 30 giây trong trí nhớ ngắn hạn nếu nó không được nhắc lại

* Trí nhớ dài hạn: là loại trí nhớ lưu giữ các thông tin được chuyển từ trí nhớ

ngắn hạn bằng cách nhắc lại hoặc nhận lại nhiều lần Ví dụ, ôn bài nhiều lần thì nhớ lâu

* Trí nhớ vận động: là loại trí nhớ lưu giữ thông tin về các thao tác, cử động,

hành vi của cá nhân Các nghệ sĩ ba lê, diễn viên múa, công nhân …

* Trí nhớ cảm xúc: là loại trí nhớ mà ưu thế nhớ thuộc về việc lưu giữ các thông

tin về các phản ứng cảm xúc, biểu cảm của cá nhân … Ví dụ: diễn viên

* Trí nhớ các ký tự: là loại trí nhớ mà ưu thế nhớ thuộc về các con số, mã thông

tin (ký tự)

* Trí nhớ hình ảnh: trí nhớ thiên về lưu giữ những hình ảnh sống động

Tóm lại, các cá nhân khác nhau thì ưu thế trí nhớ thuộc các dạng khác nhau Không có năng khiếu hay tài năng bẩm sinh về trí nhớ mà nó được hình thành và phát

triển tùy thuộc vào sự khổ luyện của cá nhân

1.3 Những khác biệt cá nhân về nhận thức lý tính

1.3.1 Khác biệt cá nhân về tư duy

1.3.1.1 Khác biệt cá nhân về kiểu loại tư duy

Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu tư duy, tâm lý học khác biệt cá nhân quan tâm đến nguyên nhân và các hướng vận động của các quá trình tư duy mà các chủ thể

Trang 34

hướng tới Việc sử dụng “chất liệu” để tư duy cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt tâm lý cá nhân Chất liệu tư duy quy định kiểu loại tư duy cá nhân

a/ Tư duy trực quan hành động

- Loại tư duy này sớm hình thành, phát triển trong quá trình phát triển cá thể Tùy vào đặc điểm công việc, nghề nghiệp hay tuổi tác, kinh nghiệm cá nhân mà phát triển khác nhau ở mỗi người Ví dụ: những người thợ làm bánh, họ sử dụng lượng bột chính xác mà không cần phải cân

b/ Tư duy trực quan hình ảnh

Sau khi tri giác sự vật hiện tượng thường đọng lại trong tâm trí ta những dấu vết:

- Những hình ảnh tâm lý về sự vật, hiện tượng mà ta đã tri giác, gọi là biểu tượng

- Những cảm nhận về sự vật hiện tượng như yêu thích, ghét, vui, buồn …

- Những kí hiệu tượng trưng (các dạng ngôn ngữ nào đó của loài người hoặc cá nhân ước lệ, khái niệm …) Ví dụ: lá vàng tượng trưng cho mùa thu …

Sự khác biệt cá nhân trong tư duy ở đây là, ai có ưu thế tư duy thiên về những hình ảnh tâm lý về các sự vật, hiện tượng đã để lại những ấn tượng khó quên

Ví dụ: hỏi người trồng hoa về sự khác nhau giữa hoa hồng và hoa lan thì họ có thể trả lời ngay những khác biệt Sự tái hiện hình ảnh các loại hoa chính là hình tượng

mà nhờ đó các thao tác tư duy tiến hành Tư duy này phát triển mạnh ở trẻ 3,4 tuổi Khi trưởng thành loại tư duy này khác biệt ở mỗi cá nhân Ví dụ: Einstein khó diễn đạt khoa học bằng từ ngữ mà chủ yếu bằng hình ảnh và biểu đồ Darwin sử dụng hình thức

tư duy sơ đồ trong các phát minh của mình hay đối với Davinci, văn tự chỉ xếp ở vị trí thứ yếu so với ngôn ngữ hình ảnh

Tư duy hình ảnh không chỉ huy động tâm trí, trí lực của cá nhân ở mức độ cao

mà đồng thời còn huy động cảm xúc của con người

c/ Tư duy trừu tượng

Các cá nhân khác nhau sử dụng loại tư duy này khác nhau phụ thuộc vào kinh nghiệm, nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn …

1.3.1.2 Khác biệt cá nhân về hướng tư duy

Sự vật hiện tượng tồn tại, phát triển trong mối ảnh hưởng, tác động qua lại với nhau theo quy luật: nhân – quả; nội dung – hình thức; bản chất – hiện tượng; số lượng – chất lượng Do vậy, khi suy nghĩ, tư duy về một sự vật hiện tượng, vấn đề hay sự kiện nào đó có rất nhiều mối quan hệ để ta tư duy, có nhiều hướng để suy nghĩ

