Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học là ghi lại bài giảng mà chỉ dùng các từ ngữ then chốt và các hình ảnh sinh động, từ đó sẽ giúp cho người học dễ dàng ghi nhớ một cách chi
Trang 16
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ -○○○○ -
NGUYỄN ĐỨC YẾN NHI
TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “CƠ – NHIỆT” VẬT LÍ 8 NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, 2023
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 16990018043551000000
Trang 2II
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ -○○○○ -
NGUYỄN ĐỨC YẾN NHI
TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “CƠ – NHIỆT” VẬT LÍ 8 NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sư phạm Vật lí Khóa học: 2019 - 2023
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
Đà Nẵng, 2023
Trang 3I
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa, Quý Thầy Cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng và Quý Thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp để đề tài ngày một hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã hỗ trợ và động viên tôi trong suốt hành trình học tập cũng như hoàn thành khóa luận này Sự ủng hộ của họ đã là nguồn động lực và cảm hứng cho tôi
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2023
Tác giả
Nguyễn Đức Yến Nhi
Trang 4II
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 5III
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT II DANH MỤC BẢNG BIỂU VI DANH MỤC HÌNH ẢNH VII
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
a Đối tượng nghiên cứu 3
b Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 4
b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
c Nhóm phương pháp, công cụ đánh giá và thống kê toán học 4
7 Cấu trúc của khóa luận 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BĐTD 5
1.1 Dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh 5
1.1.1.Khái niệm năng lực 5
1.1.2.Năng lực tự học 6
1.1.3.Các biện pháp để hình thành, phát triển năng lực tự học của học sinh 14
1.1.4.Các kĩ năng tự học cần rèn luyện của học sinh 15
1.1.5.Vai trò của tự học trong hoạt động học 17
1.2 Bản đồ tư duy 17
1.2.1.Khái niệm BĐTD 18
1.2.2.Qui tắc thiết kế BĐTD trong việc dạy học 18
1.2.3.Quy trình sử dụng BĐTD trong học tập 19
1.2.4.Ưu điểm của BĐTD trong việc học 19
1.2.5.Một số cách sử dụng hiệu quả BĐTD giúp nâng cao chất lượng dạy học 20
1.2.6.Một số lưu ý khi sử dụng BĐTD trong dạy học 21
1.3 Bồi dưỡng NLTH của HS trong dạy học Vật lí với sự hỗ trợ BĐTD [16] 22
1.3.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng NLTH của HS 22
1.3.2.Vai trò của BĐTD trong bồi dưỡng NLTH của HS 23
Trang 6IV
1.3.3.Mối quan hệ giữa việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh với việc dạy học Vật lí có
sự hỗ trợ bản đồ tư duy 24
1.4 Thực trạng của việc tổ chức dạy học Vật lí nhằm bồi dưỡng NLTH của HS với sự hỗ trợ của BĐTD ở các trường THCS trên địa bàn TP Đà Nẵng 25
1.4.1.Mục tiêu điều tra 25
1.4.2.Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
1.4.3.Kết quả điều tra 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “CƠ – NHIỆT” VẬT LÍ 8 NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BĐTD 35
2.1 Đặc điểm, vị trí, nội dung của phần “Cơ – Nhiệt” trong chương trình Vật lí 8 cơ sở 35
2.1.1.Đặc điểm của phần “Cơ – Nhiệt” 35
2.1.2.Vị trí của phần “Cơ – Nhiệt” trong chương trình Vật lí cơ sở 36
2.1.3.Sơ đồ cấu trúc logic phần “Cơ – Nhiệt” 36
2.1.4.Mục tiêu dạy học của phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 38
2.2 Thiết kế tiến trình dạy học phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 nhằm bồi dưỡng NLTH HS với sự hỗ trợ của BĐTD 42
2.3 Một số giáo án giảng dạy phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 nhằm bồi dưỡng NLTH của HS với sự hỗ trợ của BĐTD 42
2.3.1.Bài 15: Công Suất 42
2.3.2.Bài 19 + 20: Chủ đề: Cấu Tạo Chất 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm 68
3.1.2.Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 68
3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 68
3.2.1.Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 68
3.2.2.Lí do chọn nội dung thực nghiệm phần Nhiệt Học: 68
3.2.3.Nội dung thực nghiệm sư phạm 68
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 69
3.3.1.Chọn mẫu thực nghiệm 69
3.3.2.Phương pháp tiến hành 69
3.4 Kết quả thực nghiệp sư phạm 70
3.4.1.Đánh giá định tính 70
3.4.2.Đánh giá định lượng 71
Trang 7V
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
1 Kết luận: 100
2 Kiến nghị: 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 1 PL.1 PHỤ LỤC 2 PL.2 PHỤ LỤC 3 PL.4 PHỤ LỤC 4 PL.6 PHỤ LỤC 5 PL.9 PHỤ LỤC 6 PL.19 PHỤ LỤC 7 PL.27 PHỤ LỤC 8 PL.38 PHỤ LỤC 9 PL.40 PHỤ LỤC 10 PL.43 PHỤ LỤC 11 PL.46 PHỤ LỤC 12 PL.48 PHỤ LỤC 13 PL.51 PHỤ LỤC 14 PL.52
Trang 8VI
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng các năng lực thành tố của NLTH 9
Bảng 1.2 Bảng cấu trúc năng lực tự học của HS 10
Bảng 3.1 Số lượng, lớp đối chứng và thực nghiệm 69
Bảng 3.2 Số lượng và đối tượng mẫu được chọn 69
Bảng 3.3 Kết quả thu được về NL TH của HS trong bài 1 71
Bảng 3.4 Bảng nhận xét cho điểm từng HS trong bài 1 72
Bảng 3.5 Kết quả thu được về NLTH của HS trong bài 2 82
Bảng 3.6 Bảng nhận xét cho điểm từng HS trong bài 2 83
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS H.H.H 90
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS T.D.K 91
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS N.M.K 91
Bảng 3.10 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS T.L.T.T 92
Bảng 3.11 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS P.T.Q 92
Bảng 3.12 Bảng tổng hợp điểm số các hành vi thông qua 2 bài học của HS P.S.L 93
Bảng 3.13 Bảng tổng hợp ĐTB hành vi thông qua các bài tập của nhóm HS giỏi 94
Bảng 3.14 Bảng tổng hợp ĐTB hành vi thông qua các bài tập của nhóm HS khá 95
Bảng 3.15 Bảng tổng hợp ĐTB hành vi thông qua các bài tập của nhóm HS TB, yếu 96
Bảng 3.16 Bảng kết quả tổng hợp bài kiểm tra 1 tiết 96
Bảng 3.17 Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra 1 tiết 97
Trang 9VII
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 1 Biểu đồ thể hiện quan điểm tự học 26
Hình 1 2 Biểu đồ thể hiện ý nghĩa của tự học 27
Hình 1 3 Biểu đồ thể hiện tần suất tự học 27
Hình 1 4 Biểu đồ đánh giá lý do tự học 27
Hình 1 5 Biểu đồ đánh giá các phương pháp thường dùng để tự học 28
Hình 1 6 Biểu đồ thể hiện tần suất sử dụng BĐTD trong học tập 28
Hình 1 7 Biểu đồ đánh giá những điều kiện để có kết quả TH Vật lí tốt 28
Hình 1 8 Biểu đồ thể hiện những khó khăn khi tự học Vật lí 29
Hình 1 9 Biểu đồ đánh giá cách ghi chép trong giờ học 29
Hình 1 10 Biểu đồ đánh giá cách tóm tắt bài học thành bản đồ ngắn gọn trong quá trình học Vật lí 29
Hình 1 11 Biểu đồ thể hiện nội dung TH 30
Hình 1 12 Biểu đồ đánh giá mức độ TH của HS 30
Hình 1 13 Biểu đồ đánh giá mức độ cần thiết trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS 31
Hình 1 14 Biểu đồ đánh giá các hình thức trong dạy học Vật lí để kiểm tra việc TH cho HS 31
Hình 1 15 Biểu đồ đánh giá mức độ sử dụng các phương tiện hỗ trợ trong quá trình bồi dưỡng NLTH cho HS trong DH vật lí 31
Hình 1 16 Biểu đồ thể hiện mức độ cần thiết của BĐTD trong dạy học Vật lí 32
Hình 1 17 Biểu đồ đánh giá sự khó khăn khi sử dụng BĐTD trong dạy học 32
Hình 1 18 Biểu đồ thể hiện sự khó khăn gặp phải khi HS TH 32
Hình 3 1 Không gian buổi thực nghiệm 71
Hình 3 2 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS H.H.H 90
Hình 3 3 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS T.D.K 91
Hình 3 4 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS N.M.K 92
Hình 3 5 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS T.L.T.T 92
Hình 3 6 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS P.T.Q 93
Hình 3 7 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của HS P.S.L 94
Hình 3 8 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của nhóm HS giỏi 95
Hình 3 9 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NL TH của nhóm HS khá 95
Hình 3 10 Biểu đồ mô tả mức độ phát triển NLTH của nhóm HS TB, yếu 96
Trang 10VIII
Hình 3 11 Đồ thị mô tả phân phối tần suất bài kiểm tra 1 tiết 97
Trang 11“Giáo dục là vũ khí mạnh nhất nó có thể thay đổi cả thế giới này” – câu nói nổi tiếng
của cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đã khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của việc học tập Chính vì lẽ đó, việc học, việc giáo dục là vấn đề được coi trọng hàng đầu trong xã hội Ngành Giáo dục – Đào tạo phải phát triển mạnh và năng động, đòi hỏi phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt Trong đó, đặc biệt chú trọng
