1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ ý niệm miền sông nước trong ca dao nam trung bộ

130 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ẩn Dụ Ý Niệm Miền “Sông Nước” Trong Ca Dao Nam Trung Bộ
Tác giả Phan Thị Hoàng My
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Sáng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 29,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các ẩn dụ ý niệm được khai thác, giải mã dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hoá, đặc trưng tâm lý, tư duy tộc người, những ước định về văn hoá, tôn giáo… Từ đó, có thể thấy rằng,

Trang 1

Đà Nẵng – 2020

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 16990151954771000000

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BẰNG HAI NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8

1.1 Ẩn dụ 8

1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống 8

1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận 9

1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm 11

1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa 11

1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ 14

1.2.3 Điển mẫu 17

1.2.4 Tính nghiệm thân 19

1.2.5 Mô hình tri nhận 20

1.2.6 Lược đồ hình ảnh 21

1.2.7 Không gian tinh thần 22

1.2.8 Phân loại ẩn dụ ý niệm 23

1.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm “sông nước” 26

1.4 Vài nét về ca dao Nam Trung Bộ 28

1.5 Tiểu kết 29

CHƯƠNG 2 ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC” TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ XÉT TỪ MIỀN NGUỒN 31

2.1 Mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn 31

2.2 Hệ thống ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn 32

2.2.1 Miền nguồn là VẬT CHỨA NƯỚC 33

2.2.2 Miền nguồn là THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC 38

Trang 5

2.2.3 Miền nguồn là CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC 43

2.2.4 Miền nguồn là PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC 45

2.2.5 Miền nguồn là TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC 50

2.2.6 Miền nguồn là HOẠT ĐỘNG DUỚI NƯỚC 57

2.3 Tiểu kết 61

CHƯƠNG 3 ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC” TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ XÉT TỪ MIỀN ĐÍCH 62

3.1 Các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” xét từ miền đích trong ca dao Nam Trung Bộ 62

3.2.1 Ẩn dụ HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI LÀ HÀNH TRÌNH TRÊN SÔNG 63

3.2.2 Ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG 67

3.2.3 Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LÀ NƯỚC (SÔNG NƯỚC) 72

3.2.4 Ẩn dụ ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI LÀ TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT, VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC 74

3.2 Cơ sở nền tảng cho những mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ 76

3.3 Một số đặc điểm của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” đặc trưng trong ca dao Nam Trung Bộ 77

3.3.1 Ẩn dụ ý niềm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính văn hóa vùng miền rõ nét 77

3.3.2 Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính nữ 80

3.3.3 Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính ổn định về tư duy, tạo nên tính sáng tạo, biểu trưng cao 82

3.4 Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 8

2.3 Ánh xạ của miền nguồn THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC 38 2.4 Ánh xạ của miền nguồn CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG

3.1 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI LÀ

HÀNH TRÌNH TRÊN SÔNG

63 3.2 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ DÒNG ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG 67 3.3 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA NƯỚC 70

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) bắt đầu phát triển từ những

năm 1980 như một trường phái ngôn ngữ vận dụng kiến thức liên ngành Ngôn ngữ học tri nhận “nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật của thế giới khách quan đó” [29, tr.16] Đó là hướng nghiên cứu mới thu hút sự tham gia đông đảo của giới ngôn ngữ học hiện nay trên thế giới nói chung

và ở Việt Nam nói riêng

Một trong những luận thuyết cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, nói như Langacker, là ngữ nghĩa học, là sự ý niệm hóa Mỗi khi chúng ta tạo sinh một phát ngôn, một cách vô thức chúng ta sử dụng rất nhiều quá trình ý niệm hóa Theo các nhà khoa học, ẩn dụ là một trong những công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ không còn đơn thuần là hình thái ngôn ngữ như quan điểm truyền thống, mà nó còn là hình thái tư duy của con người về thế giới Ẩn

dụ ý niệm vì thế trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam và trên thế giới Các ẩn dụ ý niệm được khai thác, giải mã dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hoá, đặc trưng tâm lý, tư duy tộc người, những ước định về văn hoá, tôn giáo… Từ đó, có thể thấy rằng, nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc nhìn ẩn dụ ý niệm là một hướng nghiên cứu mới, làm sáng tỏ mở rộng biên giới của nghiên cứu liên ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa, văn học

1.2 Là một quốc gia với nền văn minh nông nghiệp, nước có vai trò đặc biệt

trong văn hóa cũng như trong tâm thức của người Việt Nước có mặt ở hầu hết các lĩnh vực, từ những ý niệm thiêng liêng đến những điều giản đơn, mộc mạc Với tư cách là chủ thể tri nhận, con người thường phóng chiếu hình ảnh của chính mình lên môi trường sông nước; và hẳn nhiên môi trường ấy cũng phóng xạ lại chính con người Vì thế, như một lẽ ngẫu nhiên, môi trường sông nước với tư cách là đối tượng tri nhận đã được hình thành, tạo nên một kho tàng ý niệm đa dạng, phong phú Những miền ý niệm “sông nước” dần dần được hình thành, ăn sâu vào ngôn ngữ Việt “Sông nước” trở thành một trong những miền nguồn cơ bản và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” sẽ gia tăng tính tương tác, phản ánh tư duy, nhận thức, trình độ văn hóa của con người

1.3 Ca dao là một bộ phận lớn của nền văn học dân gian Việt Nam Ca dao là

tiếng nói trữ tình dân gian, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người đất Việt Giống như tất cả các thể loại của văn học, ca dao hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá, phát hiện những vẻ đẹp trong cuộc sống

Ca dao là quá trình tự nhận thức bản thân của người bình dân, là tư duy, phong tục, nét

Trang 10

đặc trưng văn hóa được thể hiện trong từng câu hát Những câu ca ấy “từ Nam chí Bắc như có đất, có nước; như có cát, có biển; như có mồ hôi người, chúng ta sẽ cảm thấy dần dần tụ lại nơi khóe mắt một giọt ướt sáng ngời Đó là một giọt tinh túy chắt ra từ ruột già của non sông” (Xuân Diệu)

Ca dao là tấm gương của tinh thần dân tộc, là khuôn mặt của một vùng đất, dáng hình, xứ sở Ca dao được tạo nên từ sự thấm nhuần vẻ đẹp, cái gốc văn hóa, cách cảm thụ, tư duy của người Việt, vì thế nó góp vào ngôn ngữ văn học một tiếng nói tự nhiên, mộc mạc nhất Với một quá trình tồn tại lâu dài, gắn bó với nhiều sự kiện, sự thay đổi của dân tộc, đất nước và sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân tộc trong sáng tạo ca dao,

ẩn dụ ý niệm là một hướng đi phù hợp, mới mẻ, hứa hẹn đem đến những khám phá hấp dẫn trong ngôn ngữ Trong phạm vi đề tài, như lý giải ở trên, tác giả luận văn lựa chọn việc khai thác ẩn dụ ý niệm miền “sông nước - một trong những miền ý niệm phổ biến nhất trong đời sống văn hóa, ngôn ngữ dân tộc

Tác giả luận văn cũng lựa chọn ca dao Nam Trung Bộ là đối tượng nghiên cứu, khảo sát Bởi lẽ, ca dao Nam Trung Bộ “trẻ” hơn nhiều so với ca dao từ nhiều vùng đất khác; nhưng nó đã nhanh chóng thừa hưởng những thành tựu, tinh hoa của văn hóa dân tộc để làm phát triển thêm vẻ đẹp của một vùng văn hóa xứ sở Qua khảo sát ẩn dụ

ý niệm miền “sông nước”, ta có thể giải mã các tầng nghĩa dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hóa, đặc trưng tâm lí, tư duy của người Việt nói chung và người dân Nam Trung Bộ nói riêng Từ đó, thấy được mối liên hệ thú vị giữa ngôn ngữ và tư duy, tri nhận của con người

Vì những lí do trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Ẩn dụ ý niệm

miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu từ những thập kỷ 80 của thế

kỉ XX với những tên tuổi của G Lakoff, M Johnson, G Fauconnier, R Langacker, M Turner, W Chafe, M Minsky

Trên thế giới, những nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm xuất hiện cùng với sự hình

thành của ngôn ngữ học tri nhận Metaphors We live của G Lakoff và M Johnson xuất bản năm 1980 là công trình đầu tiên đánh dấu khuynh hướng này Mới đây, công

trình đã được Nguyễn Thị Kiều Thu (2017) dịch qua tiếng Việt khá công phu và

chuyển tải được đúng tinh thần qua cuốn Chúng ta sống bằng ẩn dụ (NXB Đại học

Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) Ẩn dụ từ đây đã vượt qua ranh giới của ngôn ngữ học thuần túy, cho phép chúng ta sử dụng những gì chúng ta biết về các trải nghiệm xã hội và vật chất của mình để hiểu được nhiều vấn đề khác Quan niệm mới về ẩn dụ rất khác với truyền thống đã được bắt đầu: “Chúng tôi thấy rằng ẩn dụ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động Hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta – thể hiện qua suy nghĩ cũng như hành động - về bản chất mang tính ẩn dụ” [22, tr.3] Công trình cũng đã đưa ra các

Trang 11

kiểu loại ẩn dụ tri nhận: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng (định vị), ẩn dụ bản thể và

những vấn đề khác liên quan đến ẩn dụ tri nhận

Ở Việt Nam, vào năm 2002, tác giả Nguyễn Đức Tồn trong công trình Đặc trưng

văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt, tuy chưa trực tiếp bàn đến ngôn

ngữ học tri nhận nhưng đã bắt đầu hướng nghiên cứu của mình theo hướng lý thuyết tâm lý, tư duy tộc người Tác giả dùng thuật ngữ “tri giác” khi bàn đến ẩn dụ với cách tiếp cận như một kiểu “tư duy phạm trù”

Cũng bàn về ẩn dụ tri nhận, cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (NXB Đại học Quốc

gia Hà Nội) do Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Hoàng An (2016) dịch từ nguyên bản

tiếng Anh Cognitive Linguistics: An introduction của David Lee, đã viết: “Ẩn dụ gắn

với khái niệm cách diễn giải bởi các cách tư duy khác nhau về một hiện tượng cụ thể (tức các cách diễn giải khác nhau về hiện tượng đó) gắn liền với các ẩn dụ khác nhau ( ) Thực chất, ẩn dụ là công cụ ý niệm hóa một miền trải nghiệm này sang một miền khác Như vậy, đối với bất kì ẩn dụ nào, chúng ta cũng có thể xác định được miền nguồn và miền đích” [23, tr.22] Công trình đã trình bày tương đối dễ hiểu những lí thuyết cơ bản liên quan đến ngôn ngữ học tri nhận như phối cảnh, khung, cận cảnh, tỏa tia, kết cấu, , trong đó có ẩn dụ tri nhận

Tác giả Lý Toàn Thắng là người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận một cách có hệ thống với khung lí thuyết cụ thể ở Việt Nam vào năm 2005 với công trình

Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội) Trọng tâm cuốn sách là vấn đề tri nhận không gian nên tác giả chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm ẩn dụ tri nhận, chưa đi sâu vào nghiên cứu và khảo sát bước đầu về nó

Tác giả Phan Thế Hưng trong hai bài viết “So sánh trong ẩn dụ” và “Ẩn dụ ý

niệm” đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ năm 2007 [15], [16] đã trình bày quan niệm mới

của mình về ẩn dụ trên cơ sở phủ nhận quan điểm so sánh trong ẩn dụ: “ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy” [15, tr.12]

Năm 2009, trong công trình Khảo luận ẩn dụ tri nhận (NXB Lao động xã hội),

tác giả Trần Văn Cơ đã giới thiệu khái luận về ngôn ngữ học tri nhận và giới thiệu lí thuyết ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam qua việc tổng thuật một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề trung tâm liên quan đến lí thuyết ẩn dụ ý niệm, gồm: 1 Ý niệm và ẩn dụ

ý niệm; 2 Hoạt động sáng tạo của ẩn dụ tri nhận; 3 Kinh nghiệm luận - phương pháp luận của học thuyết về ẩn dụ tri nhận; 4 Phạm trù hóa thế giới

Ẩn dụ ý niệm trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam và được chia thành hai hướng: nghiên cứu trọng tâm

về ẩn dụ ý niệm hoặc có một phần nội dung dành cho ý niệm Có thể kể đến các luận

án như Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) của Phan Thế Hưng, Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh tiếng Việt

Trang 12

và tiếng Pháp) của Võ Kim Hà, Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt

và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người) của Trịnh Thị Thanh Huệ, Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn của

Nguyễn Thị Bích Hạnh, Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Quỳnh của Phạm Thị Hương Quỳnh, Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) của Phạm Thị Hương Quỳnh, Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt của Nguyễn

