Đối với những người này, rối loạn lo âu là loại rối loạn phổ biến nhất 17% [70] Tại Hội thảo "Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh hướng tới xây dựng trường học hạnh phúc" Trần Thành
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN XUÂN PHÁT
Lớp: 19CTL
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHU VĂN AN - QUẬN THANH KHÊ- TP ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2023
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Bích Hạnh Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình của người nào khác
Tác giả Nguyễn Xuân Phát
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi tới Th.S Nguyễn Thị Bích
Hạnh, giảng viên hướng dẫn của tôi Cô là người đã giúp tôi định hướng những ý tưởng
thực hiện khóa luận ngay từ ban đầu, cũng như đã luôn tận tâm, chỉ bảo, góp ý cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư Phạm –
Đại học Đà Nẵng cùng các thầy cô trong Khoa đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để
tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn tới thầy cô và các em học sinh trường Trung học Cơ sở Chu
Văn An đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát
Cuối cùng, tôi xin lời cảm ơn sâu sắc, chân thành đến gia đình, bạn bè thân thiết,
đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ, hỗ trợ cả về tinh thần và vật chất để tôi có thể
hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Tác giả Nguyễn Xuân Phát
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Giả thuyết nghiên cứu 9
3 Đối tượng nghiên cứu 9
4 Khách thể nghiên cứu 9
5 Mục đích nghiên cứu 9
6 Phạm vi nghiên cứu 9
6.1 Phạm vi khách thể: 9
6.2 Phạm vi nội dung: 9
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7.1 Nghiên cứu lý luận 10
7.2 Nghiên cứu thực tiễn 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Bố cục nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1 12
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 12
1.2 Lý luận về lo âu 22
1.2.1 Khái niệm về lo âu 22
1.2.2 Đặc điểm, biểu hiện của lo âu 25
1.2.3 Các biện pháp hỗ trợ tâm lý làm giảm tình trạng lo âu 28
1.3 Lý luận về học sinh Trung học Cơ sở 35
1.3.1 Khái niệm học sinh Trung học Cơ sở 35
1.3.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS 35
1.4 Lý luận về lo âu của học sinh trung học cơ sở 37
1.4.1 Khái niệm về lo âu của học sinh trung học cơ sở 37
1.4.2 Biểu hiện lo âu của học sinh trung học cơ sở 38
1.4.3 Nguyên nhân gây ra lo âu của học sinh trung học cơ sở 39
1.5 Ảnh hưởng của lo âu đến học sinh trung học cơ sở 41
Tiểu kết chương 1 44
CHƯƠNG 2 45
2.1 Tổ chức nghiên cứu 45
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 45
Trang 52.1.2 Khách thể nghiên cứu 45
2.1.3 Tiến hành nghiên cứu 47
2.2 Phương pháp nghiên cứu 51
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 51
2.2.2 Phương pháp trắc nghiệm DASS Y (Phụ lục 1) 51
2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Phụ lục 2) 53
2.2.4 Phương pháp thống kê toán học 54
CHƯƠNG 3 57
3.1 Độ tin cậy của các tiểu thang đo lo âu trong trắc nghiệm DASS - Y 57
3.2 Thực trạng chung về lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An 57
3.3 Biểu hiện lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An 58
3.3.1 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng cơ thể 58
3.3.2 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng suy nghĩ 59
3.3.3 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng cảm xúc 60
3.3.4 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng hành vi 61
3.4 So sánh mức độ lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An theo phân loại khách thể nghiên cứu 62
3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của học sinh THCS 68
3.5.1 Yếu tố học tập 69
3.5.2 Yếu tố gia đình 70
3.5.3 Yếu tố thầy cô 71
3.5.4 Yếu tố bạn bè 73
3.5.5 Yếu tố người yêu 73
3.6 Hậu quả của lo âu ảnh hưởng đến học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An 74
3.7 Cách phòng ngừa lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An 75
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
1.1 Về mặt lý luận 78
1.2 Về mặt thực tiễn 78
2 Khuyến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 88
Trắc nghiệm DASS Y (tiểu thang đo về lo âu) 88
Bảng hỏi 89
CÁC BẢNG SỐ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 97
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 So sánh lo âu bình thường và lo âu bệnh lý 24
3.1 Độ tin cậy của các tiểu thang đo lo âu trong trắc nghiệm DASS
3.2 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng cơ thể 58 3.3 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng suy nghĩ 59 3.4 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng cảm xúc 60 3.5 Biểu hiện lo âu của học sinh thông qua triệu chứng hành vi 61 3.6 So sánh mức độ lo âu của học sinh với giới tính (N=61) 62 3.7 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo khối lớp (N=61) 63 3.8 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo học lực (N=61) 64 3.9 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo khối lớp (N = 61) 64 3.10 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo độ tuổi của bố (N = 61) 66 3.11 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo độ tuổi của mẹ (N = 61) 66
3.12 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo trình độ học vấn của bố
3.13 So sánh mức độ lo âu của học sinh theo trình độ học vấn của mẹ
3.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của học sinh trường trung học
3.15 Yếu tố học tập ảnh hưởng đến lo âu của học sinh trường trung
3.16 Yếu tố gia đình ảnh hưởng đến lo âu của học sinh trường trung
3.17 Yếu tố thầy cô, bạn bè và người yêu ảnh hưởng đến lo âu của
học sinh Trường trung học cơ sở Chu Văn An 72 3.18 Hậu quả của lo âu ảnh hưởng đến học sinh trường trung học cơ
Trang 83.19 Cách phòng ngừa lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu
1 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thực trạng lo âu của học sinh trường THCS
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tại Vương Quốc Anh vào năm 2014 cho thấy 19,7% người từ 16 tuổi trở lên tỏ
ra lo âu hoặc triệu chứng trầm cảm [69] Tại Úc năm 2021 thì cứ 5 người (21%) thì có
1 người từng bị rối loạn tâm thần trong đời có các triệu chứng trong 12 tháng trước cuộc phỏng vấn khảo sát Đối với những người này, rối loạn lo âu là loại rối loạn phổ biến nhất (17%) [70]
Tại Hội thảo "Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh hướng tới xây dựng trường học hạnh phúc" Trần Thành Nam trích dẫn nghiên cứu, trong cộng đồng đang cho thấy cứ 8 người thì có 1 người bị tổn thương sức khỏe tâm thần Trong đó các vấn
đề trầm cảm và lo âu đang là phổ biến nhất (trầm cảm tăng lên 28% và lo âu tăng lên 26%) [8]
Tuổi thiếu niên thường được coi như lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, với nhiều sự thay đổi phức tạp cả về tâm lý và sinh lý Do đó, lứa tuổi này gặp nhiều khó khăn đến từ việc học tập, gia đình và bạn bè, nếu không được hỗ trợ kịp thời thì dễ ảnh hưởng đến quá trình phát triển các em [41]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Vân (2019) trên học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ học sinh có biểu hiện lo âu chiếm khoảng từ 15%
- 21% [34 tr78] Tỉ lệ lo âu của học sinh tại 2 trường THPT của thành phố Thái Bình năm 2020 cụ thể lo âu nhẹ chiếm 10.5%, lo âu vừa chiếm 6.8%, lo âu nặng chiếm 4.5%
và lo âu rất nặng chiếm 2.2% [17.tr1] Nghiên cứu trên 262 học sinh trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy phần lớn học sinh có lo âu học tập ở mức trung bình chiếm 66%, 20.6% học sinh có lo âu học tập mức độ thấp và 13.4% học sinh có lo âu học tập cao [10.tr55] Những con số biết nói này đòi hỏi sự quan tâm đúng mực từ phía nhà trường, gia đình và xã hội đối với lo âu ở học sinh
Lo âu có thể tác động xấu tới năng lực tiếp nhận, xử lí, và lưu trữ thông tin khiến các cá nhân giảm khả năng học hỏi và đạt thành tựu Như một hệ quả tất yếu kéo theo, những học sinh có mức độ lo âu cao thường có kết quả học tập thấp [dẫn theo 10.tr54] Khi gặp lo âu phần nhiều các em tự tìm cho mình các biện pháp để khắc phục thay vì đến gặp chuyên viên tâm lý trường học Các em giải tỏa bằng cách nghe nhạc, xem phim,
đi ngủ, tự mình suy nghĩ và giải quyết vấn đề đôi lúc các em không biết giải quyết như thế nào