đến đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện dạy học
Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất, đồng thời cũng là nhà giáo dục lớn Người đã đặt nền móng cho nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục toàn dân, toàn diện, khoa học và hiện đại Bên cạnh đó, chúng ta còn biết đến Người với tấm gương tự học, tự nghiên cứu suốt đời không mệt mỏi Người đã để lại cho chúng ta tư
tưởng lớn về tự học, mà Người thường gọi là “tự động học tập” (trích Tự học - một tư
tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên noi theo - website trường chính trị Quảng Ngãi)
Bác đã định nghĩa “tự học” rất ngắn gọn và súc tích nhưng đầy ý nghĩa: Tự học là “tự động học tập” “Tự động học tập” là việc học tập do chính bản thân người học quyết định,
tự giác, tự chủ không cần sự nhắc nhở, tự mình nhận thấy nhu cầu của bản thân để rồi từ đó tiến hành việc tự học Như vậy, theo Hồ Chí Minh, tự học là tự mình quản lý việc học tập, lĩnh hội tri thức của bản thân Người học tự vạch ra kế hoạch học tập cho chính mình, kiên trì và nhẫn nại thực hiện kế hoạch đó một cách bài bản, sau đó người học tự kiểm tra đánh giá kết quả đã đạt được, rút kinh nghiệm cho bản thân mình
Do đó để tiếp nối lời dạy của Bác, trong thời gian qua Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết để nhằm khuyến khích tinh thần tự học, tự nghiên cứu của mỗi cá nhân, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII nêu rõ, cần phát huy mạnh
mẽ tinh thần tự học, bảo đảm thời gian tự học, tự nghiên cứu cho mọi người, và đặt ra một
yêu cầu: “Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong
toàn dân nhất là trong thanh niên” Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013, được
thông qua tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
Trang 122
đào tạo, đề cao nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Cũng nói về vấn đề tự học trong giáo dục, Nghị quyết trung ương Đảng kì họp thứ 8,
Quốc hội khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam đã nêu: “Tiếp tục đổi
mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực; chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực” [20]
Trong thời đại hiện nay, nguồn tài liệu học tập là vô cùng, vô tận; sách, báo, tạp chí,… rất phong phú và đa dạng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, chúng
ta đang được tiếp cận với nguồn kiến thức rộng lớn Mà ta phải thường xuyên ghi nhớ, tổng hợp hay phân tích thông tin bằng cách ghi chép thông thường rất khó để nhìn được tổng quan của cả vấn đề
Thông qua một số nghiên cứu cho thấy HS chưa biết cách học, cách ghi nhớ mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt một cách máy móc Các em thuộc rồi lại quên đi một cách nhanh chóng, không nắm rõ được các nội dung trọng tâm của bài học và không thể liên kết được các kiến thức liên quan với nhau
Trong công tác giáo dục, GV cần phải hướng HS đến một phương pháp học tập tích cực
và tự chủ để có thể lĩnh hội kiến thức một cách nhanh chóng và dễ dàng Vì vậy, với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy – được mệnh danh là “công cụ vạn năng cho bộ não”, các “biển thông tin” sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng và rõ ràng
Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học là ghi lại bài giảng mà chỉ dùng các
từ ngữ then chốt và các hình ảnh sinh động, từ đó sẽ giúp cho người học dễ dàng ghi nhớ một cách chi tiết và có hiệu quả cao trong việc ôn tập
Chúng tôi nhận thấy rằng việc bồi dưỡng năng lực tự học ở mỗi học sinh với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy là hết sức quan trọng và cần thiết Phương pháp này sẽ góp phần phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng tự ghi nhớ kiến thức một cách chặt chẽ Từ đó phát triển kỹ năng tự học cho HS, mang lại nền tảng kiến thức vững chắc, những kết quả học tập tốt, hoàn toàn trái ngược hẳn với lối học thụ động
Bộ môn Vật lí là một môn khoa học gắn liền với các thực nghiệm, kiến thức được áp dụng nhiều trong thực tế, vì vậy vận dụng phương pháp dạy – tự học với sự hỗ trợ của bản
đồ tư duy là rất phù hợp Bên cạnh đó phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 có nhiều các kiến thức liên quan đến thực tế và ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày
Trang 133
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Tổ chức dạy học phần “Cơ –
Nhiệt” Vật lí 8 nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của bản đồ
tư duy Mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho học
sinh
2 Mục tiêu của đề tài
Thiết kế tiến trình và tổ chức dạy học phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 với sự hỗ trợ của bản
đồ tư duy nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
3 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được tiến trình dạy học phần “Cơ – Nhiệt” và vận dụng vào quá trình dạy học Vật lí 8 thì sẽ bồi dưỡng được NLTH và nâng cao kết quả học tập của học sinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu tổng quan, cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học
- Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của dạy học
- Lí luận về dạy học bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Nhiệm vụ 2: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức của ch phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8
- Đặc điểm của phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8
- Vị trí của phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 trong chương trình Vật lí
- Nội dung dạy học của phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8
- Thiết kế các tiến trình dạy học phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
Nhiệm vụ 3: Tổ chức thực nghiệm và đánh giá các tiến trình dạy học đã thiết kế
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các tiến trình dạy học ch phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 đã đề xuất
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học môn Vật lí ở bậc THCS, đặc biệt là quá trình dạy học phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
- Hệ thống kiến thức và các kỹ năng cần đạt được khi đã học qua phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8
b Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
ở trường THCS
Trang 144
- Giới hạn về thời gian từ tháng 2 đến tháng 4/2023
- Giới hạn về không gian tại trường THCS Tây Sơn
6 Phương pháp nghiên cứu
a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu lý luận về tự học, bồi dưỡng NLTH
Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa Vật lí 8 và các tài liệu tham khảo nội dung kiến thức phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8
Nghiên cứu các Yêu cầu cần đạt Vật lí 8
b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra
- Sử dụng phiếu hỏi để khảo sát thực trạng tự học của HS nói chung và tự học môn Vật
lí của HS nói riêng với 2 mẫu phiếu dành cho GV giảng dạy môn Vật lí và HS THCS;
- Sử dụng phiếu hỏi để khảo sát ý kiến HS sau quá trình TNSP;
- Xin ý kiến chuyên gia…;
- Lấy ý kiến GV và HS trong quá trình khảo sát thực trạng và sau khi tiến hành thực nghiệm để lấy thông tin bổ sung, làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu
Tiến hành TNSP ở các trường THCS có đối chứng để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của tiến trình tổ chức DH Từ đó, đánh giá một cách khách quan về tiến trình, biện pháp, khung NLTH đã xây dựng
c Nhóm phương pháp, công cụ đánh giá và thống kê toán học
Sử dụng Rubric và đánh giá hồ sơ học tập để đánh giá NLTH của HS và thống kê toán học để xử lý số liệu thu thập được nhằm phân tích, xử lý kết quả TNSP nhằm khẳng định tính khả thi của đề tài khóa luận
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc khóa luận còn gồm
có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học Vật lí nhằm bồi dưỡng năng
lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của BĐTD
Chương 2 Xây dựng tiến trình dạy học phần “Cơ – Nhiệt” Vật lí 8 nhằm bồi dưỡng năng
lực tự học của học sinh
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 155
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH VỚI
SỰ HỖ TRỢ CỦA BĐTD
1.1 Dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh
1.1.1 Khái niệm năng lực
Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe nhiều đến năng lực trong các lĩnh vực như
công việc, học tập, lãnh đạo… Vậy năng lực thực chất là gì?
Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [9]
Theo quan điểm của Triết học thì “Năng lực của con người là sản phẩm của sự phát
triển xã hội, năng lực không những do hoạt động của não bộ quyết định mà trước hết là
do trình độ phát triển của lịch sử mà loài người đã đạt được” [17]
Năng lực trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018:
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các tố chất và quá
trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng
và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện cụ thể
CT GDPT 2018 đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các năng lực cốt
lõi gồm các năng lực chung và các năng lực đặc thù Năng lực chung là những năng lực
cơ bản, thiết yếu, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển trên
cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho hoạt động chuyên biệt,
đáp ứng yêu cầu của một hoạt động như toán học, âm nhạc, mĩ thuật, thể thao
a) Các năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua các môn học và HĐGD:
NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo;
b) Các năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học
và HĐGD nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ và NL thể chất [3]
Năng lực là tập hợp toàn bộ các kỹ năng, khả năng, kiến thức, hành vi của một người trong một việc cụ thể nào đó, đây cũng là một trong các yếu tố, điều kiện cơ bản và cần thiết để cá nhân có thể đạt được những kết quả thành công hơn so với người khác
Năng lực không phải là thứ có sẵn hiển nhiên mà nó được hình thành thông qua cả một
Trang 16là sự thay đổi cách thức và phương pháp dạy học mà còn là sự thay đổi hình thái dạy học
để theo kịp và đáp ứng được đòi hỏi của thời đại, và thực tế xã hội
Cũng như các năng lực khác, để hình thành và phát triển năng lực tự học đòi hỏi người học phải có kiến thức tự học, kĩ năng tự học và các giá trị (kiên trì, chăm chỉ, siêng năng, hứng thú,…) Việc bồi dưỡng năng lực tự học là bồi dưỡng cho HS những kiến thức TH,
kĩ năng TH và các giá trị (kiên trì TH, chăm chỉ TH, siêng năng TH, hứng thú TH,…)
Theo Từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học
và rèn luyện kĩ năng thực hành,…” Trong quá trình tự học, người học cần biết lựa chọn
tài liệu, tìm ra những điểm chính, quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, biết cách ghi chép những điều cần thiết, viết tóm tắt và làm đề cương, tra cứu từ điển và sách tham khảo, làm việc trong thư viện,… Hoạt động tự học đòi hỏi người học cần có tính độc lập,
tự chủ, tự giác và kiên trì cao [6]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biết lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [18]
Theo Lê Khánh Bằng (1998): “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ,
các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [1]
Theo Nguyễn Kỳ: “Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng
hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học
Trang 177
mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu,
xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập
xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp ”
[8]
Tác giả N A Rubakin cho rằng TH là một hoạt động nhận thức độc lập của cá nhân để
tự mình lấy tri thức Ông cho rằng TH là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể [13]
Qua những quan điểm TH của một số tác giả trong và ngoài nước đã được nêu ra ở trên,
theo tôi: Tự học là tự tìm hiểu, tìm tòi, tư duy, nghiên cứu các kiến thức cần thiết trong suốt
quá trình học tập để có thể chiếm lĩnh các tri thức khoa học, những kĩ năng, những kinh nghiệm, thông qua đó để hoàn thiện bản thân người học Người tự học phải tự phân chia
bố trí thời gian học, tự tìm tòi tài liệu, phân tích đánh giá, tự quyết định khối lượng kiến thức tiếp thu trong mỗi buổi học sao cho hiệu quả nhất Tự học có thể diễn ra ngay cả trên lớp hay ngoài lớp hoặc không cần tuân theo chương trình và sách giáo khoa có sẵn Đây
là một hoạt động mang tính tích cực, tự giác và chủ động cao nhằm đạt được mục tiêu học tập của người học
Người học có phương pháp tự học tốt sẽ gặt hái được những thành tích cao trong học học tập Khi biết cách tự học, học sinh sẽ có ý thức, hứng thú và xây dựng thời gian tự học,
tự nghiên cứu sách, tài liệu, gắn lí thuyết đi đôi với thực hành, phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
1.1.2.2 Khái niệm năng lực tự học
Để có thể đạt được những mong muốn của bản thân, những thành công trong tương lai, luôn hướng tới một xã hội học tập suốt đời thì NLTH được xem là chìa khóa để giúp ta mở
ra cách ấy
Năng lực tự học là khả năng người học thực hiện các hoạt động tự học Năng lực tự học
là năng lực rất quan trọng và cần thiết, có thể nói đây là “chìa khóa vàng” để mở ra “cánh cửa” bước vào thể kỉ XXI - thế kỉ học tập suốt đời, xã hội học tập
Định nghĩa về năng lực tự học của Malcolm Shepherd Knowles là: “Năng lực tự học là
một quá trình mà người học có khả năng tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, giúp ích, hỗ trợ cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”
Trang 188
[14]
Theo V A Cruchetxki “năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng vì TH là chìa
khóa tiếp nhận tri thức với quan niệm của thời đại là học suốt đời Có NLTH mới có thể
TH suốt đời NLTH bao gồm tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo” [19]
Theo Lê Hiển Dương “NLTH là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến
thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [5]
Theo Trịnh Quốc Lập “NLTH được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động
cơ học tập của mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của mình, có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác” [10]
Người học có NLTH mới có thể học cả đời Vì vậy, một trong những kĩ năng cơ bản của học sinh là phương pháp học tập Năng lực tự học là khả năng tự tìm tòi, nhận thức và áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn trong đời sống Để xây dựng, phát huy, rèn luyện NLTH cho HS, GV phải tận tình hướng dẫn và tạo ra điều kiện thuận tiện nhất cho các em học tập, phát triển năng lực sáng tạo, tư duy, linh động
Từ các khái niệm trên, NLTH có thể được hiểu là khả năng người học tự tìm tòi, thu
thập, xử lí thông tin một cách tự giác, chủ động; tự đặt ra những mục tiêu học tập để từ đó
có sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; biết sửa lỗi sai và những hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ khi gặp khó khăn, trở ngại trong học tập