Trang 35

* Hướng tư duy vào chi tiết, thành phần của các sự kiện, vấn đề nhiệm vụ Ví dụ: khi tiếp xúc với người lạ, ta có thể định hướng tư duy vào trang phục, phương tiện mà

họ sử dụng, gương mặt biểu cảm của người đó

* Hướng tư duy vào chỉnh thể Khi đọc sách, đọc từ đầu đến cuối rồi mới bắt đầu suy nghĩ về ý tưởng hoặc nội dung chính của các chương

* Tư duy theo hướng khái quát – xếp nhóm, loại Ví dụ: mới gặp người trang phục lịch lãm, sử dụng phương tiện sang trọng, ta thường nghĩ họ giàu, hoặc doanh nhân thành đạt

* Tư duy theo hướng so sánh: hướng tư duy vào đặc điểm dị biệt hay tương đồng của đối tượng với các chuẩn đã có trong kinh nghiệm của cá nhân Ví dụ: cô này nói hay hơn, hấp dẫn hơn cô khác

* Tư duy theo hướng từ trừu tượng đến cụ thể: Lý giải các sự vật hiện tượng theo cái chung rồi mới đến trường hợp cụ thể

Tóm lại, mỗi người tư duy theo hướng khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi, thói quen, nghề nghiệp, vốn sống …

1.3.1.3 Tư duy cá nhân theo cảm xúc, tình cảm

Điển hình là phương pháp “Sáu chiếc mũ tư duy” của Eward de Bono Thử tưởng tượng mình đội từng chiếc mũ với các màu khác nhau

a/ Mũ trắng (màu trung lập – khách quan) Khi đội mũ này ta liên tưởng tới màu trắng áo blu Mũ trắng tượng trưng hướng tư duy của con người về các sự kiện, số liệu, thông tin khách quan mà ta cần cho tiến trình tư duy

b/ Mũ đỏ (cảm xúc tích cực – màu của trực giác, linh cảm) Đội mũ này gợi lên những cảm xúc tích cực, sự nhiệt tình và những cảm giác không dựa trên lý trí nhưng rất có giá trị Sự mách bảo của trực giác hướng tư duy theo định hướng của linh cảm c/ Mũ đen (xúc cảm tiêu cực – thất bại) Khi đội mũ này tư duy hướng vào những lập luận, phản biện dẫn đến sự thất bại, tư duy tìm kiếm các chứng cứ theo logic tiêu cực (biểu tượng quan tòa mặc áo choàng đen)

d/ Mũ vàng (màu của sự thành công, vui vẻ) Khi đội mũ này tư duy hướng vào chứng cứ, tìm kiếm các thông tin lập luận về những khả năng và cơ hội thành công e/ Mũ xanh lá cây (màu phát triển) Khi đội mũ này cá nhân định hướng tư duy tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo mới, dám nghĩ, dám làm

Trang 36

g/ Mũ xanh da trời (màu của tạo hóa, tự nhiên) Đội mũ này để nhận thức quá trình tư duy của mình một cách chỉnh thể phải dựa vào các quy luật tự nhiên, xã hội Tóm lại, hướng tư duy chịu sự chi phối của cảm xúc, phụ thuộc vào thái độ của con người Khi có thái độ tích cực, thiện thì hướng tư duy con người sẽ phát triển theo hướng đó, giải quyết và tìm kiếm các thông tin theo hướng thiện chí, tích cực, xây dựng Ngược lại, tư duy của cá nhân sẽ hướng vào việc tìm kiếm những thông tin sự kiện, chứng cứ, tư liệu để chứng minh cho thái độ tiêu cực đã định hướng trước

1.3.1.4 Sự khác biệt cá nhân về phẩm chất tư duy

a/ Sự khác biệt cá nhân về bề rộng của tư duy

Kiểu tư duy này biểu hiện thông qua bản đồ tư duy Những người hoạt động thực tiễn nhiều, hiểu biết rộng thì tư duy được mở rộng (Đi một ngày đàng học một sàng khôn)

b/ Sự khác biệt cá nhân về chiều sâu tư duy

Là khả năng tìm kiếm các thông tin, sự kiện có liên quan đến nhiệm vụ tư duy để

đi sâu khám phá các mối quan hệ liên bản chất, tính quy luật được giải quyết hợp lý các nhiệm vụ tư duy

