1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy nghệ thuật thơ nguyễn phong việt

104 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Duy Nghệ Thuật Thơ Nguyễn Phong Việt
Tác giả Nguyễn Thị Hoa Lê
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Trường
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 6,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, với những thành công nhất định, Nguyễn Phong Việt đã đem lại cho sản phẩm tinh thần của mình những “tầm đón” mới lạ, qua đó khẳng định một cái tôi đầy cá tính sáng tạo trong

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ HOA LÊ

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2021

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 16990022841661000000

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ HOA LÊ

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THANH TRƯỜNG

Đà Nẵng - Năm 2021

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT TRONG DÒNG CHẢY TƯ DUY THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 7

1.1 Quan niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ 7

1.1.1 Quan niệm về tư duy nghệ thuật 7

1.1.2 Quan niệm về tư duy thơ 9

1.2 Thơ Nguyễn Phong Việt trong bức tranh thơ Việt Nam đương đại 13

1.2.1 Thơ Việt Nam đương đại - những đổi mới trong hệ hình tư duy thơ 13

1.2.2 Thơ Nguyễn Phong Việt, sự kế thừa và sáng tạo trong tư duy thơ Việt Nam đương đại 22

1.2.3 Quan niệm về thơ của Nguyễn Phong Việt 26

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC HÌNH TƯỢNG 32

2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 32

2.1.1 Cái tôi trăn trở trước thực tại đời sống 32

2.1.2 Cái tôi chiêm nghiệm về hạnh phúc riêng tư 35

2.1.3 Cái tôi khắc khoải, đào sâu vào bản ngã 41

2.2 Hình tượng không gian, thời gian nghệ thuật 45

2.2.1 Không gian khỏa lấp trong khoảng trống suy tư 45

2.2.2 Thời gian mặc định trong khát vọng nhân sinh 48

2.2.3 Không gian, thời gian đồng hiện - quá khứ, hiện tại và tương lai 53

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT NHÌN TỪ MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 57

3.1 Thể thơ 57

3.1.1 Thể thơ tự do, những mảnh vỡ trong cấu trúc lập thể 57

3.1.2 Thể thơ văn xuôi, diễn giải cho nhiều mạch dẫn tự sự 59

3.2 Ngôn ngữ thơ 64

3.2.1 Ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc điệu 64

3.2.2 Ngôn ngữ thơ đậm chất đối thoại 69

3.3 Giọng điệu thơ 72

3.3.1 Giọng triết lí, nghiệm suy 72

3.3.2 Giọng điệu trữ tình sâu lắng 75

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tác phẩm văn chương là một tổ chức cấu trúc đặc biệt, bao gồm nhiều bộ phận được hình thành trong các mối liên hệ chi phối lẫn nhau Bởi vậy, quá trình khám phá văn bản thơ từ góc độ tư duy nghệ thuật là hướng tới nhận diện đối tượng nghiên cứu trong nhiều mạch ngầm diễn giải về con đường nhận thức hiện thực và khái quát hóa hiện thực trên trục tư duy hình tượng Mặt khác, đó còn là quá trình nhận thức của chủ thể tiếp nhận Theo đó, tư duy nghệ thuật là dạng thức hoạt động của chủ thể thẩm mĩ trong sáng tạo và tiếp nhận bản mệnh văn chương Hình thức tiếp cận này giúp người nghiên cứu vừa có cái nhìn khái quát,

hệ thống vừa phân tích được chiều sâu tư tưởng đời sống nghệ thuật Tuy nhiên, mỗi chủ thể thẩm mĩ có có cách chiếm lĩnh và phản ánh hiện thực khác nhau Bởi vậy, tìm hiểu sản phẩm của người nghệ sĩ trong chiều sâu tư duy nghệ thuật sẽ góp phần làm sáng rõ hành trình sáng tạo của người cầm bút Đây cũng là lí do tác giả chọn hướng nghiên cứu này để đi sâu vào tìm hiểu tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

Tác giả Nguyễn Phong Việt là một đại diện tiêu biểu cho thế hệ cây viết trẻ có nhiều tìm tòi, đổi mới trong kĩ thuật viết Với tám tập thơ đã xuất bản, nhà thơ đã tạo được dấu ấn không nhỏ trong lòng bạn đọc Hơn nữa, trong hành trình sáng tạo của mình, Nguyễn Phong Việt luôn giữ được sự ổn định về số lượng và chất lượng sáng tác Điều đáng nói, với trí tuệ sắc sảo và một trái tim mẫn cảm, Nguyễn Phong Việt đã tạo dựng được một lối viết chạm vào nhiều góc khuất của đời sống tinh thần con người cá nhân và xã hội Bởi vậy, tiếp nhận thơ Phong Việt từ góc nhìn này là đi sâu vào dòng tự thức của một cái tôi trữ tình trong khát khao kiếm tìm những chân giá trị lưu dấu trong dòng chảy của cuộc đời

Chọn đề tài Tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt để nghiên cứu,

tác giả mong muốn khám phá được giá trị độc đáo và cả những nghiệm suy, trăn trở mà nhà thơ đã ghi dấu vào mặt cắt của các yếu tố hình thức trong thế giới nghệ thuật thơ Có thể nói, với những thành công nhất định, Nguyễn Phong Việt

đã đem lại cho sản phẩm tinh thần của mình những “tầm đón” mới lạ, qua đó khẳng định một cái tôi đầy cá tính sáng tạo trong đời sống văn học nghệ thuật

2 Lịch sử vấn đề

Từ góc nhìn bao quát về hành trình sáng tạo đến việc đi vào tìm hiểu ở các phương diện tư duy nghệ thuật trong thơ Nguyễn Phong Việt, chúng tôi nhận thấy có một số bài viết liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:

Tiếng nói tâm tình đặt trong hình thức thơ gieo vần hơi hướng văn xuôi tạo nhịp điệu, âm hưởng du dương, mỗi lời thơ không chỉ là thơ Nguyễn Phong

Việt nữa mà còn là nỗi lòng của biết bao độc giả Ở báo Văn Nghệ, trong cuộc

Trang 9

phỏng vấn nhà thơ, Lê Công Sơn đã có những cảm nhận và câu hỏi làm nổi bật

“Hiện tượng thơ Nguyễn Phong Việt: “Xứ sở "hoa vàng trên cỏ xanh" quá lãng

mạn đã sinh ra một tài năng thơ dạt dào tình cảm như anh”; “Thơ Nguyễn Phong Việt không dễ đọc, cách gieo vần tự do có hơi hướng của văn hơn là thơ

mà sao giới trẻ phát cuồng đến vậy? Phải chăng nội dung chuyển tải của những bài thơ đánh đúng vào tâm lý của các bạn trẻ hiện nay?” [64], “Mỗi tập thơ của Việt cứ như một lời đúc kết, chiêm nghiệm từ cuộc sống” [64]

Trên báo điện tử vietnamnet.vn, tác giả Vân Sam chia sẻ cảm nhận chung

về thơ Nguyễn Phong Việt “10 năm làm thơ, trải từ năm 2007 khi bắt đầu đặt

bút viết bài thơ đầu tiên trong tập "Đi qua thương nhớ" ra mắt sau đó 5 năm (2012), đến ngày ra mắt tập thơ thứ sáu "Sao phải đau đến như vậy" (2017), thơ Nguyễn Phong Việt vẫn giữ được sự ổn định về chất lượng Câu từ anh viết ra vẫn mượt mà, nhiều ý lạ, và vẫn luôn mang màu sắc cô độc, thiếu thốn tình yêu.”

[61] Mỗi tập thơ của Nguyễn Phong Việt là một chủ đề nhưng nó xuyên suốt và hòa quyện về nội dung, tư duy nghệ thuật đột kích ở chiều sâu hơn

Diệp An trong bài “Nhà thơ Nguyễn Phong Việt - Chỉ khi yêu thương sự duy nhất của mình, bạn mới thấu hiểu tình yêu thương để trao người khác” đăng

trên tạp chí DKN, người nổi tiếng “Thơ vốn không phải là thể loại hấp dẫn độc

giả, Nguyễn Phong Việt “lội ngược dòng” khi là hiện tượng best seller xuất bản sách thơ Xuất thân từ nghề báo (mà anh coi là một sự may mắn) đã cho anh cách nhìn nhận vấn đề, thu lượm kiến thức và chắt lọc nó qua ngày tháng để có thể chưng cất ra được một thứ “rượu chữ” bình dị nhưng thấm sâu, rung cảm khiến hơn 1 thập kỷ qua, độc giả vẫn chưa khi nào thôi chờ đợi những bài thơ mới của anh” [1] Nguyễn Phong Việt đã không làm người đọc thất vọng, mỗi

tập thơ cầm trên tay là sự dốc lòng của tác giả, là sự đồng điệu, gặp gỡ trong

“tầm đón” của độc giả

Cẩm Tú trên báo Tuổi trẻ Thủ đô cũng có bài viết nhận định về tập thơ

của nhà thơ: “Nguyễn Phong Việt là cái tên quen thuộc với những độc giả yêu

thơ trong những năm gần đây Thơ của anh mang một sự dung dị, giàu cảm xúc; mỗi bài thơ giống như một câu chuyện, chất chứa những day dứt, những suy niệm về tình yêu, về cuộc sống Tập thơ “Sao phải đau đến như vậy” cũng nằm trong dòng cảm xúc đó Đúng như chia sẻ của Nguyễn Phong Việt, đọc tập thơ

“Sao phải đau đến như vậy”, độc giả dễ dàng nhận ra dấu ấn năm tháng, sự từng trải và trưởng thành được anh bộc bạch qua những bài thơ Ở đó, Việt mang đến một cái nhìn nội tâm, quay về với sự tĩnh lặng để quán chiếu lấy mình, khai mở những tình thương ở một chiều kích khác” [74] Những chiêm nghiệm,

suy tư trong mỗi tập thơ là một sự trưởng thành hơn, sâu sắc trong lí trí, dạt dào, bao dung hơn trong tình cảm qua hình thức nghệ thuật điêu luyện Là một tác giả trẻ nên thơ Nguyễn Phong Việt cũng mang đậm dấu ấn của người hiện đại

Trang 10

Trong bài viết “Nguyễn Phong Việt: Không mạnh mẽ, bao dung, tỉnh táo

nếu không biến cố”, tác giả Nguyên Khánh đã nhân dịp Nguyễn Phong Việt ra

mắt tập thơ “Chỉ cần tin mình là duy nhất” giới thiệu về phong cách viết của nhà

thơ này qua loạt câu hỏi phỏng vấn: “Tôi nghĩ đây là động lực sống, mọi người

nghĩ rằng: Nếu mình không còn gì trong cuộc đời này, không còn ai nương tựa, bám víu thì mình vẫn còn là mình Vì chỉ có mình mới là người cho mình cơ hội

để đi tiếp nhiều nhất chứ không phải người bên cạnh” [39] Nguyễn Phong Việt

gửi đến độc giả thông điệp chúng ta phải hiểu niềm tin đầu tiên là đặt vào là chính mình, vì mình là người hiểu rõ tất cả vật vã, đau đớn, yêu thương trong

cuộc đời này đến từ đâu, đi về đâu “Nếu mình tin vào chính mình thì tất cả

những điều ngoài kia là gió bão thôi, có thể làm bạn hôm nay mệt mỏi, xiêu vẹo bật gốc nhưng ngày hôm sau bạn có thể tự trồng bạn xuống mảnh vườn, tự tưới nước và đâm chồi” [39] Thông qua lời tâm sự này của Nguyễn Phong Việt trong

bài viết, chúng ta có thể nhận định được quan niệm nghệ thuật của nhà thơ luôn bắt nguồn từ cuộc sống Đó là những cảm xúc, niềm tin, nỗi đau, mà mỗi người

tự trải qua trong cuộc đời Từ đó, nhà thơ muốn truyền tải thông điệp về “niềm tin chính bản thân mình” dành cho độc giả thông qua tập thơ mới Chính những chia sẻ trong các bài viết như trên đã giúp chúng tôi tiếp cận sâu hơn quan niệm văn chương và tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

Thông qua những nhận định của nhà báo Mạnh Hảo: “Mỗi tập thơ là một

chủ đề, một câu chuyện khác nhau nhưng lại không tách rời nhau, tất cả đều ẩn chứa những nỗi buồn, nỗi đau về sự chia ly, về những điều chưa trọn vẹn Có đi cùng với thơ Nguyễn Phong Việt, bạn đọc sẽ nhận ra nỗi đau cá nhân trong thơ anh không còn quá đằm sâu so với thời Đi qua thương nhớ, ta thấy trong thơ anh giờ đây, dù vẫn là nỗi buồn, sự cô đơn nhưng đã lấp lánh những hy vọng, những tin yêu Có thể một số độc giả sẽ không còn yêu thơ anh về sự thay đổi ấy, nhưng anh không lấy điều đó mà phiền muộn, lo lắng Cuộc sống luôn luôn thay đổi Những nỗi đau rồi sẽ phai dần khi trái tim mỗi người “bật ra tiếng cười” [30]

Người đọc có thể nhận thấy hành trình chuyển biến tư duy và phong cách thơ của Nguyễn Phong Việt, đi từ sự tinh khôi của thời áo trắng, đến cảm xúc yêu thương tràn ngập nỗi buồn, mất mát và cô đơn, rồi lại trở nên chứa chan hi vọng, niềm tin vào tình yêu và cuộc sống Dù trong giai đoạn văn chương nào, Nguyễn Phong Việt cũng dùng chất trữ tình của thơ ca để cất lên tiếng nói thay mình Từ

đó, chúng tôi cũng sẽ dựa trên hành trình chuyển đổi phong cách này của nhà thơ

để khai thác sâu hơn tư duy nghệ thuật trong thơ anh

Về phong cách viết và thông điệp Phong Việt đã truyền tải, nhà báo Tú

Anh đã nhận xét: “Khi đọc thơ Nguyễn Phong Việt người đọc dễ hình dung về

một con người từng trải, với những triết lí sâu sắc và ám ảnh trong đó luôn là những nỗi buồn sâu thẳm, khôn nguôi Nhưng Nguyễn Phong Việt lại tự nhận

Trang 11

mình là một con người khá lí trí, luôn tách bạch những cảm xúc trong thơ với cuộc sống hiện tại Hay nói cách khác, như anh chia sẻ, văn chương là một con người khác và công việc, gia đình cuộc sống là một con người khác tồn tại trong một cá thể Nguyễn Phong Việt” [3] Với nhận định này, chúng tôi lại có thêm

một điểm nhìn khác về tư duy nghệ thuật thơ bắt nguồn từ cuộc sống của Nguyễn Phong Việt Trong thơ của anh, độc giả luôn cảm nhận được nỗi buồn khắc khoải

cứ trở đi trở lại trong thơ Tuy nhiên, như nhận định của nhà báo Tú Anh, chúng

ta vẫn hiểu được sự tách bạch, phân thân giữa đời sống văn chương và đời sống hiện thực trong hành trình sáng tác của nhà thơ Nguyễn Phong Việt