Trang 10Hiện tại rất ít nghiên cứu về lo âu và các yếu tố liên quan đến lo âu tại Trường THCS Chu Văn An Việc tìm hiểu về lo âu và các yếu tố liên quan là cơ sở để nhà trường, phụ huynh hiểu thêm về tình trạng sức khỏe của các em học sinh, từ đó tìm kiếm cách thức hỗ trợ phù hợp
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An” làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm hạn chế những nguy cơ dẫn đến lo âu, nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh
2 Giả thuyết nghiên cứu
- Có 20% học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng ở mức độ lo âu nhẹ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của học sinh gồm yếu tố học tập, quan hệ gia đình, quan hệ học sinh, bạn bè và người yêu, trong đó yếu tố học tập và gia đình là yếu tố ảnh hưởng chính
3 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi khách thể: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 270 học sinh trường
trung học cơ sở Chu Văn An, bao gồm: 45 học sinh lớp 6, 45 học sinh lớp 7, 90 học sinh lớp 8 và 90 học sinh lớp 9
6.2 Phạm vi nội dung:
- Thực trạng lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Trang 11- Biểu hiện lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Yếu tố ảnh hưởng đến lo âu học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Hậu quả lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng
- Cách phòng ngừa lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lý luận
- Tổng quan các công trình nghiên cứu về lo âu
- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về lo âu ở học sinh trung học cơ sở
- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về học sinh trung học cơ sở bao gồm: đặc điểm sinh lý, tâm lý lứa tuổi
7.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng, mức độ, biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của học sinh trường THCS Chu Văn An, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế những nguy cơ dẫn đến lo âu, nâng cao đời sống tâm thần cho học sinh
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, văn bản
- Phương pháp trắc nghiệm DASS Y
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thống kê toán học
9 Bố cục nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nghiên cứu được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về lo âu của học sinh trung học cơ sở
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu về lo âu của học sinh trường trung học cơ sở Chu Văn An
Trang 12- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng lo âu của học sinh trường trung học Cơ
sở Chu Văn An
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Lo âu là một vấn đề đang được rất nhiều nhà nghiên cứu trên Thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu Mặc dù mỗi nghiên cứu lại hướng tới những khía cạnh khác nhau của lo âu nhưng có thể khái quát thành hai hướng cơ bản sau:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về lo âu trên bình diện lý luận
Trước hết, xét về nguồn gốc, nguyên nhân dẫn tới lo âu có rất nhiều quan điểm
khác nhau Cụ thể:
Vào năm 1872, Charles Darwin trong tác phẩm “Biểu hiện của cảm xúc ở người
và động vật” (The Expression of Emotions in Man and Animals) đã nói rõ nguồn gốc, bản chất của sợ hãi và lo âu, mô tả như sau: “Con người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên” Từ
đó, tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu về lo âu và mô tả bản chất của nó [20]
Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của Freud (1895) về chứng suy nhược thần kinh Lần đầu tiên khái niệm lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt bản chất Từ suy nhược thần kinh Freud đã tách ra một hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis) Vào thời điểm
đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu theo Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể, quan điểm về bệnh học này đã ảnh hưởng trong phần lớn thời gian của thế kỷ (Dẫn theo Nguyễn Đại Hành, 2013) [5]
Với những biểu hiện, các dạng hành vi của lo âu, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra:
Lo âu có thể phát sinh đột ngột, như trong hoảng sợ, hoặc dần dần trong nhiều phút, nhiều giờ, hoặc thậm chí cả ngày Lo âu có thể kéo dài từ vài giây đến nhiều năm; thời gian dài hơn là đặc trưng của rối loạn lo âu
Năm 1621, Robert Burton đã viết cuốn sách “The Anatomy of Melancholy”, ông
đã gợi ý rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng và sợ hãi với các biểu hiện
cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức vùng ngực, chóng mặt Richard Younge (1671) cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn khổ sở với mọi vấn đề trong cuộc sống,
Trang 14lo âu là sự không bình thường về mặt tâm lý Đầu thế kỷ 18, thuật ngữ lo âu được y học nhắc tới và được cho là rối loạn tâm thần Sách giáo khoa về tâm thần học đầu tiên ở Anh quốc do tác giả William Battle (1703-1776) viết, ông đã phân biệt được sự khác nhau giữa “điên loạn” và “lo âu” Khi nghiên cứu về các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở hệ thần kinh tự trị (Dẫn theo Nguyễn Đại Hành, 2013) [5]
Rối loạn lo âu xuất hiện dưới dạng một danh mục chẩn đoán trong ấn bản thứ ba của Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-III) vào năm 1980, khi chứng loạn thần kinh lo âu được chia thành GAD và rối loạn hoảng sợ Năm 1994, DSM
- IV được xuất bản có sự thay đổi trong các triệu chứng của rối loạn lo âu Phiên bản DSM - V ra đời không có sự thay đổi gì so với phiên bản DSM - IV về rối loạn lo âu
Sự lo lắng được xuất hiện trong phiên bản thứ 10 của Phân loại thống kê quốc tế
về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan (ICD -10) năm 1992
Về những nghiên cứu xây dựng công cụ đánh giá lo âu, trước hết phải kể đến
Thang tự đánh giá lo âu Zung (Zung Self-Rating Anxiety Scale, SAS) Đây là một trắc nghiệm tâm lý thường được sử dụng để đánh giá mức độ lo âu, do William W K Zung (1929 – 1992), Giáo sư Tâm thần học thuộc Duke University thiết kế vào năm 1971 SAS là một thiết bị đánh giá tự báo cáo gồm 20 mục được xây dựng để đo lường mức
độ lo lắng, dựa trên việc chấm điểm theo 4 nhóm biểu hiện: các triệu chứng về nhận thức, tự trị, vận động và hệ thần kinh trung ương Đây là công cụ đánh giá được sử dụng nhiều trên thế giới, được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được thích nghi ở nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó có Việt Nam
Thang công cụ đánh giá trầm cảm, lo âu, stress (DASS – The Depression, Anxiety and Stress Scale) do Lovibond và cộng sự xây dựng từ năm 1995 với 42 câu hỏi (DASS 42) Thang là tổ hợp 3 thang tự đánh giá được thiết kế để đo mức độ nghiêm trọng của những dấu hiệu cốt lõi của u sầu, lo lắng và căng thẳng Sau đó thang đánh giá được phát triển bởi các nhà khoa học thuộc Đại học New South Wales (University of New South Wales), Australia và rút gọn thành 21 câu với tên gọi DASS 21 (Depression Anxiety Stress Scale - 21 Items) Năm 2013, thang DASS-21 được tác giả Trần Đức Thạch và cộng sự Việt hoá, cũng như chứng minh tính hiệu lực
Trang 15Thang đánh giá lo âu theo Hamilton (Hamilton Anxiety Rating Scale, HAM-A) được công bố phiên bản đầu tiên vào năm 1959 bởi Max Hamilton Ông sử dụng phương pháp phổ biến để thiết kế thang đánh giá Một loạt các triệu chứng có liên quan được thu thập và chia thành các nhóm Lúc khởi đầu có 12 nhóm triệu chứng, rồi tăng lên 13 nhóm với thang điểm 5 Hamilton tiến hành thử nghiệm và cải tiến, phát triển cấu trúc
và thay đổi cách tính điểm để có được thang HAM-A như hiện tại [24] Thang HAM-A
là một trong những công cụ được sử dụng thường xuyên nhất để đo lường mức độ lo âu chung, thực hiện trên các rối loạn lo âu khác nhau Thang đánh giá lo âu Hamilton gồm tất cả 21 câu hỏi khác nhau, nhưng chỉ tính điểm đánh giá 17 câu đầu tiên Thang đánh giá lo âu Hamilton là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi với mục đích chủ yếu là đo lường các mức độ lo âu khác nhau Thang đánh giá lo âu này không chỉ đánh giá về tâm lý mà còn có thể nói lên phần nào phản ứng lo âu của cơ thể.[28]