1.1.2.3 Cấu trúc năng lực tự học.
Trong các tư liệu về TH, việc phân tích cấu trúc của NLTH chưa được đề cập chi tiết,
do đó đây là vấn đề còn mang tính mở, cần được nghiên cứu Căn cứ vào yêu cầu cần đạt
về NL của HS theo chương trình giáo dục phổ thông, tôi xem NLTH có những NL thành
tố với các biểu hiện hành vi tương ứng sau:
Xác định động cơ, mục đích học tập được ký hiệu là (X)
Đối với NL thành tố này, HS phải xác định được các kiến thức, kĩ năng cần đạt và kiến thức, kĩ năng đã biết có liên quan, từ đó tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn
Có động cơ học tập tốt khiến cho HS tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, TH do niềm yêu thích của bản thân, để có thể TH lâu dài và bền vững Có mục tiêu học tập sẽ quyết định cách thức chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng cho mình, phù hợp với trình
độ tiếp thu, với tài liệu để duy trì động lực TH như: TH cá nhân, đôi bạn học tập, học nhóm, học với tài liệu, học với bài giảng đa phương tiện, máy tính từ đó tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn, đồng thời đề xuất được các vấn đề trong học tập một cách khoa
Trang 199
học, phù hợp với kiến thức
Lập kế hoạch tự học được ký hiệu là (L)
HS phải biết cách lập kế hoạch học tập khoa học vừa sức và khả thi, hình thành được cách học riêng của bản thân Lên danh mục các nội dung cần TH, khối lượng và yêu cầu cần đạt được, sử dụng các phương pháp nhận thức phổ biến trong học tập, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung
và hoạt động Khi lập kế hoạch, cần bao gồm cả các phương án phụ, dự kiến khắc phục các trở ngại đột xuất về thời gian, ngoại cảnh, yêu cầu chung
Thực hiện kế hoạch tự học được ký hiệu là (T)
HS thể hiện khả năng tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với việc học qua Internet và các nguồn tài liệu khác, với việc lựa chọn phương tiện và công cụ
hỗ trợ thích hợp phù hợp mục đích và nhiệm vụ học tập khác nhau của HS Lựa chọn được hình thức ghi chép thông tin phù hợp thông qua HsHT điện tử hoặc qua vở ghi chép, qua
đó giúp tri thức được lưu lại, thường xuyên được bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân
Đánh giá điều chỉnh hoạt động tự học được ký hiệu là (Đ)
DH đề cao vai trò chủ động của HS đòi hỏi phải tạo điều kiện, tạo cơ hội để kích thích
HS đánh giá và tự đánh giá giúp HS có thể nhìn nhận, xem xét NLTH của mình, qua đó
HS phát triển khả năng đánh giá hoạt động TH, tự nhận biết mức độ tiếp thu của mình, biết được điểm mạnh, yếu của bản thân giúp HS có thể học tập tốt hơn và vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn đồng thời điều chỉnh phương pháp TH thích hợp như: Tự trắc nghiệm bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan; Tự luận hoặc tự so sánh kết quả học tập của mình với kết quả đúng được GV xác nhận [15]
Trang 2010
1.1.2.4 Khung năng lực tự học của HS
Theo tác giả Đồ Hương Trà- Phát triển năng lực môn Vật Lí THPT có thể đưa ra bảng cấu trúc năng lực tự học như sau: [21]
Bảng 1.2 Bảng cấu trúc năng lực tự học của HS
M1: Trình bày được kiến thức, kĩ năng cần học do
TH, khối lượng và yêu cầu cần đạt được, sử dụng các phương pháp nhận thức phổ biến trong học tập, các phương án phụ, dự kiến khắc phục các trở ngại đột xuất
về thời gian, ngoại cảnh, yêu cầu chung
Trang 2111
thức có liên quan
M2: Tự xác định hầu hết kiến thức kĩ năng liên
M1: Trình bày được một số phong cách học tập 1 M2: Trình bày được một số thao tác học tập của
M3: Chỉ ra được các thao tác học tập phù hợp với
L2 Lựa chọn phương pháp học tập
M1: Nêu được tên các phương pháp học tập 1 M2: Nêu được cách thức thực hiện các phương
M3: Xác định được phương pháp học tập phù hợp
L3 Lập thời gian biểu tự học
Ml: Xây dựng thời gian biểu học tập sơ sài, thời
M2: Thời gian biểu học tập chi tiết, có thời gian
M3: Thời gian biểu học tập chi tiết, khoa học, cụ
Ml: - Liệt kê các tài liệu tham khảo có liên quan đến bài học
- Tóm tắt được thông tin trong tài liệu thu nhận được
- Vận dụng các thông tin thu được dưới sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên
Trang 2212
M3: - Liệt kê và lựa chọn được nguồn tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, đáng tin cậy, có giá trị
- Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới dạng bản
đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin
- Tự lực vận dụng các thông tin thu được để giải quyết vấn đề một cách chính xác
3
T2 Làm việc với người hỗ trợ
M1: Đợi giáo viên hướng dẫn, giới thiệu người hỗ
Ml: Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc học
M2: Tự sử dụng một vài phương tiện phục vụ việc
M3: Tự sử dụng các phương tiện (thiết bị, sách,
CD, DVD, học liệu E-learning ) phục vụ việc học 3
Ml: Thực hiện được hết các bài kiểm tra do giáo viên giao cho và tự đối chiếu kết quả 1 M2: Tự làm bài kiểm tra, so sánh với đáp án và
M3: Biết lựa chọn công cụ đánh giá và tự đánh giá phù hợp với mục tiêu học tập để tự xác định được trình độ của bản thân
3
Đ2 Đánh giá Ml: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong
Trang 2313
điều chỉnh kế hoạch học tập M2: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong
quá trình tự học và đề xuất được cách điều chỉnh 2
M3: Tự nhận ra những khâu tốt và chưa tốt trong quá trình tự học và có hành động điều chỉnh kịp thời
3
1.1.2.5 Các hình thức tự học
Có nhiều hình thức khác nhau để người học có thể TH Tuy nhiên, dù là hình thức nào
đi chăng nữa thì để có thể TH tốt, mỗi người học cũng cần phải biết chủ động tạo ra một quá trình học tập của riêng mình sao cho phù hợp với khả năng, hoàn cảnh, điều kiện, của bản thân Để có thể TH tốt, mỗi HS cũng cần phải đáp ứng được những điều sau:
- Nắm vững những yêu cầu cần đạt đặc thù của môn học, nắm vững mục tiêu, nhiệm cụ học tập, phải có tinh thần tự chủ; từ đó xác định động cơ học tập cho chính xác
- Chủ động trao đổi kiến thức với GV
- Chủ động lựa chọn các phương pháp, phương tiện, hình thức TH sao cho phát huy được tốt nhất ưu điểm của từng phương pháp, phương tiện, hình thức và năng lực của bản thân
- Vận dụng các hình thức TH một cách linh động, chủ động, học mọi lúc mọi nơi
Có các hình thức TH khác nhau:
Dựa vào sự chỉ đạo của người dạy đối với người học
TH của HS theo hình thức này liên quan trực tiếp đến yêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, phương pháp TH để người học thực hiện Hình thức này đem lại một số kết quả nhất định, HS trao đổi ngay với GV nếu có vấn đề chưa hiểu Tuy nhiên, nếu HS chưa được trang bị về phương pháp TH thì việc học sẽ gặp khó khăn khi tiến hành TH
- TH diễn ra dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của người thầy;
- TH có sự hướng dẫn của người thầy nhưng không giáp mặt;
- TH độc lập không có sự hướng dẫn của thầy
Dựa vào không gian tiến hành tự học
- TH trên lớp: HS thu nhận kiến thức thông qua nghe giảng, ghi chép và làm bài tập; đồng thời trao đổi thông tin trực tiếp với GV và bạn trong lớp học
- TH ngoài lớp: Với hình thức này, HS chủ động trong việc tìm kiếm nguồn tri thức, chủ động sắp xếp thời gian học và trao đổi thông tin cần thiết với người dạy thông qua nhiều
Trang 2414
kênh tương tác
Dựa vào các phương tiện hỗ trợ tự học: TH với sự hỗ trợ của máy tính và các phần
mềm; TH qua tài liệu hướng dẫn
- TH qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được học qua máy tính, truyền hình… Việc trao đổi thông tin của thầy và trò một cách gián tiếp
- TH qua tài liệu hướng dẫn: Trong quá trình TH ở hình thức này, thông qua tài liệu hướng dẫn, người học chủ động, tự giác, huy động mọi trí tuệ để hoàn thành những yêu cầu đã được đưa ra
Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên chúng tôi nhận thấy rằng mỗi hình thức
TH có những ưu nhược điểm nhất định Để phát huy những ưu điểm của các hình thức