Thơ Nguyễn Phong Việt gợi sự đồng điệu tâm hồn của người tiếp nhận, biểu hiện rõ qua nội dung thơ đầy nghiệm suy, triết lí Nhà báo Minh Anh đã viết

“Thơ Nguyễn Phong Việt vẫn được yêu thích bởi viết về những cảm xúc thiên về gam màu buồn của cuộc sống như chuyện cô đơn, chuyện biệt ly hay nỗi vướng bận, dằn vặt trong tâm hồn mà không sa lầy vào bi kịch” [2] Trong những tác

phẩm của mình, tác giả đã viết về những vết thương, những khuất lấp của con người nhưng rồi anh lại mở lối cho người ta thoát khỏi những giai đoạn mình đang lạc lối, chơi vơi ấy

Nguyễn Phong Việt vẫn giữ được cái tôi riêng của anh trên trang giấy Và

dù khen hay chê thì việc rất đông độc giả thích thơ của nhà thơ này là một sự

thật Đánh giá về tập thơ Về đâu những vết thương, Minh Trang trên báo Tuổi trẻ

có nhận định “thơ Phong Việt sẽ khiến người đọc phải bùi ngùi, chiêm nghiệm lại bản thân, khi đã đi qua một chặng đường đủ dài và đủ trải nghiệm chín chắn để hiểu

“vết thương” thực sự nghĩa là như thế nào” [71] Xuyên suốt tập thơ anh là sự tự vấn về tình yêu, tự vấn về sự hữu hạn của đời người, tự vấn về lằn ranh của những lựa chọn để rồi nhà thơ hướng bạn đọc đến những giá trị chân thiện mỹ

Luận văn nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Trâm với tên đề tài “Thơ Nguyễn Phong Việt như một hiện tượng văn hóa đại chúng” [73] đã tìm hiểu những đặc điểm nổi bật, độc đáo trong cách lựa chọn hệ thống đề tài, chủ đề, hình ảnh thơ

và những thông điệp dành cho công chúng đương đại Bài nghiên cứu cũng đã chỉ ra những đặc trưng tiêu biểu trong phương thức sáng tác của Nguyễn Phong Việt trên phương diện thể thơ, ngôn ngữ và giọng điệu

Nghiên cứu về thơ Nguyễn Phong Việt với đề tài luận văn “Thơ mạng đương đại Việt Nam (qua trường hợp Nguyễn Thế Hoàng Linh và Nguyễn Phong Việt) [26], tác giả Nguyễn Thị Giao đã làm nổi rõ thơ Nguyễn Phong Việt nhìn

từ chiều kích hiện thực Người nghiên cứu cũng đã triển khai được vấn đề những phương diện nghệ thuật trong thơ Nguyễn Phong Việt trong tương quan so sánh với thơ Nguyễn Thế Hoàng Linh

Mặc dầu những bài viết trên mới nhắc đến đến một số yếu tố nội dung và hình thức trong sáng tác của Nguyễn Phong Việt Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận

Trang 12

những nhận xét, đánh giá và xem đó như những gợi ý mang tính chỉ dẫn Theo

đó, thực hiện đề tài Tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt, chúng tôi mong

muốn đánh giá sự thành công nhất định trong tư duy thơ của Nguyễn Phong Việt cũng như qua đó khẳng định sự đóng góp của tác giả cho đời sống văn học

đương đại nước nhà

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát các tập thơ của Nguyễn Phong Việt để làm sáng

rõ những vấn đề về tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát tần suất, nhận diện, phân tích, phân loại các sáng tạo trong thơ Nguyễn Phong Việt, để làm sáng rõ tư duy nghệ thuật thơ của nhà thơ này Chúng tôi cũng thực hiện so sánh tư tưởng, phong cách sáng tác, đối tượng nghệ thuật, thông điệp,…của Nguyễn Phong Việt với các tác giả cùng địa hạt văn chương để đưa ra cái nhìn khách quan nhất về tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Nguyễn Phong Việt, khảo sát qua các tập thơ: “Đi qua thương nhớ” (2012), “Từ yêu đến thương” (2013), “Sinh ra

để cô đơn” (2014), “Sống một cuộc đời bình thường” (2015), “Về đâu những vết thương” (2016), “Sao phải đau đến như vậy” (2017), “Chỉ cần tin mình là duy nhất” (2018), “Mình sẽ đi cuối đất cùng trời” (2019), “Bao nhiêu thương nhớ cho vừa” (2020) Chúng tôi lựa chọn các bài thơ tiêu biểu và có nhiều sáng tạo trong

tư duy nghệ thuật Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát một số sáng tác của các tác giả khác liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt Trong đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu tư duy nghệ thuật trên chất liệu hình thức chứa mạch ngầm ý nghĩa, các phương diện quan niệm nghệ thuật, hành trình sáng tạo, kiểu tư duy thơ, cảm hứng chủ đạo, cái tôi trữ tình, ngôn ngữ, giọng điệu và các biện pháp nghệ thuật đặc sắc Từ đó, luận văn sẽ có được cái nhìn khái quát, sâu sắc về tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Phương pháp nghiên cứu này cho phép người viết xem xét những bình diện, những yếu tố cơ bản của đặc điểm tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt trong một chỉnh thể có cấu trúc và quy luật nội tại Đồng thời tìm kiếm một cách có hệ thống những nội dung, hình ảnh, biểu tượng và nghệ thuật đặc sắc

Trang 13

nhất trong thơ, từ đó thấy được những đóng góp và đổi mới ở tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt

5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Đây là phương pháp giúp chúng tôi khảo sát, phân tích tác phẩm Dựa trên

cơ sở đó, chúng tôi có cái nhìn tổng quát chung về đặc điểm tư duy nghệ thuật, từ đây chỉ ra những đặc trưng tiêu biểu của tư duy thơ Nguyễn Phong Việt

5.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp này giúp người viết khẳng định, lí giải các yếu tố, các phương diện của tư duy nghệ thuật thơ Nguyễn Phong Việt, đồng thời thông qua việc đối chiếu, so sánh với các tác giả khác để nhận rõ hơn bản sắc riêng, phong cách riêng, thi pháp riêng cũng như chiều sâu tư duy của thơ Nguyễn Phong Việt

5.4 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này giúp người viết tìm kiếm một cách có hệ thống những bài thơ, hình ảnh,… xuất hiện nhiều lần như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ Nguyễn Phong Việt Từ đó thấy được tư duy sáng tạo trong lối viết của nhà thơ

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT TRONG DÒNG CHẢY TƯ DUY THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Quan niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ

1.1.1 Quan niệm về tư duy nghệ thuật

Là phương thức thuộc lĩnh vực sáng tạo của chủ thể thẩm mĩ, tư duy nghệ

thuật “là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận

tác phẩm nghệ thuật” [29, tr.136] Bản chất của hình thái tư duy nghệ thuật thuộc

về hoạt động tinh thần của chủ thể trong nhận thức và chiếm lĩnh thế giới hiện thực thẩm mĩ Nói một cách khác, đây là sự chuyển hóa giữa chủ thể và khách thể diễn ra trên trục tư duy nghệ thuật và tư duy hình tượng Hoạt động này được chuyên môn hóa trong trường thể loại sẽ tạo thành những đặc trưng nghệ thuật mang tính đặc thù Theo đó, tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của nó là các hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, tượng trưng trên cơ chế trực quan hóa Cơ sở của nó là tình cảm Đây là một dạng hoạt động chuyên môn hóa mang đậm cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ

Dấu hiệu của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có và cái có thể không thể Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật vừa mang tính phổ quát vừa mang tính cá biệt Do

đó, trí tưởng tượng sáng tạo còn là chất xúc tác cho chuỗi hoạt động tư duy nghệ thuật hoạt nhất trong các trường thẩm mĩ Từ điểm tựa này, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các vấn đề còn bị che khuất của thực tại, tạo ra các “khoảng trống” cho văn bản Với đặc điểm trên, tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách sinh động, lưu giữ bản chất của đối tượng qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, đặc biệt phát hiện qua các mối liên hệ mới trong trường liên tưởng Nhờ những tính chất khu biệt hóa này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp những vấn đề lý tính để nắm bắt được sự vật, hiện tượng ở mọi chiều kích, thậm chí cả những dạng thức “mơ hồ”, cảm tính trong nhiều khu vực tiếp xúc của hiện thực đời sống

Điều đặc biệt nhất, độc đáo nhất mà chỉ riêng nghệ thuật có thể mang lại là tạo sự kết nối giữa cảm xúc và lý trí Mỗi tác phẩm nghệ thuật - sản phẩm của sáng tạo - là cầu nối giữa người nghệ sĩ và người thưởng thức Người nghệ sĩ sử dụng tư duy nghệ thuật để thể hiện suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng của mình thông

Trang 15

qua lời văn, giai điệu, nhịp thơ, nét vẽ, nét điêu khắc,… một cách chủ ý, có chọn lọc nhằm tương tác với người thưởng thức Nhờ đó, các sản phẩm nghệ thuật thường mang năng lượng tiềm ẩn trong bản thân nó, từ đó nó có khả năng lan tỏa, ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Người thưởng thức có thể cảm nhận được sắc thái, thông điệp của tác phẩm bằng chính cảm xúc, kinh nghiệm sống và nền tảng học vấn của mình, theo một cách rất riêng và đặc biệt

Tư duy nghệ thuật là một loại hoạt động nhận thức của chủ thể sáng tạo nhằm sáng tạo ra các sản phẩm mới Bởi vậy, đặc tính sáng tạo của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ Tư duy nghệ thuật chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng - tức biết cảm nhận được một cách nhạy bén về đối tượng thẩm mĩ Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của tư duy nghệ thuật chính là

sự sáng tạo Bởi lẽ, chỉ có sáng tạo, người nghệ sĩ mới trình bày, biểu đạt nó quá các cấu trúc nghệ thuật đặc thù Mỗi người sáng tạo là một nghệ sĩ - nghệ sĩ ấy sẽ

có cách chọn lựa khác nhau để bộc lộ tư duy nghệ thuật và sự cảm nhận thế giới theo cách riêng của mình Trong đó, xuất phát điểm của tư duy nghệ thuật phải là

hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, là phương tiện tạo nên thế giới muôn sắc màu Nó

có chức năng lập mã nhằm quy ước cho mỗi hệ thống ký hiệu luôn gắn với tính năng truyền đạt thông tin thẩm mĩ nhất định Như vậy, điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật là trí tuệ kích hoạt trong diện trường kinh nghiệm thẩm mĩ, là hệ thống hóa các kết quả nhận thức của mỗi chủ thể nghệ thuật

Tư duy nghệ thuật vô cùng quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật Nó không

chỉ bao trùm lên tầng ý thức mà cả các tầng tiềm thức và vô thức trong toàn bộ hệ thống tâm lý sáng tạo nghệ thuật Cơ chế này chi phối toàn bộ quá trình tư duy của chủ thể sáng tạo Nó khởi phát trên trục tư duy hình tượng và tiệm cận cấp độ cao thuộc về biểu tượng - khâu liên quan chặt chẽ nhất với trực giác Vì vậy có thể nói, tư duy nghệ thuật cũng như các hoạt động nghệ thuật đều mang đặc trưng trực giác Bên cạnh đó, tư duy nghệ thuật luôn ẩn mình trong các loại hình tư duy khác, dù ít hay nhiều Càng nhiều người tiếp cận với tác phẩm thì sự đánh giá và nhìn nhận càng đa chiều, càng phong phú Mối liên kết của tư duy nghệ thuật và các loại hình tư duy khác đều đan xen một cách chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau, góp phần gợi mở sự sáng tạo trong lối tư duy, từ đó tạo nên cái nhìn khách quan, đa chiều hơn về thế giới xung quanh

Tư duy nghệ thuật là phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng Theo đó, tư duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật Để chiếm lĩnh đối tượng của mình, trong lĩnh vực nghệ thuật hình thành một kiểu tư duy đặc biệt gọi là tư duy nghệ thuật Có thể chia tư duy làm

ba bình diện khác nhau: tư duy hành động - trực quan, tư duy hình tượng - cảm

Trang 16

tính và tư duy khái niệm - lôgíc Tư duy hình tượng cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng

Tư duy hành động trực quan không cần tái hiện lại khách thể: Quê hương tôi đất

mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá (Đồng chí - Chính Hữu) Khi

trực nhận “đất mặn”, “đồng chua”, “cày lên sỏi đá” là ta thấy vùng quê nghèo

khổ Tư duy khái niệm - lôgíc tuy cũng là phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng

nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng Theo đó, nói tư duy duy hình tượng là cơ sở của tư duy nghệ thuật là nói đến ba loại tư duy hành động - trực quan, hình tượng - cảm tính và khái niệm - lôgic xuyên thấm vào nhau Vai trò chủ đạo của tư duy hình tượng trong tư duy nghệ thuật, cho nên khi thu nạp những yếu tố của các loại tư duy khác, đều phải qua sự sàng lọc, cải tiến, bổ sung, liên kết, tạo cho được một loại tư duy mang tính chỉnh thể, mở ra những khả năng tối đa cho việc xây dựng những hình tượng sinh động và sâu sắc về cuộc đời

Như vậy, hình tượng nghệ thuật là thành quả của tư duy sáng tạo có định hướng của nghệ sỹ, là một kí hiệu thẩm mỹ đặc biệt Tính kí hiệu hóa này là sự

cô đọng của những thông điệp cốt lõi mà người nghệ sĩ muốn truyền tải Nó phản ánh cuộc sống ở nhiều góc độ khác nhau; giúp truyền tải một cách chân thật ước

mơ và lý tưởng của người nghệ sỹ chân chính Mỗi nhà văn, nhà thơ lại có cách nhìn thế giới riêng biệt, có cá tính tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo Cái làm nên sự độc đáo văn chương là ở chỗ hướng đến cái tôi, cái cá nhân, cái duy nhất vì vậy cần thực sự say mê tìm tòi và sáng tạo thì cái tài hoa của người nghệ

sĩ mới bộc lộ tạo ra được sự độc tôn Theo đó, “tư duy nghệ thuật là sự khôi phục

và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối sâu sắc của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tác” [69, tr.54]

Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về bản chất của hình thái tư duy nghệ thuật chúng ta có thể hiểu: tư duy nghệ thuật là hoạt động nhận thức của nhà văn, là quá trình đấu tranh tìm tòi để nhận thức hiện thực và khái quát hiện thực một cách nghệ thuật theo logic chủ quan Mặt khác tư duy nghệ thuật chính là quá trình nhận thức của người tiếp nhận về tác phẩm nghệ thuật, có thể nói tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận văn bản nghệ thuật

1.1.2 Quan niệm về tư duy thơ

Tư duy thơ là một hình thái biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng Các lớp ngôn ngữ thi ca mà chủ thể sáng tạo sử dụng được hòa trong các trường cảm xúc vừa gần gũi thân quen vừa trừu tượng mơ hồ, có khi chỉ là

Trang 17

những sự vật vô cùng nhỏ bé không có giá trị trong cuộc sống nhưng mang sức khái quát cao Tùy vào cảm xúc và dụng ý, trí tưởng tượng, chiều sâu suy tư mà người nghệ sĩ chọn cho mình những lớp ngôn ngữ giàu sắc thái biểu hiện khác nhau Bởi vậy,phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ vừa là phương tiện giao tiếp

có tính xã hội hóa cao độ vừa mang tính chất biểu trưng cho những dòng tình cảm chiết suất trong thẳm sâu tinh thần chủ thể Theo đấy, tư duy thơ vừa có khả năng hướng nội vừa hướng ngoại và kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng, miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ Hướng nội là tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát biểu hiện cái tôi nội cảm của mình Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình Ngôn ngữ đối với nhà thơ vừa có ý nghĩa phương tiện vừa có ý nghĩa mục đích; khả năng tự do của tư duy thơ phụ thuộc vào yếu tố ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc loại thể Thử

Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ

tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Theo đó, “về bản chất, mọi nhân vật

trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình” [69,

tr.166] Trong thơ trữ tình, cái tôi trữ tình có nhiều dạng thức biểu hiện khác nhau, Tuy vậy, trên cơ sở nhận diện của tư duy thơ, nó được biểu hiện dưới hai dạng chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ Tuy nhiên, do sự chi phối quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định

Thứ nhất là cái tôi trữ tình trực tiếp, cái tôi thứ nhất, khi nó phản ánh tình

cảm của cái tôi, ta có tư duy thơ thiên về hướng nội Khi nó phản ánh khách thể,

ta có tư duy thơ thiên về hướng ngoại Hướng nội và hướng ngoại trong tư duy thơ không đối lập mà bao hàm Có hướng nội trực tiếp, và có hướng nội gián tiếp Giữa chúng có mối quan hệ tương đồng, tuy nhiên tư duy thơ lúc thiên về

chủ thể, lúc thiên về khách thể “Hướng ngoại gián tiếp là đặt chủ thể ở vị trí thứ

yếu, không quan trọng Mục đích phản ánh của thơ là hiện thực khách quan Cái tôi, chỉ là phương tiện phản ánh hiện thực mà thôi Nhưng cái tôi ở đây là cái tôi hiện thực, cái tôi trữ tình không đối lập với cái tôi tác giả, phản ánh những tình cảm điển hình, những trạng thái tiêu biểu của cái tôi trong mọi liên hệ đối với thực tại Đặc điểm này dễ bị lẫn với đặc điểm hướng nội gián tiếp Nhưng hướng hội gián tiếp thì mục đích biểu hiện là chí khí cá nhân, tình cảm các nhân Tình cảm, chí khí ấy không mang tính chất đại diện cố ý cho cái chung Còn hướng ngoại gián tiếp thì cái riêng được nhấn mạnh ở khía cạnh đại diện cho cái chung chứ không phải được nhấn mạnh ở phía đặc thù” [50, tr.216] Như chúng ta đã

biết, thơ trữ tình được coi là “những bản tốc ký nội tâm” Nhưng nội tâm không

Trang 18

chỉ là những lời độc thoại Nội tâm cũng được biểu hiện bằng hình ảnh, bằng biểu tượng trực quan Khi trong thơ không còn là sự lí giải, biện luận có tính chủ quan mà chỉ giữ lại những biểu tượng, những hình ảnh hiện thực khách quan, cái tôi trữ tình ẩn khuất đi để cho hình ảnh tự vận động, thì ta nói tư duy thơ hướng ngoại hoàn toàn, hay hướng ngoại trực tiếp

Thứ hai là cái tôi trữ tình gián tiếp, cái tôi thứ hai, hay cái tôi đã được

nghệ thuật hóa trong tác phẩm Cái tôi này là cái tôi nhập vai, mang nhiều vai Nói một cách khác, đó là trường hợp nhập vai vào một nhân vật nào đó, có thể có thật Nhưng cái tôi trực tiếp vẫn có mặt trong tác phẩm, biểu hiện ở cách cảm cách nghĩ Và ngày từ cảm hứng chủ đạo đến giọng điệu thi ca vẫn mang dấu ấn

của chủ thể sáng tạo Theo đó, “tư duy thơ nói riêng cũng như lao động trí óc nói

chung đã để lại trong sản phẩm của nó dấu ấn của một cuộc hành trình, hành trình của trí tưởng tượng” [69, tr.46] Tưởng tượng trong tư duy thơ khác với

tưởng tượng trong khoa học “trí tưởng tượng của nhà khoa học khác với nhà thơ

ở chỗ, nhà khoa học thì mã hóa các tài liệu cảm tính, quy chúng về các đại lượng, các ký hiệu và con số, quan sát và biểu diễn sự vận động của hiện thực thành sự vận động của khái niệm, của ký hiệu Khả năng tưởng tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hóa, vô hình các sự vật và hiện tượng Còn nhà thơ thì cụ thể hóa, hình tượng hóa hiện thực khách quan theo một đường dây liên tưởng” [69, tr.48] Liên tưởng, tưởng tượng trong thơ không bị ràng buộc bởi cái

có thật, tư duy thơ chấp nhận khả năng tưởng tượng của nhà thơ, chấp nhận cái được biểu đạt là cái có thật từ những liên tưởng, tưởng tượng của nhà thơ, chấp nhận cái được biểu đạt là cái có thật từ những liên tưởng, tưởng tượng của nhà thơ Như vậy, liên tưởng, tưởng tượng mở ra khả năng vô tận cho nhà thơ tiếp cận với cuộc sống, mở ra những ý tưởng mới, phát hiện những phẩm chất mới Nhưng mỗi nhà thơ, khi đứng trước cùng một đối tượng, sẽ có những liên tưởng, tưởng tượng khác nhau bởi tư duy thơ của họ khác nhau Qua hệ thống biểu tượng ta sẽ thấy được những nét đặc thù của từng nhà thơ

Quan niệm về thơ sẽ chi phối tư duy thơ Những định hướng khái quát về quan điểm nghệ thuật thơ chi phối sâu sắc tư duy thơ, rõ nhất là trong nhân vật trữ tình Quan niệm ấy đã trở thành một yếu tố thẩm mĩ khi được chuyển hóa thành cái tôi thi sĩ Theo tư duy lí thuyết hiện đại, thơ trữ tình luôn gắn với cái tôi trữ tình, luôn dựa trên sự rung động và những suy nghĩ, trải nghiệm của cái tôi cá nhân Có thể nói rằng cái tôi ngoài đời có ít nhiều ảnh hưởng đến cái tôi trong thơ Đọc thơ của một tác giả, ta có thể thấy thấp thoáng một nụ cười, một tiếng nói quen thuộc, gần gũi với tác giả ngoài đời Nếu như cái tôi của nhà thơ là toàn

bộ con người nhà thơ trong đời thực thì cái tôi trữ tình là biểu hiện tinh thần của nhà thơ trong tác phẩm Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ chính là sự vận

Trang 19

động của cảm xúc thơ Đó là một hình thái vận động mang nét riêng, là vận động

từ cảm xúc đến suy nghĩ, từ những rung động trực tiếp đến chiều sâu của nhận thức Cái tôi trữ tình dù luôn vận động nhưng vẫn giữ được nét ổn định, đánh dấu phong cách riêng của từng tác giả Cái tôi cá nhân mang số phận, cá tính, quan niệm của mình vào trong thơ trữ tình Mỗi cái tôi có quan niệm, số phận, cá tính khác nhau, vì vậy, thế giới của cái tôi trữ tình là vô cùng Thế giới cái tôi trữ tình

là một thế giới ước lệ và biểu tượng Đó là một thế giới của suy tư, cảm xúc, nỗi niềm vô hình, bí ẩn, được thể hiện ra bằng tiếng nói trữ tình Tiếng nói ấy xuất phát từ cái nhìn và ý thức bên trong Vì vậy, nghiên cứu cái tôi trữ tình là nghiên cứu tiếng nói sâu thẳm bên trong của nhà thơ, hầu lý giải được ít nhiều thế giới tinh thần bí ẩn, sâu kín của họ

Về bản chất, tư duy thơ chịu sự chi phối của sự vận động ngôn ngữ Trong

văn học nói chung và trong địa hạt thơ ca nói riêng, ngôn ngữ nghệ thuật là thứ phương tiện đặc thù trong tái hiện cụ thể và trực tiếp quá trình tư duy của người nghệ sĩ Cùng với chất liệu ngôn từ, người nghệ sĩ không chỉ tái hiện được đời sống đa dạng mang tính tạo hình mà còn mở ra chân trời tưởng tượng vô cùng phong phú về thế giới tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người, từ đó tác động

đến người đọc Phương tiện để biểu đạt tư duy chính là ngôn ngữ “Không có

ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất của sự vật” [19, tr.236]

Hơn nữa, trong tư duy nghệ thuật, cũng như trong tư duy thơ, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt của tư duy thơ Nhưng, ngôn ngữ thơ là một loại ngôn ngữ đặc biệt Trong đó, ngôn ngữ thi ca thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú, nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ phong phú đa dạng, phương tiện ngôn ngữ của

tư duy thơ trở thành một phương tiện giao tiếp có tính xã hội hóa cao độ Cho nên thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp Nội dung trên cũng khẳng định thêm rằng ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy Ngôn ngữ nghệ thuật mang những đặc điểm loại hình nhất định Nằm trong hệ thống tư duy nghệ thuật, sự vận động của ngôn ngữ trong tư duy thơ cũng luôn tuân theo truyền thống thể loại, ngay cả thể loại thơ tự do thì yêu cầu về nhịp, nhạc và hình thức quan trọng Tư duy thơ thường được biểu hiện thành những dòng phát ngôn trên văn bản và từng khoảng ngắt hơi trong khi đọc Như vậy, sự tồn tại của dòng thơ tác động đến tư duy thơ

Trang 20

Từ những đặc trưng cơ bản về tư duy thơ nêu trên, chúng tôi đi đến cách hiểu: tư duy thơ là nói tới một loại hình tư duy nghệ thuật mang tính đặc thù Nó chi phối hoạt động sáng tạo của nhà thơ và được hiện thực hóa, cụ thể hóa thông qua hệ thống quan niệm, tư tưởng và thi pháp thể loại Tư duy thơ của nhà thơ chịu sự chế ước của nhiều yếu tố: đặc điểm tâm sinh lý, cá tính sáng tạo, kinh nghiệm và trình độ thẩm mĩ của chủ thể, môi trường văn hóa - xã hội… Nó thể hiện qua những phát ngôn tư tưởng trực tiếp hoặc qua những bài viết phê bình, trao đổi, tranh luận của tác giả, song đặc biệt tập trung thể hiện trên văn bản tác phẩm, trong thế giới nghệ thuật được tạo nên bởi ngôn ngữ thi ca tương ứng

1.2 Thơ Nguyễn Phong Việt trong bức tranh thơ Việt Nam đương đại

1.2.1 Thơ Việt Nam đương đại - những đổi mới trong hệ hình tư duy thơ

Đổi mới thơ, về bản chất, chính là đổi mới trong hệ hình tư duy Tuy nhiên,

sự đổi mới trong lĩnh vực nghệ thuật không chỉ dừng lại ở kỹ thuật thuần túy mà còn phải gắn liền với chiều sâu cảm nhận của chủ thể sáng tạo về thế giới quan

và về chính bản thân nghệ thuật Bởi vậy, vấn đề chỉ đổi mới hình thức hay nội dung thơ chưa phải là đổi mới tư duy Đổi mới tư tưởng, quan niệm về thơ cũng mới chỉ là một yếu tố của đổi mới tư duy Đổi mới tư duy thực sự là khi tác giả hình thành một mô hình nhận thức - sáng tạo mới, khác biệt, thậm chí đối lập với trước và nhờ đó tạo nên sự thay đổi nền tảng, gốc rễ trong thế giới nghệ thuật tương ứng Có thể khẳng định, đổi mới trong hệ hình tư duy thơ chính là nền tảng của mọi sự cách tân, đổi mới thơ

Xuất phát từ tư duy đổi mới văn học nghệ thuật, thơ đang có sự vận động theo thời gian Nghiên cứu tư duy thơ là cách để hiểu và lý giải giải triệt để hơn

cả về “cơ chế” hoạt động sáng tạo của hệ hình tư duy chủ thể, cũng là hướng tới cắt nghĩa sâu hơn về những đặc thù nghệ thuật trong tác phẩm

Đứng trước sự thay đổi của thời cuộc, các nhà thơ ngày càng có nhu cầu bức thiết được thể hiện tiếng nói, nỗi lòng của mình thông qua tác phẩm Sự đa dạng, phong phú của các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội khiến cho việc sử dụng các thể loại thơ truyền thống đã trở nên khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc của người viết cũng như tiếp cận với độc giả Điều này đã khiến các tác giả thay đổi

tư duy về sáng tác thơ, trong đó có thay đổi tư duy về thể loại thơ Các thể thơ cũ được biến đổi trở mới mẻ hơn, hiện đại hơn khiến cho người đọc dễ cảm nhận được nỗi lòng của tác giả, ngoài ra các thể loại mới cũng được sáng tạo và sử dụng ngày càng nhiều hơn trong các tác phẩm thơ ca Việt Nam giai đoạn này, bởi nó có ưu điểm là dễ liên tưởng, dễ đi vào lòng người đọc, và cũng “tự do” hơn trong việc truyền tải cảm xúc của mình Đây là điều khó có thể tìm thấy

Trang 21

được trong một số thể thơ khác, cụ thể là thơ Đường luật, bởi nó cần phải tuân thủ các phần niêm luật chặt chẽ Một số thể loại thơ được làm mới và sáng tạo như: năm chữ, bảy chữ, tám chữ, hỗn hợp, tự do đã trở nên ngày càng phổ biến

và được độc giả đón nhận

Chiều nay rơi mưa bụi

Phượng trải hồng gót chân

Chạnh lòng, tôi chợt tủi

Ôi đâu rồi cố nhân?