Thị Bích Hợp… Nghiên cứu về các ẩn dụ ý niệm đã khẳng định và chứng minh yếu tố

cơ thể hóa ngôn ngữ, kinh nghiệm nghiệm thân và sự tác động của thế giới bên ngoài,

cụ thể là văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đã tạo ra những ẩn dụ ý niệm vừa mang tính phổ quát, vừa mang đặc trưng tư duy dân tộc

Ngoài các luận án tiêu biểu trên đây, còn rất nhiều bài báo, luận văn thạc sĩ quan tâm tới ẩn dụ ý niệm và ngày càng phong phú hơn, góp phần vận dụng lý thuyết tri nhận để giải quyết các vấn đề bản ngữ một cách linh hoạt

2.2 “Lĩnh vực sông nước” có lẽ xuất hiện nhiều nhất trong các công trình nghiên

cứu về văn hóa học Ngôn ngữ lại là tấm gương phản chiếu cũng là kết quả của văn hóa nên “lĩnh vực sông nước” cũng nghiễm nhiên trở thành một đối tượng của ngôn ngữ học Các từ chỉ “sông nước” đã được khảo sát bởi Trần Thị Ngọc Lang (1982, 1995) với việc tìm hiểu các nhóm từ có liên quan đến sông nước trong phương ngữ

Nam Bộ, Nguyễn Thị Thanh Phượng với đề tài Tìm hiểu từ ngữ sông nước trong đời

sống văn hóa Việt Nam, luận án Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam bộ của Hồ Văn Tuyên hay luận án Trường nghĩa “lửa” và “nước” trong tiếng Việt của Nguyễn Văn Thạo Các tác giả

với những công trình tiêu biểu đã thực sự khẳng định sông nước là một miền rộng lớn

và ưu thế trong tiếng Việt từ xưa đến nay

Với xu hướng lấy tri nhận để tiếp cận ngôn ngữ, lĩnh vực “sông nước” cũng đã được áp dụng và nghiên cứu Đó là sự xuất hiện hướng nghiên cứu mới cho sự kết hợp giữa “sông nước” và tri nhận rất thú vị, mở ra nhiều chiều kích khác nhau trong tư duy

khi tiếp cận ngôn ngữ Đó là những bài viết của tác giả Trịnh Sâm như Dòng sông và

cuộc đời, Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt, Lạm bàn về chữ

“Thủy” trong văn hóa Việt, Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Nam Bộ… Qua nghiên cứu, tác giả đã khẳng định trong tiếng Việt, môi trường vật chất

“sông nước” là miền nguồn đa dạng để kiến tạo nên miền đích

Trên cơ sở kế thừa thành quả của những công trình nghiên cứu trước đó, luận văn

Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt của tác giả Đinh Thị Vũ Trinh

hoàn thành năm 2010 đã tiếp cận vấn đề sông nước trên cơ sở của ngôn ngữ học tri

nhận như những bước khai phá đầu tiên đầy thử thách Vào năm 2017, luận án Bức

tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt của tác giả Tăng Tấn Lộc

tiếp tục tiến hành thống kê, phân loại, phân tích các ý niệm, nhất là ẩn dụ ý niệm trong bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tâm thức của người Việt, đặc biệt là người

Trang 13

Việt tại Nam Bộ Luận án đã cố gắng nghiên cứu bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tiếng Việt một cách hệ thống và toàn diện nhất tính từ thời điểm bây giờ

Hướng nghiên cứu ẩn dụ ý niệm miền sông nước trên cứ liệu ca dao nói chung,

ca dao Nam Trung Bộ nói riêng vẫn còn là một khoảng trống

2.3 Ca dao là nền tảng của văn học dân tộc, phản chiếu thiên nhiên, con người và

văn hóa của một vùng xứ sở Ca dao là đối tượng nghiên cứu rất quen thuộc với nhiều chiều hướng khác nhau, thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhà khoa học Đó có thể

là những bài viết về một số bài ca dao cụ thể, về vùng miền tồn tại và phát triển của ca dao hay dấu ấn ca dao qua từng thời kì lịch sử…

Trong vòng mười năm trở lại đây đã xuất hiện một vài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về ca dao dưới các góc nhìn khác nhau Trong đó, không thể không kể đến sự nghiên cứu dười bình diện ngôn ngữ học tri nhận Các nghiên cứu này một lần nữa khai thác sâu hơn ca dao dưới góc nhìn của các vỉa tầng tư duy, trên nền tảng tri thức, văn hóa, mở ra nhiều chiều kích khám phá tư duy với tư cách ngôn

ngữ văn chương và ngôn ngữ tinh thần Có thể kể đến các bài viết Ẩn dụ về con người

trong ca dao Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của tác giả Trần Thị Minh Thu, Bước đầu khảo sát ý niệm về tình yêu trong ca dao người Việt của tác giả Nguyễn Thị Hà, Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận của tác giả

Lê Đình Tường… Cùng với đó là luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong ca dao của tác

giả Bùi Thị Dung, …

Sông nước xuất hiện trong ca dao rất nhiều, đặc biệt là ca dao Nam Bộ Điều này

đã được chứng minh qua một số công trình nghiên cứu như bài viết Cảm xúc về sông

nước qua ca dao, dân ca Nam Bộ của Trần Phỏng Diều, Hình ảnh sông nước Nam Bộ trong ca dao dân ca của tác giả Lê Ngọc Trinh, Hình tượng sông nước trong ca dao dân ca trữ tình Nam Bộ của Trần Thị Diễm Thúy, luận văn thạc sĩ Yếu tố sông nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao Nam Bộ) của Đoàn Thị Thùy

Hương, luận văn Sông nước và văn hóa sông nước được biểu hiện trong kho tàng văn

học dân gian Việt Nam của Nguyễn Thị Thu Giang, … Có thể thấy số lượng công

trình nghiên cứu về “sông nước” trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng

là khá phong phú Tuy nhiên, các công trình chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ của

“sông nước” và văn hóa trên bình diện văn hóa và ngôn ngữ cấu trúc truyền thống, chứ chưa đào sâu nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận với phạm trù ẩn dụ ý niệm Trong kho tàng phong phú của ca dao người Việt, ca dao Nam Trung Bộ cũng là một thành tố chính yếu tạo nên khuôn mặt văn học dân gian của một khu vực rộng lớn

Ca dao Nam Trung Bộ trẻ hơn nhiều so với ca dao nới đất cội nguồn đến hàng chục thế kỉ Có lẽ vì thế nghiên cứu về ca dao Nam Trung Bộ còn khá khiêm tốn về mặt số

lượng Một số công trình đã được nhắc đến như bài viết Biểu tượng thiên nhiên trong

ca dao Trung Bộ của Nguyễn Thị Kim Ngân, luận án Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ của Nguyễn Thị Vân Anh, … Những công trình trên gần

Trang 14

như chưa nghiên cứu chuyên sâu về ca dao Nam Trung Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt gắn với tư duy “sông nước” của thiên nhiên và con người nơi

đây Đó chính là “khoảng trống” để chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Ẩn dụ ý

niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi tư liệu được khảo sát trong luận văn là những bài ca dao được in trong

quyển sách: “Ca dao Nam Trung Bộ” do Thạch Phương, Ngô Quang Hiển sưu tầm,

tuyển chọn, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2015

4 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm đạt được những mục đích sau:

- Hệ thống hóa những kiến thức lí luận về ẩn dụ ý niệm và cơ chế nhận biết ẩn dụ

ý niệm

- Tiến hành khảo sát ẩn dụ miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời qua cơ chế của ẩn dụ và nhân sinh quan của tập thể sáng tạo, có cơ sở để khẳng định những nét đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ vùng miền và tư duy sáng tạo ngôn ngữ dân tộc

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Luận văn có sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp miêu tả

Từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, luận văn tiến hành miêu tả ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ để phát hiện những giá trị ẩn sâu mà tác giả dân gian gửi gắm

5.2 Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa

Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa bề mặt ngôn từ và nghĩa biểu trưng của hiện

tượng ẩn dụ xuất hiện trong ngữ cảnh câu ca dao để thấy giá trị của chúng

5.3 Thủ pháp thống kê, phân loại

Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ, luận văn tiến hành phân loại chúng theo các mô hình phạm trù ý niệm để đưa về hệ thống các ẩn dụ ý niệm cơ sở, ẩn dụ ý niệm phái sinh, lí giải các ý niệm trong từng mô hình ẩn dụ được nghiên cứu Còn phương pháp thống kê sẽ giúp thấy mức độ phổ biến của từng kiểu ẩn dụ ý niệm trong

ca dao Nam Trung Bộ

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về phương diện lí thuyết

Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần củng cố lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ thêm một số vấn đề lí thuyết về ẩn dụ ý niệm qua ngôn ngữ ca dao

Trang 15

Nam Trung Bộ Luận văn cũng sẽ góp phần tìm hiểu thêm về cách thức tri nhận của người Việt, nhận thức rõ hơn về “bức tranh sông nước” mang tính xã hội, văn hóa của con người Nam Trung Bộ Qua đó cũng góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ ý niệm không chỉ là hình thái tu từ mà còn là vấn đề của tư duy, là một cơ chế quan trọng để con người nhận thức thế giới

6.2 Về phương diện thực tiễn

Luận văn đã dùng mô hình ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận để lí giải các thao tác tư duy của con người dân gian trong ca dao Nam Trung Bộ Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng giúp mang đến những hiểu biết sâu sắc hơn về ca dao Nam Trung Bộ trong nghiên cứu và giảng dạy Đồng thời điều đó sẽ giúp ta ứng dụng

vào việc giảng dạy ca dao từ góc nhìn ngôn ngữ học ở nhà trường phổ thông hiện nay

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề liên quan

Chương 2: Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn

Chương 3: Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền đích

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1 Ẩn dụ

1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

Theo các nghiên cứu, cho đến nay, ẩn dụ thường được coi là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau A.A Reformatxky cho rằng: “ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là “sự chuyển đổi” (Perenos), là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động v.v…” [35] B.N Golovin định nghĩa: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [35] Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng có quan điểm tương tự khi nghiên cứu về

ẩn dụ Có thể kể đến một số định nghĩa như sau:

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự

vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [2, tr.54] Sau này, trong cuốn Từ

vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục năm 1999, ông đã giải thích cụ thể hơn:

“Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [3, tr.145]

Tác giả Nguyễn Đức Tồn thì quan niệm: “Bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất… khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất cùng có một nét hay một đặc điểm nào đó” [35]

Nguyễn Thị Ly Kha giải thích về ẩn dụ: “là cách biến đổi nghĩa từ dựa vào những đặc điểm tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng Nghĩa là, lấy tên gọi của A gọi cho B dựa trên sự giống nhau giữa A và B” [18, tr.48]

Như vậy, các nghiên cứu về ẩn dụ theo truyền thống dù trong hay ngoài nước đều cho rằng ẩn dụ là cách thức so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng hay giống nhau về màu sắc, hình dạng, tính chất, trạng thái… Ẩn dụ luôn được xem xét trên hai phương diện, thứ nhất là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học như một phương thức chuyển nghĩa; thứ hai là đối tượng nghiên cứu của phong cách học, nó là một biện pháp tu từ Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống không thuộc về phạm trù tư duy, nó thiên về phạm trù tình cảm; đặc biệt khi được sử dụng như một “vũ khí” của địa hạt văn chương

Hiện nay, ẩn dụ không chỉ là một thuật ngữ thuộc về tu từ học mà được mở rộng

ra ở rất nhiều bình diện Nó tạo ra nhiều khuynh hướng, trường phái nghiên cứu khác

Trang 17

nhau dựa trên mối tương giao của rất nhiều ngành khoa học Ẩn dụ trở thành sự quan tâm của ngành khoa học tri nhận với quan niệm mới dưới góc nhìn của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận

1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận

Hiện nay, ẩn dụ theo quan điểm tri nhận thường được gọi là ẩn dụ tri nhận hay ẩn

dụ ý niệm

Nếu như quan điểm truyền thống xem ẩn dụ như một sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thường hàng ngày, và để hiểu được ẩn dụ thì phải thông qua các quá trình đặc biệt, ẩn dụ đơn thuần là một phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngôn từ thì với tư cách là một đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ mà nó còn là hiện thân của tư duy, là một phương thức để tư duy về thế giới

Có thể không phải là những người đầu tiên đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với tư duy mà cụ thể là khả năng tri nhận của con người nhưng mốc quan trọng trong sự phát triển của lý thuyết hiện đại của tri nhận luận về ẩn dụ phải là vào năm 1980, khi công

trình Metaphor we live by của G Lakoff và M Johnson ra đời Lakoff và Johnson

(1980) cho rằng hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ Lakoff và Johnson nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Những biểu thức ẩn dụ mà chúng ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở tầng bậc ý niệm Ẩn dụ không còn giới hạn ở phép dùng từ hình ảnh, so sánh mà xa hơn thế, ẩn dụ phản ánh phương thức tư duy sáng tạo của con người qua hệ thống các ý niệm, vì vậy Lakoff và Johnson gọi nó bằng thuật ngữ “Ẩn dụ ý niệm”