TH này, cần phối hợp các hình thức DH lại với nhau một cách linh hoạt để người học
có thể TH một chủ động và phù hợp nhất có thể [15]
1.1.3 Các biện pháp để hình thành, phát triển năng lực tự học của học sinh
Thứ nhất, để HS có tinh thần tự giác tự học thì trước hết HS phải có hứng thú với môn
học đó Vì vậy GV nên tạo cho HS sự tò mò, say mê, yêu thích môn học GV có thể giới thiệu về môn học, về những giá trị, ứng dụng của môn học trong đời sống thực tiễn bằng các mẩu chuyện nhỏ, các minh họa cụ thể nhằm kích thích khả năng khám phá, tìm tòi trong mỗi HS Ví dụ ở môn Vật lí, GV có thể làm được điều này thông qua cách đặt vấn
đề bằng những câu chuyện hay đơn giản chỉ là những câu hỏi thú vị như: “Tại sao lại có câu ca dao nước chảy đá mòn?” Đây chính là điểm hấp dẫn, thú vị gây ra sự hứng thú của
HS đối với môn học
Thứ hai, có sự phối hợp thống nhất, chặt chẽ giữa PPDH của GV và phương pháp tự
học của HS Đối với HS, hoạt động tự học chủ yếu thông qua sự hướng dẫn của GV Do vậy, GV cần xây dựng, phát huy tích cực động cơ tự học cho HS, vì quá trình tự học được bắt nguồn từ động cơ bên trong, từ chính năng lực và nhu cầu của người học Đổi mới PPDH cần tập trung vào dạy cách học, phương pháp học tập và cả phương pháp tự học
GV cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo ra một môi trường học tập phong phú, khuyến khích HS tự tìm tòi, tự khám phá kiến thức thông qua các PPDHTC, chẳng hạn như: dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy học nêu vấn đề,…
Thứ ba, GV cần hướng dẫn HS thực hiện kế hoạch học tập với các yêu cầu sau:
- Thực hiện kế hoạch học tập một cách rõ ràng cụ thể và khoa học, sử dụng một cách hợp lí quỹ thời gian học tập của cá nhân;
- Có phương pháp tự học khoa học và logic, có kế hoạch và thời gian biểu tự học phù hợp với điều kiện của bản thân
Trang 2515
Nếu HS xây dựng được kế hoạch học tập đúng đắn, khoa học sẽ giúp các em có mục tiêu cụ thể để thực hiện kế hoạch học tập từ đó có thể đạt được những thành tích cao nhưng mong đợi
Thứ tư, trong quá trình dạy học, GV không chỉ cung cấp kiến thức cho HS mà còn trang
bị cho các em ý thức tự giác học tập, có phương pháp tự học, tự củng cố, phát triển kiến thức trước và sau giờ học, hình thành một số kĩ năng tự học như: kĩ năng thu thập tài liệu,
kĩ năng đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,… Nếu HS không có phương pháp tự đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp nhận tri thức
Thứ năm, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo Để phát huy tối đa
năng lực tự học và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như vậy, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo Sau khi đã tiếp nhận được kiến thức cũ, các em có thể tìm hiểu kiến thức mới Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có dễ dàng, hiệu quả hơn rất nhiều
Vấn đề tự học ở HS là một vấn đề hết sức khó khăn và nan giải Muốn hoạt động học tập đạt thành tích cao, đòi hỏi người học phải tự giác, tích cực, không ngừng tìm tòi học hỏi trong tài liệu, sách, báo,… mà còn học hỏi những kiến thức mới lạ ở ngoài đời sống
Và hơn hết, GV cần phải xây dựng, rèn luyện cho các em HS khả năng tự học mọi lúc mọi nơi: học trong giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp Sự định hướng, giảng dạy của người thầy đóng vai trò quyết định sự thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học
1.1.4 Các kĩ năng tự học cần rèn luyện của học sinh
Để có thể rèn luyện được NLTH thì cần phải có những kĩ năng thiết yếu, từ đó giúp học sinh ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành công trong quá trình TH Có thể kể đến một số nhóm kĩ năng sau:
1.1.4.1 Kĩ năng lên kế hoạch và đặt ra mục tiêu cho bản thân:
Để có thể làm bất cứ việc gì dù là lớn hay nhỏ ta cũng cần phải có kế hoạch và mục tiêu
rõ ràng Kể cả việc học cũng vậy, HS phải lên cho mình một kế hoạch học tập thật khoa học và logic, xác định rõ được khối kiến thức mà bản thân cần phải tiếp thu, tiếp theo đó phân bố thời gian cho từng môn học một cách cụ thể và hợp lý để từ đó HS có thể tiết kiệm thời gian cho những việc khác
Khi đã có kế hoạch cho bản thân thì HS phải đặt ra mục tiêu Bởi vì mục tiêu chính là động lực to lớn thúc đẩy việc học tập cho HS Khi đó HS sẽ chủ động học và tự học để có thể hoàn thành mục tiêu mà mình đã đặt ra
Trang 2616
1.1.4.2 Kĩ năng nghe giảng và ghi chép:
Mỗi ngày đến trường, HS có rất nhiều môn học cần phải tiếp thu kiến thức Chính vì vậy để có thể nghe giảng bài một cách hiệu quả nhất thì các em HS cần phải đọc, chuẩn bị trước nội dung bài học để định hình kiến thức Khi nghe giảng, HS cần phải nghiêm túc, tập trung vào bài dạy của GV để có thể lĩnh hội được nội dung chính của bài học Khi có chỗ chưa hiểu rõ vấn đề, cần hỏi lại GV chứ không nên vội vã kết luận vấn đề khi chưa hiểu rõ về nó
Ghi chép là một việc rất quan trọng và cần thiết trong quá trình nghe giảng và học tập
HS nên ghi chép nhũng nội dung chính đã được GV hướng dẫn, đồng thời phải phân tích chọn lọc thông tin để ghi chép chứ không phải thấy bất kì nội dung gì cũng chép vào tài liệu học tập tránh làm mất thời gian của bản thân
1.1.4.3 Kĩ năng tìm kiếm tài liệu:
Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ 4.0 Vậy nên HS không nên tiếp thu kiến thức từ một nguồn mà cần phải linh hoạt để tìm kiếm tài liệu từ các nguồn khác nhau như: sách, báo online, các trang thông tin điện tử, các trang mạng xã hội,… để có thể hiểu sâu hơn một vấn đề nào đó Tuy nhiên không phải HS nào cũng có kĩ năng tìm kiếm tài liệu nhanh chóng và chính xác, vì thế các em HS cũng nên cần rèn luyện cho mình kỹ năng tìm kiếm tài liệu để có thể giúp ích cho việc học và bổ sung cho bản thân những kiến thức hay ho, bổ ích
1.1.4.4 Kĩ năng chọn lọc thông tin, kiến thức:
Hằng ngày, HS sẽ tiếp nhận rất nhiều thông tin, kiến thức khác nhau từ thầy cô giáo, sách vở, các loại tài liệu tham khảo,… Nếu không có kỹ năng chọn lọc thông tin, kiến thức
HS sẽ bị nhấn chìm trong một rừng kiến thức khác nhau Chính vì điều đó, các em HS nên luyện tập cách chọn lọc những thông tin, kiến thức quan trọng, cần thiết cho bản thân Đừng cố nhớ quá nhiều thứ hỗn độn trong đầu, điều đó sẽ khiến cho bản thân cảm thấy việc học thật sự rất đáng sợ và tồi tệ hơn
1.1.4.5 Kĩ năng ôn tập, luyện tập:
Đây là kỹ năng mà HS cần rèn luyện để việc học và tự học của mình đạt hiệu quả cao nhất HS cần thường xuyên ôn lại và hãy luyện tập, vận dụng những gì đã học vào đời sống Nếu không nhắc nhở lại bản thân hay áp dụng nó vào thực tiễn, những gì đã học được sẽ dần bị lãng quên theo thời gian Đồng thời, đừng chủ quan nghĩ rằng mình luôn nhớ như
in những gì đã được học, nếu không sẽ phải hối hận đấy
Học và tự học là cách duy nhất để mỗi chúng ta trau dồi kiến thức cho bản thân Dù còn ngồi trên ghế nhà trường hay đã đi làm, cũng đừng quên việc học Hãy luôn rèn luyện cho
Trang 2717
mình kỹ năng học và tự học mọi lúc, mọi nơi để có thật nhiều kiến thức phục vụ cho cuộc sống cũng như công việc của chính mình và trở thành người có ích cho xã hội
1.1.5 Vai trò của tự học trong hoạt động học
TH có vai trò rất lớn đối với HS trong quá trình học tập, vì nếu không có TH thì HS không thể hoàn thành nhiệm vụ học tập theo phương châm “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Nhờ TH mà HS có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của đất nước Học tập trên ghế nhà trường là cơ bản là quan trọng, nhưng để hoàn thiện bản thân, mỗi cá nhân cần học tập suốt cuộc đời
Tổng bí thư Đỗ Mười, trong Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo,
đã nói rằng: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người,
trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.” (Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển
tự học, tự đào tạo ngày 6/1/1998), khi bàn về vấn đề tự học