(Đâu rồi cố nhân? – Huỳnh Minh Nhật)

Còn điều gì bí ẩn nữa đâu anh

Em khờ dại vì em trong trẻo quá

Nếu biết trước tình yêu ưa tìm lạ

Em hoá kiếp đồng đen im lặng đến muôn đời!

(Pha lê – Đinh Thu Hiền)

Nếu như những thể thơ lục bát, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ hay tám chữ là sự kế thừa có đổi mới những niêm luật của thơ truyền thống trong sáng tác thì thể thơ tự do là sự sáng tạo đột phá trong tư duy về thể loại thơ của thơ đương đại Điều đầu tiên và dễ thấy nhất đối với thể thơ này chính là số chữ trong một câu không hạn định Cũng có thể chỉ một vài từ và cũng có thể trên chục từ Tiếp theo số câu cũng không hạn định và cũng không nhất thiết phải chia thành 4 câu như cũ Bên cạnh đó cũng không cần phải tuân thủ niêm, luật, đối, vần… Điều này tạo được sự tự do và đơn giản hơn trong việc chuyển tải thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm

Tuy nhiên, khi thể thơ truyền thống không đáp ứng được nhu cầu thể hiện cảm xúc và phong cách sáng tác thì việc sử dụng sáng tạo những thể thơ đó cũng chỉ giúp các tác giả giảm cảm giác đè nén chứ chưa thực sự bộc lộ hết những gì muốn thể hiện, đặc biệt với thơ là một loại hình nghệ thuật sáng tạo thì nhu cầu sáng tạo, đổi mới là rất lớn Vì thế, thể thơ tự do, thơ văn xuôi được các tác giả

sử dụng ngày càng nhiều Mỗi nhà thơ có một lối thể nghiệm riêng trong thể thơ

tự do, như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều, Phan Huyền Thư, Nguyễn

Quyến, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phạm Sỹ Sáu, Phan Trung Thành… Sự sáng

tạo thể thơ tự do chủ yếu thể hiện ở lối ngắt dòng, ngắt nhịp và tạo hình cho bài thơ Nội dung của các sáng tác thơ tự do đơn giản và có thể lựa chọn các cách dùng từ mới mẻ, cách tân Đọc những bài thơ này ta sẽ cảm nhận được những hàm ý hay và độc đáo, không mang tính sáo mòn Và bất cứ đề tài nào cũng có thể viết được với thể thơ hiện đại này

Trang 22

Đêm mơ màng, đêm mượt như nhung

Mặt trời ngủ trong căn phòng khép cửa

Thành phố thức với bao điều quyến rũ

Dạ hương bay

mơ mộng một tình yêu

Đèn tỏa sáng, xanh mềm trên ngõ lối

gió dịu dàng ve vuốt say mê

Ta gõ cửa trở lại

thời yêu dấu

Tận cùng đêm

hào phóng đón ta về

(Đêm Hà Nội – Đoàn Mạnh Phương)

Bài thơ thể hiện sự phong phú về nhịp điệu, câu thơ dài ngắn chuyển động linh hoạt với số âm tiết thay đổi từng câu và cách ngắt nhịp khác nhau mở ra một không gian thơ mộng và êm ái tràn đầy mĩ cảm Bài thơ trên đã được sáng tạo trong không gian mới, lối ngắt nhịp tự do hơn, âm thanh trầm bổng nhịp nhàng,

giàu nhạc cảm Rõ ràng với nội dung bài thơ Đêm Hà Nội, Đoàn Mạnh Phương

sử dụng thể thơ tự do đã mang lại hiệu quả về cảm xúc tốt hơn là nếu sử dụng thể thơ truyền thống

Thơ văn xuôi là sự kế thừa, sáng tạo từ các thể loại thơ truyền thống Nếu như trước đây thơ và văn xuôi có ranh giới rõ ràng, dễ phân biệt thì giờ đây ranh giới đó đã trở nên mong manh Nếu như văn xuôi gồm có 2 loại là văn xuôi không vần, văn xuôi có vần (tục ngữ, hò, vè, ) thì thơ cũng có thơ không vần và thơ có vần (Đường luật, lục bát, bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, ) Thơ

văn xuôi chính là thơ không vần,như: Không có ai đốt lửa trước con đường, chỉ

có niềm hi vọng cháy lên Sức mạnh bàn chân ở nơi thẳm sâu niềm trắc ẩn, ngân nga nơi dấu chân tổ tiên, nơi những câu chuyện buồn không dứt Đi! Dừng lại là đắm chìm, là hoang mang cay đắng, là tiếng vọng xa xăm lạnh buốt cõi người Không có bờ sóng vỗ vào đâu? (Trên đường – Trần Anh Thái)

Có những bài thơ văn xuôi có hình thức giống hệt văn xuôi: độ dài ngắn khác nhau, không gieo vần, câu dài lê thê, nhưng vẫn có dấu hiệu để nhận ra rằng đó là thơ chứ không phải văn xuôi Những dấu hiệu này được biểu hiện trong các thủ pháp chuyển hóa ngôn ngữ để diễn tả những hình ảnh, hoạt động

mà văn xuôi không thể nào diễn tả được Lấy ví dụ với câu “Ta còn em!”, nếu là văn xuôi thì người đọc sẽ hiểu là nhân vật Ta vẫn đang có người yêu, vẫn đang

Trang 23

song hành cùng người yêu; nhưng nhà thơ đã sử dụng thủ pháp của thơ, đã biến

câu thơ mang ý nghĩa ngược lại “Ta còn em”, tức là ta đã mất em rồi, đã không còn em nữa Độc giả đọc câu thơ “Ta còn em, mùi hoàng lan/ Còn em, mùi hoa

sữa” (Gửi những người Hà Nội đi xa, Phan Vũ, đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ

nhạc thành bài hát Em ơi, Hà Nội phố) sẽ hiểu rằng: Ta đã mất em rồi, chỉ còn

mùi hoàng lan thôi; ta không còn em nữa, chỉ còn mùi hoa sữa thôi Qua thủ pháp của nhà thơ, từ “còn” đã trở thành nghĩa “không còn” - điều này chỉ có thơ mới thực hiện được Bởi vậy, việc phân biệt thơ văn xuôi và văn xuôi đã trở nên mong manh hơn, không thể chỉ nhìn vào thể loại mà cần phải nhìn vào thủ pháp nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

Thơ ngày càng có khả năng đi sâu hơn vào cuộc đời với những thân phận,

số phận đơn lẻ, buồn bã, nhiều ẩn ức tâm sự Nhà thơ cũng khao khát tìm kiếm diện mạo cá nhân trong những tương quan và chiều kích của văn hóa, lịch sử, mỹ học,… Sáng tạo thơ trước hết là sáng tạo chữ nghĩa, làm hiển lộ vẻ đẹp chữ nghĩa,

hay nói như Jacobson: “Thơ là chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ” [63, tr.469].

Song song với việc đổi mới, sáng tạo về thể loại thơ thì các nhà thơ cũng đã có sự thay đổi về ngôn ngữ Sự thay đổi về ngôn từ và giọng điệu thơ đã được khởi nguồn bởi một số nhà thơ lớp trước Với quan niệm cố gắng tạo ra trong mỗi câu thơ nhiều “bóng chữ”, “đơn giản đồng nhất thơ vào chữ”, nhiều nhà thơ đã có những cách tân nghệ thuật về mặt ngôn từ và có những thành công nhất định

Thơ không chỉ làm đẹp mà còn làm giàu cho ngôn ngữ, gắn kết với ngôn ngữ như thể xác với linh hồn Các nhà thơ tạo nên những biểu tượng được chắt lọc từ cuộc sống, văn hóa, tôn giáo, tâm linh rồi chuyển hóa thành biểu tượng thi

ca thông qua ngôn ngữ Những biểu tượng ấy phát huy sức mạnh của mình, tự tạo sinh nghĩa, từ đó đi sâu vào những góc khuất của tâm hồn, làm hiển lộ vẻ đẹp huyền diệu, sâu xa của vũ trụ

Nếu như ngôn ngữ trong thơ trước đây mang tính ước lệ, tượng trưng mang tính thanh nhã, uyên thâm, thì trong thơ đương đại nhiều nhà thơ đã đưa ngôn ngữ đời thường vào Những hình ảnh dân dã, phương ngữ đã được đưa vào thơ, khiến cho thơ trở nên gần gũi hơn với cuộc sống, bớt phần giáo huấn nhưng

thêm hơi thở cuộc sống: Cuối chân trời sao và biển hôn nhau/ Bờ lặng lẽ cúi đầu

không dám khóc/ Mai sóng lại về thôi, mỏi mòn và nặng nhọc/ Thở cạnh bờ trong giấc ngủ vô tâm! (Biển bờ - Đinh Thu Hiền)

Tạnh men là tạnh la đà/ Tạnh cơn một bóng ảo ra chính hình/ Phàm trần bớt chút lung linh/ Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần (Kiêng - Nguyễn Duy)

Thậm chí ngôn ngữ thơ có phần táo tợn: Các em thất tiết nhiều hơn trước/

Bộ ngực nào cũng nhuốm phong sương (Buồn gì đâu - Bùi Chí Vinh)

Trang 24

Đừng nhớ gì, đừng tiếc nuối gì thêm/ Khờ dại lắm ánh nến hồng thao thức/ Nửa em nằm mơ người về bất chợt/ Nửa nguyện cầu cho mắt ấy rời xa

(Tâm cảm – Trang Hạ)

Các nhà thơ một mặt kế thừa ngôn ngữ biểu tượng truyền thống, mặt khác, chế tác ra những ngôn ngữ tượng trưng nhằm khai mở cách nhìn nhận thế giới, đồng thời, trả lại sự thuần khiết cho thi ca vốn xuất phát từ những gì được cho là

phi logic, tính chất bất hợp lý của bản thân ngôn ngữ: Màn đêm dang tay/ Ôm

tiếng đàn vào lòng/ / Không hiểu/ ta đang bay trong tiếng đàn/ hay tiếng đàn đang lơ lửng/ trong ta (Tiếng đàn đêm – Ly Hoàng Ly) Em vén tóc qua mưa/ Vầng trăng lam trên trán/ Em đong mưa trong mắt/ Ta đong em trong mưa (Cơn

mưa pha màu – Đinh Vũ Hoàng Nguyên) Nhiều biểu tượng trong thi ca đã được

sử dụng trước đó thì nay các nhà thơ đương đại Việt Nam đã kế thừa, chuyển hóa, sáng tạo cho những hình ảnh ấy những ý nghĩa mới thông qua cách sử dụng ngôn ngữ Nhiều biểu tượng nghệ thuật đã được các nhà thơ chuyển đổi ý nghĩa cho phù hợp với các yếu tố cấu thành tác phẩm cũng như tư duy nghệ thuật

theo chủ thể sáng tạo: Tia nắng chói chang bên cửa sổ/ đảo lộn múi thời gian/ ý

nghĩ bắt đầu luyện thanh/ và nỗi nhớ tập thể hình/ một hai/ nhịp nhàng trong ngực (Chủ nhật – Phan Huyền Thư)

Bằng sự liên tưởng tinh nhạy, các nhà thơ còn tạo ra một mối liên hệ ngầm cho ngôn ngữ, đó là sự tương hợp giữa hương sắc, âm thanh thông qua sự

sắp đặt ngôn ngữ Đêm trườn dần vào sông Hương/ tiếng hò vỡ dưới gầm Tràng

Tiền/ Khúc Nam Ai những cung phi goá bụa/ chèo thuyền vớt xác mình trên sông/ Nhất dạ quân vương đất thần kinh/ người đi đi, làm thơ cho Huế tím/ Tự phá vỡ đối xứng/ bằng nón nghiêng/ quang gánh lệch/ mắt nhìn ngang/ Huế như nàng tiên câm/ khóc thầm không nói/ Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽ/ lại sợ chạm vào nơi nhạy cảm trên cơ thể Việt Nam (Huế - Phan Huyền Thư) Đó là sự

tương hợp giữa vô hình và hữu hình Trong trường hợp này, nhà thơ kết hợp từ chỉ cái trừu tượng với cái cụ thể, tạo cho cái trừu tượng một hình hài; nói khác đi,

nhà thơ hữu hình hóa cái vô hình Trời xanh về phía biển/ Tôi xanh về sông quê/

Chiều tắt gió lục bình tha thướt tím/ Tuổi thơ tôi giờ gửi ngọn chòng chành/ Chèo ký ức về dòng sông ấu thơ/ Tháng năm miên man chảy/ Mòn vẹt vành trăng nước xói/ Múc từng gáo sông làng (Dòng sông ấu thơ – Chu Minh Khôi) Chỉ với

sự sáng tạo trong ngôn ngữ tương hợp mới có thể mang lại sự cảm nhận đa giác quan như vậy Thời gian vốn vô hình vô sắc nhưng qua sự biến ảo của Chu Minh Khôi lại trở nên hữu hình, đồng thời dẫn dụ bao nhiêu thiên tình sử xa xăm hiện

về hư ảo

Thơ là nghệ thuật của ngôn từ Bằng cả lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác, các nhà thơ đương đại đã làm nên một cuộc cách mạng cho ngôn ngữ thơ Họ

Trang 25

trả lại cho nó sự thuần khiết, và biến mỗi từ thành một tượng trưng ghi dấu linh cảm sáng tạo, lưu trữ những rung động của chủ thể trữ tình, đưa thơ ca đạt tới

“quyền lực siêu nhiên” [57] Những ngôn từ, hình ảnh tưởng chừng không liên

quan tới nhau lại được sắp đặt cạnh nhau theo nguyên tắc tư duy liên tưởng, gián đoạn, từ đó làm xuất hiện những thuật ngữ mới, khái niệm mới, thậm chí không có trong từ điển và ẩn chứa nguồn năng lượng siêu việt, có khả năng đánh thức mọi giác quan của người đọc, khiến người đọc đạt đến sự cảm nhận

cao nhất: Quả bàng xanh ấp ủ những tháng năm/ Ta đợi hoài ước mơ chưa chín

nổi/ Cái đáo, hòn bi, tiếng chim vồi vội/ Trốn tìm nhau ngang dọc tiếng nói cười/ Nắng nghịch ngầm giấu nét chữ xinh tươi/ Mưa hờn dỗi tìm mấy ngày chẳng thấy/ Cái bím tóc đuôi gà hoe hoe ấy/ Còn cong môi ngúng nguẩy nữa hay không? (Mái trường xưa – Trang Hạ) Ước mơ không còn là thứ vô hình mà như

một loại quả đang chờ ngày chín đỏ Tiếng nói cười vang lên như những sợi tơ đan ngang dọc cuộc đời, ngang dọc không gian Nắng mưa không còn là chuyện của ông trời, chuyện của thời tiết mà mang cả nét tính cách của người thiếu nữ mới lớn