Ẩn dụ ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, gọi là sự ánh xạ/chiếu xạ (mapping) có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền đích nhằm tạo nên một mô hình tri nhận (mô hình ẩn dụ) giúp lĩnh hội miền đích cụ thể, hiệu quả hơn Với tư cách là một công cụ tri nhận, ẩn dụ được tạo ra một cách vô thức trong giao tiếp, tư duy

Năm 1992, trong bài viết The Contemporary Theory of Metaphor (Lí thuyết hiện

đại về ẩn dụ) [dẫn theo 14, tr.15], Lakoff đã tổng kết những luận điểm quan trọng về

ẩn dụ ý niệm, sau đây là nguyên văn:

- Phép ẩn dụ về cơ bản là ý niệm, không phải ngôn ngữ, trong bản chất

- Ẩn dụ ngôn ngữ là một biểu hiện bề mặt của ẩn dụ ý niệm

Trang 18

- Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta là ẩn dụ, một phần đáng kể của

nó là phi ẩn dụ Hiểu biết ẩn dụ được căn cứ vào sự hiểu biết phi ẩn dụ

- Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu một vấn đề tương đối trừu tượng hoặc vốn không

có cấu trúc dưới dạng một vấn đề cụ thể hơn, hoặc ít nhất là có cấu trúc cao hơn

- Ẩn dụ là ánh xạ giữa các miền ý niệm

- Những ánh xạ đó không đối xứng và cục bộ

- Mỗi ánh xạ là một tập hợp cố định các tương ứng bản thể giữa các thực thể trong một miền nguồn và các thực thể trong một miền đích

- Khi các tương ứng cố định đó được kích hoạt, các ánh xạ có thể phóng chiếu

mô hình suy luận miền nguồn lên mô hình suy luận miền đích

- Ánh xạ ẩn dụ tuân theo nguyên lí bất biến: Những cấu trúc lược đồ hình ảnh của miền nguồn được phóng chiếu lên miền đích theo cách phù hợp với cấu trúc cố hữu của miền đích

- Các ánh xạ không phải bất kì, mà căn cứ vào cơ thể và kinh nghiệm hàng ngày

và tri thức

- Một hệ thống ý niệm chứa hàng ngàn ánh xạ ẩn dụ quy ước, tạo thành một tiểu

hệ thống cấu trúc chặt chẽ của hệ thống ý niệm

- Có hai loại ánh xạ: ánh xạ ý niệm và ánh xạ hình ảnh; cả hai đều tuân theo nguyên lí bất biến.”

Ẩn dụ ý niệm là một cơ chế nhận thức mà thông qua nó, logic của những khái niệm có tính trừu tượng được thay bằng logic của những khái niệm có tính cụ thể hơn Công trình tiên phong quan trọng của Lakoff và Johnson (1980) đã chứng minh rằng

“ẩn dụ trên thực tế lại là một đặc trưng nền tảng của ngôn ngữ đời thường ( ) Thực chất, ẩn dụ là công cụ ý niệm hóa một miền trải nghiệm này sang một miền khác Như vậy, đối với bất kì ẩn dụ nào, chúng ta cũng có thể xác định được miền nguồn và miền đích ( ) Miền nguồn thường là những kinh nghiệm khá cụ thể, còn miền đích có xu hướng trừu tượng hơn ( ) Ẩn dụ thực sự là minh chứng tốt nhất cho tuyên bố của các nhà tri nhận luận rằng ngôn ngữ và tư duy hòa quyện khăng khít với nhau” [23, tr.21-24] Cơ chế tri nhận của ẩn dụ bao gồm hai miền nguồn và đích tồn tại tiền giả định trong ý thức của con người, trong đó những thuộc tính của miền nguồn được ánh xạ, phóng chiếu lên miền đích, cả hai miền nguồn và đích đều là những ý niệm, được cấu trúc hoá theo mô hình trường-chức năng: trung tâm-ngoại vi, trong đó hạt nhân là khái niệm nằm ở trung tâm, mang tính phổ quát toàn nhân loại, và ngoại vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hoá dân tộc, nằm trong một “khung” hay “nền” văn hoá nhất định mang tính đặc thù

Cùng nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm, tác giả Trần Văn Cơ cho rằng nó là “một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới… Ẩn

dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và

Trang 19

với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [5, tr.293-294] Ẩn dụ tri nhận hướng tới khả năng tác động vào lĩnh vực trí tuệ của con người Đó là một cơ chế quan trọng mà qua đó ta có thể thực hiện những lập luận phức tạp Nhờ cơ chế tri nhận này, những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới

Như vậy, có thể thấy ẩn dụ kết nối chúng ta từ hoạt động của ngôn ngữ đến hoạt động của văn hóa Đó là sự kiểm chứng quan trọng để khẳng định ẩn dụ là một công

cụ trong việc nảy sinh những biểu thức ngôn ngữ mới và trong tổ chức tư duy của con người Ẩn dụ trong khoa học tri nhận sẽ nghiên cứu sự nhận thức và ý niệm hóa của con người về thế giới xung quanh thông qua các biểu thức ngôn ngữ

1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm

1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa

Trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, ý niệm được định nghĩa như sau: “Ý

niệm là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận Ý niệm là những biểu tượng tinh thần phản ánh cách thức chúng ta tri giác thế giới xung quanh

và tương tác với nó Ý niệm bao gồm cả những sự liên tưởng và những ấn tượng là một trong những kinh nghiệm của người sử dụng ngôn ngữ Rõ ràng, những thuộc tính

đó nằm ngoài những miêu tả khách quan của khái niệm Ý niệm bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tương tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng Ý niệm không chỉ là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người mà còn là sản phẩm của quá trình tri nhận, nó vừa có tính nhân loại vừa có tính dân tộc vì nó gắn chặt với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc Như vậy, những yếu tố logic vẫn có vai trò trong xử lí ngôn ngữ, nhưng chúng sẽ được coi như một kiểu kinh nghiệm tinh thần bên cạnh những kinh nghiệm khác ( ) R.W.Langacker cho rằng kinh nghiệm tâm trí là sự tái hiện thế giới khách quan trong bộ não của con người, thế giới ý niệm (conceptual world) được hình thành từ những trải nghiệm chân thực của con người Ý niệm về những sự vật cụ thể bắt nguồn từ những trải nghiệm của các giác quan, còn ý niệm về các sự vật trừu tượng là kết quả của việc điều chỉnh, tổng hợp, xử

lí thông tin trên cơ sở các ý niệm về sự vật cụ thể Như vậy, thế giới ý niệm không giống với thế giới chân thực, nó tạo ra hoàn cảnh cho cấu trúc ngữ nghĩa” [11, tr.601] Tác giả Lý Toàn Thắng cho rằng: “Đối với tâm lí học và ngôn ngữ học tri nhận, ý niệm trước hết không phải và không chỉ là kết quả của quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người; mà nó là sản phẩm của quá trình tri nhận, nó là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, nó vừa mang tính nhân loại phổ quát vừa mang tính đặc thù dân tộc (do chỗ nó gắn kết chặt chẽ với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc đó) Từ khái niệm then chốt này mới đi tới được những khái niệm khác của tri nhận như: khung tri nhận, sơ đồ hình ảnh, mô hình tri nhận, điển dạng và phạm trù hóa, không gian tinh thần…” [31, tr.115]

Trang 20

Các nhà khoa học đặt ý niệm trong hai mối quan hệ để nghiên cứu, một là ý niệm trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, hai là ý niệm trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận Nếu khái niệm là đơn vị của tư duy thì ý niệm lại là đơn vị thuộc

về ý thức Ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái

gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới.Ý niệm chính là kết quả của hoạt động tri nhận, nó gắn liền với phạm trù và sự phạm trù hóa; kết quả của quá trình ấy chính là các phạm trù tri nhận hay các ý niệm Tâm lí học phân chia ra hai bậc nhận thức và tri nhận Hoạt động nhận thức phân biệt hai giai đoạn cảm tính (cảm giác, tri giác) và lí tính (biểu tượng, khái niệm) Khi chúng ta tri giác thì kết quả là “hình ảnh”; hoạt động tri nhận là hoạt động thu nhận, tàng trữ và xử lí thông tin, chế biến thành tri thức và gắn liền chặt chẽ với hoạt động tư duy Khi tư duy sẽ tạo ra “các biểu tượng tinh thần” gồm ý niệm và hình ảnh Các thành tố trong cấu trúc của biểu tượng tinh thần là trí tuệ, cảm xúc, ý chí đều được biểu hiện trong ngôn ngữ; đó là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Nếu thế giới hiện thực bên ngoài là một bức tranh thì bên trong trí não sẽ có một bức tranh khác đó chính là bức tranh tinh thần phản ánh chính bức tranh vật lí đó Bức tranh trong ngôn ngữ bao gồm các ý niệm chính là sự biểu thị của bức tranh tinh thần này Những đơn vị ngôn ngữ đóng vai trò biểu đạt ý niệm và những ý niệm ấy tương ứng với các ý nghĩa nhất định Đặc điểm của ý niệm có thể tóm lược trong mấy ý chính sau đây:

a) Ý niệm không nhất thành bất biến mà có sự biến đổi do hoạt động tri nhận của con người biến đổi theo điều kiện lịch sử xã hội Ví dụ: ý niệm về “đẹp” thay đổi theo thời gian

b) Ý niệm không tồn tại riêng lẻ mà chúng liên kết với nhau tạo thành một hệ thống ý niệm Mỗi một hệ thống ý niệm có những ý niệm cơ sở (ý niệm xuất phát) và

ý niệm thứ cấp (ý niệm phái sinh)

c) Các ý niệm trong hệ thống ý niệm không có ranh giới rõ rệt, tức có hiện tượng ranh giới mờ, thậm chí một số ý niệm trong hệ thống ý niệm này lại nằm trong hệ thống ý niệm khác [19, tr.39]

Một trong những luận thuyết trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận chính là sự ý niệm hóa Theo Trần Văn Cơ, ý niệm hóa thế giới là một trong những quá trình quan trọng nhất của hoạt động tri nhận của con người bao gồm việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận được và dẫn tới việc cấu tạo nên những ý niệm, những cấu trúc ý niệm và toàn bộ

Trang 21

hệ thống ý niệm trong bộ não của con người Mỗi một hành động riêng lẻ của việc ý niệm hóa thế giới là một ví dụ về cách giải quyết vấn đề, ở đó thể hiện những cơ chế suy luận, suy diễn và những thao tác logic khác Quá trình ý niệm hóa thế giới liên quan chặt chẽ với quá trình phạm trù hóa: cùng là hoạt động phân loại, nhưng chúng khác nhau về kết quả cuối cùng và về mục đích hoạt động Ý niệm hóa nhằm trừu suất những đơn vị tối giản nào đó của kinh nghiệm con người trong cách hiểu lí tưởng về mặt nội dung, còn phạm trù hóa thì nhằm kết hợp lại những đơn vị giống nhau hoặc đồng nhất về mặt nào đó thành những lớp lớn hơn

Iu.D Aprexjan cho rằng, con người ý niệm hóa thế giới theo 8 hệ thống chính [dẫn theo 26, tr.44]:

(1) Sự tri giác vật lí (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) Hệ thống tri giác này định vị trong các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, da Nét nghĩa tối giản: “tri giác”

(2) Trạng thái sinh lí như: đói, khát, mong muốn, Chúng định vị ở những bộ phận khác nhau của thân thể Nét nghĩa tối giản: “cảm nhận”

(3) Phản ứng sinh lí với những tác động bên trong và bên ngoài như lạnh, nóng,

đỏ mặt, tim đập mạnh, Phản ứng của những bộ phận khác nhau của thân thể (mặt, trái tim, họng) hoặc của thân thể nói chung Nét nghĩa tối giản: không có

(4) Hành động và hoạt động vật lí như đi, đứng, làm việc, nằm, vẽ, Chúng được thực hiện nhờ tứ chi và thân thể Nét nghĩa tối giản: “làm”

(5) Mong muốn như: muốn, thèm, vươn tới, nén lòng, cám dỗ, quyến rũ, Chúng định vị hoặc là trong thân thể hoặc là trong lòng Nét nghĩa tối giản: “muốn”

(6) Tư duy hoạt động trí tuệ như tưởng tượng, hình dung, hiểu, ý thức, tin, nhớ, quên, Hoạt động trí tuệ định vị trong ý thức (trong đầu, trong bộ não) và được thực hiện cũng chính nhờ những cơ quan này Nét nghĩa tối giản: “biết”, “cho rằng”