Chiều sâu tư duy mỗi cá nhân khác nhau tùy vào sự hiểu biết, kiến thức chuyên ngành sâu sắc và kinh nghiệm sống của cá nhân cũng như năng khiếu đặc biệt của mỗi người

c/ Tính linh hoạt của tư duy

Đây là khả năng di chuyển đối tượng, điều kiện thậm chí cả những thông tin, niềm tin cá nhân để thực hiện các mục đích hoạt động khác nhau Ví dụ, truyện ngụ ngôn “trí khôn của ta đây”

d/ Tính mềm dẻo của tư duy

Về bản chất, tính mềm dẻo là sự uyển chuyển tư duy cá nhân, tùy vào điều kiện hoàn cảnh, nhiệm vụ tư duy có thể chỉnh sửa, không câu nệ vào các yếu tố có sẵn hoặc kinh nghiệm của cá nhân

e/ Tính sáng tạo của tư duy

Về bản chất là những cái mới do quá trình hoạt động tư duy cá nhân sản sinh ra còn gọi là ý tưởng mới Nó là khả năng tư duy độc lập để tạo ra ý tưởng mới hay hướng đi mới, phát hiện ra cái mới

Trang 37

Người có tính sáng tạo thường xuất hiện ý tưởng trung tâm – làm cơ sở, dẫn dắt

tư duy khám phá các hướng khác nhau Để hoạt động tư duy sáng tạo, các cá nhân thường sử dụng hợp lý cơ chế hoạt động liên tưởng của bộ não, huy động có hiệu quả những kinh nghiệm, vốn sống, tri thức … để tạo ra ý tưởng mới

g/ Tính hợp lý của tư duy

Là quá trình hoạt động tư duy nhanh, phù hợp với các quy luật sinh thành và phát triển nội tại của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan

Tư duy có hợp lý thì mới tránh được rủi ro, thất bại Tư duy hợp lý thường có đặc điểm:

- Ngắn gọn, dễ hiểu, đơn giản

- Quá trình tư duy phù hợp với quy luật nội tại của các sự vật, hiện tượng

- Hoạt động tư duy có hiệu quả tư duy hợp lý

- Phụ thuộc vào các tư chất cá nhân, phương pháp luận nhận thức (thói quen nhận thức) cá nhân

- Vốn sống, kinh nghiệm của cá nhân

- Tri thức, thái độ cá nhân

Tóm lại, năm phẩm chất tư duy trên có quan hệ tác động qua lại với nhau Ở mỗi

cá nhân tùy theo nhiệm vụ hoạt động mà ưu thế các phẩm chất tư duy nổi trội khác nhau

1.2.2 Sự khác biệt cá nhân về tưởng tượng

* Đặc tính của não bộ và tính chất của sản phẩm tưởng tượng

- Những hình ảnh tâm lý có được do tri giác nhìn đem lại và những hình ảnh tâm

lý do tưởng tượng về một sự vật hiện tượng cụ thể là hai sự kiện giống hệt nhau đối với não

Ví dụ 1: Người mẹ nhìn thấy con bị tai nạn bê bết máu có thể ngất xỉu

Ví dụ 2: người mẹ tưởng tượng con bị tai nạn, máu me bê bết có thể bị ngất xỉu

- Sự vật trong trí tưởng tượng cũng giống như một sự vật cụ thể có thể nhìn thấy, phân biệt được sự khác nhau về hình dáng trong không gian và có thể sờ thấy được

- Não bộ phần nào bắt chước được đặc tính của không gian ba chiều Nó cũng như các tế bào nối lại với nhau tạo nên mạng lưới mặc dù tế bào bao gồm các phần xung quanh của trí tưởng tượng được đặt ở các phần khác nhau của bộ não

Trang 38

- Màn hình của bộ não cũng giống như màn hình của máy thu hình, tức là nó được gắn với không gian và kết cấu bằng các hạt sần làm các chi tiết nhỏ của một hình ảnh cụ thể sẽ khó nhìn hơn những đồ vật lớn

- Tưởng tượng có thể thay thế một cách hiệu quả hành động thực Vài thí nghiệm đối với môn thể thao như cờ vua, cờ tướng, bóng rổ … đã chứng tỏ rèn luyện trí tưởng tượng luôn đem lại kết quả cao hơn là không hề có sự luyện tập Tuy nhiên, tưởng tượng một hành động cụ thể không bao giờ chi tiết như hành động thực tế