Nhà thơ Trần Dần từng tuyên bố: “Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh

đẹp, âm điệu ru hồn Tôi giản dị đồng nhất thơ vào chữ” [34] Trong giao tiếp,

ngôn ngữ cần được giản lược, minh bạch; nhưng trong thơ ca, ngôn ngữ luôn ở trong trạng thái vận động, có sự đa dạng phức tạp để thực hiện nhiệm vụ sáng tạo Bởi thế, ngôn ngữ trong thơ có khả năng tự tạo sinh nghĩa Các nhà thơ đương đại đã nhận thức lại vai trò, đặc trưng và vị trí của ngôn ngữ trong thơ, lấy ngôn ngữ tự mình làm nghĩa Nhà thơ đã ảo hóa thực từ bằng cách xóa bỏ những con chữ chết, chữ thừa để con chữ động cựa; đồng thời, đẩy nó vào những kết hợp mới, bắt thực từ sống luôn đời sống của hư từ, liên từ, trợ từ, và trong từng kiểu kết hợp, nghĩa sẽ phát sinh: Đôi mắt không mở dấu sau những cánh hoa/ Em lồng vào đêm/ Đêm lồng vào sương/ Nào ai biết được/ Đom đóm lập lòe bay qua thành phố/ Để lại nụ cười mơ hồ xanh” (Áo đêm – Nguyễn Bình Phương) Bài thơ không một từ quan hệ nên rất khó xác định nó gồm bao nhiêu từ, hình ảnh, chính sự mơ hồ đó khiến cho việc ngắt nhịp trở nên đa dạng, và mỗi cách ngắt nhịp sẽ tạo ra những ý nghĩa khác nhau, như vẫy gọi cho những tiền giả định trong ký ức con người Bài thơ Sen Tây Hồ là một nét phác thảo về sự đổi thay của sự vật trước thời gian bằng trực cảm nhẹ nhàng: “Sen Tây Hồ/ Mùa chỉ còn chiếc lá…/Lá chiều tà/ Khum lòng bàn tay mẹ/ Lặng lẽ gom/ Chút màu/ Trời xanh cốm/ lặng lẽ cuộn/ Chút nắng rơm vàng xuộm/ Lặng lẽ thu/…/Quà cho em/ Sưởi ấm những mùa đông Những hình ảnh, màu sắc, âm thanh và điệu hồn khơi gợi tâm trạng hoài cổ, thanh tịnh của một tâm hồn đa cảm (Sen Tây Hồ - Nguyễn Thanh Vân)

Trang 26

Đặc biệt, các tác giả thế hệ Đổi mới, đương đại hết sức đề cao giá trị thẩm

mĩ của tác phẩm nghệ thuật Trong sáng tác (cũng như trong thưởng thức, đánh giá tác phẩm), giá trị thẩm mĩ là một trong những đích đến quan trọng của sáng tác Do đó, làm thơ là làm ra cái Mới, phải cách tân, đó là một như cầu thường

trực và quyết liệt với tác giả đương đại “Đổi mới là chấp nhận sự đa dạng và tất

yếu của đời sống thơ ca, nhưng cái đích cuối cùng của thơ phải là những chân giá trị sống với dân tộc và nhu cầu phát triển cộng đồng”.[66, tr34]

Một tác phẩm muốn hoàn thành phải hoàn chỉnh về kết cấu và cả nội dung

và tất nhiên trong thơ cũng vậy Về mặt kết cấu, phổ biến trong thơ thế hệ Đổi

mới là kiểu kết cấu mở Đó là một kiểu kết cấu hiện đại, ở đó bài thơ được tổ

chức như một cấu trúc vận động, không mang tính hoàn tất, khép kín về nghĩa như trong kết cấu truyền thống Có thể nhận diện kết cấu mở qua một số đặc

điểm sau: cố ý mờ hóa sự xuất hiện của cái tôi trữ tình trên bề mặt văn bản; câu

chữ, hình ảnh được lắp ghép một cách như là ngẫu nhiên, phi logic, tạo nên nhiều

“khoảng trắng” trong xúc cảm và liên tưởng; bài thơ thường được tổ chức theo hướng vận động của vô thức, trực giác, Rõ ràng, đây là kiểu kết cấu rất khác so với trước đó Trước đó, bị chi phối bởi hình thức trữ tình trực tiếp, nhằm giãi bày

“chân thực” và “thiết tha” tâm trạng, cái tôi trữ tình thường được đẩy lên bề mặt văn bản với đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Đồng thời, các yếu tố kết nối ngữ nghĩa, ngữ pháp cũng được sử dụng phổ biến nhằm đem lại sự rành mạch, sáng

rõ trong xúc cảm và diễn đạt, dễ dàng tạo nên sự truyền cảm và đồng cảm

Giọng điệu trong văn học nói chung và trong thơ nói riêng là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của tác giả đối với sự vật, hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngơi ca hay châm biếm, Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách tác giả

và có tác dụng truyền cảm cho người đọc Theo đó, “Giọng điệu là một phạm trù

thẩm mĩ của tác phẩm văn học Nó đòi hỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu khí, có giọng điệu” [29, tr.324] Giọng điệu mang trong

mình nét riêng trong phong cách sáng tác của tác giả, nó góp phần vào tạo nên bản sắc riêng của tác giả Một nhà văn, nhà thơ lớn sẽ luôn có giọng điệu riêng cho mình Giọng điệu của một người sáng tác văn học sẽ phản ánh cả lập trường

xã hội, thái độ, thị hiếu thẩm mĩ của phong cách nhà văn, nhà thơ

Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và tư tưởng đề cao cá nhân, thơ ca đương đại có giọng điệu giàu tính tư tưởng - triết lý hơn so với thời kỳ trước Giai đoạn chiến tranh - khi mà nhiệm vụ giải cứu đất nước đang được đặt lên hàng đầu, thơ Việt Nam phổ biến cái tôi - công dân mang những phẩm chất chung của cộng

Trang 27

đồng Trong môi trường sử thi, con người cá nhân không có dịp bộc lộ Sau

1986, thơ Việt Nam đi sâu vào phản ánh hiện thực Sau chiến tranh động lực sử thi đã bắt đầu suy giảm; những thước đo giá trị tinh thần bị co giãn Nội dung đề tài trong thơ có sự thay đổi rõ rệt không chỉ là khám phá và phát hiện thêm các mặt nào đó của đời sống, mà cái chính là bổ sung và khai thác những đề tài tưởng

đã cũ với nhận thức mới mẻ

Thời kỳ đổi mới ngoài việc khám phá sâu sắc hiện thực nhiều nhà thơ còn khái quát những chân lí từ đời sống Các nhà thơ trẻ đương đại ít triết lí về lịch

sử, về cách mạng, về học thuyết…Thơ trẻ triết lí suy tưởng nghiêng về tình yêu

và khát vọng, những trăn trở cuộc sống thực tại Mỗi con người mỗi thời đại đều

có những bài toán khó cần giải đáp và không có thế hệ nào sống lặp lại nhau mà chỉ có những nét tương đồng và khác biệt giữa hai thế hệ Triết luận trong thơ muôn màu muôn vẻ, phản ánh hiện thực đa chiều của thời kỳ đổi mới, mỗi hiện tượng đổi thay của cuộc sống đều đem đến những suy tư trăn trở cho nhà thơ Bên cạnh những luồng cảm xúc trước hiện thực là nỗi niềm nhân thế lắng sâu, nhà thơ muốn chia sẻ với độc giả bằng chiêm nghiệm của mình Các triết lí từ cuộc sống với các phạm trù nhận thức như: Xưa và nay, xa với gần, nhân với quả, còn và mất, cho và nhận, thuỷ chung và bội bạc, ngắn ngủi với vĩnh hằng… tuỳ vào sở trường, vốn sống của thi nhân Nhà thơ Ngô Thị Hạnh viết về những điều gần gũi như gia đình, tình yêu, hạnh phúc một cách chân thực có chiều sâu tâm lí và các tri nhận tinh tế về quan hệ con người từ những điều nhỏ nhất: yêu con/ Cha cần mình đổi thay/ Yêu con/ Mẹ có quyền kiêu hãnh (Bí mật của hạnh phúc).Tác giả Nguyễn Đức Hạnh góp thêm nét chấm phá về cảm giác, một mảnh hiện thực nhưng mang những tâm cảm mới, giàu suy tưởng Bài thơ “Tìm” thể hiện nỗi khát khao về cái đẹp và giới hạn của lòng người: “ Lời yêu mới va vào lời yêu cũ/ Đắm con đò mơ mộng dưới bến sông/Tìm một đời hoàn mĩ vẫn tay không/ Chợt nhìn lại bàn tay không hoàn mĩ

“Hiện thực thời kì đổi mới có bề rộng, tầm cao, chiều sâu, xa gần, nhà thơ phải lựa chọn chỗ đứng riêng cho mình trong thế giới mênh mông đó Có bao nhiêu hiện tượng mới của cuộc sống tác động đến giác quan của nhà thơ và bạn đọc thì sẽ nảy sinh bấy nhiêu nhu cầu về sáng tạo thơ ca” [66, tr176] Vì thế,

thơ ca giai đoạn này cũng mang giọng điệu trữ tình, thể hiện nỗi lòng người thi

sĩ Do nhu cầu bộc lộ cảm xúc, quan điểm cá nhân nên thơ đương đại phát triển khá mạnh về mảng thơ trữ tình cá nhân Thơ không né tránh những băn khoăn về thân phận con người Trở về với chính cuộc sống bên trong, đó là nhu cầu nội tại thôi thúc của thơ, cũng là mong mỏi, là đòi hỏi của độc giả

Trang 28

Thơ cách mạng thời chiến tranh không mang âm hưởng buồn nhưng thơ sau Đổi mới thường mang âm hưởng buồn Bởi trong chiến tranh họ luôn tìm cách để cổ vũ tinh thần sao cho những người lính luôn trong tâm trạng phấn khởi sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, nhưng khi thời bình lập lại ta mới có những khoảng thời gian để nhìn lại lắng đọng những thứ mình đã và đang trải qua Nhưng nỗi sầu của con người rất đa dạng Có những nỗi buồn rất khó gọi tên,

khó diễn tả, phức tạp, bí ẩn: Nhiều khi nỗi buồn của tôi như sợi len dài/ quấn xiết

vào trái tim hỗn loạn (Nỗi buồn của chiếc bóng - Phạm Thị Ngọc Liên)

Cuối những năm 1990 thơ vẫn tiếp tục khuynh hướng trữ tình cá nhân nhưng đã có sự chuyển hóa nhuần nhuyễn hơn, gạt bỏ phần nào những tư tưởng cực đoan non nớt, gạt bỏ những buồn vui gắng gượng để đến được với những giá

trị đích thực: Anh đã chán lời vu vơ giả dối/ Hót lên! dù chua xót một lần thôi

(Hoàng Nhuận Cầm) Những tình cảm cá nhân đơn lẻ khi được đề cập đến một cách chân thành, xúc động bao giờ cũng dễ tìm thấy mối đồng cảm sâu xa Con người cá tính luôn có nhu cầu xác định chỗ đứng của mình trước thế giới và trong các mối quan hệ xã hội, cá nhân Những vấn đề muôn thuở của con người được nói đến rất thật trong thơ Nói đến những bất hạnh, đắng cay, già nua, đơn

độc: Bạn ơi ta như con sẻ nâu/ Suốt ngày lượm thóc/ bị bắn rơi bên tổ ấm chiều

về (Nguyễn Đỗ), Nỗi đau đớn một mình ai biết được/ Chẳng đêm nào không rỏ máu trong tim (Ngô Văn Phú), Em ơi tiếng gọi đêm nay vẫn còn âm vang trong gió/ xin mở cửa cho tôi/ xin cho tôi vay vài năm tuổi trẻ (Lê Văn Ngăn), Cô đơn theo con lặng lẽ lớn dần (Nguyễn Quang Thiều), Nước mắt đã thôi không chảy/

Và nỗi buồn cũng chẳng thể buồn hơn (Nguyễn Thị Hồng Ngát)

Các bài thơ tình xuất hiện ồ ạt đã mô tả tình yêu với tất cả các sắc màu phong phú Thơ tình hôm nay không chỉ ca ngợi, nhấm nháp, thưởng thức tình yêu mà còn đưa ra những ứng xử mới Điều này được thể hiện rất rõ ở những cây bút nữ Đối diện trực tiếp với những bất hạnh của mình để rồi tìm ra một cách

yêu: Ảo ảnh mãi thôi, ảo ảnh đến khôn cùng/ Mồ anh đó tôi chôn bằng nước mắt/

Hồn chìm nổi, lênh đênh, hồn phiêu bạt/ Để lại về khắc khoải sống trong tôi/ Thiên đường bao la nhặt hết giữa cõi đời/ Những ngôi sao làm một trời tinh tú/

Ảo ảnh của tôi ơi!/ Hãy bay vào vũ trụ/ Thế giới này đâu có chỗ cho anh! (Ảo

ảnh – Đinh Thu Hiền) Bên cạnh những vần thơ tình đắm đuối của sự dâng hiến gửi trao còn có sự phân định khá rạch ròi: “Em cỏ cây/ Anh là mây gió/ Em tích

tụ/ Anh bay lang thang/ / Nếu anh thực là gió/ Em xin được làm mây/ Hãy cho

em làm cỏ/ Nếu anh thực là cây (Đỗ Bạch Mai)

Thay vì sự gò bó cứng nhắc trong tư duy, dẫn tới sự đè nén thơ trong khuôn mẫu, thơ đương đại Việt Nam đã có sự nới lỏng hơn thời kỳ trước Đó là

sự đổi mới, tự do của hình thức câu chữ và sáng tạo nghĩa mới Những câu thơ

Trang 29

trong xu thế thơ này hết sức tự do, gần với văn xuôi, thậm chí là nghiêng về tạo lập chữ, câu đơn giản Việc không tuân thủ luật thơ truyền thống, phá vỡ cú pháp câu thơ, thể hiện ý tưởng bằng ngôn từ giản dị, kích thích tối đa suy tư của độc giả đã tạo nên một cách viết mới; những trăn trở, kiếm tìm những đề tài, chủ đề thơ mới, đi ra khỏi những giới hạn của truyền thống là một xu hướng đáng chú ý trong thơ đương đại