(7) Cảm xúc như: yêu, nhớ, sợ, căm thù, hi vọng, thất vọng Ở con người, tất cả những cảm cúc đều định vị trong lòng, tim hoặc ngực Nét nghĩa tối giản: “cảm thấy” (8) Lời nói như: hứa, yêu cầu, đòi hỏi, khuyên, tuyên bố, chửi, Lời nói được thực hiện nhờ cái lưỡi Nét nghĩa tối giản: “nói”

Langacker là học giả đầu tiên nói về cấu trúc của ý niệm Langacker quan niệm ý niệm gồm có hai thành tố: hình bóng ý niệm (concept profile) và hình nền ý niệm

(concept base),còn gọi là hình và nền Hình bóng ý niệm là nội dung tinh thần được

biểu đạt bởi từ Hình nền ý niệm là tri thức hay tiền giả định của ý niệm Mỗi ý niệm

sẽ đưa một hình bóng lên trên một hình nền, hình bóng ý niệm sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có hình nền ý niệm Do vậy, xác định ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải tính đến cả ý niệm hình bóng lẫn hình nền, cả “ý niệm” lẫn “vùng tri nhận”/ “miền”/ “lĩnh vực” Ý niệm THỊ GIÁC, THÍNH GIÁC, KHỨU GIÁC… không thể hiểu nếu thiếu vắng lĩnh vực THÂN THỂ; cũng không thể xác định một ý niệm như CON, CHÁU,

EM nếu bỏ qua khung mối quan hệ HỌ HÀNG Hay như theo Fillmore, một ý niệm

Trang 22

như WEEKEND không thể hiểu được nếu không có tri thức nền về dương lịch (chia ra

7 ngày đêm) và những quy ước văn hóa (chia ra ngày làm việc và ngày nghỉ) [dẫn theo 26, tr.46] Không có ý niệm nào có thể tự tồn tại, tất cả đều được lĩnh hội một cách phù hợp với sự hiểu biết, với các tri thức của con người về thế giới theo cách này hay cách khác

Mỗi đơn vị ngôn ngữ đều gợi ra một khung ngữ nghĩa nhất định Ví dụ Bé Na

làm hư cây bút (1) và Cây bút bị bé Na làm hư (2) khác nhau ở sự ý niệm hóa kinh

nghiệm và khung quy chiếu Trong câu (1), chúng ta tri nhận đến đối tượng gây hậu

quả là bé Na, ở câu (2), chúng ta chú ý đến đối tượng nhận hậu quả là cây bút Văn

chương cũng vậy, sự ý niệm hóa bao giờ cũng thuộc một khung nhất định Chẳng hạn

ý thơ Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua (Xuân Quỳnh) thuộc về khung ý niệm thời gian; hay Gió mưa là bệnh của giời / Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

(Nguyễn Bính) lại thuộc về khung ý niệm tình yêu

Ẩn dụ tiêu biểu cho sự ý niệm hóa trong ngôn ngữ Mỗi phát ngôn được tạo sinh

ra đều có quá trình ý niệm hóa, thông qua miền kinh nghiệm của chúng ta Chính vì thế, ý niệm gắn bó với ngôn ngữ và văn hóa Trong ngôn ngữ và văn hóa, có những yếu tố nhân loại mang tính phổ quát và những yếu tố dân tộc mang tính đặc thù, do vậy ý niệm cũng có hai loại: những ý niệm phổ quát và những ý niệm đặc thù dân tộc

Về cấu tạo, ý niệm là một cấu tạo đa chiều, bao gồm không chỉ những khái niệm được định nghĩa mà còn cả những đặc điểm hàm chỉ, hình ảnh đánh giá, liên tưởng cần phải được tính đến khi miêu tả ý niệm Trong ẩn dụ ý niệm có hai miền: miền nguồn và miền đích Miền nguồn chiếu xạ sang miền đích làm cụ thể hóa miền đích thông qua các quá trình ý niệm hóa Trong đó mô hình tri nhận miền nguồn thường cụ thể còn các mô hình tri nhận miền đích thường trừu tượng

1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ

1.2.2.1 Miền

Miền là một khái niệm quen thuộc trong đời sống Tuy nội hàm cụ thể khác nhau,

nhưng điểm chung của miền là xác định một khu vực, một phạm vi, một vùng đặc hữu

cụ thể trong lĩnh vực đó Đối với khoa học tri nhận, thuật ngữ miền ra đời gắn với lí

thuyết ẩn dụ ý niệm

Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học tri nhận định nghĩa “Miền (hay miền ý niệm,

miền kinh nghiệm): một thực thể ý niệm được sử dụng trong lí thuyết ẩn dụ ý niệm và những hướng tiếp cận liên quan tới chiếu xạ ý niệm, như hướng tiếp cận hoán dụ ý niệm và lí thuyết ẩn dụ sơ cấp Miền ý niệm có cấu trúc tri thức tương đối phức tạp có liên quan đến các phương diện thống nhất trong kinh nghiệm Ví dụ miền ý niệm HÀNH TRÌNH được giả thiết bao gồm những đại diện cho những thứ như du khách, phương thức di chuyển, tuyến đường, điểm đến, những khó khăn trên đường, v.v… Một ẩn dụ ý niệm phục vụ cho thiết lập những tương ứng được gọi là ánh xạ xuyên miền giữa một miền nguồn và một miền đích bằng cách phóng chiếu các đại diện từ

Trang 23

một miền ý niệm lên những đại diện tương ứng ở một miền ý niệm khác” [dẫn theo

14, tr.19]

Như vậy, miền ý niệm có thể hiểu là bộ tập hợp các ý niệm gần gũi về nội dung tinh thần như các thực thể tri nhận, các thuộc tính, các quan hệ Các thuộc tính, cùng với các quan hệ tạo thành hệ thống các phương diện của miền ý niệm

1.2.2.2 Miền nguồn, miền đích

Miền nguồn và miền đích là thuật ngữ quy chiếu tới các miền ý niệm trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm Ý niệm luôn gắn liền với kinh nghiệm của con người về cuộc đời

Ẩn dụ ý niệm là sự thông hiểu một ý niệm (hay một miền ý niệm) này thông qua một ý niệm (hay một miền ý niệm) khác Ví dụ như khi chúng ta nói và nghĩ về con người qua cây cỏ, về tình yêu qua nhiệt/lửa, về lí thuyết qua tòa nhà, về cuộc đời qua cuộc hành trình, về tranh luận qua chiến tranh

Mô hình của ẩn dụ ý niệm là “A là B”, trong đó A là ý niệm đích, B là ý niệm nguồn Một ẩn dụ ý niệm có hai miền ý niệm, ý niệm đích được hiểu thông qua ý niệm nguồn Trong tương quan giữa hai miền nguồn - đích, miền nguồn thường cụ thể, trực quan, dễ nhận biết, hoặc đã được ý niệm hóa trong tâm trí con người Ngược lại, miền đích có xu hướng trừu tượng, khó xác định, mới mẻ với nhận thức hoặc kinh nghiệm Miền đích cần có miền nguồn để sao phỏng cấu trúc, vay mượn nhãn dán, xây dựng các lược đồ hình ảnh đối ứng… để làm công cụ tri nhận, giúp miền đích đi vào thế giới quan của con người dễ dàng và phù hợp với nền tảng tri nhận đã có Ví dụ, ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI, TÌNH YÊU và SỰ GẦN GŨI là hai miền ý niệm của một ẩn dụ, trong đó ý niệm TÌNH YÊU là miền đích còn ý niệm SỰ GẦN GŨI là miền nguồn Miền nguồn SỰ GẦN GŨI mang những thuộc tính nổi trội của nó như khoảng cách, sự gần gũi, trạng thái gắn bó, cảm xúc gắn bó, thời gian gắn bó biểu đạt qua các biểu thức ngôn ngữ để làm rõ nghĩa cho miền đích TÌNH YÊU Như vậy miền đích bao giờ cũng được hiểu thông qua các phẩm chất của miền nguồn

Miền ý niệm có tính độc lập tương đối, tồn tại trong tinh thần con người, còn miền nguồn - đích gắn chặt với ẩn dụ ý niệm Miền ý niệm trong những trường hợp cụ thể có thể trở thành miền nguồn hoặc miền đích Kinh nghiệm của con người về thế giới vật chất chính là cơ sở tự nhiên và hợp lí để ta hiểu những miền ý niệm trừu tượng hơn Điều này lí giải tại sao trong hầu hết các trường hợp ẩn dụ thường ngày, miền nguồn và miền đích không thể đảo ngược cho nhau Đây được xem là tính đơn tuyến của ẩn dụ ý niệm, tức là ánh xạ được cấu trúc từ miền nguồn sang miền đích và không

có chiều ngược lại Cái này chính là nguyên tắc theo một hướng duy nhất, đó là điển hình của quá trình ẩn dụ là đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng hơn

1.2.2.3 Ánh xạ

Ánh xạ hay chiếu xạ là sự phóng chiếu giữa những yếu tố của miền nguồn và những yếu tố tương ứng của miền đích Đó là một hệ thống cố định giữa các điểm tương ứng đó trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm Sự ánh xạ còn có thể tạo nên những điểm

Trang 24

mới, cấu trúc, lược đồ mới mà trước đó chưa từng có trong miền đích do phản chiếu từ

mô hình tri nhận của miền nguồn Xác lập được sơ đồ ánh xạ giữa một cặp nguồn - đích chính là chìa khóa tìm hiểu về ẩn dụ ý niệm Sơ đồ ánh xạ trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là một hệ thống cố định các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích Nhiều yếu tố trong các khái niệm của miền đích xuất phát từ miền nguồn và trước đây có thể chưa từng có Khi những tương ứng này được kích hoạt, các sơ đồ ánh xạ có thể phóng chiếu từ miền nguồn sang miền đích Hiểu một ẩn dụ ý niệm có nghĩa là hiểu được hệ thống sơ đồ ánh xạ của một cặp nguồn - đích Ví dụ như ẩn dụ ý niệm TỔ CHỨC XÃ HỘI LÀ THỰC VẬT Có thể thấy sơ đồ quy ước: toàn bộ tổ chức xã hội tương ứng với toàn bộ cây, một phần của tổ chức xã hội tương ứng với một phần của cây, sự phát triển của tổ chức tương ứng với sự lớn lên của cây, giảm bớt hay thu nhỏ chức tương ứng với cắt xén một phần cây, nguồn gốc của tổ chức tương ứng với gốc rễ của cây, giai đoạn tốt nhất tương ứng với hoa của cây, kết quả có ích tương ứng với trái quả của cây

Cơ sở tri nhận của ánh xạ ẩn dụ ý niệm là những nền tảng kinh nghiệm Để hiểu được sự ánh xạ từ miền nguồn lên miền đích, chúng ta phải dựa vào sự tương liên trong kinh nghiệm, sự tương đồng cấu trúc trong tri giác, dựa vào cội rễ văn hóa mà hai ý niệm cùng bắt nguồn Một miền ý niệm đích có thể là một tổ hợp miền vì phải

có nhiều miền ý niệm nguồn mới giúp ta hiểu được các phương diện hay các miền con của nó

Lakoff và Tunner (1989) đã khái quát những bản chất điển hình của sự chiếu xạ như sau [dẫn theo 7, tr.71]:

(1) Sự chiếu xạ phi đối xứng và mang tính bộ phận Ý niệm ẩn dụ không phản ánh và cũng không thể phản ánh được tất cả các bình diện của ý niệm xuất phát Khi chúng ta nói rằng một ý niệm nào đó được xếp đặt làm ẩn dụ là có ý nói nó chỉ được xếp đặt một bộ phận thôi và có thể được sử dụng mở rộng bằng phương thức không phải võ đoán mà là hoàn toàn xác định

(2) Chiếu xạ là một quá trình chuyển tập hợp những thông tin từ các thực thể ở miền Nguồn sang các thực thể ở miền Đích

(3) Chiếu xạ ẩn dụ theo nguyên tắc một hướng: sơ đồ hình ảnh của miền Nguồn được chiếu xạ lên miền Đích chứ không ngược lại

(4) Sự chiếu xạ không võ đoán mà có cơ sở trong cơ thể con người, trong kinh nghiệm thường nhật và trong tri thức

(5) Có hai loại chiếu xạ: chiếu xạ ý niệm và chiếu xạ hình ảnh, cả hai đều phục tùng nguyên tắc bất biến

(6) Chiếu xạ ẩn dụ thay đổi theo mức độ phổ quát: một số có tính phổ quát, một

số khác được phổ biến rộng rãi, một số nữa thì bị quy định bởi văn hóa

Cơ chế của ánh xạ là được kích hoạt căn cứ vào kinh nghiệm và tri thức Sự kích hoạt của các ẩn dụ thông thường không phụ thuộc vào ý thức mà tự động, vô thức hoặc