Vào năm 2006, Spitzer và các cộng sự đã công bố Thang đo Rối loạn lo âu tổng quát gồm 7 mục (GAD – 7), chúng được phát triển như một công cụ sàng lọc chứng rối loạn lo âu tổng quát Thang đo được phát triển để giải quyết số lượng hạn chế của các biện pháp đo lường lo âu trong các vấn đề lâm sàng và để giải quyết vấn đề phổ biến về xếp hạng triệu chứng hiếm khi được sử dụng trong thực hành lâm sàng [30] Thang đo bao gồm 7 câu hỏi, cần khoảng 1–2 phút để thực hiện và nhạy cảm với những thay đổi liên quan đến điều trị ở người lớn mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa GAD-7 đã được phổ biến thành công trong các phòng khám tâm thần và chăm sóc sức khỏe cho người lớn
và đã được đánh giá một cách có hệ thống trong các mẫu của Hoa Kỳ và quốc tế Geun Seo & Sung-Pa Park, 2015; Qiu-Yue Zhong, Bizu Gelaye, Alan M Zaslavsky, 2015; Xin Tong, Dongmei An, 2016)
(Jong-Ngoài ra, còn có một số công cụ được thiết kế để dụng để sàng lọc các rối loạn
lo âu ở trẻ em bao gồm rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn lo âu chia ly, rối loạn hoảng sợ
và ám ảnh xã hội như SCARED (Screen for Child Anxiety Related Disorders) Công cụ
này cần khoảng 10 phút để quản lý, bao gồm 41 mục và đánh giá các triệu chứng của (1) rối loạn hoảng sợ (hoặc các triệu chứng cơ thể); (2) triệu chứng rối loạn lo âu lan tỏa; (3) triệu chứng rối loạn lo âu xã hội; (4) các triệu chứng lo âu bị chia ly và (5) trốn học Hay là Thang đo lo âu đa chiều dành cho trẻ em (MASC) là một công cụ tự báo cáo
đã được xác thực ở thanh niên 8–19 tuổi và đánh giá các triệu chứng lo âu so với các tiêu chuẩn tuổi tác MASC bao gồm 50 câu hỏi và được áp dụng cho cả bệnh nhi và cha
Trang 16mẹ hoặc người chăm sóc của trẻ 8 Công cụ này bao gồm các thang đo liên quan đến lo lắng/ám ảnh chia ly, GAD, lo lắng xã hội, ám ảnh và cưỡng chế và đánh giá các triệu
Năm 2001, Nguyễn Khắc Viện đã đưa ra khái niệm của lo âu trong cuốn sách được xem là từ điển tâm lý học đầu tiên ở Việt Nam, với "Lo âu là việc chờ đón và suy nghĩ về một điều gì đó mà không chắc có thể đối phó được Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi [35]
Để đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu Tâm lý học, năm 2008 nhà xuất bản Từ điển bách khoa cho ra đời cuốn “Từ điển tâm lý học” do Vũ Dũng chủ biên Trong cuốn sách tác giả có nhắc đến Lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể [2]
Năm 2021, dịch giả Khiết Lam đã cho xuất bản quyển sách Lo âu xã hội của Tiến
sĩ David Shanley Quyển sách cung cấp cho người đọc các phương pháp để đối mặt với
lo âu xã hội như liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), liệu pháp chấp nhận và cam kết (ACD) David Shanley cũng chỉ ra ba khía cạnh cuộc sống mà người mắc chứng lo âu
xã hội chật vật nhất: các mối quan hệ, công việc và những tình huống nơi công cộng
Sau khi xuất bản Lo âu xã hội lọt vào top 100 quyển sách tâm lý bán chạy nhất tháng
của Fahasa cũng cho thấy sự quan tâm của độc giả Việt Nam về chứng rối loạn lo âu xã hội này
Phí Tường vào năm 2022, đã dịch quyển sách với tựa đề Tâm lý học về Lo âu của tác giả Đổng Tâm Khiết Tâm lý học về sự lo âu giới thiệu tới bạn đọc bản chất cũng như nguyên nhân gây ra trạng thái lo âu, dựa trên quan điểm và phân tích của các chuyên
Trang 17gia tâm lý học như Rollo May, Søren Aabye Kierkegaard, Sigmund Freud, Otto Rank, Christopher Dawson Kết hợp lý luận với thực trạng về chứng rối loạn lo âu trong xã hội ngày nay, nhằm tìm hiểu sâu hơn cách suy nghĩ và phương pháp tư duy của những người mắc hội chứng này thông qua phân tích sáu loại hình rối loạn lo âu cơ bản, bao gồm chứng ám ảnh sợ hãi chuyên biệt, cơn hoảng loạn, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn
lo âu lan toả, rối loạn căng thẳng sau sang chấn và chứng rối loạn ám ảnh sợ xã hội Cũng vào năm 2022, nhóm tác giả trong đó có PGS.TS Bùi Quang Huy tái bản lại quyển sách Rối loạn lo âu được xuất bản hơn 10 năm trước Nội dung của quyển sách nói về đại cương của RLLA cũng như phân loại các RLLA như RRLA lan tỏa, RLLA ám ảnh cưỡng bức… Ở lần tái bản này tác giả cũng đề cập đến việc cập nhật những kiến thức mới nhất của thế giới về bệnh này
Hướng 2: Nghiên cứu về lo âu trên bình diện thực tiễn
Trên bình diện thực tiễn, các nghiên cứu chủ yếu hướng đến tìm hiểu thực trạng
lo âu, mức độ lo âu của học sinh trung học cơ sở cũng như các yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân gây ra lo âu ở học sinh:
Một số nghiên cứu hướng tới xác định thực trạng rối loạn lo âu cao ở các nước
Dân số toàn cầu bị ảnh hưởng bởi rối loạn lo âu đã được báo cáo là 264 triệu, tăng 14,9% so với năm 2005, bao gồm cả độ tuổi và dân số tăng trưởng (WHO, 2017)
Ở khu vực châu Mỹ, 7.7% dân số nữ ước tính mắc chứng rối loạn lo âu, trong khi tỉ lệ nam giới mắc chứng rối loạn lo âu là 3.6%
Macrory và cộng sự trong “Đo lường phúc lợi quốc gia: Cuộc sống của Vương Quốc Anh năm 2016” đã báo cáo một nghiên cứu tại Vương Quốc Anh vào năm 214 cho thấy 19,7% người từ 16 tuổi trở lên tỏ ra lo âu hoặc triệu chứng trầm cảm Tỉ lệ này tăng 1,5% so với năm 2013, nữ chiếm 22,5% và nam 16,8% [69]
Theo Viện Y tế và Phúc lợi Úc năm 2021 thì cứ 5 người (21%) thì có 1 người từng bị rối loạn tâm thần trong đời có các triệu chứng trong 12 tháng trước cuộc phỏng vấn khảo sát Đối với những người này, rối loạn lo âu là loại rối loạn phổ biến nhất (17%), tiếp theo là rối loạn cảm xúc (8%) và rối loạn sử dụng chất kích thích (3%).[70]
Các nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ mắc lo âu thường gặp ở vị thành niên như các công trình:
Burstein (2014) trong nghiên cứu “Ngưỡng và dưới ngưỡng lo âu tổng quát rối loạn ở thanh thiếu niên Hoa Kỳ: tỷ lệ lưu hành, đặc điểm xã hội học và lâm sàng”
Trang 18Nghiên cứu tiến hành trên trên 10123 thanh thiếu niên 13-18 tuổi ở Mỹ đã báo cáo triệu chứng bồn chồn xuất hiện với tỉ lệ 71,3% và căng cơ 46,74% thuộc nhóm các triệu chứng hay gặp ở thanh thiếu niên mắc RLLALT So sánh giữa các giai đoạn đầu, giữa và cuối thanh thiếu niên, nghiên cứu nhận thấy: triệu chứng bồn chồn có hình chữ U đảo ngược.4
Sự phân bố triệu chứng bồn chồn theo tuổi này khác với trong nghiên cứu của chúng tôi: khi báo cáo mức độ nặng của triệu chứng bồn chồn tăng dần từ đầu đến cuối tuổi thanh thiếu niên [42]
Năm 2019, Mohammadi trong “Rối loạn lo âu tổng quát: Tỷ lệ phổ biến, yếu tố
dự báo và bệnh đi kèm ở trẻ em và thanh thiếu niên” đã tiến hành một nghiên cứu lớn trên 29709 trẻ em và thanh thiếu niên Iran trong độ tuổi từ 6-18 Nghiên cứu cho kết quả: tỉ lệ mắc RLLALT đều tăng dần từ thời thơ ấu đến độ tuổi thanh thiếu niên Tuy nhiên, xung quanh tuổi 14, RLLALT có một sự sụt giảm đáng kể về tỉ lệ mắc, sau đó lại tiếp tục khuynh hướng tăng lên về tỉ lệ mắc ở các lứa tuổi tiếp theo [50]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính có 10 đến 20% trẻ vị thành niên đã từng trải qua các vấn đề về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi, (WHO, 2005) Tại Việt Nam, có khoảng 8% đến 21% trẻ em và vị thành niên mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung (UNICEF VIETNAM, 2018) Theo một báo cáo của Hoàng Cẩm Tú, ở hai phường Kim Liên và Trung Tự (Hà Nội) rối loạn lo âu - trầm cảm ở lứa tuổi 4 đến 18 chiếm 2,22% Tỉ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em tại khoa Tâm thần Viện Nhi chiếm 30% các rối loạn tâm thần, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất ở lứa tuổi
Theo Phạm Thị Thu Hoa; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014) trong nghiên cứu
“Thực Trạng Biểu Hiện Rối Loạn Lo Âu Ở Học Sinh Trường Thcs Phương Mai - Hà Nội Khi Sống Trong Gia Đình Có Bạo Lực” nhận thấy có sự khác biệt rất lớn giữa tỉ lệ nam và nữ Trong khi tỉ lệ học sinh nữ có biểu hiện RLLA là 71,43% thì tỉ lệ có biểu hiện RLLA ở học sinh nam là 28,57% [6]
Trang 19Theo Trần Thị Thu Mai (2015) trong nghiên cứu “Rối Loạn Lo Âu Của Sinh Viên Một Số Trường Sư Phạm Tại Thành Phố Hồ Chí Minh” Khi xét về tiêu chí giới tính: ở mức độ RLLA nhẹ thì số lượng nữ SV cao gấp 2 lần nam SV; mức độ RLLA trung bình thì số lượng nữ SV gấp gần 1,5 lần nam SV và ở mức độ RLLA nặng thì số lượng nam SV lại nhiều hơn nữ SV 1,5 lần [16]
Theo Hoàng Thị Quỳnh Lan (2020) trong nghiên cứu “Mối Tương Quan Giữa Căng Thẳng Học Tập Và Mức A, Trầm Cảm, Stress Của Sinh Viên Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội” cho thấy có sự khác biệt về mức độ lo âu giữa giới nam và nữ, cụ thể M = 2,24 có biểu hiện lo âu nhiều hơn sinh viên nam M = 1,82, và sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê [14]