Thơ đương đại hình thành và phát triển trong không gian văn hóa của thời đại mới, thời đại giao lưu và hội nhập giữa Việt Nam và thế giới đã tạo nên những đặc điểm riêng không trộn lẫn với thơ ca các giai đoạn văn học trước Trong bầu không khí tự do dân chủ, các cây bút đã phát huy mọi sở trường và ưu thế của mình trong sáng tạo Nhiều phạm vi hiện thực được mở rộng bằng các dòng cảm hứng khác nhau; Các nhà thơ đã đi sâu khám phá những vấn đề có chiều sâu nhân bản về sự sống những điều mất mát, tín ngưỡng, tình yêu và dục vọng con người; Những lẽ sống cao cả và những thói hư tật xấu… Nhiều bài thơ

đã toát lên những triết lý mới mẻ về cuộc sống qua các hình tượng nghệ thuật mang tinh thần đổi mới.[66, tr261]

1.2.2 Thơ Nguyễn Phong Việt, sự kế thừa và sáng tạo trong tư duy thơ Việt Nam đương đại

Nguyễn Phong Việt là một nhà thơ mạng điển hình, thơ anh xuất hiện đầu tiên ở trên mạng internet Khi nền văn học mạng, đặc biệt là thơ mạng phát triển thì cái tên Nguyễn Phong Việt trở thành cái tên được độc giả yêu thích, và trang mạng xã hội của anh là nơi giao lưu với người yêu thơ, Với đặc trưng của mạng

xã hội là tính thời sự nóng hổi nên thơ Nguyễn Phong Việt cũng mang tính thời

sự Những sự kiện, những tâm tư trước thời cuộc đã theo Nguyễn Phong Việt vào trong thơ Theo đó, thơ của Nguyễn Phong Việt như những lời thủ thỉ nhẹ nhàng nhưng lại làm cho độc giả cảm nhận được rất nhiều điều về cuộc sống, về tình yêu cũng như những suy nghĩ chủ quan của mỗi con người Những triết lý cuộc đời đi vào thơ Nguyễn Phong Việt trở nên nhẹ nhàng hơn, dễ hiểu hơn, dễ cảm nhận hơn nhờ những hình ảnh, biểu tượng đầy chân thật và đời thường như là chiếc xích đu, là mái nhà, là ô cửa sổ, là bàn tay, là mùi khói hương ngày tết, Thơ anh là sự kế thừa những chiêm nghiệm, triết lý của các thế hệ đi trước, nhưng không rập khuôn mà mang những sáng tạo rất riêng, rất Phong Việt Chính vì thế nên thơ Nguyễn Phong Việt được độc giả đón nhận và đánh giá cao

Là một nhà thơ có tài năng, Nguyễn Phong Việt có sức viết khỏe, luôn nỗ lực hết mình, là một trong những cây bút xuất sắc của dòng thơ Việt Nam đương đại Những tác phẩm của anh thường được đăng trên trang facebook cá nhân

chuyên về thơ là Thơ Nguyễn Phong Việt, luôn được người hâm mộ và độc giả

Trang 30

yêu thích đón đợi Nguyễn Phong Việt được sinh ra tại Tuy Hòa, mảnh đất với nắng gió của miền trung, những điều ấy đã tạo nên một nhà thơ với nhiều triết lý,

tư duy đa chiều, tích cực nhưng cũng rất thực tế, rất đời

Điều độc đáo đầu tiên độc giả nhận thấy ở tư duy thơ Nguyễn Phong Việt

là thơ văn xuôi Trong thực tế, đây là hình thức thể hiện không mới nhưng để khám phá chiều sâu trong các lớp sóng ngôn từ lại là thách thức không nhỏ với công chúng, người tiếp nhận Nếu như các nhà thơ giai đoạn trước vừa viết thơ văn xuôi, vừa viết những thể loại thơ gieo vần có quy luật thì Nguyễn Phong Việt hoàn toàn viết theo thơ văn xuôi Thế hệ đàn anh tách bạch rõ ràng giữa thơ văn xuôi và thơ có niêm luật: thơ văn xuôi không gieo vần, chỉ phân biệt đó là thơ nhờ ý nghĩa chuyển hóa của ngôn ngữ và thơ gieo vần thì tuân theo quy luật của thể loại Giờ đây, Nguyễn Phong Việt đã trộn lẫn cả hai thành một loại: Thơ văn xuôi nhưng có gieo vần Nhờ thế thơ văn xuôi của Phong Việt giảm bớt sự gồ ghề, trúc trắc mà trở nên có nhạc điệu hơn, dễ đọc hơn, và cũng dễ đi vào lòng

người hơn: Người đang ở đâu trong cuộc đời người mong mỏi được gieo trồng/

những luống hoa nở không vì bình minh hay đêm tối/ một ai đấy sẽ đến trên thềm nhà và hỏi/ người có muốn làm điều gì đó lúc vẫn còn nông nổi/ để biết ơn những giây phút cuồng điên? (Cô đơn 3) [77, tr.30] Câu thơ dài lê thê tưởng

chừng như là văn xuôi, trúc trắc nhưng từ cuối lại được gieo vần khiến sự dài dòng đó được kết nối thành một thể thống nhất, mượt mà, dễ đi vào lòng người Tập thơ đầu tiên ra mắt và được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả, chỉ sau 10 ngày, tác phẩm này đã được phát hành hơn 3 ngàn bản, tạo nên một hiện tượng hiếm thấy trong giới xuất bản Việt Nam Tổng cộng, tập thơ này đã được in hơn

30 ngàn bản ở lần phát hành đầu tiên và tiếp tục được tái bản 5 ngàn cuốn vào giữa tháng 12 năm 2013 Nguyễn Phong Việt đã nhanh chóng hòa nhập vào xu

thế cách tân của thơ hiện đại đồng thời cũng tìm cho mình một cách nói riêng: Ta

ước về điều giản đơn như nắm tay nhau trong một ngày mưa bay/ ngồi nơi vỉa hè trong một đêm nhiều gió/ khi cuộc đời không thể sưởi ấm hết tất cả những gì thuộc về đau khổ/ thì hãy tự sưởi ấm cho nhau! (Tại sao không thể tha thứ cho

một người) [75, tr.68], hay: Chúng ta hạnh phúc chưa/ khi ai cũng đã sắp hoặc

đang già/ lòng có hôm đứng bên chiều ngơ ngác/ muốn cảm ơn những con người từng dạy cho mình sống một cuộc đời đơn giản/ vì cuối cùng thứ muốn được giữ chặt/ chỉ là tim bình an! (Chúng ta đã hạnh phúc chưa) [83, tr.45] Đến với

những tập thơ tiếp theo: Từ yêu đến thương/ Sinh ra để cô đơn/ Sống một cuộc

đời bình thường/ Đã đi qua thương nhớ/ Chúng ta sống có vui không/ Sao phải đau đến như vậy,… người đọc càng chứng kiến giọng thơ của tác giả - giọng thơ

xóa nhòa ngôn ngữ thi ca với ngôn ngữ đời sống con người hiện đại Mỗi năm xuất bản một tập thơ, Nguyễn Phong Việt luôn trau dồi chắt góp những cảm xúc,

Trang 31

rung động cuộc sống để những vần thơ của mình theo mạch cảm xúc trôi chảy một cách tự nhiên, trong trẻo, tươi non nhưng không dễ dãi Nguyễn Phong Việt

là nhà thơ trẻ, lại sử dụng mạng xã hội để đưa thơ đến với độc giả nên anh chọn cách viết rất thực, không hoa mỹ cũng không làm quá lên những gì so với cái vốn

có của nó Cách viết thơ của anh gần giống với văn xuôi – những câu thơ được ngắt bởi ý thơ mà không cần quan tâm đến độ dài ngắn của câu, nên được xem là thuận lợi hơn trong cách chia sẻ cảm xúc mà không bị giới hạn bởi khuôn khổ Với kiểu thơ văn xuôi xuyên suốt trong hành trình sáng tạo, thơ Nguyễn Phong Việt dễ dàng tự sự, diễn giải, tâm sự, gợi sức đồng cảm đồng điệu cùng người đọc

Thơ Nguyễn Phong Việt có sự thay đổi khác biệt so với những tác giả trước đây Thơ Phong Việt mang hơi thở hiện đại, gần gũi với người đọc, nhưng cũng có nhiều điều mới lạ Các tác phẩm đã biểu hiện những vẻ đẹp, những cảm xúc, khắc khoải, sự an nhiên trong cuộc sống với mọi chiều kích của cảm xúc với những lo âu, hạnh phúc, nghi hoặc và đắm say, dằn vặt và hi vọng…

Năm tháng này, mình đã đi ra khỏi những giấc chiêm bao nỗi hoang mang biết tựa vào đâu để đứng vững

ai nói gì, làm gì cũng chỉ là gió thoảng quan trọng là mình có muốn

sống như chưa bao giờ…

(36) [80, tr.26]

Nguyễn Phong Việt đã từng thừa nhận về thơ mình: “Đúng là nhiều khi

tôi vẫn nghĩ những gì mình viết kiểu là "đứa con lai" giữa thơ và văn Tôi thường theo cảm xúc và cứ thế để cảm xúc dẫn dắt mình đi Mỗi bài thơ của tôi thì 2 câu mở đầu bao giờ cũng quan trọng nhất vì nó quyết định việc tôi có đủ cảm xúc để viết hết câu chuyện hay không Còn 2 câu cuối là 2 câu khó nhất vì bao giờ tôi cũng muốn chốt lại câu chuyện theo hướng gợi mở Tôi làm báo từ mười lăm năm nay nên góc nhìn về cuộc sống của tôi thực tế và trần trụi Nhà thơ đưa hiện thực ấy vào thơ, kéo sự lãng mạn lại gần hơn với đời sống thật nên có lẽ điều đó khiến người đọc luôn thấy mình ở trong đó, thấy những câu chuyện mà tôi viết ra đều có thể gặp từ thế giới xung quanh chứ không phải là

sự tưởng tượng hay xa lạ” [64] Những câu chuyện rất đời thường: Đôi lần xin cho mình được tắm dưới những cơn mưa/ thả trôi hết muộn phiền đang có/ mình sẽ lại yên tâm đương đầu với tháng ngày nhiều giông gió/ yêu thương đến cuối cùng chỉ là nối dài một hơi thở/ từ người này sang người kia…(Yêu

thương một con người và học cách lặng im) [78, tr.75]

Quá trình hiện đại hóa thơ ca, nhiều cây viết trẻ có xu hướng thổi vào thơ ngọn gió hậu hiện đại với những lý thuyết chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng, thì

Trang 32

Nguyễn Phong Việt lại có xu hướng đưa thơ ca Việt về với tiếng nói tự nhiên thuần khiết nhất của con người Đây là một trong số ít nhà thơ có khả năng liên tục cách tân, thể hiện trong đời sống thơ Việt Nam đương đại Thơ anh không chỉ sôi sục trong giới trẻ mà còn được giới trí thức, nhân viên văn phòng, giới trung

niên… đón nhận Bởi lẽ những dòng thơ xuất phát từ cuộc sống hiện tại, mỗi tập

thơ của tác giả cứ như một lời đúc kết, chiêm nghiệm từ cuộc sống dễ đem lại sự rung cảm trong lòng độc giả bởi ta nhận thấy thấp thoáng bóng mình trong đó Nguyễn Phong Việt đã góp phần chứng minh rằng thơ vẫn có sức sống mãnh liệt bằng tâm thế và vẻ đẹp riêng mình giữa thời đại bùng nổ nhiều loại hình công nghệ giải trí

Là một nhà thơ, đồng thời là một nhà báo, một người trẻ năng động, Nguyễn Phong Việt cũng quan tâm tới những vấn đề rất thực, rất đời xung quanh mình Bởi thể ngôn ngữ trong thơ anh cũng là ngôn ngữ đời thường, gần gũi với cuộc sống Nhịp sống càng nhanh, dòng đời càng hối hả thì con người càng bị cuốn trôi xa với định hướng ban đầu Bởi thế, con người càng trở nên day dứt,

dằn vặt, hoài niệm: Tự mình giúp cho mình tránh xa những hoài nghi/ tự mình

tạo ra một cuộc đời - sống – không – vì – mình - ở nơi đó/ tự mình chải tóc, tô son đợi mỉm cười vào một ngày chắc chắn sẽ đổ vỡ/ tự mình bước lùi trên một con đường mà đích đến chỉ nằm trong những câu chuyện kể/ những lần tự kể cho nhau nghe… (Đừng nói nữa, được không) [75, tr.122] Nguyễn Phong Việt đưa

vào thơ những gì diễn ra xung quanh mình, cả những niềm vui, nỗi buồn hay những vấn đề rất thực, rất phổ biến trong cuộc sống hiện đại như sự cô đơn, bất

an, lo lắng: Những ngày tháng này/ chúng ta không gì trong tay/ Từng có những

ước mơ nhưng đã để vuột như quả bong bóng bay/ rồi hoài mong như một đứa trẻ con chỉ cần nhắm mắt rồi mở ra sẽ tìm thấy/ mong niềm vui là một chiếc giếng sâu không cạn đáy/ chỉ cần gieo vào nỗi buồn vào và sớm mai thức dậy

(Cô đơn 1) [77, tr.26] Thơ Nguyễn Phong Việt nói về những vấn đề rất thực, rất phổ biến trong cuộc sống hiện đại như sự cô đơn, bất an, lo lắng

Thơ vốn là thể loại có yêu cầu về cảm nhận, thẩm mỹ cao ở độc giả, Nguyễn Phong Việt ‘lội ngược dòng’ khi là hiện tượng best seller xuất bản sách thơ Xuất thân từ nghề báo mà anh coi là một sự may mắn đã cho anh cách nhìn nhận vấn đề, thu lượm kiến thức và chắt lọc nó qua ngày tháng để có thể chưng cất ra được một thứ “rượu chữ” bình dị nhưng thấm sâu, rung cảm khiến hơn một thập kỷ qua, độc giả vẫn chưa khi nào thôi chờ đợi những bài thơ mới của anh Điều đó đến từ những điều mới mẻ trong tư duy thơ, triết lý sống mà anh thể hiện trong tác phẩm Những sự sáng tạo ấy rất hiện đại nhưng lại rất gần gũi, đi vào lòng người

Trang 33

1.2.3 Quan niệm về thơ của Nguyễn Phong Việt

Trong suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Phong Việt luôn trăn trở và suy tư một cách nghiêm túc về nghề nghiệp, về quan niệm về nhân sinh, về thái độ với cuộc đời Các quan niệm về thơ của anh không chỉ biểu hiện trong sáng tác mà còn cả trong các bài tiểu luận và trả lời phỏng vấn Mỗi nhà thơ đều

có một quan niệm riêng về thi ca Đúng vậy, mỗi nghệ sĩ đều có những suy nghĩ,

sự trải nghiệm khác nhau nên họ có những quan niệm khác nhau về nghệ thuật Với Nguyễn Phong Việt, tác phẩm văn học cuối cùng cũng nhằm để hoàn thiện nhân cách, quan niệm thẩm mỹ và hướng con người tới giá trị tột cùng chân thiện

mỹ: Sự giống nhau giữa những con sóng biển và những bông hoa là gì?/- Là đều

tạo thành rồi lụi tàn! /Còn sự khác nhau?/- Những con sóng xuất hiện gần như liên tục và không ngừng nghỉ, bất chấp mọi điều kiện Còn những bông hoa thì cần một chu kỳ thời gian cho việc tượng hình, thậm chí chúng cần thời tiết đủ thuận lợi để dồn hết mọi tinh lực cho một lần khoe sắc dưới ánh mặt trời! /Là bạn, bạn chọn làm sóng biển hay bông hoa? (Tâm sự ngày 31/12/2020) [84]