Tự học giúp cho con người có thể chủ động học tập suốt đời Tự học giúp người học hiểu sâu, mở rộng, ghi nhớ và củng cố kiến thức một cách vững chắc, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới
Nếu rèn được cho HS các phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học, đã biết vào thực tế thì sẽ tạo cho các em lòng ham học hỏi, nhờ đó kết quả học tập ngày được nâng cao
Mặt khác, khi TH, HS có thể chủ động được quỹ thời gian học tập, đồng thời nâng cao trách nhiệm của mình trong làm việc theo nhóm, phát huy sự nhạy bén, tính sáng tạo trong
tư duy của mỗi em
Đồng thời, tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, nề nếp, độc lập tự giác trong việc học Từ đó ngày càng phát triển các phẩm chất, nhân cách và quyết định chất lượng học tập của HS
Phát triển năng lực nói chung, NLTH của HS nói riêng có vai trò rất quan trọng Vì vậy,
GV nên áp dụng những biện pháp thích hợp trong cả quá trình dạy học nhằm hình thành
và phát triển NLTH cho HS là hết sức cần thiết Tự học là để tự mình khẳng định bản thân,
là con đường dẫn đến sự thành công của người học
1.2 Bản đồ tư duy
Trang 2818
1.2.1 Khái niệm BĐTD
Sơ đồ tư duy (Mind map) – được phát minh bởi Tony Buzan Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện
về lĩnh vực nghiên cứu của mình) [12]
BĐTD là lược đồ tư duy là hình thức ghi chép, nhằm tìm hiểu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực [12]
Theo Tony Buzan, “BĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng” Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ và có thể những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa Nhờ sự kết nối liên tục giữa các nhánh như vậy, mà các ý tưởng cũng có sự liên kết với nhau dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, điều này khiến BĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được [11]
1.2.2 Qui tắc thiết kế BĐTD trong việc dạy học
Mục tiêu của các qui tắc trong BĐTD là sự tự do tư duy, chứ không kìm hãm tư duy Vì thế, điều quan trọng là ta không nên nhầm lẫn giữa trật tự và cứng nhắc, tự do và hỗn độn Một số quy tắc thiết kế BĐTD là:
- BĐTD nên có nhiều màu sắc sẽ kích thích trí nhớ và sáng tạo, tránh sự đơn điệu
- Hình ảnh không gian ba chiều hay chữ viết nổi có hiệu ứng nhấn mạnh các phần từ quan trọng trong BĐTD
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ Có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần cùng cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh
- Tổ chức dòng giúp phân cấp được rõ ràng [12]
1.2.2.2 Liên kết
Trang 2919
Liên kết có vai trò tăng trí nhớ và sáng tạo nên cũng rất quan trọng
- Dùng mũi tên để chỉ mối liên hệ cùng nhánh, hoặc khác nhánh
- Dùng màu sắc để làm ký hiệu hay phân vùng trong BĐTD
- Dùng ký hiệu giúp ta dễ dàng tìm được mối liên hệ giữa các bộ phận trên BĐTD, nó giúp ta tiết kiệm thời gian [12]
1.2.2.3 Mạch lạc
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
- Viết từ khóa trên vạch liên kết
- Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
- Vạch liên kết trung tâm phải dùng nét đậm [12]
1.2.2.4 Tạo phong cách riêng
Mỗi con người đều là những cá thể độc đáo riêng biệt BĐTD phải thể hiện rõ được bố cục các ý chính, ý phụ, mạch lạc, cụ thể và đặc biệt là lối tư duy sáng tạo độc đáo của từng
cá nhân mỗi người
1.2.3 Qui trình sử dụng BĐTD trong học tập [7]
Công tác chuẩn bị:
- Đối với GV: Soạn bài và thiết kế bài học theo SĐTD Chuẩn bị một số đồ dùng dạy học như tranh ảnh, sơ đồ, ảnh động, máy chiếu… với nội dung tương ứng để minh họa cho kiến thức được thể hiện trên BĐTD
- Đối với HS: HS sẽ chuẩn bị bài mới ở nhà bằng cách đọc trước toàn bộ nội dung bài học
Tiến trình bài mới:
- Hoạt động 1: GV thông báo, phân chia nhiệm vụ cụ thể cho HS
- Hoạt động 2: Thảo luận nhóm lập BĐTD
- Hoạt động 3: Đại diện các nhóm báo cáo, thuyết trình về BĐTD của nhóm mình
- Hoạt động 4: HS các nhóm nhận xét, phản biện, bổ sung GV góp ý và cùng HS chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của bài học
- Hoạt động 5: GV nhận xét, đánh giá hoạt động từng nhóm và cho điểm những nhóm
có thành tích tốt trong tiết học và dặn dò chuẩn bị bài mới Kết quả bài học được xây dựng bởi hoạt động thảo luận nhóm, thuyết trình trước lớp, thiết kế BĐTD của các
nhóm và hoạt động thảo luận chung của cả lớp
1.2.4 Ưu điểm của BĐTD trong việc học
BĐTD làm tăng khả năng sáng tạo và năng suất hoạt động của người học bởi vì nó là
Trang 3020
một công cụ tuyệt vời để cho phép tạo ra nhiều ý tưởng hơn, xác định mối quan hệ giữa các dữ liệu và thông tin khác nhau, cải thiện hiệu quả bộ nhớ và khả năng ghi nhớ thông tin của người học
So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp BĐTD ý có những điểm nổi bật như sau:
- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng, cụ thể
- Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính
- Ôn tập và ghi nhớ sẽ có nhiều hiệu quả và nhanh hơn
- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt, sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác
- Thêm thông tin dễ dàng, nhanh chóng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ
- Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách dễ dàng và linh hoạt cho việc ghi nhớ
- Có thể tạo ra BĐTD với sự hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính (iMindmap, MindMapple Lite, Canva, …)
Kiểu ghi chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng, giúp dễ dàng phát triển ý tưởng nhanh hơn
so với cách ghi chép thông thường theo kiểu xuống dòng [12]
Vì vậy, trong việc học, sử dụng BĐTD giúp cho học sinh linh động hơn trong việc chép bài, chiếm lĩnh và trình bày các ý tưởng một cách mạch lạc, trôi chảy, kích thích suy nghĩ sáng tạo, làm việc tự giác, độc lập Từ đó HS dễ dàng tóm tắt thông tin của bài học, hệ thống lại được kiến thức đã học, giúp tăng cường khả năng ghi nhớ,…
Đối với GV, khi sử dụng BĐTD giúp trình bày được kiến thức bài dạy một cách hệ thống, logic và khoa học Từ đó nội dung bài học ngày càng trở nên sinh động, hấp dẫn gây được sự chú ý của HS mà không sợ bị bỏ sót kiến thức Mặt khác, BĐTD còn giúp GV tạo ra các hình thức học tập khác nhau, linh hoạt các PPDH, kết hợp sử dụng các thiết bị dạy học với nhau,… góp phần đổi mới PPDH hiện nay
1.2.5 Một số cách sử dụng hiệu quả BĐTD giúp nâng cao chất lượng dạy học
- Sử dụng BĐTD trong việc dạy học bài mới
Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày bài giảng mới GV thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng, sẽ sử dụng BĐTD để thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến HS được thể hiện trên bản đồ mà không bị sót ý HS thay vì ghi chép một cách tỉ mỉ thì chỉ cần chọn lọc
Trang 3121
các thông tin quan trọng, sơ đồ hóa chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lại theo cách hiểu của mình Với cách học này, cả GV và HS đều phải tham gia vào quá trình dạy học một cách chủ động và tích cực hơn
- Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức sau mỗi bài học
Đây là việc làm rất có hiệu quả GV sử dụng BĐTD để thể hiện lại những nội dung cơ bản của bài học, tránh bị bỏ sót ý, khắc sâu các kiến thức trọng tâm HS sử dụng BĐTD để thể hiện lại sự hiểu biết của mình sau khi tiếp thu nội dung bài học, đồng thời là một kênh thông tin phản hồi mà qua đó GV có thể đánh giá nhận thức của từng HS và điều chỉnh cách dạy, cách truyền đạt của mình sao cho phù hợp
- Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức một chương
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin từ nhỏ đến rất lớn Tương tự, GV và
HS có thể thể hiện một phần nội dung bài học, một bài học hoặc nhiều bài học, một chương kiến thức Vấn đề là các nội dung này, có điểm chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa Tùy theo mục đích sử dụng mà có thể thiết kế BĐTD trong một giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực hành, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương, một phần kiến thức
- Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra, đánh giá
Vì thời gian kiểm tra bài cũ đầu giờ không nhiều, chỉ khoảng 5-7 phút, GV thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi HS lên bảng trả lời câu hỏi GV phần lớn sẽ chấm điểm tùy vào mức độ thuộc lòng của HS mà ít quan tâm đến mức độ hiểu biết bản chất vấn đề Do đó, việc sử dụng BĐTD khi kiểm tra bài cũ vừa giúp
GV kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của HS, bằng cách GV đưa ra các BĐTD thiếu thông tin và yêu cầu HS điền thông tin vào các phần còn thiếu đó, đồng thời rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác được khả năng nhận thức của học sinh, từ đó tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học
- Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập
về nhà mà GV giao cho HS hoặc nhóm HS trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ HS, thời gian, kinh tế, ) Yêu cầu đối với bài tập về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin, ), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của HS [11]
1.2.6 Một số lưu ý khi sử dụng BĐTD trong dạy học
Trang 3222
Để sử dụng BĐTD trong dạy học có hiệu quả, GV cần nghiên cứu nội dung chương trình, nội dung bài học, lựa chọn ra những phần, những bài có khả năng áp dụng BĐTD Sau đó, phân tích nội dung bài học để tìm ra những vấn đề, những biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ cần hình thành và truyền đạt cho HS; xác định các dạng bài tập với BĐTD phù hợp với đối tượng HS, quỹ thời gian, điều kiện trường lớp và trang thiết bị dạy học Tránh lạm dụng hay mắc tính hình thức trong sử dụng BĐTD, vì nếu sử dụng quá nhiều BĐTD sẽ làm cho các tiết học, bài học trở nên nhàm chán và căng thẳng, còn khi sử dụng BĐTD chỉ mang tính chất hình thức sẽ không đem lại bất cứ hiệu quả nào đối với việc phát huy năng lực và nâng cao nhận thức của HS
Do đó, không phải bất cứ nội dung nào, bài nào cũng có thể sử dụng BĐTD; giống như các thiết bị dạy học khác, BĐTD cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng của nó, cho nên sử dụng BĐTD trong dạy học cần đúng lúc, đúng cách, phù hợp với đối tượng HS và quan trọng là đảm bảo việc truyền tải nội dung bài học
Điều đó cũng có nghĩa là, GV cần kết hợp sử dụng BĐTD với các phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị dạy học cho tương xứng với nội dung bài học và đối tượng HS để đạt hiệu quả cao nhất
Đối với HS, để sử dụng hiệu quả BĐTD trong quá trình học tập các em cần rèn luyện thói quen tư duy logic theo hình thức sơ đồ hóa trên BĐTD thông qua việc GV cung cấp các kiến thức cơ bản về BĐTD và sử dụng BĐTD có sẵn trong một số bài học, tiết học phù hợp Tiếp theo, các em cần có kĩ năng vẽ và đọc BĐTD về một nội dung cụ thể khi GV yêu cầu Để làm được điều này, chắc chắn GV phải hướng dẫn HS vẽ và đọc BĐTD một vài lần [11]
1.3 Bồi dưỡng NLTH của HS trong dạy học Vật lí với sự hỗ trợ BĐTD [16]
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng NLTH của HS
Hiện nay, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học sinh, một trong số
đó có thể kể đến như:
1.3.1.1 Ảnh hưởng đến ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân
Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành
và phát triển năng lực tự học Vì xét cho cùng chất lượng học tập phải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học Nếu người học không xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của sự học, thì không bao giờ tự học thành công
1.3.1.2 Ảnh hưởng của vốn tri thức hiện có của bản thân
Để chiếm lĩnh các tri thức, người học cũng như người trèo thang không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn Để tự học có hiệu quả thì người học phải tự trang
Trang 3323
bị cho mình vốn kiến thức tối thiểu để tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm
1.3.1.3 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ về tư duy
Năng lực trí tuệ: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri thức khoa
học nhanh hay chậm Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi là quyết định khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao
Phương pháp tư duy: Khả năng vận dụng các thao tác tư duy cũng là một yếu tố có ảnh
hưởng đến khả năng tự học Vì vậy, tăng cường khả năng tư duy là một yêu cầu để nâng cao chất lượng học tập và tự học Khơi dậy tiềm năng vốn có trong học tập của trò và
phương pháp dạy học của thầy
1.3.1.4 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò
Trong quá trình dạy học người GV không nên ép buộc HS phải suy nghĩ theo thói quen, suy nghĩ của mình Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng phát triển các thói quen chưa có cũng như còn yếu của HS, từ đó cũng góp phần hình thành phương pháp học tập, phương pháp
tự học của họ
Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp tự học Nếu rèn luyện được thói quen, phương pháp, kĩ năng tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi
dậy tiềm năng sẵn có trong học tập của HS
1.3.1.5 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của người dạy
Theo Nguyễn Bá Kim: “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học” Như vậy, có thể thấy rằng: phương pháp dạy học của thầy cũng có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học
Thông qua người thầy, HS nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành năng lực và thế giới quan
1.3.1.6 Nội dung, chương trình đào tạo
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày càng lớn, trong khi đó, thời gian đào tạo không tăng, chương trình đào tạo còn đang thay đổi và hoàn thiện nên đòi hỏi người học phải tăng cường tự học
1.3.1.7 Ảnh hưởng của các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình, xã hội
Trong quá trình dạy học, HS còn chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội các yếu tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đến người học mà cả người dạy
1.3.2 Vai trò của BĐTD trong bồi dưỡng NLTH của HS
Trang 3424
Tự học được bắt đầu từ việc thu thập các thông tin liên quan đến vấn đề cần được giải quyết Để giải quyết được các yêu cầu đặt ra, người học phải tìm kiếm, thu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tìm ra mối liên hệ cần thiết giữa vấn đề chưa biết và vấn đề đã biết để giải quyết được yêu cầu đặt ra [12]
Trong thời đại công nghệ bùng nổ, giữa một trời thông tin như hiện nay,việc lựa chọn đúng, đủ các thông tin liên quá đến vấn đề đặt ra là hết sức cần thiết, đảm bảo cho người học tiết kiệm thời gian, giải quyết được vấn đề đặt ra và tích lũy đực kiến thức để nâng cao chất lượng học tập của mình Vì vậy, bản đồ tư duy là phương tiện để học sinh có thể thực hiện tốt kĩ năng này
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau Vì vậy, trong giáo dục, sử dụng BĐTD giúp học sinh chủ động hơn trong việc ghi chép, lĩnh hội và trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, làm việc tự giác, tích cực, độc lập, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, lập kế hoạch học tập,
Nhờ vào các ứng dụng hết sức bổ ích của bản đồ tư duy trong dạy học đã khiến cho các
em HS ngày càng hứng thú và đam mê môn học Vật lí hơn Điều này có ý nghĩa vô cùng
to lớn, khi HS hứng thú thì sẽ dẫn đến việc tự giác trong học tập HS sẽ hình thành nên các
kĩ năng: phân tích, so sánh, khái quát hóa,…
Đối với giáo viên, việc sử dụng BĐTD giúp giáo viên trình bày kiến thức một cách hệ thống, khoa học và logic, nội dung bài học trở nên trực quan, lôi cuốn sự chú ý của học sinh mà không sợ bị bỏ sót ý Không những thế, sử dụng BĐTD còn giúp giáo viên tạo ra các hình thức học tập khác nhau, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, phối hợp sử dụng các thiết bị dạy học với nhau, góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở các nhà trường trung học hiện nay