Theo Nguyễn Hoàng Yến và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Đặc Điểm Rối Loạn Lo Âu Lan Tỏa Của Thanh Thiếu Niên” thì tỉ lệ thanh thiếu niên là nữ có rối loạn
lo âu lan tỏa cao hơn nam sấp xỉ là 1.8:1 [37]
Nghiên cứu RLLA ở sinh viên trong thời kì COVID của tác giả Đào Thị Diệu Linh, Đào Thị Cẩm Nhung (2021) trong “Rối Loạn Lo Âu Của Sinh Viên Trong Thời
Kì Covid 19 Và Một Số Yếu Tố Liên Quan” thì đa số sinh viên có biêu hiện lo âu là nữ, chiếm 94,7%; số lượng sinh viên nam có biểu hiện lo âu chỉ chiếm 5,3% [15]
Một số công trình nghiên cứu xác định khối lớp có học sinh có tỉ lệ lo âu cao nhất
Một khảo sát ở nước ngoài của tác giả R Zare trên các học sinh trung học cơ sở tại Ấn độ cũng đưa ra nhận định tương tự chúng tôi khi cho thấy học sinh ở các khối lớp cao thì tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress càng tăng [trích theo 36]
Theo Phạm Thị Thu Hoa và Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014) trong nghiên cứu
“Thực Trạng Biểu Hiện Rối Loạn Lo Âu Ở Học Sinh Trường Thcs Phương Mai - Hà Nội Khi Sống Trong Gia Đình Có Bạo Lực” nhận định rằng trẻ mắc rối loạn lo âu đỉnh điểm ở tuổi 13, sau đó giảm xuống rất thấp ở tuổi 15 rồi tăng lại [6]
Theo Nguyễn Thị Vân, Lê Ngọc Dung, “Thực Trạng Mức Độ Lo Âu Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Tại Tỉnh Vĩnh Long” Nghiên cứu ở học sinh trung học phổ thông tại Vĩnh Long, khi so sánh RLLA giữa các khối lớp thì khối lớp 12
có lo âu nhiều hơn lớp 10,11, giải thích cho điều này là do các em đang chuẩn bị kết thúc trường học phổ thông để vào đại học [33]
Trang 20Còn theo Nguyễn Thanh Tâm (2016) trong nghiên cứu “Thực trạng lo âu và các hình thức ứng phó của học sinh trung học phổ thông” và Nguyễn Thị Vân (2019) trong nghiên cứu “Lo Âu Học Đường Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Tại Thành Phố
Hồ Chí Minh”, thì có sự khác biệt có ý nghĩa giữa sự lo âu các khối lớp, cụ thể khối lớp
10 cao hơn hẳn khối lớp 11 và khối lớp 12 Có thể do học sinh lớp 10 các em mới chuyển tiếp từ cấp học THCS lên cấp học THPT với môi trường học tập hoàn toàn mới: kiến thức và phương pháp học tập hoàn toàn khác so với cấp học dưới, bạn bè mới, thầy cô giáo mới các em chưa quen với môi trường học tập mới [25][34]
Theo Ngô Anh Vinh và cộng sự (2022) trong nghiên cứu “Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Rối Loạn Trầm Cảm, Lo Âu, Stress Ở Học Sinh Tại Trường Thcs Tây Sơn
Và Nguyễn Du - Hà Nội” thì học sinh khối lớp 8 và 9 có nguy cơ bị trầm cảm, lo âu và stress cao hơn 1,5 lần học sinh khối lớp 6 và 7 bởi vì học sinh khối lớp cuối cấp (lớp 8
và 9) có thể sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực và khó khăn hơn khối đầu cấp (lớp 6 và 7) [36] Cụ thể, độ khó về kiến thức trong học tập sẽ tăng dần theo các khối lớp và đồng nghĩa với việc áp lực học tập sẽ tăng theo Ngoài ra, học sinh cuối cấp còn phải đối mặt với những áp lực với kì thi chuyển cấp lên cấp 3
Một số nghiên cứu hướng tới việc xác định các yếu tố học tập ảnh hưởng tới lo
âu, cụ thể:
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm và cộng sự (2016) về “Thực trạng lo âu và các hình thức ứng phó của học sinh trung học phổ thông” nhận thấy các em HS giỏi thường có nhiều áp lực và lo lắng hơn các em HS khá và trung bình [25]
Khác với nghiên cứu trên, Hoàng Thị Thanh Huệ trong nghiên cứu “Lo âu học tập và mối liên hệ với rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội”, cho thấy có sự khác biệt về mức độ lo âu học tập giữa các HS có lực học khác nhau Các HS
có GPA > 9,0 thì có mức độ lo âu học tập (ĐTB = 2,81) thấp hơn so với các bạn có GPA 7,0 - <8,0 (ĐTB = 3,04) và thấp hơn so với các bạn có GPA 8,0 - < 9,0 (ĐTB = 3,02)
Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê với độ tin cậy p<0,01 Có thể thấy, những
HS có mức độ về lo âu học tập thấp thì có kết quả học tập cao hơn và ngược lại Nguyên nhân dẫn đến khác biệt này có thể do đa phần các HS có thành tích học tập tốt là những
em có khả năng tiếp thu kiến thức tốt, có chiến lược học tập hiệu quả dẫn đến việc các
em có nhiều sự tự tin hơn, ít lo âu hơn trong học tập [10]
Trang 21Nghiên cứu của Hoàng Thị Quỳnh Lan (2020) “Mối Tương Quan Giữa Căng Thẳng Học Tập Và Mức A, Trầm Cảm, Stress Của Sinh Viên Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội”, cho thấy mức độ lo âu có sự tương quan với áp lực học tập (p<0.01); khối lượng công việc (0.024); lo lắng điểm số (0.008); thất vọng bản thân (0.001); kỳ vọng bản thân (0.001) căng thẳng trong học tập (<0.001) [14]
Ngoài ra, nghiên cứu của Ngô Văn Mạnh (2020) trong “Thực Trạng Lo Âu, Trầm Cảm Ở Học Sinh Lớp 12 Tại 2 Trường Trung Học Phổ Thông Của Thành Phố Thái Bình Năm 2020” chỉ ra rằng đối tượng hiếm khi nhận được sự quan tâm của các thầy cô có nguy cơ mắc lo âu cao gấp 2,41 lần so với người thường xuyên được quan tâm [17]
Một số nghiên cứu hướng tới việc xác định các yếu tố gia đình ảnh hưởng tới lo
âu ở học sinh, cụ thể:
Nghiên cứu về rối loạn lo âu ở trẻ em Thổ Nhĩ Kì của tác giả T Mutluer Prevalence trong “Bệnh đi kèm và trung gian của rối loạn lo âu thời thơ ấu ở thành thị Thổ Nhĩ Kỳ: một nghiên cứu dịch tễ học đại diện quốc gia” phát hiện ra rằng tuổi của người cha tăng lên cũng có liên quan đến nguy cơ mắc chứng rối loạn lo âu ở trẻ em cao hơn, đồng thời trình độ học vấn của bố và mẹ, tiền sử bệnh tật và tiền sử bệnh tâm thần của mẹ và tiền sử bệnh tật của bố được cho là có sự khác biệt về mặt thống kê giữa trẻ mắc và không mắc chứng rối loạn lo âu [58]
Theo Kathleen Ries Merikangas, PhD (2005) trong nghiên cứu “Các yếu tố dễ tác động đến rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên” nói rằng tỷ lệ rối loạn lo âu nói chung cao hơn ở những người có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn [48]
Cùng kết quả như vậy thì Hyunkyu Kim và cộng sự (2021) “Mối liên hệ giữa chất lượng giấc ngủ và sự lo lắng ở thanh thiếu niên Hàn Quốc” nhận thấy rằng tỉ lệ lo lắng cao hơn với người có tình trạng kinh tế thấp và mức độ căng thẳng nhận thức cao [46]
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Đạt (2019) trong nghiên cứu “Tỉ Lệ Rối Loạn Lo
Âu Lan Tỏa Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Ở Sinh Viên Đại Học Y Hà Nội Năm 2018
- 2019”, cho thấy nhóm SV có gánh nặng tài chính cao hơn nhóm không có gánh nặng tài chính (21,3% so với 8,1%; p < 0,01) [1]
Theo Ngô Anh Vinh và cộng sự (2022) Theo Ngô Anh Vinh và cộng sự (2022) trong nghiên cứu “Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Rối Loạn Trầm Cảm, Lo Âu, Stress
Ở Học Sinh Tại Trường Thcs Tây Sơn Và Nguyễn Du - Hà Nội”, nói rằng các trẻ có
Trang 22mối quan hệ mâu thuẫn với bố mẹ có nguy cơ lo âu cao hơn 1,7 lần so với các trẻ có mối quan hệ hoà hợp [36]
Theo Ngô Văn Mạnh, Phạm Thị Hương Ly (2021) trong nghiên cứu“Thực Trạng
Lo Âu, Trầm Cảm Ở Học Sinh Lớp 12 Tại 2 Trường Trung Học Phổ Thông Của Thành Phố Thái Bình Năm 2020”, về yếu tố gia đình những học sinh có bố mẹ ly hôn có nguy
cơ mắc rối loạn lo âu cao gấp 1,90 lần so với học sinh trong gia đình bố mẹ sống hòa thuận Cùng với những tác động khác trong yếu tố gia đình tới rối loạn lo âu của học sinh, nghiên cứu cũng cho thấy những trẻ được quan tâm ở mức độ tốt sẽ có nguy cơ mắc rối loạn lo âu chỉ bằng 0,33 lần so với trẻ nhận được sự quan tâm của bố mẹ ở mức
độ bình thường [17]
Theo Hoàng Thị Thanh Huệ, Ngô Thanh Huệ (2021) trong nghiên cứu “Lo âu học tập và mối liên hệ với rối loạn lo âu ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội” Thứ tự con trong gia đình cũng gây ảnh hưởng đến rối loạn lo âu của trẻ, Các HS là con một có mức độ lo âu (ĐTB = 3,36) cao hơn so với những HS có thứ tự sinh khác trong gia đình Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê với độ tin cậy p=0,03 [10]
Một số nghiên cứu hướng tới việc xác định các yếu tố sinh hoạt của bản thân ảnh hưởng tới lo âu, cụ thể:
Nghiên cứu của Đào Thị Diệu Linh, Đào Thị Cẩm Nhung (2021) trong “Rối Loạn
Lo Âu Của Sinh Viên Trong Thời Kì Covid 19 Và Một Số Yếu Tố Liên Quan”, cho thấy việc sinh viên đánh giá tình hình sức khỏe của mình kém đi là một trong những yếu tố
có liên quan và có khả năng dự báo nguy cơ sinh viên có biểu hiện rối loạn lo âu [15]