Là một người trẻ, năng động, lại làm báo, sử dụng mạng xã hội để đưa thơ đến với độc giả, thế nên thơ Nguyễn Phong Việt mang tất cả những đặt trưng của các yếu tố ấy: cách nhìn mới mẻ về những triết lý cũ, rất đời nhưng cũng rất nhân văn, và vô cùng nhanh chóng khi cập nhật hiện thực vào trong thơ Những triết lý cuộc đời qua thơ Nguyễn Phong Việt trở nên dễ hiểu, dễ cảm hơn Những chiêm nghiệm về tình cảm gia đình, tình yêu, tình bạn bè, tình đồng loại, được cụ thể hóa bằng những ánh mắt, cái nắm tay, nụ cười, nước mắt Những quan niệm nhân sinh được biểu đạt qua những đêm khuya, ô cửa, mái nhà, ánh trăng, khiến độc giả dễ cảm nhận và suy tư

Người đọc đến với thơ Nguyễn Phong Việt như tìm đến cõi lòng sâu tận đáy mà khó có thể chia sẻ bằng lời với người khác Khi những người đang chông chênh với cái tết xa quê, bơ vơ giữa lòng thành phố thì ngay lập tức có thể cảm nhận được hương vị tết khi tìm đến trang Thơ Nguyễn Phong Việt Ở đó, nhà thơ

đã chia sẻ cùng độc giả những cảm nhận khi tết đến xuân về Những khi đang chông chênh giữa hai bờ yêu thương thì thơ Nguyễn Phong Việt như một sự đồng cảm, chia sẻ, động viên để độc giả có thể tìm đến bờ bình yên và hạnh phúc Hạnh phúc không phải là sự viên mãn khi đạt được, mà đôi khi là sự chấp nhận được - mất, là sự buông bỏ, là cách thức xếp nỗi đau vào một góc tâm hồn

Nhà thơ Nguyễn Phong Việt từng có nhiều năm gắn bó với nghề báo nhưng với anh thơ ca vẫn là cốt lõi, là con người thực sự của mình nhất Vì chỉ với thơ anh mới bộc lộ được những cảm xúc rất đời thường như hạnh phúc, yêu thương hay đau khổ, thậm chí đổ vỡ Những biến cố thăng trầm, buồn vui cuộc

Trang 34

sống đều được anh cảm nhận, góp nhặt, vun vén, lưu giữ vào tâm khảm và trong một lúc nào nó, đó bật ra thành thơ, tạo nên những tác phẩm rất riêng, rất Nguyễn Phong Việt Nhà thơ không đề cao yếu tố kĩ thuật trong thơ mà anh luôn tôn trọng cảm xúc của chính mình khi viết Điều này cũng làm nên một giọng điệu

riêng để độc giả ấn tượng và họ dễ dàng tìm thấy mình trong thơ anh:Chúng ta

ngồi ở đó, cuối con đường và hỏi giữa chúng ta có điểm gì chung/ ngoài quãng đời đã từng được sống/ thức dậy với bình yên rồi đêm về nằm mơ trên khó nhọc/ bàn tay nắm lấy bàn tay, còn đôi chân mỗi ngày đều đi về phía nhau trong vô thức/ cuộc đời đó có bình thường? (Sao phía cuối con đường không là một cành

hoa) [76, tr.6]

Để viết được một bài thơ thi sĩ phải có những phút xuất thần và có câu

“người thơ phong vận như thơ vậy” nhưng Nguyễn Phong Việt thì không có vẻ

gì như thế - rất giản dị, đời thường, sáng tạo thơ không phải là sự gượng ép hay

bắt chước, anh quan niệm “Tôi chưa và không bao giờ mặc định một người viết

thơ thì phải như thế này, như thế kia Tôi thích mình vẫn là mình” [1] Là một

cây viết trẻ Nguyễn Phong Việt có nhận định về thơ đương đại rằng “mỗi người

viết có một quan điểm, có một thế mạnh Tôi không bao giờ cho rằng nếu ai đó khác mình thì xấu, viết không theo cách mình thích thì là không hay Điều gì cũng vậy, càng đa dạng thì càng có cơ hội để những điều mới mẻ xuất hiện” [1]

Trong thơ ca với sự đa dạng các đề tài ví như đề tài siêu thực, sexy… cũng đều

có độc giả của riêng nó Cái quan trọng là thi nhân đã khơi gợi hết cảm xúc để tạo được sự cộng hưởng từ độc giả Với Nguyễn Phong Việt, thơ anh có thể gọi tên được những cảm xúc mà mình nghĩ ra được, và cảm xúc ấy may mắn chạm

đến trái tim của bạn đọc: Người chỉ là một chút gió của mùa bão quen/ không thể

làm gì hơn bên cạnh những câu nói/ có cố gắng dốc hết niềm tin cho một lần đánh đổi/ vẫn cứ thấy mịt mùng khuya tối/ dù đã luôn đứng ở đây…(Về đâu

những vết thương) [78, tr.5]

Hơn 10 năm qua độc giả vẫn yêu mến các vần thơ của anh như thế Bí quyết để níu giữ và trói gọn tâm hồn, trái tim độc giả của Nguyễn Phong Việt

chính bởi anh “chọn cách viết rất thực, không hoa mỹ cũng không làm quá lên

những gì so với cái vốn có của nó” Cách viết thơ ấy gần giống với văn xuôi, nên được xem là thuận lợi hơn trong cách biểu lộ, chia sẻ cảm xúc mà không bị giới hạn bởi khuôn khổ Quan trọng hơn nữa, cái hồn thơ chắt lọc lại bởi từ

những trải nghiệm, từ những bộn bề cuộc sống Trả lời câu hỏi Cuộc sống tất

bật có làm thui chột những ý tưởng mới cho thi ca và nhà thơ phải làm gì để có thể tồn tại? Nguyễn Phong Việt cho rằng: Sự bộn bề đôi khi lại là chất liệu

tuyệt vời để thơ có thể đi sâu vào cảm xúc bên trong con người hoặc là những

hệ giá trị trong một thời đại sống mới, khác hoàn toàn so với trước: Trong căn

Trang 35

bếp đó người này sẽ rửa chén cho người kia sau mỗi bữa ăn/ để thấy những giấc mơ chẳng quá xa xôi như đã từng lầm tưởng/ để thấy một niềm tin sẽ kéo dài hơn định mệnh/ để thấy những tiếng cười thật sự là tiếng cười chân thật/ để thấy mình cuối cùng cũng đi qua được thử thách/ để được bắt đầu… (Nấu cho

nhau một bữa ăn bình thường) [76, tr.10]

Những sáng tác của Nguyễn Phong Việt, từ góc độ này hay góc độ khác, đều đáp ứng được nhu cầu có thực trong lòng người đọc, diễn đạt hộ con người những cảm nhận tinh vi về cuộc sống, những khát vọng cháy bỏng hay âm thầm, bằng thứ ngôn ngữ nghệ thuật sâu sắc nhưng giản dị, tinh túy nhưng không cầu kỳ, mới mẻ nhưng không xa lạ… Trước khi trở thành một tác phẩm nghệ thuật, thơ là tiếng lòng thầm lặng của người nghệ sĩ về hiện thực, về nhân sinh, về chính bản thân mình Những tác phẩm ấy bằng vẻ đẹp của sự chân thực đã trở thành người bạn sẻ chia những buồn vui cùng con người, nâng đỡ con người trong những thời

khắc nó cần đến sự hỗ trợ của những tấm lòng đồng cảm: Chúng ta không hoài

phí nhưng chúng ta cũng không lời được hơn những tiếng cười/ rồi sẽ qua như sớm mai như đêm trắng/ mặt hồ bình yên nhất là khi mặt hồ phẳng lặng/ lòng người bình yên nhất là khi lòng vừa ra khỏi những cay đắng/ cần một giấc ngủ quên… (Là mình khóc cho mình nghe) [79, tr.70] Cuộc đời đôi khi cũng nên bỏ

lại mọi thứ sau lưng, bước đi và mỉm cười: Chúng ta cầm lên một thứ mà quá vội

vàng/ nghĩ từ đây sẽ tràn ngập tiếng cười nơi đuôi mắt/ nhưng cũng vì ngây ngô nên yêu thương ấy chưa bao giờ đánh mất/ những hồn nhiên và nước mắt/ của chân thành…/ Cảm ơn vì chúng ta đã từ chối nhau trong an lành! (Cảm ơn vì

chúng ta đã từ chối nhau) [79, tr.4] Hãy bước đi, tự mình ôm lấy mình, cho mình quyền được sống tử tế, quyền được yêu thương, quyền được bình an

Trong lộ trình thơ của mình, Nguyễn Phong Việt với bản năng hồn nhiên của trái tim nhạy cảm, anh nhặt ra cho bao người đồng cảm những khám phá rất thật rất gần nhưng lại không mấy người thấy được Đó là nỗi thảng thốt khi phát giác cái khoảng không mênh mông sát cạnh mình ngay khi tưởng chừng đang kết nối: Chỉ đến lúc đưa tay ra mới biết khoảng không nhiều đến vậy Đây dường như không chỉ là cảm giác hụt hẫng, mà có vẻ phản lực từ cuộc đời đã làm nhà thơ bật

ra một câu thơ ý vị nhường kia Có khi tứ thơ đến trong khi tác giả đối diện với chặng đường đầy trở ngại: Gió mưa cũng chỉ làm mọi thứ sát lại/ vun đắp những hơi ấm vô hình Cũng có lúc kinh nghiệm tự thân lại là một sẻ chia đáng kể, một

sự trải nghiệm, đánh đổi không dễ dàng: Chịu đựng một cơn đau còn hơn chối từ nỗi sợ/ mình sẽ không thể/ có cơ hội trưởng thành Nhưng rồi tác giả vẫn lấy lại được sự tin yêu mềm mại cho thơ mình, những câu thơ như tuyên ngôn của những

người đang gối đầu lên tình yêu bất tận: Đừng để mình đau lòng nữa/ bởi quãng

đời này đâu chỉ có những buổi chiều/ nhìn yêu thương tắt đi trong lòng từng tia

Trang 36

nắng/ nhìn hai bàn tay mình khua lên trong những khuya nào thanh vắng/ tự kéo chăn cho mình rồi tự đắp/ mà nghĩ đến lẻ loi khôn cùng…(Đừng để mình đau lòng

nữa) [80, tr.40]

Thật ra, thơ chỉ sống được với cuộc đời khi đó là những câu chữ thăng hoa thành giá trị Người đọc mặc dù có nhiều trường đoạn bị cuốn theo cảm xúc của nhà thơ, nhưng thoát ra những cung bậc ấy, bắt gặp những lời bộc bạch thật

thà, lại cảm thấy như mình hạnh ngộ với niềm tin: Mình cũng đã từng hứa với

biết bao người sẽ đi đến tận biển rộng trời cao/ rồi thì từng khúc quanh từng con người mất hút/ có người mình đã ngồi chờ nhưng cũng có người mình như

kẻ chạy trốn/ cho đến một buổi sớm/ thức dậy lòng hoang vu (Một đoạn đường

sau cuối) [82, tr.148]

Mỗi tác phẩm ra đời là sản phẩm tinh thần diễn đạt đúng tâm thế và thời thế nhất quán Nguyễn Phong Việt thừa nhận nếu bây giờ viết lại, anh chẳng thể nào viết được “Đi qua thương nhớ”, “Từ yêu đến thương”…, bởi nhân sinh quan thay đổi theo sự từng trải và sự giác ngộ cuộc đời Sau những tổn thương, cô đơn và đổ

vỡ Nguyễn Phong Việt tìm ra góc nhìn nhân bản hơn, nhắc nhở bản thân phải biết

thương mình hơn: Cảm ơn ta vẫn háo hức với mỗi chặng đường/ mặc bàn chân

còn nhói đau với vết thương chưa lành hẳn/ phải tội tình cho mình thì mai kia mới thương mình chân thật/ vì đến cuối cùng có còn ai khác/ hiểu mình hơn mình nữa đâu? (Cảm ơn ta dù ngoài kia giông gió) [80, tr.17]

Và như vậy, Nguyễn Phong Việt rất có biệt tài dẫn người yêu thơ anh cùng rong ruổi với những nỗi niềm, điều thú vị ở chỗ hành trình ấy không hề vô bổ, ít ra cũng là ở cách anh tự mở lòng mình cho mọi người nhặt lấy những tin yêu, như

cách anh tự nhủ: Chỉ cần trái tim đừng xa lạ/ lúc hụt xuống chông gai (Mình sẽ

đi cuối đất cùng trời) [82, tr.156] Nguyễn Phong Việt đã thực sự mang đến những trải nghiệm mà có lẽ chỉ thời gian, tuổi tác và cách sống đầy lạc quan, tin yêu ngay

cả trong đau khổ mới có thể rút ra Bản thân nhà thơ luôn tâm niệm, khi đã trải qua những biến cố mình sẽ trân trọng cuộc đời này nhiều hơn Và viết thơ chính là cách để thể hiện lòng mình cũng như biết ơn cuộc đời

Đọc thơ Nguyễn Phong Việt, người đọc tìm thấy bản ngã, thấy nội tâm lòng mình trong đó Những nỗi lòng không thể chia sẻ cùng ai thì đã được Phong Việt nói hộ Bởi thế, người đọc tìm đến với thơ anh như một sự tìm về với nội

tâm: Mình nhìn xuống bàn chân để thấy mình chưa bao giờ thật sự đi xa/ cứ

loanh quanh trong những vòng tròn chật hẹp/ cuộc đời muốn mình sống thế này

và mình cứ như một đứa trẻ con lễ phép/ luôn vòng tay khép nép/ ngày nào cũng cúi đầu…/ Đôi khi mình nhoài người ra lại bị ngăn lại vì sợ những cơn đau/ đến mức ghét thứ mình không hề biết/ kẻ chịu đựng được tổn thương mới có thể rũ