- Khả năng “trục xuất” suy nghĩ và tình cảm tiêu cực là điều kỳ diệu của bộ não Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào quá trình điều khiển và rèn luyện để có thể chọn được suy nghĩ mình mong muốn, cảm xúc sẽ hình thành theo đó

Mọi sự kiện bên ngoài xảy ra không quan hệ với xúc cảm, tình cảm của con người Ban đầu các sự kiện đều trung tính, đến khi trí óc tiếp nhận, ta gán cho nó những cảm xúc khác nhau Đến 90% nỗi sợ là do ta tưởng tượng Nhiều loại không tồn tại trong thực tế, chúng chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng Con người thường bị sức mạnh do mình tưởng tượng ra làm hại Do đó nên loại bỏ những nỗi sợ hãi không cần thiết, luôn giữ những ý tưởng cảm xúc tích cực

- Khả năng hành động theo mẫu người cá nhân muốn trở thành là điều kỳ diệu của bộ não

Đặc biệt, sự khác biệt cá nhân thể hiện rõ nét nhất ở các cách sáng tạo hình ảnh mới trong tưởng tượng Tưởng tượng chịu sự chi phối bởi vốn kinh nghiệm, nghề nghiệp, nhu cầu, hứng thú và tính tích cực của cá nhân …

2 Những đặc trưng cá nhân của cảm xúc

Có nhiều quan điểm, học thuyết khác nhau về cảm xúc, nhưng hầu hết đều có nhận xét chung về cảm xúc, đó là sự kết hợp của kích thích, sự thể hiện của khuôn mặt, hành vi, các sự kiện của môi trường và sự diễn dịch của nhận thức Những thay đổi ở bất kỳ nhân tố nào trong số đó có thể sẽ thay đổi cảm xúc được trải nghiệm

Muốn nhận biết sự khác biệt cá nhân về cảm xúc, trước hết cần xem sự hình thành xúc cảm ở trẻ, các phương tiện biểu hiện các hành vi xúc cảm, ảnh hưởng của xúc cảm đến đời sống cá nhân

2.1 Các loại xúc cảm ở con người

Theo nghiên cứu của Từ Thanh Hán (2003), Ngô Công Hoàn (2006) thì ngay từ năm đầu tiên, trẻ đã hình thành những xúc cảm cơ bản của con người: yêu, vui mừng,

Trang 39

ngạc nhiên, thèm muốn (những xúc cảm tích cực), sợ hãi, tức giận, đau buồn, ghét (kinh tởm) … được thể hiện rõ nét trên nét mặt Sự biểu hiện các cảm xúc khác nhau ở các trẻ em không giống nhau, một phần do cách biểu hiện các phản ứng, hành vi cảm xúc của mẹ, người thân và những người gần gũi mà trẻ bắt chước

Một số ý kiến cho rằng, cách diễn tả cảm xúc của con người mang tính bẩm sinh DarWin chứng minh cảm xúc được mọi người diễn tả theo cùng một cách bất luận người đó ở hoàn cảnh nào; thay vì học tập, con người kế thừa xu hướng diễn tả cảm xúc theo các cách khuôn mẫu Ông quan sát những đứa trẻ mù bẩm sinh và cho rằng,

do mù bẩm sinh nên những đứa trẻ này không thể quan sát được các cách biểu đạt các phản ứng, hành vi phức tạp của các diễn tả xúc cảm không lời, ở những người xung quanh Sự diễn tả cảm xúc của những đứa trẻ mù và vừa mù vừa điếc cũng giống như những đứa trẻ bình thường ở một số cảm xúc Ví du: những đứa trẻ mù sẽ khóc khi cảm thấy không hài lòng, cười khi thích thú, cau mày và giậm chân khi thách thức và lắc đầu khi từ chối Tuy các quan sát này phù hợp với quan điểm của DarWin nhưng nhưng vẫn có khả năng trẻ học được một số phản xạ bằng cách tiếp nhận các phần thưởng do cách diễn tả xúc cảm bằng những âu yếm, ôm ấp cưng nựng của mẹ hay người thân (phương tiện giao tiếp xúc giác)

Theo nghiên cứu của Ngô Công Hoàn (Những biểu hiện xúc cảm và những biện

pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ 1- 3 tuổi – Đề tài cấp bộ 2006) thì đứa trẻ học hỏi các

biểu đạt cảm xúc qua 4 phương tiện từ người lớn xung quanh:

- Phương tiện xúc giác trực tiếp

- Phương tiện cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười (trên gương mặt biểu cảm), khuôn mặt, tư thế