Theo Hồ Thị Trúc Quỳnh (2021) trong nghiên cứu “Sử Dụng Facebook Có Vấn
Đề Và Trầm Cảm Ở Sinh Viên Đại Học Huế: Vai Trò Trung Gian Của Căng Thẳng Và
Lo Âu”, Căng thẳng và lo âu có tương quan thuận với sử dụng Internet có vấn đề và trầm cảm Việc sử dụng Internet quá mức và thiếu kiểm soát có thể khiến người dùng
so sánh xã hội, ghen tị, cảm giác cô đơn từ đó phát triển căng thẳng, lo âu, trầm cảm [22]
Theo Hyunkyu Kim và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Mối liên hệ giữa chất lượng giấc ngủ và sự lo lắng ở thanh thiếu niên Hàn Quốc” Sự phụ thuộc vào điện thoại thông minh cho thấy mối liên hệ với lo âu đồng thời chất lượng giấc ngủ có sự liên quan quan trọng với chứng rối loạn lo âu, chặt chẽ hơn đến sự lo âu ở thanh thiếu niên nam
so với thanh thiếu niên nữ [46]
Trang 23Tóm lại, khóa luận nghiên cứu tổng quan theo hai hướng Hướng thứ nhất: Nghiên cứu lo âu trên bình diện lý luận, tôi đã tổng hợp những quan điểm về lo âu trên thế giới
và Việt Nam, đồng thời tôi đã tổng hợp các thang đo lo âu gồm Thang tự đánh giá lo âu Zung do William W K Zung; Thang công cụ đánh giá trầm cảm, lo âu, stress DASS do Lovibond ; Thang đánh giá lo âu theo Hamilton; Thang đo Rối loạn lo âu tổng quát GAD – 7; Thang lo âu thi cử TAS và TAI Hướng thứ hai: Nghiên cứu lo âu trên bình diện thực tiễn, tôi đã tổng hợp các nghiên cứu về thực trạng lo âu trên thế giới và cả Việt Nam; đồng thời tôi còn hệ thống hóa các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến lo
âu của học sinh như các yếu tố giới tính; học lực, lớp, yếu tố gia đình và các yếu tố sinh hoạt
1.2 Lý luận về lo âu
1.2.1 Khái niệm về lo âu
“Lo âu” được dịch ra Tiếng Anh là Anxiety Charles Dawin - Ông tổ của ngành sinh vật trong tác phẩm: “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” 1872 đã mô tả:
“con người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên” [30]
Theo Từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (2001): Lo âu là việc chờ đón
và suy nghĩ về một điều gì đó mà không chắc có thể đối phó được Nếu sự việc cụ thể
mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái
gì, sợ về cái gì, đó là hãi [35]
Theo Từ điển tâm lý học của Vũ Dũng (2008) khái niệm lo âu được định nghĩa như sau: Lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể [2]
Lo âu là một trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ và không thoải mái; nguyên nhân thường không rõ ràng Lo âu ít gắn liền với thời gian chính xác của một mối đe dọa; nó có thể được dự đoán trước một mối đe dọa, tồn tại sau khi một mối đe dọa đã trôi qua, hoặc xảy ra mà không có một mối đe dọa có thể nhận biết được Lo âu thường kèm theo những thay đổi về mặt cơ thể và hành vi tương tự như những gì gây ra bởi sự sợ hãi (MSD Manual)
Lo âu thường gặp là một cảm giác bất an, lo sợ mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể bất cứ bộ phận nào Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như một tín hiệu
Trang 24báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong Ernest Jones- học trò của S.Freud đã đưa ra các trạng thái lo âu khác nhau: sợ, kinh sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, sợ hãi
và lo âu Ông mô tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu:
- Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài nguy hiểm có thực đang đến, vì vậy có tính chất sống còn
- Ngược lại lo âu giống như sợ nhưng lại không có sự đe dọa rõ ràng, không cân xứng giữa kích thích bên ngoài và biểu hiện tâm thần, cơ thể [30]
Theo DSM- IV cho rằng lo âu là trạng thái lo lắng quá mức và cá nhân rất khó khăn hoặc mất sự kiểm soát những lo âu này Những người trải nghiệm sự lo âu khó kiểm soát những cảm xúc của bản thân, những xúc cảm tiêu cực thường tạo ra sự đảo lộn hay sự mất năng lực trong phạm vi của bản thân [39]
Trong cuốn DSM- V thì lo âu bao gồm các tính năng của sự sợ hãi quá mức, sự
lo lắng và rối loạn hành vi liên quan Sợ hãi là phản ứng cảm xúc thực tại để đón nhận mối đe dọa sắp xảy ra, trong khi lo lắng là dự đoán của các mối đe dọa trong tương lai [40]
Lo lắng và sợ hãi là hai trạng thái chồng chéo lên nhau nhưng chúng khác nhau, với nỗi sợ hãi thường gắn liền với phản ứng thực tại cần thiết khi gặp sự cố, mối đe dọa
kể cả những suy nghĩ mang tính nguy hiểm Còn lo lắng thường gắn liền với tình trạng căng cơ và cảnh giác về những mối nguy hiểm trong tương lai và hành vi thận trọng Đôi khi mức độ sợ hãi hoặc lo lắng giảm đi khi thực hiện hành vi né tránh
Theo Bác sĩ Lê Quốc Nam (2014), Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh thì lo âu thông thường và lo âu bệnh lý (rối loạn lo âu) được phân biệt như sau:
+ Lo âu thông thường: là một đáp ứng với tình huống có tính chất đe dọa, sau một thời gian thường tự hết hoặc chỉ cần trấn an cũng tự hết
+ Lo âu bệnh lý: là lo âu quá mức hay dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, không mất đi với sự trấn an và có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ quá mức hay vô
Trang 25những người có rối loạn lo âu thường lo lắng những việc không có đối tượng/ chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ
+ Về biểu hiện: lo âu bình thường không có hoặc có rất ít các rối loạn thần kinh thực vật còn những người có rối loạn lo âu thường có nhiều những rối loạn thần kinh thực vật như: tim đập nhanh, thở gấp, tay run rẩy, ra mồ hôi, bất an + Về thời gian: lo âu bình thường thường xảy ra nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của cá nhân, cá nhân sẽ hết lo âu khi các tác động này mất đi còn những người bị rối loạn lo âu có thời gian biểu hiện các rối loạn kéo dài và lặp đi lặp lại [59]
Theo bác sĩ CKII Trần Thị Hải Vân (2021), Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng, có thể phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý cụ thể như sau:
Lo âu bình thường là một phản ứng cảm xúc tất yếu của mỗi cá thể trước những khó khăn, thử thách, những thay đổi, những điều chưa trải nghiệm để thích ứng với cuộc sống (Lo âu trước kỳ thi, trước một sự thay đổi mới lạ, người già sợ ốm ) Lo âu diễn biến nhất thời, không có hoặc có rất ít triệu chứng cơ thể
Còn với lo âu bệnh lý thì sự lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, môi trường, không có chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của bệnh nhân
Bảng 1.1 So sánh lo âu bình thường và lo âu bệnh lý
Lo âu bình thường Lo âu bệnh lý (Rối loạn lo âu)
Lo âu không làm ảnh hưởng đến công
việc, hoạt động hàng ngày
Lo âu làm ảnh hưởng đến công việc, hoạt động hàng ngày
Lo âu có thể kiểm soát được Lo âu không thể kiểm soát được
Lo âu gây khó chịu đôi chút, không nặng
Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ, luôn
có xu hướng chờ đợi những kết cục xấu
Lo âu chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất
định
Lo âu kéo dài ngày này qua ngày khác
Trang 26Tóm lại từ khái niệm, quan điểm và nhận định của các tác giả trên tôi cho rằng:
Lo âu là một trạng thái bất an, lo sợ mơ hồ khi gặp những khó khăn, nguy hiểm trong cuộc sống nhưng cá nhân chưa có cách ứng phó
Trong cuộc sống thì chúng ta thường sẽ gặp những vấn đề khiến chúng ta phải lo lắng, suy nghĩ cần phải giải quyết và khi đó lo âu là tín hiệu báo trước Lo âu bình thường (chưa ở mức bệnh lý) giúp chúng ta quan tâm đến vấn đề bất an, sự nguy hại liên quan đến bản thân hay người khác, lo âu nhắc chúng ta tìm ra cách để vượt qua những khó khăn hoặc đề phòng những trường hợp nguy hiểm có thể đến Tuy nhiên, chúng ta lo âu quá mức hoặc lo âu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý và làm giảm chất lượng cuộc sống
1.2.2 Đặc điểm, biểu hiện của lo âu
Theo nghiên cứu của Trần Đình Xiêm (2000) về lo âu cho thấy một số đặc điểm sau:
“Về đặc điểm lo âu: Trong rối loạn lo âu lan tỏa, lo âu là triệu chứng chính với các nét đặc trưng sau: Lo âu vì những lý do rất nhỏ và những sự việc thường ngày Phạm
vi lo âu thường không tương xứng với lý do và tình huống liên quan Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Heimberg (1999) cho kết quả không tương đồng: không có sự khác biệt nhiều về nội dung lo âu giữa 2 nhóm lo âu bình thường và lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa Chính vì vậy, khi xem xét về lo âu bệnh lý, chúng ta nên chú trọng vào việc tìm hiểu xem bệnh nhân lo âu như thế nào hơn là lo âu về điều gì