Trang 37

đời sâu thành bướm/ mình như lá non mới chớm/ đã ôm ấp lụi tàn… (Ngồi im

một chút thôi) [83, tr.14]

Nguyễn Phong Việt đã thực sự mang đến những trải nghiệm mà có lẽ chỉ thời gian, tuổi tác và cách sống đầy lạc quan, tin yêu ngay cả trong đau khổ mới

có thể rút ra Bản thân nhà thơ luôn tâm niệm, khi đã trải qua những biến cố mình

sẽ trân trọng cuộc đời này nhiều hơn Và viết thơ chính là cách để thể hiện lòng mình cũng như biết ơn cuộc đời Quan niệm về nghệ thuật của Nguyễn Phong Việt phản ánh đúng bản chất của nghệ thuật và thống nhất với thực tiễn sáng tác của nhà thơ Nguyễn Phong Việt chỉ muốn viết đúng lòng mình và có lẽ như vậy

mà những câu thơ của anh luôn nhận được sự đồng cảm của các thế hệ bạn đọc Anh đã nói lên nỗi lòng của bao kiếp người đang hối hả ngược xuôi vì cuộc sống Thơ anh như là cõi bình yên để họ tìm về sau những giông bão, là những hoài niệm mà họ đã lãng quên khi mải miết bon chen, là sự sám hối của tâm hồn sau khi bị cuộc đời xô xát

Tiểu kết chương 1

Một đặc điểm của văn học nói chung và thơ nói riêng là sự đổi mới theo thời gian Theo dòng chảy của lịch sử, thơ có sự đổi mới về tư duy, được thể hiện trong nội dung nói đến trong thơ cũng như hình thức thể hiện, ngôn ngữ Thơ đương đại Việt Nam đã chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự cũng như sự thức tỉnh ý thức cá nhân Ngoài ra, thể loại thơ cũng chuyển đổi sang thơ

tự do, thậm chí là thơ văn xuôi Hơn nữa, trong bối cảnh bùng nổ của các kênh

thông tin đại chúng và sự tràn ngập thông tin xã hội thì thơ Nguyễn Phong Việt

là một dòng chảy nhỏ được nhiều người tìm đến bởi dấu ấn riêng biệt Thơ Nguyễn Phong Việt tạo nên dấu ấn từ cách tư duy, xây dựng hình tượng đến phương thức thể hiện Thơ anh mang lại hơi thở mới, luồng sinh khí mới cho nền thơ ca đương đại Việt Nam Thơ Nguyễn Phong Việt là sự tiếp nối dòng chảy thơ

ca Việt Nam nhưng cũng chứa nhiều sự sáng tạo rất riêng, rất thời đại Ở đó, nhà thơ vừa kế thừa trọn vẹn thể loại thơ văn xuôi của thơ đương đại và nâng nó lên tầm cao mới, làm lu mờ ranh giới giữa thơ với văn xuôi Anh mang văn xuôi vào trong thơ qua những câu thơ dài miên man và ngắt nhịp tự do nhưng tăng tính thơ thông qua việc vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật hơn Những câu thơ dài lê thê

và những câu thơ ngắn xen kẽ nhau trở nên có nhạc điệu, có âm hưởng ngân nga

dễ đi vào lòng người thông qua việc vận dụng cách gieo vần của các thể loại thơ khác, đây là điều mà trước đây hiếm có tác giả nào làm được Bên cạnh đó, các thủ pháp nghệ thuật trong sử dụng ngôn ngữ - một dấu hiệu đặc trưng của thơ - cũng đã được Nguyễn Phong Việt kế thừa và phát huy cao độ Cách sử dụng hệ thống ngôn ngữ mang tính tượng trưng, liên tưởng và xây dựng biểu tượng, được nâng lên tầm cao hơn khi sắp đặt những từ ngữ tưởng như không liên quan

Trang 38

đứng cạnh nhau tạo nên nhiều khái niệm mới, thuật ngữ trong nghệ thuật, khiến cho người đọc có khả năng cảm nhận cao hơn bằng tất cả xúc cảm Từ những khái niệm cũ, biểu tượng cũ mà các thế hệ nhà thơ trước đã sử dụng, giờ đây Phong Việt gán thêm nhiều tầng nghĩa hơn, biểu cảm hơn, khiến cho người đọc ngỡ ngàng khi chợt nhận ra rằng: hóa ra những điều đã cũ, đã tạo thành lối mòn trong cách nghĩ ấy nếu thay đổi một chút thôi thì sẽ khiến cuộc sống trở nên phong phú, thi vị, đa hương sắc hơn nhiều Là một nhà thơ đương đại, Nguyễn Phong Việt cũng mang hơi thở cuộc sống vào trong thơ với những đề tài hết sức gần gũi, đời thường Anh không tô vẽ nó với những sắc màu của mình, mà nói về những thứ gần gũi xung quanh rất thực, rất chân thực để người đọc cảm nhận được thực tế Và bởi sự tả thực trong thơ ấy, khiến người đọc cảm nhận được sự gần gũi của thơ, dễ dàng đón nhận thơ hơn

Trang 39

CHƯƠNG 2

TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC HÌNH TƯỢNG

2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình

“Cái tôi trữ tình là biểu hiện của cách nhận thức và suy tư của chủ thể

trước thế giới hiện thực, qua những điểm nhìn nghệ thuật, thể hiện tư tưởng, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ” [28, tr.22] Theo đó, cái tôi trữ tình là tâm trạng,

cảm xúc, cảm nhận, là thế giới nội tâm (tâm hồn) của riêng nhà thơ trước hiện thực khách quan (cuộc sống) Qua hình thái cái tôi trữ tình, ta có thể thấy được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng, của thi sĩ trước cuộc đời Đọc thơ Nguyễn Phong Việt, chúng tôi nhận thấy, cái tôi trữ tình trong thơ anh là cả một sự trở trăn trước thực tại đời sống, là góc suy tư, chiêm nghiệm về hạnh phúc riêng tư,

là tiếng lòng khắc khoải, đào sâu vào bản ngã Và trong muôn vàn thanh âm ấy, những phiên bản cái tôi trữ tình như dòng chảy cuộc đời, đã thực sự tạo nên nét riêng biệt, góp phần hình thành phong cách nghệ thuật của riêng nghệ sĩ

2.1.1 Cái tôi trăn trở trước thực tại đời sống

Cái tôi trăn trở trước thực tại đời sống - cái tôi thẩm mĩ được đặt trong mối quan hệ cộng sinh đầy suy tư về những thang định nhân cách cho mỗi hữu thể người trong kiếm tìm những chân giá trị đích thực của cuộc sống Xã hội càng phát triển thì cuộc sống càng trở nên muôn màu muôn vẻ, và dưới cái nhìn của thi nhân thì càng trở nên phong phú gấp bội phần Có góc nhìn tích cực, có góc nhìn tiêu cực, có góc nhìn hài hước, tất cả đều trở thành nguồn cảm hứng của thi ca Nguyễn Phong Việt hướng đến lối viết tự sự, kể câu chuyện của chính mình và điều này lại trở thành sức hấp dẫn của anh đối với công chúng Bởi lẽ, câu chuyện của đời anh cũng “na ná” câu chuyện của bao người Những câu chuyện ấy rất thật, rất đời nên ai cũng có thể thấy mình trong thơ Phong Việt

Trên blog cá nhân của một fan thơ Nguyễn Phong Việt có dòng chia sẻ

như sau: “Tôi lại chẳng tìm nổi cảm xúc khi động chạm đến thơ Đúng, tôi vốn là

một đứa không hề thích thơ Cho đến khi tôi tình cờ đọc được bài thơ Cứ ngồi lặng im thế mà khóc của nhà thơ Nguyễn Phong Việt Thơ của anh là những lời thủ thỉ nhỏ nhẻ nhưng lại thấm đẫm những cảm xúc chân thật và gần gũi Từng dòng thơ đặc sắc luôn có một sức hút kì lạ đối với tôi Đọc thơ Nguyễn Phong Việt tôi luôn cảm thấy bình yên thanh thản và thân thuộc” Lời tâm sự của một cô

gái cũng là lời tâm tình của người hâm mộ thơ Nguyễn Phong Việt

Trang 40

Với nhà thơ Nguyễn Phong Việt, những điều mà anh viết trong thơ của mình, chắc chắn phần nào đó sẽ có tác dụng tích cực với những người đọc nó

thơ anh luôn mang thông điệp thái độ sống tích cực, anh từng viết: Có trưởng

thành nào không gom góp lại từ những phân vân/ hãy để tim mình sai khi còn có thể/ ước một lần đau cho đến tận cùng nghiệt ngã/ mình sẽ đứng lên dù xung quanh là sỏi đá/ vì những hạt giống cần nảy mầm (Chỉ là mình muốn được là

mình trong cuộc đời này) [79, tr.58] Tư tưởng lập thân trên mọi thử thách là một thông điệp giàu tính nhân văn, nó cần thiết cho thời đại này, nơi chứa đựng những tâm hồn dễ dàng chịu tổn thương hoặc tự phóng đại những chướng ngại Sống kiên cường và mạnh mẽ đâu phải là điều dễ dàng Có lúc Nguyễn Phong

Việt viết về sự dấn thân vào gió bụi: mình sẽ đi qua hết núi đồi/ để nhìn thấy

cuộc đời còn nhiều lắm những niềm vui/ Mình sẽ đi lúc biển động mà trái tim đập nhịp ngang tàng/ biết là đau nhưng cuộc đời thật ra cần khốn khó/ trưởng thành không phải cố gắng tìm bình yên, chỉ là khi đối đầu với sóng gió/ mình vẫn lặng lẽ/ giữ chặt niềm tin/ Mình sẽ đi lúc mình còn có cả một tuổi trẻ cần lấm láp bụi đường (Mình sẽ đi qua hết núi đồi) [81, tr.14] Phải, thứ mỗi con người

cần nhất đó là “lấm láp bụi đường”, trải nghiệm đời sống sẽ mang lại bài học nhân sinh mà không trường nào có thể đem tới Chỉ khi thực sự dấn thân trong gian khó, trong khổ đau ta mới thấy được sức mình đi được bao xa, những suy nghĩ, đối thoại của ta về chính mình và cuộc đời, qua đó trở nên sáng rõ, đó sẽ là những đánh giá chính xác hay sẽ chỉ là ảo tưởng của bản thân Hiện thực sẽ giúp trả lời câu hỏi ấy

Những năm đầu thế kỷ XXI khi người người, nhà nhà "sống chậm" vì nhận thức giá trị cuộc sống, vì covid…người ta bắt đầu tìm kiếm những giá trị mang tính tinh thần để được ủi an nhiều hơn, tác giả Nguyễn Phong Việt lại một lần nữa cho thấy nguồn năng lượng và sự sáng tạo miệt mài cùng khả năng truyền cảm hứng không ngừng nghỉ bất chấp mọi hoàn cảnh và thách thức mà hiếm tác giả nào có được

Đặc biệt hơn, cũng hiếm ai có những đề tài về những cảm xúc thiên về gam màu buồn của cuộc sống như chuyện cô đơn, chuyện biệt ly hay nỗi vướng bận, dằn vặt trong tâm hồn mà không sa lầy vào bi kịch như nhà thơ Nguyễn Phong Việt Trong những tác phẩm của mình, nhà thơ không ngại mà vạch ra những vết thương, những khuất lấp của con người nhưng cũng lại bằng những từ ngữ bình thản nhất Nguyễn Phong Việt lại mở lối cho chúng ta thoát khỏi những giai đoạn thấy mình đang lạc lối trong đời Chính khả năng tài tình đó, khiến cho mỗi cuốn sách của nhà thơ Nguyễn Phong Việt mỗi lần có thông tin phát hành đều được đông đảo độc giả đón nhận và háo hức chờ mong

Ngày đăng: 03/11/2023, 18:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Minh Anh,(2020), Nguyễn Phong Việt ra mắt tập thơ “không dùng để check in sống ảo”, nguồn: https://phunuvietnam.vn/nguyen-phong-viet-ra-mat-tap-tho-khong-dung-de-check-in-song-ao-2020121506595125.htm,truycậpngày 26/9/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phong Việt ra mắt tập thơ “không dùng để check in sống ảo”
Tác giả: Minh Anh
Nhà XB: Phụ Nữ Việt Nam
Năm: 2020
3. Tú Anh (2015), “Nguyễn Phong Việt và những mâu thuẫn thú vị”, tạp chí Văn nghệ VOV5, số 8, (nguồn: https://vovworld.vn/vi-VN/tap-chi-van-nghe/nguyen-phong-viet-va-nhung-mau-thuan-thu-vi-565643.vov), truy cập ngày 25/7/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phong Việt và những mâu thuẫn thú vị
Tác giả: Tú Anh
Nhà XB: tạp chí Văn nghệ VOV5
Năm: 2015
4. Vũ Tuấn Anh (1994), “Những vấn đề của văn học Việt Nam hiện đại qua ba cuộc hội thảo”, Tạp chí văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của văn học Việt Nam hiện đại qua ba cuộc hội thảo
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1994
5. Vũ Tuấn Anh, (2005), “Hướng tới một nền lý luận văn chương năng động, cởi mở, giàu tính khoa học và nhân văn”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, tr.3 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một nền lý luận văn chương năng động, cởi mở, giàu tính khoa học và nhân văn
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2005
6. Aristốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa- Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristốt
Nhà XB: NXB Văn hóa- Nghệ thuật
Năm: 1964
7. Hồ Thi Ca, (2008), “Văn mạng hay “văng mạng?”, Tham luận Hội thảo văn chương mạng và website vannghesongcuulong.org, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn mạng hay “văng mạng
Tác giả: Hồ Thi Ca
Năm: 2008
8. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
9. Hoa Chanh - Thành Đạt, “Nguyễn Phong Việt và chuyện làm thơ thời... thương mại”, báo Thể thao và Văn hóa, số 6/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phong Việt và chuyện làm thơ thời... thương mại
Tác giả: Hoa Chanh, Thành Đạt
Nhà XB: báo Thể thao và Văn hóa
Năm: 2018
10. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 - 2000, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975 - 2000
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
11. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
13. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
14. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
15. Thái Xuân Đệ, Lê Dân (2007), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Thái Xuân Đệ, Lê Dân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
16. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
17. Nguyễn Đăng Điệp, (2014), Thơ Việt Nam hiện đại - tiến trình và hiện tượng, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại - tiến trình và hiện tượng
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2014
18. Hà Minh Đức (1988), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1988
19. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20. Hà Minh Đức (Chủ biên) ( 1991), Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Nhà XB: NXB Sự thật
21. Hà Minh Đức (chủ biên) (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
22. Đinh Trí Dũng (2012), Văn học Việt Nam hiện đại, nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Đại học Vinh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2012

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w