- Phương tiện vật chất (cho, nhận, từ chối …)

- Phương tiện ngôn ngữ

Sự khác biệt cá nhân khi diễn tả cảm xúc không giống nhau, vì sự học hỏi và được củng cố các cách diễn tả xúc cảm không giống nhau ở từng trẻ do cách giáo dục gia đình khác nhau, hoàn cảnh, nếp sống, thói quen, cách sinh hoạt khác nhau … Sau đây là các loại cảm xúc tích cực (dương tính) và những biểu hiện của chúng:

- Yêu thương: khi đứa trẻ được thoả mãn các nhu cầu cơ bản, toàn thân thư giãn, trong trạng thái an toàn được bảo vệ, che chở Trương lực cơ bắp giảm, nhịp điệu hoạt động sinh lý thần kinh giảm Hoạt động não trong trạng thái ức chế toàn phần … Con

Trang 40

người về trạng thái yên bình, mặt nghệt, mắt lim dim, chân tay đờ đẫn … Đối với trẻ một tuổi, sau khi bú no trong tay mẹ, với những lời ru âu yếm, vuốt ve, trẻ dễ rơi vào trạng thái buôn ngủ, xúc cảm yêu thương tràn ngập

- Vui mừng: các cơ mặt dãn nở, kéo ra, mặt mày rạng rỡ, mắt long lanh hướng

về đối tượng giao tiếp, môi miệng kéo dài bật thành tiếng cười Chân tay cử động có

xu hướng muốn ôm, cầm lấy đối tượng gây ra xúc cảm Hành vi ngôn ngữ đầy diễn cảm qua giọng điệu và cách phát âm Ví dụ: tre gọi mẹ mẹ trong tình huống cả ngày mới gặp mẹ một lần

- Ngạc nhiên: trước những kích thích mới lạ, hấp dẫn, phản xạ định hướng hoạt động tích cực Các quá trình sinh lý thần kinh được kích thích, hoạt hoá hoạt động tim mạch, nội tiết Mắt mở to “mắt chữ A mồm chữ O”, há mồm, nhăn trán, lông mày dướn cao, chân tay ngừng cử động, mắt nhìn chằm chằm vào đối tượng kích thích, tập trung chú ý với cường độ mạnh, dễ dàng có hành động thích hợp, ngôn ngữ thường hét lên hoặc im lặng theo dõi đối tượng kích thích, xúc cảm thường diễn ra trong thời gian ngắn

- Thèm muốn: trước những đối tượng kích thích nhu cầu con người (tình huống gây ra xúc cảm thèm muốn) Ví dụ: đứa trẻ đang đói, khi ngủ dậy, ngửi thấy mùi sữa,

mồ hôi của mẹ, mí mắt khép nhẹ, môi miệng vận động như đang nhai, hướng tay chân

về phía mẹ như xin, muốn ôm chầm lấy mẹ, đôi lúc bật âm thanh …

Các loại cảm xúc tiêu cực và những biểu hiện của chúng:

Nhìn chung, khi các xúc cảm tiêu cực, âm tính xuất hiện, thường kích hoạt các tổ chức giải phẫu nhất là hoạt động tim mạch, thần kinh, não, các tuyến nội tiết để máu dồn lên mặt, các hóc môn được tiết ra, cơ căng, toàn thân rơi vào trạng thái chuẩn bị hành động như trốn chạy hoặc đánh đập Hoặc ngược lại, năng lượng sụt giảm, nếu trầm cảm, nhịp chuyển hoá trong cơ thể chậm lại

- Tức giận: máu dồn lên mặt, mắt rực sáng, môi bặm lại, mím chặt như gắng kiềm chế, dồn sức mạnh vào động tác tay, chân, đập phá (đối với trẻ 2 tuổi tay chân đạp mạnh, giãy dua, lăn quay …) Lượng chất nội tiết tăng, đặc biệt là adrenalin, la hét, kêu toáng lên hoặc bập miệng lại không nói, tay chân cử động, bàn tay nắm chặt, xông vào đánh, xô đẩy …

- Sợ hãi: mắt mở to, mồm như mếu, cơ mặt nhăn nhúm, máu dồn về các cơ bắp điều khiển động tác chạy trốn, mặt tái đi Chú ý, tập trung cao sẵn sàng hành động

Ngày đăng: 03/11/2023, 21:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng A: Các mẫu rập khuôn phổ biến về nam nữ - Đề cương bài giảng tâm lý học sai biệt
ng A: Các mẫu rập khuôn phổ biến về nam nữ (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w