Về đặc điểm liên quan đến tim mạch và tiêu hóa: Phân theo nhóm tuổi, thì hiện tượng đau ngực gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 18 đến 35 tuổi, từ 36 tuổi trở lên hiện tượng này có tỷ lệ giảm dần Hiện tượng hồi hộp, tim đập nhanh chiếm tỷ lệ cao và phân bố đều ở các nhóm tuổi
Người có lo âu luôn than phiền về các cảm giác đầy bụng, khó tiêu, cồn cào, nóng rát trong ruột, kèm theo là cảm giác khô miệng Do đó, việc nắm vững một số đặc điểm của triệu chứng tim mạch và tiêu hóa là rất cần thiết” [38]
Trong cuốn DSM- IV [39]cho rằng: các biểu hiện của lo âu nhìn chung thuộc hai nhóm chính:
- Cảm giác lo lắng hay cảm thấy bị đe dọa mơ hồ, dai dẳng
- Các cảm giác của rối loạn hoạt động tự động (thần kinh thực vật)
Các triệu chứng biểu hiện bên ngoài của lo âu bao gồm:
Trang 27Bảng 1.2 Biểu hiện bên ngoài của lo âu Peripheral Manifestation of Anxiety Biểu hiện bên ngoài của lo âu
Upset stomach (“butterflies”)
Urinary frequency, hesitancy, urgency
Bị tiêu chảy Chóng mặt, choáng váng Tăng tiết mồ hôi
Tăng phản xạ Tăng huyết áp Đánh trống ngực
Co giãn đồng tử Bồn chồn (ví dụ, nhịp)
Sự bất tỉnh Nhịp tim nhanh Đau nhói vùng đầu chi Run
Khó chịu vùng thượng vị Tần số tiết niệu, do dự, tính cấp bách
Lo âu có thể ảnh hưởng đến chức năng nghề nghiệp và xã hội, rối loạn giấc ngủ, suy nhược cơ thể Các hoạt động tâm thần như tư duy, nhận thức, học tập cũng giảm sút nhiều
Nhận thức của bệnh nhân có thể bị méo mó Lo âu, đặc biệt là lo âu lan tỏa hay rối loạn hoảng sợ, bệnh nhân có thể có tri giác sai thực tại Không chỉ về thời gian và không gian mà ngay cả con người và ý nghĩa của các sự kiện
Hoạt động tư duy bị giảm sút rõ ràng Cụ thể là bệnh nhân khó tập trung, liên tưởng kém và đặc biệt là hay quên do khó truy cập lại các thông tin được lưu trữ
Lo âu giống như vòng luẩn quẩn Bệnh nhân thường chỉ tập trung vào một số đồ vật hay sự kiện cụ thể nào đó Liên tưởng chúng với những mối đe dọa có thể xảy đến Khi không chắc chắn về điều này thì bệnh nhân lại tăng lo âu và tìm cách lý giải ở sự vật hay hiện tượng khác
Cũng tương tự như vậy, bệnh nhân rối loạn lo âu thường bị rối loạn giấc ngủ Điều này làm tăng những ý nghĩ bệnh lý không chủ đích Những ý nghĩ này khiến đầu
Trang 28óc bệnh nhân luôn bận rộn Điều này càng làm cho bệnh nhân mất ngủ [31]
Verreault.M, Berthiaume.C, & Racicot.G (2007) [56] cho rằng các thể thức khác nhau
để diễn tả lo âu như sau:
Hình 1.5: Sơ đồ các thể thức khác nhau để diễn tả lo âu
Về mặt cảm giác có một số biểu hiện như: Chóng mặt, đau đầu, đỏ mặt, thở gấp, nghẹn cổ họng, run rẩy, đau bụng, buồn nôn, muốn đi vệ sinh, tim đập nhanh, nổi da gà,
đổ mồ hôi, tay ẩm ướt
Về mặt suy nghĩ có một loạt các biểu hiện:
- Lo sợ về một điều tồi tệ và chuẩn bị phần lớn thời gian cho nó
- Không chấp nhận đến sự không chắc chắn
- Diễn giải theo cách thảm hoạ sai lệch nhiều các tình huống khác nhau
- Đánh giá quá mức sự nguy hiểm (các suy nghĩ chiếm hết mọi chỗ)
Theo bác sĩ Lâm Tứ Trung, Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng, lo âu biểu hiện thông qua cảm xúc, thể chất, suy nghĩ và hành vi, cụ thể:
- Các triệu chứng cảm xúc: lo lắng, nỗi sợ, cáu gắt, căng thẳng, kinh sợ
Duy trì mức độ sợ hãi
Trang 29+ Tim đập loạn nhịp, hồi hộp, đánh trống ngực
+ Bồn chồn và đứng ngồi không yên
+ Khó đi vào giấc ngủ hoặc ngủ không sâu giấc
+ Hành vi trốn tránh
+ Sử dụng các chất kích thích, rượu bia
1.2.3 Các biện pháp hỗ trợ tâm lý làm giảm tình trạng lo âu
Để có thể làm giảm các biểu hiện của tình trạng lo âu cần có sự tác động của nhiều khía cạnh như: y dược, bằng các liệu pháp tâm lý Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến các biện pháp hỗ trợ tâm lý
Biện pháp hỗ trợ tâm lý bằng liệu pháp điều chỉnh nhận thức, hành vi của Beck và Albert Ellis
* Các kỹ thuật trong liệu pháp nhận thức của Beck
Với mục đích làm bộc lộ và kiểm tra ý nghĩ nhằm thay đổi hành vi của thân chủ,
kỹ thuật của liệu pháp nhận thức bao gồm 4 quá trình sau:
Thứ nhất: là nhận diện các tư duy tự động bao gồm các niềm tin không hợp lý (Identifying irrational beliefs), nhà nghiên cứu phải cho họ thấy rằng cảm xúc của họ (hay còn gọi là hậu quả cảm xúc) không phải do người khác hoặc các sự kiện kích hoạt gây ra, bản thân họ cần hiểu rằng chính cách mà họ làm, họ cảm nhận và thể hiện, cư xử
ra bên ngoài chịu sự chi phối từ niềm tin không hợp lý- nhận thức sai lệch của bản thân mình
Thứ hai: là kiểm chứng các tư duy tự động, nhà trị liệu hướng dẫn và giúp đỡ học sinh kiểm chứng giá trị của các tư duy tự động, học sinh được hướng dẫn để sẵn sàng
Trang 30chất vấn lại với những ý nghĩ của họ trước một sự kiện đau buồn hoặc gây ra những cảm xúc khác, thay đổi suy luận của học sinh Mục đích khuyến khích học sinh đưa ra các giải thích thay thế cho các sự kiện là một cách làm xói mòn các tư duy tự động
Thứ ba: nhận diện các giả định kém thích ứng Một khi niềm tin đã nhận diện thì khuôn mẫu biểu hiện các nguyên tắc hay các giả định kém thích ứng dẫn dắt cuộc sống của học sinh đến với thất vọng, thất bại và cuối cùng là trầm cảm
Thứ tư: kiểm chứng và thay thế giá trị của giả định kém thích ứng Khi đã nhận diện được các giả định kém thích ứng Nhà tâm lý sẽ đương đầu với từng loại để giúp học sinh nhìn ra các sai lầm vốn có của niềm tin không hợp lý thông qua cuộc tranh luận
ý thức (cognitive disputation) bằng cách hỏi- yêu cầu đưa ra- giải thích bằng chứng về niềm tin bởi những câu hỏi trực tiếp Hình thức thứ hai được lựa chọn để đương đầu với niềm tin là dùng tranh luận tưởng tượng (imaginal disputation), đây là kỹ thuật cho phép trí tưởng tượng của học sinh được ngược lại niềm tin không hợp lý, tưởng tượng với tình huống không thoải mái và từng thang bậc dễ chịu hơn, ít căng thẳng hơn hoặc giảm thiểu bất cứ điều gì liên quan đến cảm xúc tiêu cực Khi học sinh có thể nói ra rằng, bản thân đã tưởng tượng được việc giảm dần cường độ mạnh mẽ của cảm xúc, nhà trị liệu cần giúp học sinh tìm ra các suy nghĩ để tạo ra sự cải thiện về mặt nhận thức Theo đó, những suy nghĩ này sẽ được sự dụng trong những tình huống thật trong tương lai dễ thay thế các suy nghĩ đã sinh ra cảm xúc tiêu cực Kỹ thuật thứ ba là tranh luận hành vi (behavioral disputation) với mục đích là làm thay đổi hành vi của các niềm tin không hợp lý từ trước, các giả định kém thích ứng được chứng minh là sai hoàn toàn và một niềm tin mới đã được xuất hiện Từ những nền tảng cơ bản theo nguyên tắc của Beck, một số kỹ thuật tác động đã ra đời như sau:
Kỹ thuật thư giãn: Thường được sử dụng cho bệnh nhân có ám ảnh sợ với mục đích làm cho bệnh nhân giãn cơ, từ đó thư giãn về mặt tâm lý, gần như thiu thiu ngủ, khi đó mới tác động lên ám ảnh sợ của họ
Kỹ thuật ngồi thiền: Giúp cho bệnh nhân hít thở sâu, đều gạt bỏ các ý nghĩ trong đầu và tập trung vào thiền bằng các lời dẫn hoặc âm nhạc phù hợp
Giao bài tập để học sinh về nhà làm: thông qua những bài tập, học sinh sẽ hiểu
rõ về mình hơn Đề nghị học sinh mang theo cuốn sổ tay, trong đó có những cột ghi ngày, tháng, xuất hiện những cảm xúc vào thời điểm đó, những suy nghĩ chợt đến và những suy nghĩ thay thế cho suy nghĩ trước Nhà trị liệu cần tìm hiểu ý nghĩ nào đã làm
Trang 31cho học sinh có cảm xúc này, học sinh cần luôn sử dụng cuốn sổ tay, đặc biệt là khi có những cảm xúc mạnh Tiến trình giảm sự lo âu ở học sinh diễn ra như sau:
- Học sinh đang lo âu Việc tự nhận biết được bản thân đang lo âu ở bệnh nhân là điều tích cực
- Học sinh biết mình có thể tìm chiến lược để kiểm soát và tự đề ra giải pháp
- Đề kháng lại sự lo âu bằng cách học sinh tìm kiếm nguyên nhân gây ra lo âu của mình Khi đó, học sinh đã có cái nhìn khách quan nhìn nhận sự lo âu của mình
- Lo âu giảm sút khi họ tự đề ra chiến lược cho mình Đồng nghĩa với việc họ tự nhận thực được rằng chiến lược của mình đã có hiệu quả
* Biện pháp hỗ trợ tâm lý bằng liệu pháp điều chỉnh nhận thức, hành vi Albert Ellis
Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực
Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình
và không muốn phát huy khả năng [12], [43]
Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức) Chất lượng của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi
Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence) Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm
Trang 32xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp [12]
Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu logic (disputing intervention), E là tác động (effect),
và F- là những cảm xúc mới (new feelings).Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA)
và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance) Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế
Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác Ellis đã
tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều
đó Những người tham gia tác động bằng liệu pháp nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm Tuy nhiên, thời gian tham gia tác động theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)
Biện pháp hỗ trợ tâm lý bằng liệu pháp tâm lý nhóm
Liệu pháp tâm lý nhóm là đối tượng cần được hỗ trợ sẽ phân theo nhóm và nói chuyện theo những chủ đề có sẵn hoặc theo chủ đề tự chọn Trong nhóm, mỗi người có thể bày tỏ ý kiến của mình, tìm kiếm sự giúp đỡ và đồng cảm của nhóm Sinh hoạt nhóm giúp bệnh nhân có khả năng bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình, họ cảm thấy yên tâm
vì không phải là người duy nhất gặp các vấn đề về tâm lý, trở nên tự tin hơn, có khả năng xử lý tốt hơn trong việc ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống [67]
* Các kỹ thuật trong liệu pháp tâm lý nhóm [12], [43]
Kỹ thuật 1: Chia sẻ kinh nghiệm và cảm xúc trong nhóm
Trang 33Những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần thường cảm thấy cô đơn Với kỹ thuật này cần có một trưởng nhóm, thường là nhà tâm lý Trưởng nhóm sẽ yêu cầu từng người chia sẻ vấn đề của bản thân mình có liên quan đến chủ đề của buổi nói chuyện Khi tất cả mọi thành viên trong nhóm đã lắng nghe câu chuyện của từng người, nhóm
có thể thảo luận về điểm chung của mọi người, những khúc mắc và tự tìm ra hướng giải quyết
Kỹ thuật 2: Học cách thư giãn
Kỹ thuật này thực sự hữu ích cho những người đang bị căng thẳng, áp lực Yêu cầu mỗi người ở một nơi yên tĩnh, nơi mọi người có thể ngồi xuống, trưởng nhóm sẽ yêu cầu các thành viên làm theo hướng dẫn sau:
Nhắm mắt lại và tưởng tượng một nơi an toàn, yên tĩnh, nơi bạn muốn đến Có thể là trên một ngọn núi, một hồ nước hay trên một bãi biển và suy nghĩ về nơi đó cùng với nhịp hít vào thở ra đều đặn Hãy suy nghĩ tích cực, chẳng hạn như “tôi được bình an” hay “tôi được an toàn”, “tôi cảm thấy thoải mái”, “tôi thấy vui vì điều đó”
Giữ hơi thở đều đặn, tập trung suy nghĩ trong khoảng 20 phút Nếu bạn bắt đầu cảm thấy khó chịu hay sợ hãi trong khi tập luyện để thư giãn bạn hãy mở mắt ra và hít thở thật sâu
Kỹ thuật 3: Tạo ra một câu chuyện, một bộ phim
Nhóm có thể tạo nên một câu chuyện về một tình huống mà các thành viên trong nhóm tưởng tượng ra Trưởng nhóm bắt đầu câu chuyện và sau đó một thành viên khác tiếp tục cho phần tiếp theo, cứ thế cho đến hết các thành viên, toàn nhóm sẽ tổng hợp lại câu chuyện và trả lời các câu hỏi như: Những cảm xúc mà bạn có được trong câu chuyện này?; Tại sao lại có những cảm xúc đó?; Bạn phản ứng với những cảm xúc ấy như thế nào?; Kinh nghiệm bạn rút ra sau câu chuyện là gì?;
Việc trả lời được những câu hỏi trên sẽ giúp người có khó khăn giải quyết được phần nào những khúc mắc về tâm lý của bản thân
Kỹ thuật 4: Tìm hiểu về ảnh hưởng của xã hội tới bản thân người đang gặp vấn
Trang 34Biện pháp hỗ trợ tâm lý bằng cách phối hợp với gia đình học sinh
Khi làm việc với gia đình của học sinh, cần lưu ý các khía cạnh sau:
- Tìm hiểu chung về gia đình;
- Khai phá được vấn đề của gia đình đó;
- Giao tiếp giữa các thành viên của gia đình;
- Sự liên minh về quyền lực;
- Cây phả hệ;
Biện pháp này có thể bao gồm tất cả các thành viên trong gia đình hoặc chỉ những người có thể tham gia Kế hoạch gặp gỡ và làm việc với gia đình cụ thể sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình (về không gian, thời gian và địa điểm, tính chất gia đình ) Các buổi gặp gỡ gia đình có thể tư vấn cho họ những kỹ năng để làm sâu sắc thêm quan hệ gia đình và giải tỏa được căng thẳng, áp lực đến từ phía gia đình [43]
Biện pháp hỗ trợ tâm lý bằng thư giãn với Yoga và Thiền
Thư giãn được xem là một trong những liệu pháp thường dùng và rất có hiệu quả trong việc cải thiện các chứng bệnh tâm trí Đó là quá trình làm giảm mềm cơ bắp, giúp cho thần kinh, tâm trí được thư thái, qua đó làm giảm những cảm xúc tiêu cực hoặc chứng bệnh tâm thần (căng thẳng thần kinh, lo âu, ám sợ, trầm nhược, đau đầu ) do các nhân tố stress gây ra Các chuyên gia tâm thần, các nhà trị liệu tâm lý đều cho rằng thư giãn làm giảm chuyển hoá cơ bản, tiết kiêm năng lượng, khiến máu về tim dễ hơn và nhiều hơn Thư giãn giúp tập trung tư tưởng, ức chế vỏ não, ngắt bỏ những kích thích bên ngoài giúp tinh thần hết căng thẳng, làm chủ được giác quan và cảm giác Thư giãn giúp dập tắt dần những phản xạ được điều kiện hoá có hại cho cơ thể [12],[43]
Hiện tại có nhiều kỹ thuật thư giãn khác nhau được dùng trong việc hỗ trợ tâm
lý Tuy nhiên các kỹ thuật này chủ yếu được phát triển từ hai phương pháp: Thư giãn động, căng – chùng cơ (Progressive Muscle Relaxation) do Edmund Jacobson (1938) một bác sỹ tâm thần người Mỹ đề xướng hoặc thư giãn tĩnh – dựa vào tưởng tượng (Autogenies: imagery based relaxation) do Johannes Schultz (1932), một bác sỹ tâm thần người Đức đề xuất [43]
Các kỹ thuật thư giãn cơ bản
Kỹ thuật thư giãn cơ theo Yoga
Bước 1: Đứng thư giãn với hai tay xuôi theo thân mình và dang hai bàn chân một cách thoải mái
Trang 35Bước 2: Nghiêng đầu ra sau và đếm chậm đến 5
Bước 3: Xoay đầu về phía trước và đếm chậm đến 5
Bước 4: Thở ra khi cuộn tròn cơ thể về phía trước và vặn mình ở phía eo, hai cánh tay thõng xuống và từ từ đếm đến 5
Bước 5: Hít vào thật chậm bằng miệng và từ từ duỗi thẳng người đồng thời giơ hai cánh tay lên qua đầu – căng giãn hết mức có thể Sau đó hạ tay xuống xuôi theo thân mình và thở ra
Cuối cùng lặp lại vài lần
Kỹ thuật thở có kiểm soát
Bước 1: Sử dụng một tấm thảm tập yoga hoặc một chăn mỏng gấp lại – nằm xuống giữ thẳng lưng trên sàn nhà và đặt một cuốn sách hoặc tạp chí loại lớn lên bụng
Bước 2: Gập đầu gối (bạn có thể nhắm mắt nếu điều này giúp bạn thư giãn hơn) Bước 3: Hít vào và đẩy bụng căng lên (chứ không phải phần ngực trên) hết mức
có thể và từ từ đếm đến 5, sau đó thở ra thật chậm Bạn có thể tự nhủ “Tôi đang thư giãn” khi đang thở ra
Lặp lại vài lần với các bước như trên
Áp dụng kĩ thuật sau đây khi xuất hiện một phản ứng sinh lí đối với một tình huống căng thẳng, giúp cho các biến đổi sinh lí do tình trạng này giảm dần và trở về trạng thái không căng thẳng
Kỹ thuật đáp ứng cùng với sự thư giãn
Bước 1: Ngồi (hoặc nằm) ở một vị trí thoải mái yên tĩnh và nhắm mắt lại
Bước 2: Bắt đầu với hai bàn chân và thư giãn tinh thần với từng nhóm cơ chuyển động lên đến đầu – bắp chân, đùi, eo, bụng, hai cánh tay, ngực, cổ, mặt và trán
Bước 3: Hít vào bằng mũi và nhẹ nhàng đẩy bụng căng ra (chứ không phải phần ngực trên)
Bước 4: Thở ra và thư giãn phần bụng
Lặp lại bài tập này trong khoảng 10-20 phút
Khi hoàn tất bài tập, mở mắt ra nhưng vẫn giữ nguyên tư thế nằm hoặc ngồi thêm vài phút
Kỹ thuật thư giãn tăng dần
Bước 1: Nằm thẳng trên thảm tập yoga hoặc một tấm chăn gấp lại – mắt nhắm và đầu gối gập lại
Trang 36Bước 2: Bắt đầu với bàn chân phải, ép chặt bàn chân xuống nền nhà và đếm từ
từ đến 5, sau đó thả lỏng; lặp lại với chân trái
Bước 3: Duỗi thẳng hai chân, ép chặt phần sau dưới của chân phải xuống nền nhà
và đếm từ từ đến 5, sau đó thả lỏng; lặp lại với chân trái
Bước 4: Ép chặt từng vùng sau xuống nền nhà và đếm chậm đến 5, sau đó thả lỏng (mỗi lần một vùng):
- Vùng đùi sau và mông
- Vùng lưng dưới và xương bả vai
- Hai cánh tay
- Vùng phía sau đầu
1.3 Lý luận về học sinh Trung học Cơ sở
1.3.1 Khái niệm học sinh Trung học Cơ sở
THCS là một cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam “Học sinh THCS” là thuật ngữ dùng để chỉ các em học sinh đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trong
hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, trên tiểu học và dưới trung học phổ thông [dẫn theo 41] Thông thường độ tuổi học sinh ở trường THCS là từ 12 đến 15 tuổi