Trang 25

đôi khi, ở ngưỡng dưới của mức độ ý thức Trong tương quan giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm, một miền đích có thể tương ứng với nhiều miền nguồn Các miền nguồn cấu trúc hóa nội dung cho miền đích, làm sáng rõ các phương diện khác nhau của miền đích Để hiểu một miền đích trọn vẹn, đôi khi cần nhiều miền nguồn Ví dụ trong ca dao Nam Trung Bộ, miền ý niệm đích CON NGƯỜI có 3 miền nguồn là THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC, CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC và PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC Mỗi ý niệm đích có nhiều ý niệm nguồn chiếu xạ như vậy giúp ta nhận thức được các phẩm chất, quan niệm, lối tư duy của tác giả dân gian về con người

Ẩn dụ ý niệm là công cụ tri nhận của con người, nên danh sách các ẩn dụ ý niệm giữa các ngôn ngữ khác nhau cơ bản là giống nhau dù các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ có thể không giống nhau Sự chiếu xạ giữa hai miền ý niệm có bản chất nội tại, có cơ sở tri nhận nhất định và tính tương quan rõ ràng chứ không tùy tiện hay chịu

sự chi phối chủ quan cá nhân

1.2.3 Điển mẫu

Điển mẫu (prototype) là khái niệm gắn với phạm trù tri nhận và sự phạm trù hóa Triết học định nghĩa phạm trù là khái niệm chung nhất và là nền tảng nhất phản ánh những thuộc tính, những quan hệ cơ bản và phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và của nhận thức Phạm trù là khái niệm nhưng không phải mọi khái niệm đều là phạm trù Nói cách khác, chỉ những khái niệm được xem là cơ bản của ngành khoa học nào đó mới được gọi là phạm trù Điển mẫu là thành viên điển hình, ở vị trí trung tâm của phạm trù, đó là ví dụ tốt nhất, nổi bật nhất, được thụ đắc đầu tiên trong ngôn ngữ (tiêu biểu là đối tượng trẻ em) Điển mẫu là “những ví dụ đạt nhất” (best axamples) theo quan điểm của H Rosch Như ta biết, thế giới xung quanh

ta bao gồm vô số sự vật và hiện tượng cần phải nhận diện, phân loại và đặt tên cho chúng Sự phân loại sự vật, hiện tượng là một quá trình tinh thần phức tạp thường được gọi là “sự phạm trù hóa” mà sản phẩm của nó là “các phạm trù tri nhận” ( ) Về sau các học giả khác cũng đều định nghĩa điển mẫu như là “ví dụ đạt nhất của một phạm trù”, “ví dụ nổi bật”, “trường hợp rõ nhất trong các thành viên phạm trù”, “đại diện tiêu biểu nhất của các vật được bao hàm trong một lớp “thành viên trung tâm và điển hình”.” [11, tr.159]

Lý thuyết điển mẫu cho rằng, não bộ chúng ta tạo ra hình ảnh cụ thể về một sự vật cụ thể thuộc phạm trù nào đó giúp chúng ta khái quát hóa những trải nghiệm và phân loại những kinh nghiệm của chính mình Điển mẫu giúp con người nhận thức được sự vật trong hiện thực Yếu tố nào giúp chúng ta tri giác về sự vật nhanh nhất chính là yếu tố điển hình của điển mẫu Quá trình tri nhận vì thế sẽ diễn ra như sau: khi thấy một sự vật, hiện tượng không biết xếp vào phạm trù nào, ta sẽ lấy sự vật, hiện tượng đó so sánh với điển mẫu Khi nghiên cứu thường bắt đầu từ cái điển hình nhất, tức là bắt đầu từ trung tâm chứ không phải ngoại vi Đa số những thứ chúng ta nhận

Trang 26

thức được đều được phân tích và phân loại trong tâm trí theo mức độ phù hợp với một điển mẫu nào đó Phát hiện này chứng minh rằng ý niệm tồn tại trong suy nghĩ của con người ở mọi dân tộc Trong những nền văn hóa khác nhau, chúng ta sẽ phân loại sự vật theo một hình ảnh tinh thần nào đó, hình ảnh ấy có vai trò như một điển mẫu để so sánh với các thành viên khác Mỗi phạm trù đều có một tập hợp những đặc điểm chuẩn không thay đổi, trong đó có một số yếu tố điển hình cho phạm trù hơn những yếu tố khác Cơ sở để chúng ta nhận thức sự vật có thuộc phạm trù nào đó không là nhờ phép loại suy và định hướng điển mẫu

Lakoff (1986) đã đưa ra cơ sở để phân loại điển mẫu [dẫn theo 7, tr.237-238]: (1) Những ví dụ điển hình, chẳng hạn chim sâu và chim sẻ là những con chim điển hình

(2) Những khuôn mẫu xã hội, được dùng để xây dựng những phán đoán nhanh về con người, ví dụ người mẹ điển hình là người nội trợ

(3) Những khuôn mẫu lí tưởng, lí tưởng hóa vật thể, ví dụ người chồng lí tưởng

là người kiếm được nhiều tiền, chung thủy, được mọi người kính trọng và có sức hấp dẫn

(4) Khả năng tạo sinh, ví dụ khi cần tạo một định nghĩa chung, người ta định nghĩa phạm trù này thông qua phạm trù khác

(5) Các tiểu mô hình (tiểu phạm trù), ví dụ phạm trù động vật có các tiểu phạm trù động vật có ý thức (con người) và động vật không có ý thức

(6) Những ví dụ nổi tiếng ai cũng biết, dễ nhớ, ví dụ nếu có một người quen ăn chay thì có thể căn cứ vào người đó để suy xét về tất cả những người ăn chay khác Các phạm trù tri nhận “có một cấu trúc nội tại phức tạp, bao gồm các điển dạng, các thí dụ đạt và thí dụ tồi, và có các ranh giới mờ Bản chất của chúng được thể hiện

ở chỗ:

(1) Các phạm trù không biểu hiện sự phân chia võ đoán các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan; chúng phải được cơ sở trên những khả năng tri nhận của trí não con người

(2) Các phạm trù tri nhận như màu sắc, hình dáng cũng như các sinh vật và các

sự vật cụ thể, đều liên đới với các điển dạng nổi trội về mặt ý niệm vốn là một bộ phận trọng yếu để thành tạo các phạm trù

(3) Ranh giới của các phạm trù tri nhận là ranh giới mờ (fuzzy), tức là các phạm trù lân cận không được tách bạch rõ ràng mà chúng lẫn vào nhau

(4) Nằm giữa các điển dạng và các ranh giới, các phạm trù tri nhận gồm có các thành viên được đánh giá theo một thang độ về tính điển hình và được xếp hạng từ các

ví dụ đạt đến các ví dụ tồi

Lý thuyết điển mẫu góp phần vô tận hóa khả năng nhận thức của con người về thế giới Điển mẫu vì thế có vai trò quan trọng trong việc cắt nghĩa ẩn dụ ý niệm Từ góc độ ngôn ngữ học, thay vì nghiên cứu từng thành viên trong danh sách, có thể

Trang 27

nghiên cứu điển mẫu để phán đoán và kết luận các thuộc tính, đặc điểm của bộ tập hợp đó

mà cơ bản chúng được hình thành từ thân thể và não bộ của con người

Tính nghiệm thân của ngôn ngữ được đưa ra trên cơ sở của triết học nghiệm thân (Embodied Philosophy) Triết học nghiệm thân được đưa ra sau khi Lakoff và Johnson (1980) xem xét lại những quan điểm triết học truyền thống ở phương Tây qua tiếp thu những thành quả nghiên cứu của ngành tâm lý học và nhất là khoa học tri nhận Sự phát triển của khoa học tri nhận cùng với những chứng cứ khoa học về thuyết tiến hóa khẳng định tâm trí hoạt động và phát triển nhờ những khả năng của thân thể, tâm trí cơ bản mang tính nghiệm thân Những kết luận của khoa học tri nhận chỉ ra rằng các ý niệm của con người không chỉ đơn thuần là các phản ánh của thực tại bên ngoài, mà cơ bản hình thành từ thân thể và não bộ của chúng ta thông qua các cơ quan cảm giác Từ những thành quả đó, Lakoff (1987) đã hình thành khái niệm trải nghiệm luận

(experientialism) và sau đó (1999) trong cuốn Philosophy in the Flesh ông đưa ra thuật

ngữ hiện thực nghiệm thân luận (embodied realism), được coi là phi khách quan luận (non-objectivism) để phân biệt với khách quan luận truyền thống Cuốn sách đưa ra hai kết luận quan trọng như sau: [dẫn theo 21, tr.23]

- Thứ nhất: Các kết quả của khoa học tri nhận chỉ ra rằng lý trí của con người là một dạng lý trí của động vật, bị ràng buộc với thân thể Não bộ con người có cấu trúc phức tạp đến kỳ lạ

- Thứ hai: Các kết quả chứng minh rằng: thân thể, não bộ và sự tương tác của con người với môi trường xung quanh cung cấp nền tảng cho những cảm nhận của chúng

ta hằng ngày một cách hoàn toàn vô thức Cảm nhận của chúng ta về cái có thật khởi nguồn và cơ bản lệ thuộc vào thân thể chúng ta, nhất là bộ phận cảm xúc và cấu trúc

cụ thể của não bộ, khiến chúng ta có khả năng nhận biết, chuyển động và thao tác Như vậy, thế giới luôn vận động và không có gì là bất biến hay tuyệt đối hóa Tất

cả mọi chân lý đều tồn tại trong tư duy nhận thức của con người trong mối quan hệ với những người khác, với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội xung quanh Đã là con người thì phải mang tính nghiệm thân, trải nghiệm của con người trong sự tương tác với

Trang 28

thế giới xung quanh tạo nên ý nghĩa quyết định phương thức con người hiểu biết về thế giới Điều đó có nghĩa, tri nhận của con người phải được hiểu qua tính nghiệm thân Trong ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu bởi trong ngôn ngữ đời thường mà con người đang sử dụng, ẩn dụ được dùng rất phổ biến Khoa học tri nhận chỉ ra tư duy thường nhật của con người phần lớn mang tính ẩn dụ nên lí tính cũng liên quan đến tưởng tượng Lakoff đề nghị hiểu ẩn dụ thơ ca trên cơ sở hệ quả và kết luận mang tính ẩn dụ Nghiệm thân có vai trò quan trọng để hiểu về thơ ca Khi tìm hiểu một tác phẩm thi ca theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, sự trải nghiệm đóng vai trò then chốt trong quá trình khám phá tác phẩm Bởi lẽ, không có một tác phẩm nào lại không phản ánh hiện thực, không phản ánh tâm tư, tình cảm hay tư tưởng của người viết, cũng không có tác phẩm thi ca nào lại tách rời bối cảnh văn hóa, xã hội và tách rời lối tư duy mang đặc trưng của từng tộc người Đó là một quá trình thực nghiệm hóa sự trải nghiệm - một con đường kiếm tìm cái hay của một tác phẩm thi ca không có ý niệm nào nằm ngoài sự trải nghiệm của con người với cuộc sống dù ở bất kỳ xã hội nào

1.2.5 Mô hình tri nhận

“Mô hình tri nhận là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới Thay cho tất cả các hiện tượng mà chúng ta tình cờ thấy hằng ngày, chúng ta đã có kinh nghiệm và lưu giữ một số lớn các ngữ cảnh có quan hệ qua lại Các phạm trù tri nhận không chỉ phụ thuộc vào cái ngữ cảnh trực tiếp mà chúng được ấn vào, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều ngữ cảnh có liên hệ với nó Vì thế, sẽ là rất hữu ích nếu có một thuật ngữ bao trùm tất cả các biểu tượng tri nhận được tích trữ thuộc về một trường nhất định ( ) Các mô hình tri nhận dựa trên cơ sở tâm lí của tri thức tích trữ về một phạm vi nhất định Bởi vì trạng thái tâm lí luôn luôn là riêng tư và là những kinh nghiệm cá nhân, việc miêu tả các mô hình tri nhận như thế cần thiết phải bao gồm một mức độ đáng kể của sự lí tưởng hóa Nói cách khác, việc miêu tả các mô hình tri nhận được dựa trên tiền ước rằng có nhiều người có cùng tri thức cơ bản về sự vật” [11, tr.277-278] Khái niệm mô hình tri nhận được Lakoff đề xuất, là những cách thức chung để con người ý niệm hóa thế giới khách quan thành các tri thức Mô hình tri nhận được hình thành trên cơ sở các tương tác giữa con người với hiện thực, tạo thành các phương thức tổ chức và biểu đạt kinh nghiệm của con người Có bốn kiểu mô hình tri nhận thường gặp trong quá trình ý niệm hóa, đó là:

- Mô hình mệnh đề: cấu trúc tri thức về quan hệ giữa ý niệm với ý niệm, được biểu hiện bằng mệnh đề ngôn ngữ

- Mô hình sơ đồ hình ảnh: mô hình lưu giữ các kiến thức có liên quan đến quan

hệ không gian, sự dịch chuyển, hình dạng

Trang 29

- Mô hình ẩn dụ: mô hình dùng để ý niệm hóa, giải thích và suy luận về các sự vật trừu tượng

- Mô hình hoán dụ: mô hình được hình thành từ một mô hình khác

Mô hình tri nhận giúp chúng ta lí giải các hiện tượng ngữ nghĩa và ý niệm, có ý niệm được lí giải trực tiếp nhưng có những ý niệm phức tạp cần sử dụng mối quan hệ giữa chúng với các ý niệm trực tiếp, mà ẩn dụ ý niệm là một điển hình Mô hình tri nhận được tích lũy qua tri thức văn hóa là mô hình tồn tại lâu bền nhất vì nó có thể được bảo lưu qua nhiều thế hệ Mô hình tri nhận nhấn mạnh vào tinh thần, kinh nghiệm tri giác và nhận thức khoa học của con người

Mô hình tri nhận được dùng để nhận thức những trải nghiệm của chúng ta và suy luận về nó Các mô hình tri nhận không thuộc về ý thức mà thuộc về tiềm thức, được

sử dụng máy móc và dễ dàng, được vận dụng vô thức và tự động Thêm một điều lưu

ý, là các mô hình tri nhận này không thể quan sát trực tiếp được Ta chỉ có thể suy ra chúng từ những ánh xạ ẩn dụ, hiểu chúng bằng chính trải nghiệm trực tiếp của chúng

ta về thế giới hiện tại thông qua nền văn hóa của mình Có hai con đường cơ bản để con người tích lũy mô hình tri nhận, đó là kinh nghiệm trực tiếp và thông qua tri thức văn hóa

1.2.6 Lược đồ hình ảnh

Lược đồ hình ảnh là một trong những vấn đề của ẩn dụ ý niệm được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Nó không chỉ lí giải được con đường tư duy của loài người mà còn là một nhân tố giúp chúng ta hiểu và lí giải các ý niệm ẩn dụ

Lược đồ là khái niệm không mang tính cụ thể mà được khái quát hóa từ các kinh nghiệm trong sự tương tác với thế giới khách quan, dựa trên các kinh nghiệm được lặp

đi lặp lại Các lược đồ hình ảnh thường được dùng để mô tả hiện tượng ẩn dụ ý niệm

và hoán dụ ý niệm Lược đồ chính là cơ sở để các ý niệm nảy sinh và trong ngôn ngữ chúng được thể hiện ra thông qua các biểu thức ngôn ngữ Do các lược đồ hình ảnh luôn lấy nền tảng từ sự trải nghiệm của cơ thể con người, cho nên về bản chất, chúng mang tính nghiệm thân

Lược đồ hình ảnh là mô thức xuất hiện thường xuyên lặp lại trong hoạt động kinh nghiệm của con người, là mô thức tổ chức kinh nghiệm của con người Việc hình thành các lược đồ hình ảnh không dựa trên sự tương tự mà dựa trên các tương quan kinh nghiệm Ví dụ: ta có lược đồ hình ảnh “vật chứa nước”, từ đó sẽ tạo lập các ý

niệm về lược đồ đó với những hình ảnh như bể, biển, sông, suối, vực, lạch, thác…

Lược đồ hình ảnh vừa là những trải nghiệm tự thân của con người, vừa là những trải nghiệm thông qua ẩn dụ Lược đồ hình ảnh liên quan chặt chẽ đến quá trình nhận thức/ tri nhận của con người Johnson (1987) đã nêu lên bốn đặc điểm của lược đồ hình ảnh [dẫn theo 26, tr.80]:

(1) Lược đồ hình ảnh cấu trúc trở thành tiên nghiệm qua trải nghiệm thân thể của chúng ta

Trang 30

(2) Các khái niệm lược đồ hình ảnh tương ứng thật sự tồn tại

(3) Ẩn dụ là chiếu xạ các lược đồ hình ảnh vào các miền trừu tượng, dựa trên logic cơ bản

(4) Ẩn dụ không mang tính quy ước mà được kích hoạt bởi các cấu trúc có sẵn trong trải nghiệm thân thể hàng ngày

Đối với thi pháp học tri nhận, khi ngôn từ mang tính hình ảnh và giàu tính biểu cảm thì việc xác định các lược đồ hình ảnh là một cách giúp chúng ta không bị nhầm lẫn sang ẩn dụ truyền thống

1.2.7 Không gian tinh thần

Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học tri nhận định nghĩa “Không gian tinh thần là các vùng không gian ý niệm có chứa các dạng thông tin đặc trưng Chúng được cấu tạo trên cơ sở ngôn ngữ tổng quát, ngữ dụng và các chiến lược văn hóa để chọn lọc thông tin” [dẫn theo 14, tr.23] Về bản chất, không gian tinh thần tương tự như miền ý niệm trong thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff Lí thuyết này xoay quanh các không gian tinh thần với tư cách các gói ý niệm

Nếu như vùng tri nhận là những nội dung tri thức tương đối ổn định trong bộ não con người và được lưu giữ trong kí ức lâu dài, thì không gian tinh thần chỉ là “vật chứa lâm thời” chứa đựng thông tin trong quá trình giải mã văn bản, chỉ tồn tại trong kí ức làm việc lâm thời Không gian tinh thần được hiểu là một phần cấu trúc tư duy của chúng ta Nó bao gồm các yếu tố được cấu trúc bởi các khung và các mô hình tri nhận Không gian tinh thần thường kết nối với những hiểu biết sẵn có từ trước của con người Nó cũng được cấu trúc và kết nối với các loại chiếu xạ Có giả thuyết cho rằng không gian tinh thần là một bộ kích hoạt các tế bào thần kinh và kết nối giữa các yếu

tố tương ứng với sự chiếu xạ Theo quan điểm này thì không gian tinh thần hoạt động trong trí nhớ nhưng được xây dựng một phần bằng cách kích hoạt các cấu trúc có sẵn trong trí nhớ lâu dài Các mối quan hệ của không gian tinh thần được tổ chức theo các khung nhất định Không gian được xây dựng từ nhiều nguồn Một không gian tinh thần có thể được xây dựng bởi kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau

Theo Stockwell (2002), không gian tinh thần được chia làm bốn loại [dẫn theo

Trang 31

Từ bốn loại trên, ta thấy được bản thể thuộc không gian tinh thần rất đa dạng, Đó

là thực tại khách quan mà con người tiếp nhận, là những tình huống giả định và giả thuyết, là quá khứ - tương lai của sự kiện, các phạm trù trừu tượng

Những thuộc tính của không gian tinh thần mà Fauconnier (1985) (1994) nêu ra

là [dẫn theo 26, tr.90]:

- Những không gian có thể bao gồm những bản thể tinh thần

- Những không gian có thể được cấu trúc hóa bởi mô hình tri nhận

- Những không gian có thể kết nối với những không gian khác gọi là cầu nối

- Bản thể trong một không gian có thể kết nối với những bản thể trong những không gian khác bằng những cầu nối

- Các không gian có khả năng mở rộng với nghĩa rằng trong quá trình hoạt động tri nhận của hệ thống, chúng có thể được liên kết với những bản thể và mô hình tri nhận lí tưởng khác

- Các mô hình tri nhận lí tưởng có thể thu nạp các không gian Ví dụ, mô hình tri nhận lí tưởng “người kể chuyện” thu nạp không gian tinh thần câu chuyện

Không gian tinh thần chính là môi trường ý niệm hoá và tư duy Vì thế mỗi một ý tưởng của quá trình ý niệm hóa đều ứng với một không gian tinh thần nhất định Thi pháp học tri nhận phản ánh tiếng nói và tâm hồn của mỗi cá nhân, của mỗi dân tộc Chính vì vậy, lí thuyết không gian tinh thần có vai trò cực kì quan trọng đối với thi pháp học tri nhận

1.2.8 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận có nhiều cách phân loại ẩn dụ ý niệm theo các tiêu chí khác nhau Cho đến nay, ẩn dụ ý niệm có tất cả năm cách phân loại Theo Kovecses (2002), có các cách phân loại ẩn dụ ý niệm như sau [dẫn theo 21, tr.16]:

- Thứ nhất: Ẩn dụ ý niệm có thể được phân loại theo tính quy ước, gồm có hai loại: ẩn dụ có tính quy ước và ẩn dụ phi quy ước Ẩn dụ có tính quy ước cao thường ổn định, được sử dụng thường xuyên và vô thức Ẩn dụ phi quy ước dùng các biểu thức ngôn ngữ mới mẻ, gây ấn tượng Tuy vậy, tác giả lại không đưa ra tiêu chí cụ thể để phân loại mức độ cao thấp cho ẩn dụ quy ước

- Thứ hai: Phân loại dựa vào cấu trúc kiến thức hay các yếu tố ý niệm của sơ đồ hình ảnh Tuy nhiên, một hình ảnh lại có thể trở thành miền nguồn cho rất nhiều ẩn dụ khác nhau Ví dụ, sơ đồ hình ảnh NHỮNG VỊ TRÍ/KHU VỰC là cơ sở cho ẩn dụ ý niệm cấu trúc TÌNH CẢM/CẢM XÚC LÀ NHỮNG VỊ TRÍ/KHU VỰC; ĐẤT NƯỚC

LÀ NHỮNG VỊ TRÍ/KHU VỰC

- Thứ ba: Phân loại dựa vào mức độ khái quát, ẩn dụ ý niệm được phân ra thành

ẩn dụ khái quát và ẩn dụ cụ thể Ẩn dụ khái quát được cho là có cấu trúc khung đơn giản và dễ dàng để hệ thống hóa cấu trúc ẩn dụ Trong khi đó, ẩn dụ cụ thể lại là cấu trúc lược đồ tri nhận được chi tiết hóa trong sự chiếu xạ từ miền Nguồn đến miền Đích

Trang 32

- Thứ tư: Phân loại theo chức năng tri nhận có ba loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng

- Thứ năm: Grady (1999) phân loại ẩn dụ ý niệm dựa vào tương quan kinh nghiệm có hai loại: ẩn dụ cơ sở và ẩn dụ ghép Ẩn dụ cơ sở liên quan đến trải nghiệm chủ quan cá nhân của con người còn ẩn dụ ghép là ẩn dụ do các ẩn dụ cơ sở kết hợp Các nhà ngôn ngữ học tri nhận hầu như thống nhất phân chia ẩn dụ ý niệm thành

ba loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng dựa trên chức năng tri nhận của chúng Cách phân loại này nhấn mạnh vào chức năng tri nhận của con người trong mối quan hệ song hành giữa con người và thế giới xung quanh trong sự tương quan giữa chủ thể - ngôn ngữ - văn hóa - tư duy

1.2.8.1 Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc là những ẩn dụ tri nhận khi một ý niệm này được cấu trúc hóa về mặt ẩn dụ trong thuật ngữ của một ý niệm khác Nói cách khác, ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc lại ý niệm ở miền đích về mặt nghĩa sau khi nhận được những tri thức mới (những nét thuộc tính mới) do ý niệm ở miền nguồn gán cho (hay ánh xạ lên)

Ý niệm nguồn và ý niệm đích tuy thuộc về hai miền tri nhận khác nhau, nhưng về mặt cấu trúc là tương tự hay tương đồng Chẳng hạn, trở lại ẩn dụ cấu trúc THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, ta thấy ý niệm TIỀN BẠC (miền NGUỒN) đã cấu trúc hóa ý niệm THỜI GIAN (miền ĐÍCH) làm cho hai khách thể THỜI GIAN và TIỀN BẠC trở nên tương đồng ở một bộ phận nào đó Có nhiều biểu thức ngôn ngữ dùng để biểu đạt

ý niệm này, ví dụ: “Bạn phung phí thời gian quá đấy.”; “Cái này sẽ tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian.”; “Anh đã làm tốn của tôi một giờ đồng hồ rồi đấy.”; “Bạn đã xài hết thời gian”; “Bạn hãy lập quỹ thời gian cho riêng mình”…

Hay ở biểu thức ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CÂY CỎ chúng ta đã coi tình yêu như là

một loại cây có mầm, rễ, cành, hoa, lá cho nên chúng ta nói mầm tình yêu, tình yêu

ra hoa, tình yêu kết trái, tình yêu chín muồi…Trong biểu thức này, những thuộc tính