Tóm lại, việc ứng dụng BĐTD vào trong dạy học đã giúp cho HS trong quá trình tự học,
HS có thể chủ động sáng tạo, biết cách suy nghĩ logic, mạch lạc, ghi nhớ kiến thức một cách khoa học, tránh hiện tượng học vẹt, học đối phó Sử dụng hiệu quả BĐTD còn mang lại kết quả tốt trong việc đổi mới phương pháp dạy học của GV GV sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự hứng thú, linh hoạt trong bài dạy [12]
1.3.3 Mối quan hệ giữa việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh với việc dạy học
Vật lí có sự hỗ trợ bản đồ tư duy
Dựa vào lí luận về dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh và vai trò của BĐTD trong dạy học Vật lí, ta có thể thấy rằng giữa dạy học theo hướng bồi dưỡng
Trang 3525
năng lực cho học sinh và BĐTD có mối quan hệ bỗ trợ qua lại lẫn nhau [12]
Ngày nay với xu hướng dạy học lấy học sinh là trung tâm nhiều thầy cô đã sử dụng BĐTD trong giảng dạy BĐTD là công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trình bày các khái niệm trong lớp học BĐTD giúp GV tập trung vào vấn đề cần trao đổi cho HS, cung cấp một cái nhìn tổng quan về chủ đề mà không có thông tin thừa HS cũng được tiếp nhận tin một cách tổng quan và chính xác nhất chính vì vậy mà hiệu quả của giờ dạy sẽ được tăng lên Từ đó kích thích hứng thú học tập, tính tích cực chủ động, sáng tạo và phát triển
tư duy của người học
Để tổ chức một tiết dạy theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh đúng quy trình rất tốn thời gian, trong khi đó một tiết học chỉ có trong 45 phút Do đó, việc tổ chức tiết học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh vừa đảm bảo lượng thời gian vừa đảm bảo lượng và mục tiêu kiến thức là một thách thức khó khăn đối với GV Vì vậy,
áp dụng BĐTD trong giảng dạy mang lại rất nhiều lợi ích BĐTD sẽ giúp GV có thể trình bày các khái niệm rõ ràng, tập trung vào các vấn đề cần trao đổi cho HS đồng thời cung cấp được cách nhìn tổng quan về chủ đề nên tiết kiệm được thời gian tối ưu
Việc kết hợp giữa BĐTD và phương pháp dạy học hướng bồi dưỡng năng lực của HS
là một sự kết hợp vô cùng hợp lí và đúng đắn, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và đổi mới quá trình học tập
Sử dụng BĐTD trong dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực của học sinh giúp cho
GV và HS cải thiện cách dạy học theo lối truyền thụ một chiều, thụ động và nhàm chán để chuyển sang một cách dạy học mới tích cực, năng động, sáng tạo và luôn đặt HS làm trung tâm trong giờ học Vì vậy, có thể nói sử dụng BĐTD trong dạy học hướng bồi dưỡng năng lực của học sinh là một phương pháp hiệu quả, tích cực trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
1.4 Thực trạng của việc tổ chức dạy học Vật lí nhằm bồi dưỡng NLTH của HS với
sự hỗ trợ của BĐTD ở các trường THCS trên địa bàn TP Đà Nẵng
1.4.1 Mục tiêu điều tra
1.4.1.1 Về phía học sinh
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu việc sử dụng BĐTD trong học tập ở HS
1.4.1.2 Về phía giáo viên
- Tìm hiểu tình hình bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học Vật lí
Trang 3626
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BĐTD trong dạy học vật
lí
1.4.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Nội dung điều tra
- Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học bồi dưỡng NLTH cho HS, chúng tôi đã tiến hành
điều tra tham khảo ý kiến 20 GV Vật lí ở trường THCS trên địa bàn Tp Đà Nẵng
- Chúng tôi đã gửi phiếu điều tra đến 65 HS ở trường THCS Tây Sơn (Tp Đà Nẵng) 1.4.2.2 Phương pháp điều tra
Chúng tôi dùng phiếu điều tra bằng công cụ tạo biểu mẫu (phiếu xin góp ý kiến của GV
và phiếu điều tra HS) để biết được thực trạng dạy học bồi dưỡng NLTH với sự hỗ trợ của BĐTD cho HS THCS
1.4.3 Kết quả điều tra
1.4.3.1 Kết quả điều tra HS (phụ lục 4)
Sau khi gửi phiếu điều tra và lấy ý kiến của 65 HS ở trường THCS Tây Sơn (Tp Đà Nẵng) Kết quả thu được với nội dung như sau:
Kết quả cho thấy quan niệm của HS về TH
là 60 ý kiến cho rằng đó là quá trình chủ
động , độc lập nhận thức trên lớp, tích cực
hỏi thầy cô, bạn bè khi không hiểu bài; 59
ý kiến HS cho rằng đó là quá trình TH ở
nhà thông qua các câu hỏi, bài tập và
TLTK để bổ sung các kiến thức trên lớp;
và 42 ý kiến việc chủ động học tập ở nhà
theo hướng dẫn của GV
Hình 1 1 Biểu đồ thể hiện quan điểm tự
học
Trang 3727
Về ý nghĩa của TH, đa số HS cho rằng TH
giúp HS mở rộng, củng cố và hiểu sâu kiến
thức trên lớp hơn (60 ý kiến) Và 54 ý kiến
cho rằng TH góp phần hình thành thói
quen tốt trong học tập Chỉ 36 ý kiến của
HS cho biết việc TH giúp các em hứng thú
với môn học hơn Điều này chứng tỏ HS
đã hiểu khá đúng đắn về ý nghĩa của việc
TH
Hình 1 2 Biểu đồ thể hiện ý nghĩa của tự
học
Kết quả về tần suất TH của HS đáng mừng
khi có 42 ý kiến HS đã thường xuyên TH;
19 ý kiến thỉnh thoảng mới TH hoặc chỉ
TH khi chuẩn bị có bài kiểm tra; và chỉ có
6 ý kiến cho rằng các em không bao giờ
TH ở nhà
Hình 1 3 Biểu đồ thể hiện tần suất tự học
Khi hỏi về lý do TH, kết quả đưa ra cho
thấy phần lớn ý kiến là vì các em mong
muốn có được kết quả học tập tốt (chiếm
57 ý kiến) Và ý kiến HS yêu thích môn
học cũng chiếm tỉ lệ khá tương đối Kết
quả này rất đáng mừng
Hình 1 4 Biểu đồ đánh giá lý do tự học
Trang 38nhiên, GV cần phải hỗ trợ và hướng dẫn
giúp cụ thể cho HS phát triển toàn diện các
điều tra chúng tôi thu được các tỉ lệ ý kiến
đồng ý rất cao Đây cũng có thể coi là một
thái độ học tập rất đáng khen Luôn tích
Trang 3929
Khi khảo sát thì số ý kiến không yêu thích,
hứng thú với môn học này chiếm tỉ khá
tương đối (19 ý kiến) Khó khăn lớn nhất
là thời gian dành cho việc học trên lớp hạn
chế khiến HS chưa tiếp thu được kiến thức
(35 ý kiến) Trong khi đó, không ít ý kiến
(24 ý kiến) khẳng định Vật lí là môn khó
học Điều đó cho thấy các em HS gặp rất
nhiều rào cản trong việc phát triển NLTH
Hình 1 8 Biểu đồ thể hiện những khó
khăn khi tự học Vật lí
Hầu hết các em HS chỉ ghi chép lại những
kiến thức giống hệ thầy cô viết trên bảng
(61 ý kiến) Còn lại khá ít HS viết bài giống
thầy cô và chú thích thêm bên lề nội dung
Thông qua khảo sát cho thấy các em HS
còn ít chú trọng, ít quan tâm đến việc tóm
trình học Vật lí
Nhận xét về kết quả khảo sát:
Trang 4030
Căn cứ vào kết quả điều tra chúng tôi thấy rằng:
Đa số HS nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc TH trong quá trình học tập Tuy nhiên, HS thường gặp khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng này do áp lực học tập và thi cử Thời gian dành cho việc học thêm cũng làm giảm thời gian cho việc TH
- Việc sử dụng BĐTD trong quá trình học tập còn hạn chế, đa phần các em chỉ ghi chép lại những kiến thức có trong SGK
- Kĩ năng TH của HS còn khá hạn chế, HS ít được hướng dẫn, giám sát và điều chỉnh việc TH nên việc bồi dưỡng NLTH của HS còn gặp nhiều khó khăn
1.4.3.2 Kết quả tham khảo ý kiến của GV (phụ lục 2)
Sau khi tiến hành tham khảo ý kiến 20 GV Vật lí ở trường THCS trên địa bàn Tp Đà Nẵng Kết quả thu được với nội dung như sau:
Kết quả khảo sát nội dung về TH cho thấy
đa số đồng ý với quan điểm: “TH là quá
trình HS tích cực, chủ động, độc lập nhận
thức trên lớp” với 16 ý kiến Tiếp đó, có 12
ý kiến đồng ý rằng TH là việc “HS biết tự
tìm ra các kiến thức mới mà không cần đến
sự hỗ trợ của GV” Cuối cùng, ý kiến cho
rằng “chủ động học tập ở nhà để bổ sung
kiến thức trên lớp” với 11 ý kiến
Hình 1 11 Biểu đồ thể hiện nội dung TH
Thông qua khảo sát cho thấy mức độ TH
của HS hiện nay còn hạn chế:
- Tự học còn rất hạn chế, chỉ tự học khi có
giờ kiểm tra: 12 ý kiến đồng ý
- Thường xuyên tự học: 6 ý kiến đồng ý
- Chưa có ý thức tự học: 11 ý kiến đồng ý
Hình 1 12 Biểu đồ đánh giá mức độ TH
của HS