Theo tâm lý học phát triển, độ tuổi khoảng từ 11, 12 đến 16, 17 được xếp vào lứa tuổi thiếu niên Vì vậy, đề tài nghiên cứu về lo âu của học sinh THCS dựa trên cơ sở sự phát triển lứa tuổi thiếu niên Đây được xem như là giai đoạn “nổi loạn và bất trị”, là giai đoạn các bạn đối mặt với nhiều khó khăn đến từ việc học tập, gia đình và bạn bè
1.3.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS
Tuổi thiếu niên thường được coi như lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, với nhiều sự thay đổi phức tạp cả về tâm lý và sinh lý Do đó, lứa tuổi này chứa đựng nhiều diễn biến mang tính khủng hoảng
Sự phát triển nhận thức và trí tuệ
Ở lứa tuổi học sinh THCS tư duy trừu tượng phát triển Các thao tác cụ thể đã được hình thành ở lứa tuổi trước đó tiếp tục phát triển và hoàn thiện trở thành các thao tác tư duy trừu tượng Theo lý thuyết phát triển trí tuệ của Piaget đây chính là giai đoạn phát triển thao tác logic hình thức Sự phát triển trí tuệ dẫn đến các em xuất hiện khả năng tưởng tượng hình học không gian, nhìn thấy lát cắt không gian của các hình vẽ trên bản vẽ Không chỉ vậy, khả năng tưởng tượng còn giúp sự sáng tạo của các em phát
Trang 37triển Nhiều em bắt đầu làm thơ, sáng tác truyện, tranh ảnh, thiết kế thời trang, và thường tưởng tượng mình trong vai những con người lý tưởng
Sự phát triển cảm xúc của học sinh THCS
Theo tâm lý học phát triển, các yếu tố cơ bản chi phối đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh THCS bao gồm [dẫn theo 18, tr.100]:
- Thứ nhất là sự cải tổ về mặt sinh lý giải phẫu dẫn đến sự phát dục (dậy thì) Ở lứa tuổi THCS, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt Sự ức chế phân biệt bị kém đi, hưng phấn mang tính chất lan tỏa hơn Do vậy, nhiều khi các em không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được những xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu kỉnh, mất bình tĩnh,
- Thứ hai là hoạt động giao tiếp với bạn bè cùng tuổi và sự mở rộng của phạm vi hoạt động xã hội trong môi trường mới Việc xây dựng, thiết lập mối quan hệ thân tình được coi là một trong những hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này Việc phát triển mối quan hệ thân tình làm cho các cảm xúc của các em phong phú, mở rộng hơn
- Thứ ba là xu hướng vươn lên làm người lớn Tất nhiên, học sinh THCS vẫn cần một thời gian nữa mới thực sự là người lớn về mặt cơ thể, tâm lý, xã hội Tuy nhiên, trong các em đã xuất hiện “cảm giác là người lớn” Sự phát triển thể chất, nhận thức và vị thế xã hội khiến các em có cảm giác rõ rệt mình không còn là trẻ con nữa Đi kèm với cảm giác này là mong muốn được tự quyết định trong cách
ăn mặc, quan hệ với bạn bè, các sở thích riêng, mong muốn được người lớn (cha
mẹ, thầy cô) tôn trọng và đối xử bình đẳng
Tất cả những điều trên cho thấy cảm xúc của thiếu niên phức tạp và không ổn định Các em có tính hiếu động nhưng cũng hay lo sợ và bị xáo trộn
Sự phát triển tự ý thức của học sinh THCS
Tự ý thức đã được hình thành và bắt đầu phát triển từ khi trẻ còn nhỏ Đến tuổi thiếu niên, sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, khả năng nhận thức, khả năng đánh giá, tư duy logic trừu tượng đã tạo tiền đề cho sự phát triển tự ý thức của các em Thiếu niên bắt đầu có nhu cầu nhận thức và đánh giá về bản thân mình với tư cách là một thành viên của xã hội
Sự phát triển tự ý thức là một trong những phẩm chất nhân cách nổi bật ở tuổi thiếu niên Các em có ý thức về mình là một nhân cách có quyền được tôn trọng, được
Trang 38độc lập và được tin cậy như mọi người lớn khác Thiếu niên tích cực lĩnh hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mực và phương thức hành vi khác nhau, nhờ đó những phẩm chất mới về tự ý thức, tự đánh giá được hình thành [dẫn theo 36, tr.109-110]
Có thể nói, nhóm khách thể mà đề tài nghiên cứu khảo sát là những học sinh ở lứa tuổi thiếu niên, ở giai đoạn này các em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý xuất phát từ
sự thay đổi sinh lý, hoạt động chủ động, môi trường học tập, vị thế xã hội
1.4 Lý luận về lo âu của học sinh trung học cơ sở
1.4.1 Khái niệm về lo âu của học sinh trung học cơ sở
Từ định nghĩa trên về lo âu và học sinh trung học cơ sở, chúng tôi đưa ra khái niệm lo âu của học sinh trung học cơ sở như sau:
Lo âu của học sinh trung học cơ sở là một trạng thái lo lắng, căng thẳng, sợ hãi quá mức, những lo lắng, bất an liên quan đến áp lực học tập; áp lực thi cử, kỳ vọng quá cao từ cha mẹ đối với bản thân học sinh, các vấn đề gia đình, bạn bè, sức khỏe của học sinh Trạng thái này thường kéo dài và lặp đi lặp lại gây ảnh hưởng đến quá trình học tập, ảnh hưởng các mối quan hệ, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của học sinh
Lo âu của học sinh trung học cơ sở được nảy sinh trong quá trình học tập, gia đình, các mối quan hệ,… Nhìn chung thì lo âu của học sinh trung học cơ sở có những điểm giống nhau vì đặc điểm lứa tuổi, hoạt động chủ đạo, tuy nhiên cũng có những đặc điểm khác biệt như biểu hiện, yếu tố tác động
Lo âu trong công việc của học sinh THCS bao gồm những biến đổi về sinh lý liên quan đến sức khỏe thể chất và những biến đổi về tâm lý liên quan đến nhận thức, cảm xúc và hành vi Học sinh có thể nhận thức được lo âu thông qua những biểu hiện về nhận thức, cảm xúc, hành vi của mình được bộc lộ khi có các yếu tố tác động gây nên lo âu Những hệ quả của lo âu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập, các mối quan hệ, sinh hoạt hằng ngày
Học sinh THCS có những cách ứng phó khác nhau và khả năng ứng phó của mỗi học sinh khi xảy với lo âu là khác nhau, và ảnh hưởng của lo âu tới mỗi học sinh cũng khác nhau
Trang 391.4.2 Biểu hiện lo âu của học sinh trung học cơ sở
Biểu hiện lo âu của giáo viên trung học cơ sở gồm 4 nhóm chính là nhóm triệu chứng cơ thể, nhóm triệu chứng suy nghĩ, nhóm triệu chứng cảm xúc và nhóm triệu chứng về hành vi Cụ thể:
+ Mệt mỏi toàn thân hoặc ngủ quá nhiều vào ban ngày
+ Đau bụng, buồn nôn,
+ Suy nghĩ tiêu cực trong tương lai hoặc suy nghĩ thảm khốc
+ Cảm thấy như thể bản thân đang điên, không chắc chắn về thực tại + Khó tập trung, liên tưởng kém và đặc biệt là hay quên
+ Lo sợ về một điều tồi tệ và chuẩn bị phần lớn thời gian cho nó
+ Diễn giải theo cách thảm hoạ sai lệch nhiều các tình huống khác nhau + Đánh giá quá mức sự nguy hiểm (các suy nghĩ chiếm hết mọi chỗ)
+ Nghĩ ngợi trước
+ Thất vọng về bản thân, cảm giác bất lực
- Nhóm triệu chứng cảm xúc
+ Dễ cáu gắt
+ Dễ giận dỗi, dễ tự ái
+ Cảm thấy căng thẳng, cảm giác muốn nổ tung
+ Lo lắng về những điều bất hạnh rủi ro
Trang 40+ Cảm giác sợ mà không rõ nguyên nhân
+ Dễ bối rối và cảm thấy hoảng sợ
- Nhóm triệu chứng hành vi
+ Bồn chồn và đứng ngồi không yên
+ Khó đi vào giấc ngủ hoặc ngủ không sâu giấc
+ Sử dụng các chất kích thích, rượu bia
+ Có vẻ cứng đầu/bướng bỉnh và ngang ngạnh
+ Khó tính, khắt khe hơn trước
+ Không hứng thú, không muốn làm việc gì
+ Do dự, khó khăn khi đưa ra những quyết định
+ Không muốn giao tiếp với người khác
+ Có xu hướng phản ứng thái quá ở nhiều trường hợp
1.4.3 Nguyên nhân gây ra lo âu của học sinh trung học cơ sở
Nguyên nhân từ học tập:
Lo âu của học sinh THCS xuất phát từ chính hoạt động học tập ở nhà trường THCS Những vấn đề có thể làm xuất hiện lo âu ở hoạt động học tập như những kỳ vọng của gia đình với việc học của các em; lịch học kín mít và dày đặc; nội dung học tập quá nặng và nhiều; thiếu phương pháp học tập có hiệu quả và đồng bộ; hổng kiến thức từ những phần đã học; hình thức dạy và học thay đổi Thêm vào đó, yêu cầu với việc học tập càng ngày càng cao, nhiệm vụ học tập khó khăn hơn, sự kì vọng của cha mẹ quá lớn,
và tâm lý không muốn học tập thua kém bạn bè gây ra sức ép tâm lý cho các em Những áp lực này đã tạo nên nhiều căng thẳng, lo âu ở các em Có không ít HS do áp lực của việc học, căng thẳng trong mùa thi mà sinh ra đau bụng, buồn nôn, chóng mặt, mất ngủ, kém ăn…
Nguyên nhân từ gia đình
Tâm lý học lứa tuổi HS THCS đã khẳng định: Sự phát triển về thể chất, về tâm
lý, ý thức, nhân cách… đã dẫn đến nhu cầu các em mong muốn được bình đẳng với người lớn trong khi người lớn lại vẫn coi các em là trẻ con Điều này tạo nên mâu thuẫn tạm thời giữa HS THCS với người lớn [7]
Một số nguyên nhân từ gia đình gây ra lo âu ở học sinh như: Học tập không tốt có thể
bị cha mẹ mắng, thấy bất bình đẳng ở cách ứng xử của cha mẹ đối với anh chị em trong