điển hình của cây cỏ đã di chuyển sang cho tình yêu

Ẩn dụ cấu trúc cung cấp loại cấu trúc và hiểu biết về miền ý niệm đích của chúng qua những trải nghiệm của con người và nói chung là miền nguồn cụ thể, dễ hiểu hơn; còn miền đích thường trừu tượng và khái quát hơn Ẩn dụ cấu trúc chiếm số lượng chủ

yếu của ẩn dụ ý niệm

1.2.8.2 Ẩn dụ bản thể

Ẩn dụ bản thể thực chất là quá trình “vật thể hóa” những bản thể trừu tượng và vạch ranh giới của chúng trong không gian Ẩn dụ bản thể và chất liệu hình thành do kinh nghiệm của chúng ta trong việc tri giác những đối tượng vật lí và các chất liệu tạo nên một cơ sở khác để ngữ nghĩa hoá các ý niệm vượt ra ngoài ranh giới của sự định hướng giản đơn “Kinh nghiệm của con người về các vật thể là cơ sở để tạo ra ẩn dụ bản thể Trong loại ẩn dụ này, người ta thường coi các khái niệm vô hình, trừu tượng,

mơ hồ là những thực thể hữu hình, cụ thể Ẩn dụ bản thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn các

Trang 33

ý niệm trừu tượng Chẳng hạn, chúng ta ý niệm hóa sự sợ hãi như là một sự vật, mà sự vật thì có thể sở hữu, nên có thể nói “nỗi sợ hãi của tôi”, “tính sợ vợ của anh”, Ẩn dụ vật chứa (container metaphor) được coi là tiêu biểu cho ẩn dụ bản thể Bản thân mỗi người là một vật chứa, họ đã phóng chiếu ý niệm này lên các sự vật khác, như từ và câu ” [11, tr.50]

Lakoff và Johnson định nghĩa ẩn dụ bản thể thực chất là phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng cách vạch ra ranh giới của chúng trong không gian Kovecses (2002) quan niệm cấu trúc tri nhận trong ẩn dụ bản thể ít hơn so với ẩn dụ cấu trúc bởi chức năng chính của ẩn dụ cấu trúc chỉ là cung cấp các trạng thái bản thể cho các phạm trù chung để làm cụ thể hóa những miền ý niệm trừu tượng

“Ẩn dụ bản thể giúp chúng ta tư duy về thế giới theo hai cách:

(1) Quy chiếu, định tính và xác định các phương diện của những trải nghiệm đã được làm rõ hơn Ví dụ: vật thể hóa nỗi sợ hãi thành một vật có thể sở hữu được như nỗi sợ hãi của tôi, nỗi sợ hãi của bạn

(2) Khi những trải nghiệm mơ hồ được trạng thái hóa thông qua ẩn dụ bản thể thì những trải nghiệm được ý niệm hóa ấy có thể được cấu trúc thêm nữa bởi ý nghĩa của

ẩn dụ cấu trúc Chẳng hạn, khi quan niệm tâm trí là một vật thể vật chất thì chúng ta có thể dễ dàng cấu trúc nó với những ý nghĩa của một cỗ máy qua ẩn dụ ý niệm TÂM TRÍ LÀ MỘT CỖ MÁY

Công việc của ẩn dụ cấu trúc là cung cấp một cấu trúc cụ thể cho những ý niệm trừu tượng Ẩn dụ bản thể quy những trải nghiệm vốn không thể phác họa, hình dung

rõ ràng, hoặc có tính mơ mồ, khái quát, khó hiểu về những trạng thái cơ bản dưới dạng thức sự vật, chất liệu Ví dụ như tâm trí được tri giác như một vật thể, cụ thể là một

cỗ máy, vì thế ta có các ẩn dụ bản thể: “Tâm trí tôi hôm nay không hoạt động”, “Đầu

óc anh hôm nay như bị đứng”, “Tôi đã dành hết công suất để giải quyết vấn đề này suốt ngày hôm nay”, “Đầu anh ấy có khả năng sản xuất ra rất nhiều ý tưởng”, Ẩn dụ

bản thể cho phép chúng ta nói về những hiện tượng trừu tượng như là những vật cụ thể, có thể tri giác, sờ nắm nhờ vào năng lực vật thể hóa của tri giác chúng ta

1.2.8.3 Ẩn dụ định hướng

Có một dạng khác của ẩn dụ ý niệm không cấu trúc hóa một ý niệm này trong thuật ngữ của một ý niệm khác, mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm đối với một hệ thống khác Chúng ta sẽ gọi ẩn dụ này là ẩn dụ định hướng bởi vì trong số đó có nhiều

ẩn dụ liên quan đến việc định hướng trong không gian “Ẩn dụ định hướng là các ý niệm ẩn dụ được xây dựng trên cơ sở định hướng không gian Ý niệm định hướng là ý niệm được con người tạo ra sớm nhất và có thể lí giải trực tiếp, như: lên, xuống, trong, ngoài, tâm, biên, trước, sau, Từ đó, các khái niệm trừu tượng khác có thể phóng

chiếu lên các vùng định hướng cụ thể ( ) Trong tiếng Việt, ẩn dụ + vui là lên + và +

buồn là xuống + cũng là những ẩn dụ định hướng, chúng có biểu hiện ở những cách

nói: tinh thần đang lên; niềm vui tột đỉnh; lòng buồn lắng xuống, ” [11, tr.51]

Trang 34

Ẩn dụ định hướng không mang tính võ đoán Nó còn có cơ sở kinh nghiệm từ văn hóa Chúng ta thấy các ý niệm đích nhất định có khuynh hướng được ý niệm hóa theo một cách thức thống nhất Phương hướng đi lên liên quan đến các giá trị tích cực trong khi hướng xuống dưới lại liên quan đến giá trị tiêu cực Ví dụ các ý niệm sau

được chỉ ra bằng một phương hướng “đi lên” như sức khỏe, hạnh phúc, ý thức, vui vẻ,

cân bằng, trung tâm, lí trí, phẩm hạnh, giữ quyền lực Hầu hết chúng đều liên quan

đến giá trị tích cực Trong khi đó những ý niệm ngược lại của chúng như bệnh tật, bất

hạnh, vô thức, buồn, mất cân bằng, ngoại vi, tình cảm, đồi bại, bị khống chế lại được

chỉ ra bằng phương hướng “đi xuống” và hầu hết chúng liên quan đến giá trị tiêu cực Chúng ta thử xét những biểu thức ngôn ngữ phản ánh ẩn dụ định hướng:

HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

BẤT HẠNH ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

“Tôi cảm thấy phấn chấn hẳn lên”

“Em hãy vui lên”

“Bài thơ đó đã nâng tâm hồn tôi lên”

“Tâm trạng của tôi được nâng lên”

“Đời lên hương”

“Những ý nghĩ về nàng luôn luôn làm tôi phấn khởi lên”

Hay “Tinh thần bị xuống” (= sa sút, suy sụp)

“Tôi rơi xuống vực sâu của sự chán nản”

Như vậy, với ba loại ẩn dụ tri nhận đã được định nghĩa và phân tích ở trên, ta nhận thấy con người có những phương thức rất đa dạng trong tư duy về thế giới, từ đó tạo ra những tri thức mới, biểu tượng tinh thần mới về thế giới

1.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm “sông nước”

Việt Nam là nước có hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển từ bắc chí nam -miền Bắc có 10 cửa biển lớn, miền Trung có 8 và miền Nam có 13 Chúng ta có tới 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 41.900 km Mật độ sông và kênh trung bình ở Việt Nam 0,6 km/km², khu vực sông Hồng 0,45 km/km² và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là 0,68 km/km² Các sông lớn thường bắt nguồn từ nước ngoài chỉ có phần trung du và hạ lưu chảy trên địa phận Việt Nam

“Sông nước” là điểm nhấn của bức tranh thiên nhiên nước Việt, hình thành nên

bề dày văn hóa của những dòng sông

Theo Từ điển tiếng Việt, “Sông nước là sông, về mặt là cảnh vật thiên nhiên, hoặc điều kiện sinh sống của con người” (nói khái quát) Ví dụ: Thạo nghề sông nước, cảnh sông nước nên thơ [24, tr.867]

Về mặt văn hóa, “sông nước” là từ ngữ biểu trưng văn hóa nước khoanh lại ở vùng đất liền, liên quan đến kênh rạch, sông suối; bên cạnh đó là biển cả - chỉ vùng ngoài đại dương Sẽ có những khoảng giao thoa giữa sông nước và biển cả trong việc dùng ngôn từ; và sự phân biệt này, trên lĩnh vực ngôn ngữ có thể nói chỉ là tương đối

Trang 35

Để bao quát, xuyên suốt luận văn này, chúng tôi cũng xem “ý niệm sông nước” là

biểu tượng tinh thần về vùng đất liền liên quan chủ yếu đến kênh rạch sông suối bên cạnh đó là biển cả

“Sông nước” từ lâu vẫn là hình ảnh quen thuộc, dung dị về quê hương, bản quán bên cạnh cây đa, rặng dừa, đình làng trong lòng mỗi người dân Việt

Ở lĩnh vực ngôn ngữ, vốn từ vựng được hình thành với ba lớp từ cơ bản: lớp từ biểu thị sự vật, hiện tượng, khái niệm thuộc về thế giới tự nhiên; về xã hội loài người

và về nhận thức bản thể Từ ngữ “sông nước”, lĩnh vực sông nước về nguyên gốc, có thể thuộc lớp từ thứ nhất biểu thị sự vật, hiện tượng - khái niệm thuộc về thế giới tự nhiên Nhưng qua quá trình lịch sử lâu dài, nó đi vào vốn từ vựng, đi vào đời sống người Việt bằng con đường “ẩn dụ”, chính xác là ý niệm hóa (qua “ẩn dụ ý niệm”) thành những khái niệm thuộc xã hội loài người và cả về nhận thức bản thể con người

Chẳng hạn, chúng ta vẫn nghe ẩn dụ lòng dậy sóng chỉ những biến động đột ngột trong

lòng con người vốn có nguồn gốc từ hiện tượng tự nhiên Từ ngữ ấy nguồn gốc rõ ràng mang dấu ấn “sông nước” và đi vào tâm thức người Việt Cũng như xưa nay nói đến chia ly, cách trở, người Việt vẫn dùng những hình ảnh dòng sông, con đò, bến nước Trong “Không đề”, Nguyễn Bính đã nằm lòng cái tâm thức “sông nước” ấy của người

Việt để nức nở lên những câu thơ: Anh đi đấy, anh về đâu? - Cánh buồm nâu, cánh

buồm nâu, cánh buồm… hay câu ca dao quen thuộc Trăm năm đành lỗi hẹn hò - Cây

đa bến cũ, con đò khác đưa Hay Thâm Tâm, trong “Tống biệt hành” cũng từng cất

lời: Đưa người ta không đưa qua sông - Sao có tiếng sóng ở trong lòng

“Sông nước” đã được khái niệm trong từ điển và là một nét đặc trưng văn hóa của cả mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và dân tộc Việt nói riêng Sông

nước có ý nghĩa riêng với từng nhóm xã hội, từng cá thể người Việt Nam và có những

đặc trưng riêng tùy theo vùng miền Sông nước vừa là hình ảnh chung của dân tộc, vừa

“cá tính”, vừa tự nhiên khách quan vừa mang đặc trưng địa phương - vùng miền

Toàn Việt Nam có nhiều sông lớn nhỏ khác nhau, phân bố dày thưa khác nhau nhưng đặc biệt là hầu như vùng nào cũng có Và vì vậy, ảnh hưởng từ sông nước đến tiếng Việt là rộng khắp và dễ thích nghi, lan tỏa Ngôn ngữ sông nước dễ dàng “lên bờ”, “lên miền ngược” và gặp gỡ, hòa trộn dòng chảy ngôn ngữ dân tộc mà ít gặp rào cản văn hóa vùng miền; dễ dàng bắt nhịp vào vốn ngữ toàn dân dù thuộc phương ngữ hay thổ ngữ Vùng đất Nam Trung Bộ không là ngoại lệ, điều này phản ánh rất rõ trước hết trong kho tàng văn học dân gian mà ca dao “tiếng nói tâm hồn” là một minh

chứng rõ nét nhất Có thể kể đến một số lời ca sau: Anh về Đập Đá đưa đò - Trước

đưa quan khách, sau dò ý em; Anh về tìm vợ con anh - Lá rụng về cội bỏ nhành bơ vơ

- Tiếc công vót nứa đan lờ - Để cho con cá vượt bờ nó đi! hay Bạn ơi chớ vội tình vong - Nước lên có thuở, nước ròng có khi…

Trang 36

Với 489 bài có xuất hiện các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến phạm trù “sông nước”, miền ý niệm “sông nước” trở thành một dấu ấn văn hóa - tri nhận rất riêng trong ca dao Nam Trung Bộ

1.4 Vài nét về ca dao Nam Trung Bộ

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kì lịch sử cho tới ngày nay, thể hiện sức sống lâu bền và mãnh liệt Văn học dân gian Việt Nam gồm nhiều thể loại, trong đó ca dao - dân ca chiếm một vị trí quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tình cảm con người

Ca dao - dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Trong đó, dân ca

là những sáng tác kết hợp lời và nhạc; ca dao là lời thơ của dân ca, là một thể thơ dân gian

Trên bản đồ Tổ quốc, dải đất Nam Trung Bộ nằm ở giữa một bên là dãy Trường Sơn, một bên là biển Đông chạy suốt theo chiều dài hơn năm vĩ tuyến gồm thành phố

Đà Nẵng và bảy tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,

Ninh Thuận và Bình Thuận Cuốn sách Ca dao Nam Trung Bộ của tác giả Thạch

Phương - Ngô Quang Hiển là công trình mang tính khảo cứu, sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu một số loại hình sáng tác dân gian như ca dao, tục ngữ, bằng hữu kim ký phú, câu đố, 10 làn điệu dân ca, hát bả trạo, bài chòi, vè Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu về ca dao với 1690 đơn vị bài

Về mặt thời gian, so với nơi đất cội nguồn, ca dao Nam Trung Bộ cũng như văn học dân gian của vùng đất này nói chung được hình thành muộn hơn nhiều Nếu như

ca dao lịch sử Bắc Bộ còn lưu giữ được các sự kiện từ thuở mở nước thì nội dung phản ánh của ca dao Nam Trung Bộ chủ yếu tập trung ở những sự kiện cận đại của khu vực Đàng Trong Đó là công cuộc khai phá của những người dân ở vùng đất mới, sự tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc khởi nghĩa, nổi dậy của nhân dân Ca dao Nam Trung Bộ còn ghi lại tâm trạng, nỗi đau của những người dân mất nước, những thủ đoạn áp bức, bóc lột của bọn thực dân, chế độ phong kiến cùng

những cuộc đấu tranh của quần chúng: Từ ngày Tự Đức lên ngôi - Cơm chẳng đầy nồi,

trẻ khóc như ri - Bao giờ Tự Đức chết đi - Thiên hạ bình thì mới dễ làm ăn; Tai nghe súng nổ đì đùng - Tàu Tây đã lại Vũng Thùng hôm qua…

Bên cạnh đề tài lịch sử, ca dao của vùng đất này còn khai thác đề tài ngợi ca những cảnh vật thiên nhiên Đó là những câu nói, câu hát về những tài nguyên của

rừng, của biển, của lòng đất cùng những đặc sản nổi tiếng xa gần: Xoài Đá Trắng -

Sắn Phương Mai - Nhất gái La Hai - Nhì trai Đồng Cọ hay Thuốc An Lương hương thơm, khói nhẹ - Chè Hội Họa nước đậm, mùi thơm - Em về mua vải Chợ Gồm - Gò Găng mua nón, phiên Chàm anh vô…

Trang 37

Tình yêu đôi lứa và khát vọng hạnh phúc là đề tài lớn nhất, phong phú và đa dạng, chiếm tỉ lệ lớn nhất Với chủ đề này, ta thấy đủ cung bậc tình cảm với đầy đủ các sắc thái biểu hiện như yêu thương, hờn giận, lo toan, oán trách, hạnh phúc, đau khổ… Phần nào đặc điểm tính cách của con người vùng duyên hải được hiện lên qua những câu nói, câu ca nghĩa tình

Ca dao Nam Trung Bộ có nhiều câu nói về nỗi cô đơn, bất hạnh, cảnh lỡ duyên,

lỡ phận theo một cách thế riêng Cùng với đó, là tiếng nói đề cao, ngợi ca lòng chung thủy, lên án thói bạc tình, bạc nghĩa Ca dao trữ tình Nam Trung Bộ đề cập khá sâu

đến vấn đề nhân nghĩa như một đạo lí sống: Tìm vàng tìm bạc dễ tìm - Tìm câu nhân

nghĩa khó tìm bạn ơi! Nhân nghĩa trở thành tiêu chuẩn hàng đầu trong đối nhân xử thế

Và sự bội bạc, tráo trở là điều không thể tha thứ trong tư duy, nếp nghĩ, nếp văn hóa

của con người: Trời mưa lâu đá nọ mọc rêu - Đứa nào ở bạc, con dế kêu thấu trời “Có ý kiến cho rằng, Ca dao là một thứ máu của Tổ quốc Cũng có nhiều người

ví ca dao như dòng sữa ngọt ngào, trong lành từng nuôi dưỡng tâm hồn con người từ buổi lọt lòng Dù máu hay sữa cũng đều là biểu hiện của sự sống, đó là phần tinh túy nhất của một cơ thể sống” [25, tr.29] Chừng đó, cũng đủ để thấy ca dao có vai trò cực

kì quan trọng trong diện mạo văn học dân tộc và diện mạo văn hóa quốc gia Ca dao là những lời ca mộc mạc nhưng chứa đựng những triết lí thâm trầm, sâu sắc rút ra từ thực tiễn đời sống Ca dao Nam Trung Bộ vừa mang phần chung của cây một gốc, vừa mang nét đặc thù được hình thành từ môi trường thiên nhiên, điều kiện sống và dấu ấn

cá tính của con người vùng đất mới

Những câu ca là minh chứng sống động cho một quy luật đặc thù của văn học dân tộc là luôn gắn mình với bước đi của lịch sử Nó không chỉ phản ánh lịch sử mà trở thành máu thịt của xứ sở, tăng cường sự gắn kết của cộng đồng qua bao nhiêu thăng trầm của thời gian Ca dao trở thành bản lí lịch tâm hồn của đời sống quần chúng, để qua đó người đọc cảm nhận được những vẻ đẹp, những suy nghĩ và tư duy đậm chất văn hóa dân tộc của mỗi thời đại Nền tảng tri nhận chính là kết tinh sâu sắc của những yếu tố này

1.5 Tiểu kết

Ở chương 1, những nét khái quát về ẩn dụ trên các mặt ẩn dụ theo quan niệm truyền thống và ẩn dụ ý niệm đã được chúng tôi trình bày Ẩn dụ ý niệm là hình thái tư duy của con người về thế giới, là công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng Trong cơ chế tri nhận của ẩn dụ ý niệm, những thuộc tính của miền nguồn được ánh xạ lên miền đích Là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ, ẩn dụ ý niệm gắn liền với đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ

Ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận ngôn ngữ dựa trên kinh nghiệm và cách thức con người tri giác, ý niệm hóa về thế giới Đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận là ý niệm, đó là đơn vị của ý thức bao hàm cả nội dung tri thức của

Trang 38

khái niệm và các kinh nghiệm Ý niệm được hình thành trên một vùng tri nhận nền, là kết quả của quá trình ý niệm hóa Ẩn dụ ý niệm là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, được gọi là sự ánh xạ có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền đích nhằm tạo nên một mô hình tri nhận Miền ý niệm đích thường trừu tượng hơn, còn miền ý niệm nguồn thì cụ thể hơn Các khái niệm miền nguồn - đích, ánh xạ, tính nghiệm thân, mô hình tri nhận, điển mẫu là chìa khóa nghiên cứu

cả diện mạo ngôn ngữ, văn hóa của quốc gia, của mỗi vùng xứ sở

Trang 39

CHƯƠNG 2

ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC”

TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ XÉT TỪ MIỀN NGUỒN

Trong chương 2, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn thông qua việc thống kê, xác lập mô hình ẩn dụ ý niệm với các tiểu miền nguồn đặc trưng Từ đó, hình thành hệ thống ẩn

dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn bằng cách thống kê các ánh xạ của miền nguồn tương ứng với các biểu thức ngôn ngữ mang tính

ẩn dụ Một số biểu thức ngôn ngữ đặc trưng gắn với các giá trị ánh xạ từ miền nguồn cũng sẽ được lựa chọn phân tích góp phần làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn

Thông qua khảo sát tư liệu trong cuốn sách Ca dao Nam Trung Bộ, chúng tôi

nhận thấy có 489 bài ca dao có chứa biểu thức ngôn ngữ liên quan đến phạm trù “sông nước” Trong số đó, có 241 bài có chứa đựng các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” xét

từ miền nguồn Đó cũng là đối tượng được chúng tôi dùng để khảo sát ở chương 2 Các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” được xét từ 6 tiểu miền nguồn và có 395 biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ trên tổng số 241 bài ca dao được khảo sát Số lượng biểu thức được tính theo tần số xuất hiện của từ ngữ trung tâm, tương ứng với từng tiểu miền nguồn nhất định; tức là sẽ có những biểu thức cùng hình thức ngôn ngữ nhưng trong từng ngữ cảnh ứng với miền nguồn nhất định, ta sẽ lựa chọn từ ngữ trung tâm để thể hiện những ý nghĩa khác nhau Những miền nguồn với số lượng biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ được tổng hợp trong bảng sau:

Bảng 2.1: Các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao

Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn

TT ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC”

XÉT TỪ MIỀN NGUỒN

Số lượng biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ/

Số bài xuất hiện/

Số lần /395

Tỉ

lệ (%)

Số bài /241

Tỉ

lệ (%)

Trang 40

TT ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC”

XÉT TỪ MIỀN NGUỒN

Số lượng biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ/

Số bài xuất hiện/

Số lần /395

Tỉ

lệ (%)

Số bài /241

Tỉ

lệ (%)

5 TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC 97 24.6 68 28.2

Qua số liệu thống kê, chúng tôi nhận thấy nổi bật và tiêu biểu nhất trong các miền nguồn của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước của Ca dao Nam Trung Bộ là tiểu miền VẬT CHỨA NƯỚC (với 111/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 28.1%); sau

đó đến TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC (97/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm

tỉ lệ 24.6%); tiếp theo là THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC (72/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 18.2%), PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC (57/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 14.4%) và HOẠT ĐỘNG DƯỚI NƯỚC (41/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 10.4%) Cuối cùng là CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC (17/395 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 4.3%) Điều này phù hợp với tư duy của con người khi đối tượng tri nhận thường đi từ yếu tố tổng quát, yếu tố chứa đựng như vật chứa nước, đến trạng thái, tính chất của nước rồi sau đó mới đến những yếu tố, những giá trị thuộc về như thực thể, hoạt động và phương tiện

2.2 Hệ thống ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn

Dựa vào tính đa nghĩa hệ thống và sự chuyển nghĩa của từ, một mặt có thể xem xét bản chất của các toả tia vật thể, quá trình, thuộc tính, từ cách thức ánh xạ giữa nguồn và đích; mặt khác thông qua cách sử dụng lặp đi, lặp lại cũng có thể đúc kết

thành những ẩn dụ ý niệm là ánh xạ của miền nguồn

Ngày đăng: 03/11/2023, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh (2015), Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ, Luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
2. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ (tập 2, Từ hội học), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ (tập 2, Từ hội học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962
3. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
4. Chevalier, Jean & Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tƣợng văn hóa thế giới (bản dịch), NXB Đà Nẵng - Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tƣợng văn hóa thế giới (bản dịch)
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
5. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận - ghi chép và suy nghĩ , NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận - ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận ẩn dụ tri nhận, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2009
7. Trần Văn Cơ (2011), Ngôn ngữ học tri nhận - Từ điển, NXB Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận - Từ điển
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2011
8. Bùi Thị Dung (2008), Ẩn dụ tri nhận trong ca dao, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca dao
Tác giả: Bùi Thị Dung
Nhà XB: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Năm: 2008
9. Bảo Định Giang,…(1994), Ca dao dân ca Nam Bộ, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Bộ
Tác giả: Bảo Định Giang
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1994
10. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
11. Nguyễn Thiện Giáp (2016), Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
12. Bích Hạnh (2009), Biểu tƣợng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tƣợng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Tác giả: Bích Hạnh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014), Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2014
14. Nguyễn Thị Bích Hợp (2015), Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm miền “đồ ăn” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hợp
Năm: 2015
15. Phan Thế Hƣng (2007),“So sánh trong ẩn dụ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh trong ẩn dụ
Tác giả: Phan Thế Hƣng
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
16. Phan Thế Hƣng (2007), “Ẩn dụ ý niệm”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, tr. 9-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Thế Hƣng
Năm: 2007
17. Phan Thế Hưng (2009), Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)
Tác giả: Phan Thế Hưng
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Ly Kha (chủ biên) (2008), Ngữ nghĩa học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Tăng Tấn Lộc (2017), Bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt, Luận án tiến sĩ, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt
Tác giả: Tăng Tấn Lộc
Năm: 2017
20. Nguyễn Thị Kim Ngân (2013), Biểu tƣợng thiên nhiên trong Ca dao Trung Bộ, Tạp chí Đại học Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tƣợng thiên nhiên trong Ca dao Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Nhà XB: Tạp chí Đại học Sài Gòn
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm