Đối với các em HS trung học phổ thông ở vùng miền núi huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, phần lớn các em là người dân tộc thiểu số với đặc điểm: thường hay nhút nhát, thiếu kỹ năng, không xác
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM TẤN MINH CẢNH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI
Trang 2
QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Cấu trúc đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 6
1.2 Khái niệm chính của đề tài 8
1.2.1 Quản lý 8
1.2.2 Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường 9
1.2.3 Động cơ học tập 11
1.2.4 Giáo dục động cơ học tập của học sinh 14
1.2.5 Quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh 15
1.3 Lý luận về động cơ học tập của học sinh 15
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh THPT 15
1.3.2 Đặc điểm động cơ học tập ở học sinh THPT 18
1.3.3 Sự hình thành động cơ học tập ở học sinh THPT 19
1.3.4 Cơ chế hoạt động và cấu trúc động cơ học tập của học sinh 20
1.3.5 Vai trò và ý nghĩa của động cơ học tập ở học sinh THPT 22
1.4 Giáo dục động cơ học tập của học sinh 23
1.4.1 Mục tiêu giáo dục động cơ học tập của học sinh 23
1.4.2 Nội dung giáo dục động cơ học tập của học sinh 24
Trang 71.4.3 Hình thức và phương pháp giáo dục động cơ học tập của học sinh 25
1.4.4 Các lực lượng và sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh 26
1.4.5 Các điều kiện giáo dục động cơ học tập của học sinh 28
1.4.6 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục động cơ học tập của học sinh 29
1.5 Quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh 29
1.5.1 Quản lý mục tiêu giáo dục động cơ học tập của học sinh 29
1.5.2 Quản lý nội dung giáo dục động cơ học tập của học sinh 30
1.5.3 Quản lý hình thức và phương pháp giáo dục động cơ học tập của HS 30
1.5.4 Quản lý sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh 31
1.5.5 Quản lý các điều kiện giáo dục động cơ học tập của học sinh 32
1.5.6 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục động cơ học tập của học sinh 32
Tiểu kết Chương 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI 34
2.1 Khái quát về quá trình khảo sát 34
2.1.1 Mục tiêu khảo sát 34
2.1.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 34
2.1.3 Nội dung khảo sát 34
2.1.4 Quy trình khảo sát 35
2.1.5 Phương pháp khảo sát 35
2.2 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, Giáo dục - đào tạo huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 37
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 37
2.2.2 Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 39
2.2.3 Khái quát về giáo dục bậc THPT của huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 40
2.3 Thực trạng giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 42
2.3.1 Thực trạng động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 42
Trang 82.3.2 Thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên THPT và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường về giáo dục động cơ học tập của học sinh THPT tại huyện Ba
Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 45
2.3.3 Thực trạng về mục tiêu giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 46
2.3.4 Thực trạng nội dung giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 48
2.3.5 Thực trạng phương pháp và hình thức giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 51
2.3.6 Thực trạng sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 58
2.3.7 Thực trạng các điều kiện giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 61
2.3.8 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 62
2.4 Thực trạng quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 64
2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 64
2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 65
2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp và hình thức giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 66
2.4.4 Thực trạng quản lý sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 68
2.4.5 Thực trạng quản lý các điều kiện giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 69
2.4.6 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi 70
2.5 Đánh giá chung và những nguyên nhân của thực trạng 71
2.5.1 Mặt mạnh 71
2.5.2 Mặt yếu 72
2.5.3 Thời cơ 73
2.5.4 Thách thức 73
Tiểu kết Chương 2 74
Trang 9CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BA TƠ, TỈNH
QUẢNG NGÃI 75
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 75
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu và đồng bộ 75
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 75
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 76
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 76
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 77
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ 77
3.2.1 Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh 77
3.2.2 Định hướng thiết kế mục tiêu, nội dung giáo dục động cơ học tập phù hợp với đối tượng học sinh ở các trường THPT 80
3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục động cơ học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực 83
3.2.4 Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục động cơ học tập của học sinh 88
3.2.5 Đảm bảo đầy đủ các điều kiện phục vụ các hoạt động giáo dục động cơ học tập của học sinh 92
3.2.6 Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong giáo dục động cơ học tập của học sinh 95
3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 98
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 99
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 99
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 99
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 99
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 100
Tiểu kết Chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 10CNTT : Công nghệ thông tin
CTGDPT : Chương trình giáo dục phổ thông
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HĐGDNGLL : Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HĐGDHN : Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.2 Quy mô phát triển trường, lớp, học sinh THPT giai đoạn
2.3 Thống kê số liệu HS THPT huyện Ba Tơ năm học 2019-2020 40
2.4 Thống kê số lượng CBQL, GV THPT huyện Ba Tơ năm học
2.8 Nhận thức của HS THPT về biểu hiện động cơ học tập của bản
2.9 Nhận thức của CBQL, GV, phụ huynh về vai trò và tầm quan
trọng của hoạt động GDĐCHT cho HS THPT huyện Ba Tơ 45 2.10 Mức độ quan tâm của gia đình đến việc học tập của học sinh ở
2.11 Mức độ thực hiện thường xuyên (TX) mục tiêu GDĐCHT cho
2.12 Mức độ hiệu quả (HQ) mục tiêu GD ĐCHT cho HS THPT 47
2.13 Thực trạng mức độ thực hiện nội dung GD ĐCHT cho HS
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học 4.0 Trong hoàn cảnh xã hội đó, đòi hỏi con người phải có kiến thức, kĩ năng mới và thái độ tích cực để làm chủ cuộc sống Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; Đảng và Nhà nước đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Giáo dục được xem
là động lực quan trọng để phát triển KT-XH của đất nước Nghị quyết số 29-NQ/TW
ngày 04/11/2013 đã chỉ rõ nhiệm vụ của ngành GD-ĐT là “ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang to chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học'”
Một trong những chỉ đạo trọng tâm trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào
tạo là đổi mới công tác quản lí giáo dục của các cơ sở GD-ĐT; nâng cao chất lượng “Đổi
mới căn bản công tác quản lí giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền
tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lí chất lượng, chuan hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lí quá trình đào tạo; chú trọng quản lí chất lượng đâu ra Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập vê chất lượng giáo dục, đào tạo”
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, trong đó động cơ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập, tự học của người học Khi người học xây dựng được cho mình động cơ học tập đúng đắn sẽ học tập một cách tích cực, hứng thú, say mê; ngược lại, việc học tập mang tính chất đối phó, miễn cưỡng thường xuất phát từ động cơ học tập không phù hợp Do vậy, nghiên cứu để xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho người học là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường Đối với các em HS trung học phổ thông ở vùng miền núi huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, phần lớn các em là người dân tộc thiểu số với đặc điểm: thường hay nhút nhát, thiếu kỹ năng, không xác định được mục tiêu học tập đúng đắn, dễ bị tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường và bị ảnh hưởng bởi trò chơi trực tuyến, thiếu ý chí vươn lên trong học tập, chịu nhiều tác động của các tệ nạn xã hội như tảo hôn, cúng bái…Những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước, giáo dục của huyện Ba Tơ
đã có những khởi sắc, mạng lưới trường lớp được chú trọng đầu tư, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, do địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, cho nên
Trang 14trong công tác giáo dục nói chung và giáo dục động cơ học tập nói riêng hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, công tác quản lý của hiệu trưởng các nhà trường còn nhiều điều bất cập, mục tiêu của giáo dục động cơ học tập chưa được coi trọng, nội dung giáo dục động cơ còn nghèo nàn, phương pháp và hình thức giáo dục động cơ thiếu sự sinh động, sáng tạo, không được chú trọng trong chương trình giáo dục nhà trường và chưa tích cực hóa người học Do đó, để thực hiện mục tiêu giáo dục tại các huyện miền núi thì việc giáo dục động cơ học tập của học sinh là rất quan trọng
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Quản lý giáo dục động cơ
học tập của học sinh tại các trường Trung học phổ thông huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” làm nội dung nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục động cơ học tập cho học sinh tại các trường THPT huyện Ba Tơ, đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục động cơ học tập cho học sinh các trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện nhà trường
3 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh
3.2 Khách thể nghiên cứu
Các trường Trung học phổ thông huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, hoạt động giáo dục động cơ học tập tại các trường phổ thông còn nhiều bất cập, hạn chế như: Mục tiêu của giáo dục động cơ học tập chưa được coi trọng, nội dung giáo dục động cơ còn nghèo nàn, phương pháp và hình thức giáo dục động cơ chưa tích cực hóa người học,…Nếu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, thực tiễn
về quản lý giáo dục động cơ học tập thì có thể xác lập các biện pháp quản lý một cách khoa học, có tính cấp thiết và khả thi cao đáp ứng được yêu cầu đổi mới công tác quản
lý của nhà trường hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện tại các trường THPT trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường Trung học phổ thông
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các trường Trung học phổ thông huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các
trường Trung học phổ thông huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu, nhằm xây dựng
cơ sở lý luận trong công tác quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT về giáo dục động cơ học tập cho học sinh
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bao gồm phương pháp điều tra, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng các trường THPT về giáo dục động cơ học tập cho học sinh
6.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
Bao gồm phương pháp xử lý số liệu, toán thống kê, phần mềm đo lường và đánh giá nhằm xử lý kết quả khảo sát và điều tra
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Phạm vi về thời gian: Khảo sát lấy số liệu và thông tin cho đề tài nghiên
cứu trong khoảng thời gian từ tháng 09/2020 đến tháng 03/2021
7.2 Phạm vi về không gian: Khảo sát tại 02 trường THPT trên địa bàn huyện
Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
7.3 Phạm vi về khách thể khảo sát: 360 người, gồm: Cán bộ quản lý: 15
người - Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn ; Giáo viên: 68 người; Học sinh: 250 học sinh; Phụ huynh học sinh: 22 người; Lãnh đạo UBND xã: 5 người
7.4 Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về động cơ học tập của học sinh có rất
nhiều vấn đề cần quan tâm như: phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đặc trưng gia đình, đặc trưng tâm lý, yếu tố xã hội, nhận thức, thái độ, hành vi, kết quả học tập… Tuy nhiên, đối với nghiên cứu này, trong giới hạn về mặt thời gian không gian cũng như năng lực, tôi chỉ tập trung nghiên cứu 3 vấn
đề: Thứ nhất là cơ sở lý luận về quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh; thứ hai
là thực trạng quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh và thứ ba là đề xuất cho
Hiệu trưởng trường THPT các biện pháp quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh
8 Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài được chia làm ba phần như sau:
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung: Gồm có 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh
Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các
Trang 16trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh tại các
trường THPT huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị
Ngoài phần chính còn có phần phụ lục và phần danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong Từ điển Tâm lý học do hai nhà tâm lý học bậc thầy người Nga là A.V Pêtơrôpxki và M.G Iarôsepxki có viết: “Động cơ là các thúc đẩy gây ra tính tích cực của cơ thể và quyết định phương hướng của tính tích cực này” Thuật ngữ động cơ (Motivation) được dùng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của tâm lý học nhằm nghiên cứu các nguyên nhân và cơ chế hành vi có định hướng của con người và động vật Vào những năm đầu thế kỷ XX, hiện tượng động cơ đã được nhiều nhà tâm lý học phát hiện và đi sâu nghiên cứu, trong đó có Sigmund Freud (người o gốc Do thái, 1856-1939); Kurt Levin (người Mỹ gốc Đức, 1890-1947); L.X Vưgôtxki (người Nga, 1896-1934); A.N Leonchiev (người Nga, 1903-1979) …
Năm 1918 hai nhà tâm lý học người Mỹ, W.I.Thomas và F.Znaniecki là những người đầu tiên đưa ra và sử dụng khái niệm về thái độ thông qua những nghiên cứu của mình về nông dân Ba Lan
Các vấn đề nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực tâm lý giáo dục ở các nước phương Tây trong đã cho ra đời nhiều lý thuyết đã được áp dụng vào thực tiễn dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học với quan điểm “lấy người học làm trung tâm”, các nhà nghiên cứu rất quan tâm tới vấn đề nhu cầu, hứng thú, năng lực, động
cơ của người học cùng các biện pháp kích thích học tập Dưới đây là một số tác phẩm của các nhà tâm lý gắn liền với quan điểm trong trường phái của họ
Skinner trong tác phẩm Khoa học và thái độ cá nhân xuất bản năm 1953 đại diện cho quan điểm thái độ với nhận định phần thưởng và khích lệ có sức hấp hẫn và khả năng thay đổi thái độ học tập, tạo động lực thúc đẩy học tập Ví dụ một đứa trẻ sẽ
cố gắng học khi cha mẹ hứa nếu học tốt sẽ được thưởng hoặc nhận được lời khen ngợi mỗi khi cố gắng Phần thưởng hay lời khen ngợi làm thay đổi thái độ học tập, làm phát sinh động lực thúc đẩy học tập
Maslow trong tác phẩm Động lực thúc đẩy và nhân cách xuất bản năm 1970 đại diện cho quan điểm nhân bản khi nghiên cứu về vai trò nhu cầu trong động cơ thúc đẩy, phân chia các nhu cầu cá nhân thành bảy loại từ thấp đến cao: nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu hợp tác và tình cảm, nhu cầu tự trọng, nhu cầu tri thức, nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu tự quyết Theo Maslow thì cá nhân có khả năng phát triển động lực thúc đẩy nội tâm, tự khuyến khích những thái độ nội tâm như tự trọng, tự tin,
Trang 18tự quyết, tinh thần độc lập tìm hiểu, khám phá những giá trị nhân bản, thu nhặt những kinh nghiệm cần thiết để sinh tồn
Một số nghiên cứu thực nghiệm về động cơ học tập được các nhà tâm lý học
Xô Viết thực hiện, có thể kể đến các tác giả tiêu biểu đã có các công trình nghiên cứu
về động cơ học tập của học sinh là:
L.I.Bozovick nghiên cứu động cơ, thái độ học tập của học sinh Bà đã xem xét
cả điểm số, hứng thú đối với học tập, cả nhu cầu chiếm được uy tín của bạn bè đều
là những động cơ vì chúng kích thích hoạt động học tập Bà gọi tất cả những gì kích thích tính tích cực của trẻ là động cơ Bozhovich chia tất cả các động cơ học tập thành hai phạm trù: một là phạm trù động cơ có liên hệ với nội dung và quá trình thực hiện của bản thân hoạt động học, hai là phạm trù động cơ có liên hệ qua lại rộng rãi của trẻ với môi trường xung quanh Bà kết luận: sự thúc đẩy đi đến hành động của chủ thể luôn luôn xuất phát từ nhu cầu, còn đối tượng thỏa mãn nhu cầu chỉ quyết định tính chất và phương hướng của hoạt động
Người thứ hai đi sâu nghiên cứu động cơ học tập của học sinh và con đường hình thành chúng là A.K.Markova Bà chia động cơ thành ba nhóm: nhóm động cơ xã hội, nhóm động cơ đạo đức và nhóm động cơ sáng tạo
Các nhà nghiên cứu Xô Viết đã xác định hoạt động học tập được chi phối bởi động cơ học tập Động cơ học tập có ba nguồn gốc: nguồn gốc cá nhân (hứng thú, ham muốn, tâm thế, thái độ, niềm tin, thế giới quan, quan niệm về bản thân, thái độ với xã hội, ý thức tự hoàn thiện, sự thoả mãn nhu cầu, lý tưởng sống); nguồn gốc bên trong (nhu cầu), nguồn gốc bên ngoài (đòi hỏi, mong đợi của xã hội, điều kiện khách quan) Các yếu tố này nếu được gắn liền với hoạt động học tập hoặc với các thành phần của
nó (kết quả, mục đích, quá trình), sẽ trở thành động cơ học tập Động cơ học tập được chia làm hai loại: Động cơ bên ngoài (thưởng, phạt đe doạ, đòi hỏi, áp lực nhóm) và động cơ bên trong (hứng thú đối với tri thức, sự tò mò, ham muốn nâng cao trình độ)
Vì vậy có thể thấy thái độ học tập là một trong những cơ sở hình thành động cơ học tập Trong lĩnh hội tri thức thì khả năng tập trung, phân phối chú ý, tâm thế, thái độ là các nhân tố quan trọng bậc nhất
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Khi nghiên cứu thành tựu của tâm lý học thế giới và thực tiễn tâm lý học nước nhà, các nhà tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong quá trình thực hiện hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập Mục tiêu của giáo dục là hình thành ở người học có đầy đủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,
có văn hoá, có thái độ ứng xử hài hoà với môi trường sống, trong quá trình học tập và với bản thân mình Thái độ học tập là một trong những biểu hiện của động cơ học tập,
Trang 19là một trong những mục đích hàng đầu của dạy học bên cạnh việc cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
Tác giả Khăm Văn Khăm On trong luận án Tiến sĩ với nghiên cứu “động cơ học
tập và quan hệ của nó với nguyện vọng chọn nghề của học sinh Lào " năm 1994 kết luận
“động cơ học tập chi phối trực tiếp đến kết quả học tập của học sinh Những hành động biểu hiện động cơ học tập rõ nét và mạnh mẽ trong quá trình học tập đặc biệt là loại học sinh có kết quả học tập khá và giỏi Chính những kết quả học tập là điều kiện quan trọng
để đáp ứng những nhu cầu, khát vọng tiếp thu tri thức, ý thức trách nhiệm của họ đối với đất nước” [23, tr.10]
Tác giả Nhâm Văn Chăn Con trong luận án Tiến sĩ “tìm hiểu động cơ học tập
của học sinh cấp 2”, đã đưa ra nhận định: “động cơ nhận thức tạo nên sự say mê, ý
thức tự giác của chủ thể học sinh trong học tập và dẫn đến những kết quả cụ thể của hoạt động học tập Vì vậy, động cơ nhận thức là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định hiệu quả giáo dục” Bên cạnh đó, động cơ xã hội của hoạt động học tập có vai trò không nhỏ trong việc động viên sự cố gắng, duy trì hứng thú và ý thức trách nhiệm của học sinh trong học tập Ông nhận định, việc giáo dục động cơ xã hội cho học sinh rất khó khăn và phải có thời gian
Tác giả Trịnh Quốc Thái trong luận án Tiến sĩ “nghiên cứu động cơ học tập của
học sinh lớp một dưới ảnh hưởng của phương pháp nhà trường” đã cho rằng “hoạt động
học tập của học sinh lớp 1 đều được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ có nội dung phong phú và đa dạng Những động cơ này không tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ, rời rạc mà chúng được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định Có động cơ chiếm ưu thế,
có những động cơ giữ vai trò thứ yếu tạo thành một cấu trúc động cơ học tập từ khi các em bắt đầu tiến hành hoạt động học tập Cấu trúc đó được sắp xếp lại và sẽ được phát triển trong quá trình cả năm học”
Tác giả Nguyễn Trần Hương Giang năm 2008 trong luận văn Thạc sĩ với
nghiên cứu “Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh trung học phổ
thông Marie Curie, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” phân loại động cơ học tập thành
ba nhóm là: Động cơ hoàn thiện tri thức: thỏa mãn nhu cầu tri thức, nâng cao trình độ, làm chủ kiến thức và học để hoàn thiện nhân cách; Động cơ xã hội: học để không thua kém bạn bè, không muốn ba mẹ thất vọng và giúp ích cho xã hội; Động cơ cá nhân: học để có điểm cao, có bằng cấp, thực hiện ước mơ, chúng tỏ năng lực bản thân và đảm bảo cuộc sống bản thân – gia đình
Tác giả Phạm Thị Hồng Thái trong luận văn Thạc sĩ năm 2010 với đề tài “động
cơ học tập của sinh viên ngành Tâm lý học trường Đại học Văn Hiến, thành phố Hồ Chí Minh” chia động cơ học tập làm hai loại là động cơ học tập đúng đắn và động cơ học tập
Trang 20chưa đúng
Trong tạp chí dạy và học ngày nay (số 1-3, 7-8/ 2005), Trần Thiên Thu có bài
viết “Đi tìm nguyên nhân học sinh chán học”, bài viết có đề cập những nguyên nhân
khiến học sinh chán học, đó là chương trình quá nặng, các hoạt động dồn nén không chỉ làm cho học sinh mệt mỏi mà còn làm chúng không thể xử lý tốt, thậm chí không
đủ thời gian để kịp làm bài hoặc tiêu hóa kiến thức thu được, cha mẹ muốn con đạt điểm cao nhưng lại quên rằng chúng có đủ khả năng, đủ sức hay không
Nhìn chung ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu thái độ, động cơ học tập của học sinh, sinh viên đã đạt được một số kết quả như xác định vai trò vị trí của thái độ học tập trong việc hình thành động cơ học tập, nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên thông qua nghiên cứu động cơ học tập, tính tích cực học tập, hứng thú học tập, định hướng giá trị Các tác giả Việt Nam đều cho rằng động cơ học tập có vai trò quan trọng trong hoạt động học tập, quyết định hiệu quả giáo dục nhất là động cơ hoàn thiện tri thức. Các tác giả đã cố gắng tìm những chỉ báo chi tiết về động cơ học tập song còn
có những khía cạnh chưa có sự thống nhất từ những vấn đề chung như định nghĩa, cấu trúc của động cơ học tập cho đến việc xác định các chỉ báo cụ thể Các công trình
nghiên cứu về quản lý giáo dục động cơ học tập cho học sinh trung học phổ thông hầu
như chưa được nghiên cứu sâu trong nước, vì thế công tác nghiên cứu này là vấn đề khó đòi hỏi phải cần nhiều nguồn lực hỗ trợ
1.2 Khái niệm chính của đề tài
Theo các cách tiếp cận khác nhau, khái niệm “quản lý” được các nhà khoa học
đề cập đến trong các công trình nghiên cứu theo nhiều cách, chẳng hạn:
- Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, còn có nghĩa khác là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định (GS Hoàng Phê (chủ biên) trong Từ điển Tiếng Việt-2016)
- Theo các thuyết quản lý hiện đại thì: “Quản lý là quá trình làm việc và thông qua những người khác để thực hiệc các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường biến động” [23, tr.8]
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn
Trang 21định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ” [5, tr.2]
Các khái niệm trên đây tuy khác nhau, song đều thống nhất những vấn đề cơ bản của quản lý là tổ chức, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn và có chung các dấu hiệu:
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; quản lý bao giờ cũng là quản lý con người, là tác động chủ quan nhưng bao giờ cũng phải phù hợp với quy luật khách quan
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp
nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Tóm lại, có thể thống nhất cách hiểu quản lý là những tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất
1.2.2 Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường
12.2.1 Quản lý giáo dục
Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLGD của các nhà nghiên cứu như:
- QLGD là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính…) nhằm đảm bảo sự vận động bình thường của các cơ quan trong
hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng và chất lượng
- QLGD được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng của quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động GD và đương nhiên
cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa Do đó, QLGD là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu GD đề ra
- QLGD là hệ thống những tác động có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản
lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa hệ giáo dục tới các mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới về chất
- QLGD là quá trình vận dụng các nguyên lý, phương pháp, khái niệm…chung nhất của khoa học quản lý vào một lĩnh vực cụ thể là lĩnh vực giáo dục Do đó, QLGD
là những tác động có chủ định của chủ thể QLGD đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến những mục tiêu đã xác định
Theo tác giả Lê Quang Sơn, có thể xem xét khái niệm QLGD ở hai cấp độ: Quản lý hệ thống GD và quản lý trường học
Ở cấp độ quản lý hệ thống GD: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của
Trang 22hệ thống GD nhằm đảm bảo cho hệ thống GD vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống GD nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sát…một cách hiệu quả các nguồn lực cho GD và các hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển GD đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội
Ở cấp độ quản lý trường học: QLGD là hệ thống những tác động tự giác có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên (GV), nhân viên, HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu QLGD là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học- giáo dục nhằm làm cho hệ thống GD vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục Nhà nước đề ra
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường (QLNT) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các bộ phận khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội
tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”
Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo dục diễn
ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau đây:
Quản lý hoạt động dạy học; Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp; Quản lý họat động giáo dục đạo đức; Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể; Quản lý và sử dụng
cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính
QLNT là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng GD là tổ chức quá trình GD có hiệu quả đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ
Trang 23Tóm lại, QLNT là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục
cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập và giáo dục của nhà trường đạt kết quả tốt nhất
1.2.3 Động cơ học tập
1.2.3.1 Học tập
Khái niệm học tập (tiếng Latin là Studere - có nghĩa là cố gàng) được rất nhiều
nhà Tâm lý học, Giáo dục học trên thế giới đề cập tới Mỗi định nghĩa đưa ra đều nhấn mạnh một khía cạnh nào đó theo quan điểm của chính tác giả
Theo cách phân loại cấp học: hoạt động học tập là nhằm tìm kiếm tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, học theo mục đích, theo một chương trình nào đó Theo ý kiến của
A.V.Petrovski, A.N.Leonchev, C.U.Ackhangenxki, Phạm Minh Hạc hoạt động học tập
liên quan đến nhận thức, đến tư duy và liên quan đến nghề nghiệp Theo lý thuyết hoạt
động, bản chất của học tập là hoạt động có biểu hiện bề ngoài là hành vi, hai phạm trù
hoạt động và hành vi hỗ trợ cho nhau, hoạt động gồm cả hành vi và tâm lý ý thức, công việc của não và chân tay
Các nhà lý luận dạy học hiện đại xuất phát từ tư tưởng: Lý luận dạy học phải gắn với lý luận về khoa học, xu hướng chiến lược của lý luận dạy học là chuyển hoá phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học thông qua xử lý sư phạm Quá trình dạy học
về bản chất là làm cho quá trình lĩnh hội của học sinh gần giống quá trình phát minh phát hiện của các nhà khoa học Theo Ernesto Sabto, !'đối với con người, học có nghĩa là tham gia phát hiện, phát minh"
Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo trong khi phân tích mối liên hệ giữa tính tích cực và
tính độc lập nhận thức đã chỉ rõ."Tính tích cực nhận thức không những là điều kiện cần thiết mà còn là kết quả và là sự biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển tính độc lập nhận thức" Tác giả cũng chỉ ra rằng: "Bản chất của tính độc lập nhận thức là sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự học Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, cho sự điều chỉnh và đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao Nghĩa hẹp hơn, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập cho phép học sinh tự học" Theo tác giả, cấu trúc tính độc lập nhận thức gồm có: động cơ nhận thức, năng lực học tập, tổ chức học tập và hành động ý chí Trong đó, thành phần tổ chức học tập biểu hiện ở phương pháp suy nghĩ, phương pháp lan động (gồm kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tổ chức lao động và tự kiểm tra)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, "học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu sự
chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện"
Lý luận dạy học hiện đại đã chỉ ra 2 cách học chủ động: một là, học sinh tìm tòi
Trang 24nghiên cứu khám phá lời giải đáp do chính học sinh nêu ra Cách học này đang phổ biến
ở Châu ả - Thái Bình Dương, cùng với phương pháp đề án nhằm khêu gợi óc tò mò, lòng khao khát được chủ động trong học tập
Chương trình hoạt động trong học tập được diễn ra theo con đường xoắn ốc Chẳng hạn, từ: "học cá nhân, học bạn, học thầy đến học cá nhân, hoặc tự học, hợp tác (bạn, thầy), tự học ở trình độ cao hơn, tự học suốt đời": Cách học chủ động thứ hai là theo quy trình, dựa trên cơ sở lý thuyết hệ thống thứ bậc kiến thức, hệ quả logic và theo
đó mỗi cấp độ phải đạt tới, từng bước có hệ thống như dạy học chương trình hoá, dạy học mô - đun Cả hai cách học trên đều hướng tới mục tiêu hình thành năng lực tự học,
tự quản, ý thức độc lập chủ động cho người học Mục tiêu này quy định các phương pháp, biện pháp tổ chức học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Nhìn chung, các tác giả nước ngoài và trong nước đều thống nhất quan niệm về
hoạt động học tập: Học tập là hoạt động nhận thức tích cực, chủ động của chủ thể,
hình thức chủ yếu của nó là tự học Sự khác biệt cơ bản của nhiệm vụ học tập và các hình thức khác là ở chỗ mục đích và kết quả của nó làm thay đổi chính bản thân chủ thể của hoạt động, bao gồm cả việc nắm vững những cách thức nhất định của chủ thể hoạt động
Theo thuyết hành vi: Với mô hình "kích thích - phản ứng", coi kích thích là
nguồn gốc tạo ra phản ứng hay gọi là động cơ
Theo J Piaget: Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó
Theo thuyết tâm lý hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta
mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn
nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động
Các nhà tâm lý học Xô Viết quan niệm: “Động cơ là sự phản ánh nhu cầu”
Những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác tồn tại trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra và được chủ thể nhận biết thì sẽ thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu
“Động cơ” trong tiếng Latin là Motif, có nghĩa là nguyên nhân thúc đẩy con người
Trang 25hành động Nguyên nhân này nằm bên trong chủ thể có thể xuất phát từ nhu cầu sinh lí hay tâm lí
Theo Từ điển tiếng Việt, “Động cơ là những gì thôi thúc con người có những ứng
xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu câu ”
Theo Nguyễn Quang Uẩn, “Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm
thoả mãn nhu câu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi ”
Tóm lại, có thể hiểu: Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và xu hướng của tính tích cực đó
1.2.3.3 Động cơ học tập
Động cơ học tập là sức thúc đẩy hoạt động học tập, tức là học để làm gì Động
cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực học tập ở học sinh nhằm đạt kết quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách
Các động cơ học tập ảnh hưởng đến tính chất của hoạt động học, đến thái độ của học sinh đối với việc học tập Nếu đứa trẻ học tập vì muốn tránh bị điểm kém, muốn tránh bị phạt thì nó sẽ học tập với trạng thái tâm lý căng thẳng, việc học đối với
nó lúc này không còn là niềm vui, hứng thú
Thường thì hoạt động học tập của học sinh được thúc đẩy không phải bởi một động cơ mà bởi nhiều động cơ khác nhau, tác động và bổ sung cho nhau nhưng không phải mọi động cơ đều ảnh hưởng giống nhau
Có nhiều cách phân loại động cơ học tập khác nhau: Căn cứ vào ý nghĩa các chức năng kích thích, động cơ bao gồm: Động cơ tạo ý, Động cơ không tạo ý (động cơ kích thích); Căn cứ vào nguồn gốc: Động cơ bên trong (intrinsic motivation) và Động cơ bên ngoài (extrinsic motivation); Tâm lí học hoạt động phân động cơ học tập thành hai loại: Động cơ hoàn thiện tri thức và Động cơ quan hệ xã hội
Thuộc về động cơ hoàn thiện tri thức, chúng ta thường thấy học sinh có lòng khao khát mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết Như vậy tất cả những biểu hiện này đếu do sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức cũng như phương pháp giành lấy tri thức đó Mỗi lần giành được cái mới ở đối tượng học thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức của các em được thỏa mãn một phần Theo quan điểm
sư phạm, hoạt động học tập được thúc đẩy bởi loại động cơ này là tối ưu
Thuộc về động cơ quan hệ xã hội, chúng ta cũng thấy học sinh say sưa học tập
nhưng sự say sưa đó lại là do sự hấp dẫn của một “cái khác” ngoài mục đích trực tiếp
của việc học tập, chẳng hạn như thưởng và phạt, thi đua và áp lực, đe dọa và yêu cầu, khêu gợi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai cũng như sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè… Đây là những mối quan hệ khác nhau
Trang 26của các em Ở đây, những kỹ năng, tri thức, thái độ, hành vi… đối tượng đích thực của hoạt động học tập chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản khác
Động cơ học tập là yếu tố định hướng, thúc đẩy hoạt động học tập, nó phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức của người học
Theo Phan Trọng Ngọ, “Động cơ học tập là cái mà việc học của họ phải đạt
được để thoả mãn nhu câu của mình Nói ngắn gọn, học viên học vì cái gì thì đó chính
là động cơ học tập của học viên”
Với các khái niệm dẫn dắt như trên, đề tài xem xét trên định nghĩa "Động cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục đích học tập đã đề ra" làm công cụ chính cho quan điểm tiếp cận hoạt động giáo dục động cơ của đề tài
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu và động cơ học tập
(Tham khảo bài viết của tác giả Phạm Văn Khanh đăng trên website:
http://pgdhcanglong.sgdtravinh.edu.vn/)
1.2.4 Giáo dục động cơ học tập của học sinh
Theo tác giả Hồ Ngọc Đại, Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến
thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân
Theo Phạm Văn Khanh ”Động cơ học tập có vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả học tập của HS Hơn thế nữa, động cơ học tập còn có những ảnh
Trang 27hưởng, chi phối mạnh mẽ đến việc hình thành phẩm chất năng lực và nhân cách HSSV trong quá trình học tập Vì thế, nhà trường, gia đình, xã hội và nhất là thầy, cô giáo trong giảng dạy, giáo dục cần có những tác động tích cực, trách nhiệm để giúp HSSV
tự hình thành và phát triển động cơ học tập cho mình phù hợp, đúng đắn theo phương châm:
Dạy học là quan trọng, nhưng dạy cho HS cách học còn quan trọng hơn
Dạy cách học là quan trọng nhưng dạy cho HSSV cách hình thành và phát triển động cơ học tập còn quan trọng hơn”
Giáo dục ĐCHT của học sinh là quá trình thông qua các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học, chủ thể tác động có những tác động tích cực và trách nhiệm để giúp học sinh tự hình thành, phát triển cho mình động cơ học tập phù hợp, đúng đắn với mục đích học tập và mục tiêu giáo dục nhà trường Nhà giáo, cán bộ quản lý, các lực lượng giáo dục khác cần mở rộng tấm lòng bao dung đón nhận, lắng nghe và thấu hiểu những tâm tư, tình cảm của lứa tuổi này và nhất là phải luôn tự tìm cách đổi mới
chính mình nếu không rất dễ lạc lõng, xa cách, hạn chế kết quả
1.2.5 Quản lý giáo dục động cơ học tập của học sinh
Quản lý GD ĐCHT là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GD ĐCHT trong nhà trường
Quản lý GD ĐCHT chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác
GD ĐCHT Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GD trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và hình thành ĐCHT cho học sinh
Từ đó có thể nói: Quản lý GD ĐCHT trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GD ĐCHT của nhà trường, hướng vào việc hình thành, nuôi dưỡng tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của học sinh và hoàn thành có chất lượng, hiệu quả mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.3 Lý luận về động cơ học tập của học sinh
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh THPT
Học sinh trung học phổ thông (THPT) còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 - 25 tuổi, được chia làm 2 thời kỳ:
Trang 28+ Thời kỳ từ 15 - 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kỳ từ 18-25 tuổi:giai đoạn hai của tuổi thanh niên(thanh niên sinh viên) Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: giới hạn về sinh lý và giới hạn về tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho
rằng: “Khi nghiên cứu tuổi thanh niên thì cần phải kết hợp quan điểm của tâm lí học xã
hội và phải tính đến qui luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”
người ta thường hay gọi: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi
này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý và nhân cách Đồng thời, nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em
Điều kiện sống và hoạt động:
Trong gia đình các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha
mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình (như việc chấp hành chính sách của Đảng và nhà nước, sẵn sàng đấu tranh chống lại tư tưởng sai trái) Có thể nói rằng cuộc sống của nhiều thanh niên mới lớn là cuộc sống vừa học tập vừa lao động
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác tích cực độc lập hơn, các em phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong học tập
Hoạt động xã hội của thiếu niên thường mang tính chất nội bộ nhà trường Đối với tuổi đầu thanh niên lại khác, hoạt động của các em đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, ảnh hưởng của xã hội đến các em rất mạnh Xã hội đã giao cho các em quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn như quyền đến 18 tuổi được bầu cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động Tất cả các em
có suy nghĩ về việc chọn nghề khi tham gia vào hoạt xã hội các em được tiếp xúc với
Trang 29nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này
Đặc điểm hoạt động học tập:
Hoạt động học tập vẫn là một hoạt động chủ đạo đối với học sinh trung học phổ thông, nhưng tính chất và nội dung của nó đã khác nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông là đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em cần phải
có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao
Những khó khăn, trở ngại mà các em thường cảm nghiệm trong quá trình học tập, trước hết được gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới đó chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Do nội dung và tính chất hoạt động học tập có sự thay đổi căn bản đòi hỏi các em phải có tính năng động, tính độc lập ở mức cao hơn so với tuổi thiếu niên
Ý thức thái độ đối với học tập ngày càng phát triển cao Hứng thú học tập của thanh niên mới lớn gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát: Các em ý thức được rằng các em đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc sống tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập bắt đầu mang ý nghĩa sống còn trực tiếp, vì các em đã ý thức được một cách rõ ràng rằng vốn tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết
để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh trung học phổ thông bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình
Các em đã bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau đối với các môn học Nếu ở thiếu niên, chất lượng, trình độ giảng dạy và nhân cách của giáo viên hầu như quyết định hoàn toàn thái độ lựa chọn của các em với từng môn học thì ở học sinh trung học phổ thông lại là những hứng thú, những khuynh hướng có liên quan với xu hướng nghề nghiệp của các
em Chính vì vậy, đôi khi chúng ta thấy có hiện tượng đáng buồn là: học sinh chỉ
“chúi đầu” vào những môn học có quan hệ với nghề nghiệp tương lai, còn thì dửng dưng, lơ là với các môn học còn lại
Một số em chỉ tích cực học một số môn các em cho là quan trọng và có liên
Trang 30quan đến việc lựa chọn ngành nghề sau này của mình, còn các môn khác chỉ cần đạt điểm trung bình Có một số em còn cho rằng mình khó có thể vào được đại học cho nên chỉ cần học đạt yêu cầu là đủ
Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú
ổn định, đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một lĩnh vực hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:
Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển các năng lực trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện Đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Ở học sinh trung học phổ thông tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức
Càng ở lớp trên, học sinh càng sử dụng các phương pháp ghi nhớ, kể cả thuật nhớ càng nhiều Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ (những định nghĩa, những quy luật), trường hợp nào cần diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số
em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có khi các em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài
Tư duy của học sinh trung học phổ thông phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính
Tóm lại: Hoạt động nhận thức của tuổi HS trung học phổ thông đã phát triển ở
mức độ cao, các em có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc hơn Ở một số em khả năng nhận thức đạt tới đỉnh cao, hoạt động nhận thức của các em sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện của cá nhân
1.3.2 Đặc điểm động cơ học tập ở học sinh THPT
Theo lý thuyết hoạt động, động cơ là nhu cầu đã được ý thức và xuất hiện khi chủ thể quyết định chọn một đối tượng khách quan làm mục đích hoạt động của mình Trong sự học tập, việc thực hiện nhiệm vụ trí - đức dục của một bài học chính là mục đích khách quan của sự học tập của học sinh Khi học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập đó như một mục đích tự giác của bản thân thì lúc đó ở học sinh xuất hiện động cơ học tập Động cơ học tập chính là động lực của hoạt động học tập
Động cơ học tập là một trạng thái nội tâm lâu dài có hiệu lực giúp học sinh duy
Trang 31trì hứng thú và ham muốn học hỏi tìm tòi, vượt qua những trở ngại để có thể giải quyết những khó khăn trong học tập Nhiều nhà tâm lý giáo dục nghiên cứu về động
cơ đã đặt ra một số câu hỏi quan trọng Câu hỏi thứ nhất, tại sao có nhiều học sinh
khởi sự làm bài tập ngay khi giáo viên cho họ chủ đề/câu hỏi? (liên quan đến thái độ
học tập) Tại sao có nhiều học sinh đợi đến giây phút cuối cùng mới khởi sự và có một
vài học sinh quên hẳn bài vở? Câu hỏi thứ hai là mỗi khi đến trường, học sinh mở cặp
và khởi sự đặt trọng tâm cho việc học của mình hay chỉ là mở cặp theo thói quen? Câu hỏi thứ ba là lý do nào đã khiến học sinh tập trung vào việc học hay đã đầu hàng sau năm ba phút? Học sinh chăm chú đọc một chương sách để làm bài hay chỉ đọc một hai trang lướt qua? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta tìm hiểu về động cơ nội tâm và ngoại thức
Học sinh có động cơ học tập cảm thấy có hứng thú, có nghị lực học bài, làm bài
để thực hiện mục đích nhận được kiến thức qua bài làm, bài học Nguồn sinh lực nào
đã thúc đẩy thái độ học tập của học sinh? Đó chính là nhu cầu học tập, sáng kiến cá nhân, mục đích học tập, áp lực xã hội, tự tin, óc tò mò, nhận định được thành công và thất bại, lòng tin tưởng, hiểu được giá trị của giáo dục, kỳ vọng vào tương lai…Một số nhà tâm lý giáo dục đã nhận định động cơ là thái độ đặc biệt bẩm sinh hay cá tính Học sinh có khả năng bẩm sinh tự nhiên đặt nhiều nỗ lực vào việc học tập để hoàn thành nhiệm vụ Một số nhà tâm lý khác nhận định động cơ là một thái độ đối phó với
lý bài vở sắp đến hay với khuyến khích của giáo viên, phụ huynh Như vậy, một số học sinh có sẵn động cơ thúc đẩy để tiếp nhận kiến thức; một số khác có động cơ vì lý
do ngoại cảnh
Động cơ do bản năng, do cá tính bẩm sinh để thỏa mãn nhu cầu học hỏi, để
thỏa mãn óc tò mò tìm hiểu, để thỏa mãn thú vui học tập là “động cơ nội tâm” Động
cơ học tập nhờ yếu tố ngoại lai như phần thưởng, áp lực xã hội, áp lực gia đình, giáo
viên nhắc nhở, tương lai nghề nghiệp…là “động lực thúc đẩy ngoại thức”
1.3.3 Sự hình thành động cơ học tập ở học sinh THPT
Động cơ học tập không có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Nhu cầu giải
quyết được mâu thuẫn “giữa một bên là “phải hiểu biết” và bên kia là “chưa hiểu
biết” (hoặc hiểu biết chưa đủ, chưa đúng)” là nguyên nhân chính yếu để hình thành
Trang 32tri thức hiệu quả nhất
Theo tâm lý học hoạt động, động cơ học tập được chia thành hai loại là động cơ
bên ngoài (động cơ xã hội) và động cơ bên trong (động cơ hoàn thiện tri thức) Hoạt
động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hòan thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong Có thể có những khó khăn trong quá trình học hỏi đòi hỏi phải có
nỗ lực ý chí để khắc phục, nhưng là khắc phục các trở ngại bên ngoài chứ không hướng vào đấu tranh với chính bản thân Do đó, chủ thể của hoạt động học không có
những căng thẳng tâm lý Hơn nữa, động lực nội tâm còn chứng tỏ được khả năng “tự
quyết định”, làm phát sinh tinh thần độc lập, tự giải quyết các trở ngại, đem lại cho
người học nhiều sáng kiến Nên hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ này được cho là tối ưu trong lĩnh vực sư phạm Còn hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội ở mức độ nào đó mang tính cưỡng bức, có những lực chống đối nhau (như kết quả học tập không đáp ứng mong muốn của cha mẹ) Vì thế nó gắn liền với sự căng thẳng tâm lý, không đóng góp nhiều cho óc sáng tạo và khả năng giải quyết các trở ngại Không những thế, nó đòi hỏi phải đấu tranh với chính bản thân nên học sinh dễ vi phạm nội quy, lơ là việc học…
Tuy nhiên, xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ
nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó (tức là
đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện
tri thức là động cơ chính của hoạt động học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ
quan hệ xã hội Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành
một bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổi lên và chiếm ưu thế trong thứ bậc động cơ
Ngoài ra các yếu tố bên ngoài như kinh tế gia đình, quan hệ thầy cô, bạn bè, cơ
sở vật chất nhà trường … cũng có ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh.Vậy khi xem xét động cơ học tập không thể bỏ qua các yếu tố này
1.3.4 Cơ chế hoạt động và cấu trúc động cơ học tập của học sinh
Động cơ học tập của HS là vấn đề phức tạp có nhiều quan điểm khác nhau nhất
là về bản chất, phân loại, các tác động, sự biến đổi, sự hình thành và phát triển động cơ…Tuy vậy, theo cách tiếp cận cấu trúc-hệ thống, có thể xem xét cơ chế hoạt động và cấu trúc động cơ học tập của HS với những yếu tố cơ bản như sau:
Tác động có ý nghĩa:
Là tất cả những tác động có ảnh hưởng tích cực đến hình thành, phát triển động
Trang 33cơ học tập của HS Dĩ nhiên đó không phải là bất kỳ tác động nào, tác động có ý nghĩa
là những tác động nhằm kích thích, khơi dậy sở thích, những tiềm năng, mong muốn của cá nhân để hình thành động cơ học tập Cùng một tác động nhưng đối với mỗi HS
sẽ có những ý nghĩa khác nhau hoặc không có một ý nghĩa nào Thí dụ trong một hội thảo chuyên đề về hội họa, đối với những HS không thích hội họa thì sẽ không có ý nghĩa gì, ngược lại với những HS muốn trở thành họa sĩ, buổi hội thảo có ý nghĩa lớn Tác động có ý nghĩa đối với HS có thể do tình cờ hoặc do HS tự tìm đến các tác động
đó khi nó phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của mình Như vậy, đối với HS, tác động có ý nghĩa có thể mang tính khách quan và cũng có thể do chủ quan ( HS nhận thức, suy nghĩ, phát hiện và tự tác động)
Trong thực tế, tác động có ý nghĩa đối với HS đó là những bài giảng hay, lôi cuốn, thuyết phục của thầy, cô giáo, lời khuyên của cha mẹ, bạn bè, lời tư vấn của chuyên gia và nhiều tác động xã hội khác thông qua các dạng thức thông tin khác nhau
Nhà trường cần hiểu rõ xu hướng, ước mơ, năng lực của HS để có tác động phù hợp, có ý nghĩa giúp hình thành động cơ học tập cho HS
Cấu trúc của động cơ học tập:
Trên cơ sở phân tích cơ chế hoạt động của động cơ học tập, có thể phân định cấu trúc của động cơ học tập gồm 4 yếu tố cơ bản như:
+ Sở thích : Là mong muốn của cá nhân nhằm đạt được một kết quả nào đó và
là một thuộc tính tâm lý tương đối bền vững Trong môi trường học tập, sở thích cần được nâng lên thành lý tưởng, ước mơ và biến thành mục đích, nhu cầu học tập của cá nhân Sở thích sau khi được nâng lên, cụ thể hóa thành mục đích học tập sẽ là một thành tố quan trọng, cốt lõi trong cấu trúc động cơ học tập của HS
+ Năng lực : Là năng lực học tập, đó là khả năng chiếm lĩnh tri thức và các kỹ
năng cần thiết trong học tập, rèn luyện Đối với HS đó là kiến thức nền tảng, các kỹ năng cơ bản, hướng nghiêp Đối với sinh viên đó là kiến thức bậc cao, kỹ năng chuyên ngành Năng lực là yếu tố làm cho HS tự tin, có quyết tâm vươn lên hướng tới mục tiêu, mục đích học tập, thỏa mãn nhu cầu học tập Năng lực học tập là tiền đề cho kết quả học tập Quá trình học tập cũng là quá trình HS rèn luyện năng lực hiện tại của bản thân tiếp cận dần đến năng lực tương lai cần đạt Trong cấu trúc của động cơ học tập, năng lực học tập có vai trò làm cho động cơ học tập hoạt động có chất lượng, hiệu quả
+ Hứng thú: là hứng thú học tập, nhà trường, gia đình cần khuyến khích, đánh giá tích cực những kết quả đạt được của HS và HS cần cố gắng nâng cao hứng thú học tập của mình được liên tục, bền vững
+ Ý chí: Là nghị lực, sự bền bĩ vượt qua những trở ngại, khó khăn của học sinh
trong học tập, rèn luyện Trong cấu trúc động cơ học tập của HS, ý chí nghị lực có vai
Trang 34trò thúc đẩy cá nhân vượt qua khó khăn, trở ngại để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng vươn tới mục đích học tập Ý chí nghị lực làm cho động cơ học tập hoạt động bền bĩ, mạnh mẽ
Sơ đồ 1.2: Chi tiết cơ chế hoạt động của động cơ học tập của HSSV, trong đó (2) là
cấu trúc của động cơ học tập
(Tham khảo bài viết của tác giả Phạm Văn Khanh đăng trên website:
http://pgdhcanglong.sgdtravinh.edu.vn/) Hành vi hướng đích:
Là những hành vi của HS nhằm: Làm cho mục đích học tập ngày càng rõ ràng,
cụ thể hơn; Rèn luyện, nâng cao năng lực học tập của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu cần đạt của mục đích học tập; Nuôi dưỡng hứng thú học tập của bản thân hướng tới mục đích học tập; Bồi dưỡng, nâng cao ý chí, nghị lực của bản thân vì mục đích học tập
Kết quả học tập:
Là một hay một chuỗi kết quả học tập đạt được phù hợp với các mục tiêu, mục đích học tập thể hiện như sau: Sở thích cá nhân và mục đích học tập ngày càng tương hợp nhau; Thái độ và khả năng học tập ngày càng phù hợp với mục đích học tập; Hứng thú học tập được duy trì liên tục không gián đoạn; Ý chí, nghị lực được thử thách, ngày càng bền vững
1.3.5 Vai trò và ý nghĩa của động cơ học tập ở học sinh THPT
Dựa theo định nghĩa và cấu trúc của hoạt động học ta có thể thấy rõ vai trò rất
Trang 35quan trọng của động cơ học tập Nó là động lực và là định hướng cho hoạt động học tập diễn ra và đi đúng hướng Thiếu động cơ thì hoạt động học tập không thể diễn ra được Có nhiều loại động cơ và mỗi loại sẽ có vai trò, ý nghĩa nhất định trong hoạt động học tập Dưới góc độ của tâm lý học họat động thì động cơ học tập được phân
thành hai loại:
Động cơ hoàn thiện tri thức (động lực mang tính nhận thức): là mong muốn
khao khát chiếm lĩnh, mở rộng tri thức, say mê với việc học tập…, bản thân tri thức và phương pháp dành tri thức có sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh Loại động cơ này giúp người học luôn nỗ lực ý chí, khắc phục trở ngại từ bên ngoài để đạt nguyện vọng bên trong Nó giúp học sinh duy trì hứng thú và ham muốn học hỏi, tìm tòi, vượt qua những trở ngại khó khăn để đạt được những mục tiêu trong học tập
Động cơ quan hệ xã hội: học sinh học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn của các yếu tố khác như: đáp ứng mong đợi của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục của bạn bè, … đây là những mối quan hệ xã hội cá nhân được hiện thân ở đối tượng học Tuy loại động cơ này có mang tính tiêu cực nhưng nó cũng góp phần vào việc kích thích, tạo hứng thú và nhu cầu cho người học chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Tóm lại, động cơ học tập có vị trí và vai trò rất quan trọng, nó là nguồn động lực và là kim chỉ nam cho hoạt động học, nó giúp người học thỏa mãn các nhu cầu học tập của bản thân va đạt được mục đích học tập
1.4 Giáo dục động cơ học tập của học sinh
1.4.1 Mục tiêu giáo dục động cơ học tập của học sinh
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định quan điểm chỉ đạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội “; Xác định mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo,
tự học, khuyến khích học tập suốt đời”
Từ đó, có thể xác định mục tiêu của GD ĐCHT trong nhà trường THPT là giúp học sinh xây dựng được mục đích học tập đúng đắn gắn liền với việc phát triển năng lực, tăng cường hứng thú, rèn luyện ý chí học tập Từ đó, hình thành và phát triển về
Trang 36phẩm chất, nhân cách, lối sống của con người Việt Nam một cách toàn diện; có năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân và ý thức tuân thủ pháp luật
1.4.2 Nội dung giáo dục động cơ học tập của học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo nêu rõ những yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của HS phổ thông như sau: Hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi gồm: Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển, Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình GDPT còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh
Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người Để hình thành và phát triển nhân cách ở HS THPT thì GD ĐCHT giữ vai trò hết sức quan trọng; đòi hỏi phải mang tính toàn diện, cân đối giữa các mặt GD tri thức, GD ý thức thái độ và GD
kỹ năng Từ những định hướng trên, trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu, tác giả chỉ lựa chọn những nội dung chủ yếu nhất có liên quan trực tiếp đến việc giáo dục ĐCHT cho học sinh THPT hiện nay như sau:
- Phát hiện sở thích, giúp học sinh theo đuổi mục đích học tập: Trong môi trường học tập, nhà quản lý cần ưu tiên việc phát hiện sở thích của người học, tạo cơ hội để sở thích đó được nâng lên thành lý tưởng, ước mơ và biến thành mục đích, nhu cầu học tập chính đáng của học sinh
- Nâng cao năng lực học tập: Là năng lực học tập, đó là khả năng chiếm lĩnh tri thức và các kỹ năng cần thiết trong học tập, rèn luyện của học sinh Năng lực là yếu tố làm cho HS tự tin, có quyết tâm vươn lên hướng tới mục tiêu, mục đích học tập, thỏa mãn nhu cầu học tập Năng lực học tập là tiền đề cho kết quả học tập Quá trình học tập cũng là quá trình HS rèn luyện năng lực hiện tại của bản thân tiếp cận dần đến năng lực tương lai cần đạt Nâng cao năng lực học tập của người học cũng là nhiệm vụ giáo dục trọng tâm của các nhà trường phù hợp với thực tiễn nhiệm vụ đổi mới giáo dục hiện nay
- Nuôi dưỡng hứng thú học tập: hứng thú học tập của học sinh được duy trì liên tục, bền vững là cơ sở tạo ra sự tích cực của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường
Trang 37- Rèn luyện, nâng cao ý chí học tập: ý chí nghị lực có vai trò thúc đẩy cá nhân vượt qua khó khăn, trở ngại để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng vươn tới mục đích học tập Ý chí nghị lực làm cho động cơ học tập hoạt động bền bĩ, mạnh mẽ vì vậy nhà trường cần tạo môi trường, các tình huống học tập, thử thách,…để rèn luyện ý chí học tập cho học sinh
1.4.3 Hình thức và phương pháp giáo dục động cơ học tập của học sinh
V.I Lênin coi giáo dục là phạm trù tất yếu và vĩnh hằng liên quan chặt chẽ với
sự phát triển xã hội loài người Điều đó có nghĩa là giáo dục xuất hiện khi bắt đầu có
xã hội, đồng thời giáo dục cũng được quy định bởi nhu cầu xã hội Giáo dục gắn liền với sự phát triển xã hội, do đó nó mang tính lịch sử-cụ thể và tính kế thừa- phát triển
GD làm biến đổi nhân cách khi mà nó có khả năng làm nảy sinh ở cá nhân những ý nghĩ, tình cảm, nhu cầu mới dẫn đến một hành vi nhất định của cá nhân đó
Vì vậy, trong quá trình giáo dục phải sử dụng những phương pháp tác động tới ý thức, tình cảm và hành vi của người được giáo dục, gọi là phương pháp giáo dục (PPGD)
PPGD là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, trong nhiều trường hợp PPGD quyết định sự thành bại của các hoạt động giáo dục
PPGD ĐCHT là cách thức tác động của nhà GD (CBQL giáo dục, GV), các LLGD trong và ngoài nhà trường, tập thể học sinh đến người được giáo dục thông qua việc tổ chức một cách hợp lý về mặt sư phạm các nội dung giáo dục ĐCHT
Hệ thống PPGD ĐCHT cũng giống như hệ thống PPGD chung, có thể được chia thành 3 nhóm sau đây:
- Nhóm PPGD tác động vào ý thức có mục đích giúp học sinh có những hiểu biết mới hoặc xóa bỏ những nhận thức sai lầm về mục đích học tập gồm có: Phương pháp học tập trải nghiệm cộng đồng, phương pháp thảo luận, phương pháp tạo dư luận
- Nhóm phương pháp giáo dục tạo lập hành vi thói quen nhằm mục đích hình thành thói quen, hành vi có văn hóa cho HS bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp luyện tập, phương pháp tổ chức các hoạt động cho HS
- Nhóm PPGD điều chỉnh thái độ nhằm tạo hứng thú thúc đẩy tính tích cực hoạt động của HS bao gồm: Phương pháp nêu gương, phương pháp thi đua, phương pháp khen thưởng
Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ĐCHT ở các trường THPT chủ yếu hoạt động hướng ngiệp, ngoài giờ lên lớp sinh họat tập thể, giáo dục qua môn học… ngoài việc phải nắm vững nội dung, phương pháp cần có những cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp Ở mỗi địa phương, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, nhiều trường có thể sử dụng các hình thức thực hiện mang hiệu quả cao như:
- Lồng ghép, tích hợp giáo dục ĐCHT thông qua dạy học các môn học trên lớp
Trang 38bằng cách chú trọng đổi mới PPDH hướng đến phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh
- Thông qua các hoạt động giáo dục NGLL, trải nghiệm sáng tạo, tổ chức các cuộc thi văn hóa, văn nghệ, thể thao để phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu học sinh, phát triển thể chất, tinh thần cho người học
- Thông qua hoạt động hướng nghiệp, sinh hoạt lớp, giáo viên cần tìm hiểu và phát hiện sở thích học sinh, từ đó có kế hoạch tác động phát triển sở thích thành mơ ước, lý tưởng, thành mục đích học tập của học sinh
- Phối hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
PPGD ĐCHT có quan hệ mật thiết với hình thức tổ chức giáo dục ĐCHT thông qua các hoạt động tổ chức dạy và học trên lớp ở một số môn học; qua họat động GD NGLL, hoạt động xã hội, trải nghiệm và sáng tạo; qua việc phối hợp chặt chẽ GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội và việc sử dụng CNTT, truyền thông cũng hết sức cần thiết cho giáo dục ĐCHT trong nhà trường
1.4.4 Các lực lượng và sự phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục động cơ học tập của học sinh
Tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục vào tháng 6/1957, Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp giáo dục: “Giáo dục trong nhà trường chỉ
là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
Việc GD đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ là một quá trình lâu dài, liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, GD học sinh luôn luôn đòi hỏi có sự phối hợp, kết hợp của nhiều lực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thật sự sâu sắc của mọi người trong xã hội
Trong thực tiễn GD, sự thống nhất tác động GD từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc bảo đảm cho mọi hoạt động GD có điều kiện đạt hiệu quả tốt
Luật giáo dục quy định: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” Muốn tạo ra mối liên kết chặt chẽ đó, nhà trường cần phải phát huy vai trò trung tâm, tổ chức phối hợp dẫn dắt nội dung, PPGD của gia đình và các lực lượng trong xã hội
Do đó, để giáo dục ĐCHT cho HS đạt hiệu quả cần có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng trong và ngoài nhà trường: Cán bộ QLGD, GVBM, GVCN, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Ban đại diện CMHS, người có uy tín trong cộng đồng, chính quyền
Trang 39địa phương, gia đình học sinh…
- Cán bộ QLGD thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ quản lý của mình, xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cần tích hợp đầy đủ các nội dung giáo dục ĐCHT cho học sinh, triển khai cụ thể kế hoạch đến đội ngũ giáo viên, nhân viên trong nhà trường và công khai nội dung kế hoạch, xây dựng qui chế phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường để thực hiện hiệu quả kế hoạch giáo dục nhà trường
- Đội ngũ giáo viên trong nhà trường cần thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình,
cụ thể hóa mục tiêu giáo dục ĐCHT trong kế hoạch của nhà trường gắn liền với việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong và ngoài giờ lên lớp, GVCN là cầu nối giữa nhà trường và gia đình học sinh vì thế đóng vai trò rất quan trọng trong sự phối hợp với gia đình học sinh để cùng thực hiện nội dung GDĐC học tập cho các em
- Nhân viên, các tổ chức trong nhà trường cần làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình và cần có sự phối hợp đồng bộ với nhau để cùng thực hiện tốt kế hoạch giáo dục nhà trường
- Chính quyền, cộng đồng địa phương cần quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục tại địa phương, tích cực hỗ trợ nhà trường thực hiện các nội dung giáo dục địa phương, thực hiện tốt công tác quản lý học sinh tại địa phương, có nhiều chương trình
để động viên khuyến khích học sinh học tập…
- Gia đình học sinh cần thường xuyên phối hợp với nhà trường, tích cực tìm hiểu nhu cầu, sở thích, năng lực học tập của con em để có những tác động tích cực, phù hợp với mục tiêu nội dung giáo dục ĐCHT trong nhà trường
- Sự phối hợp GD nhà trường, GD gia đình, GD xã hội cần xác định cụ thể như: + Nhà trường: cần chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
+ Gia đình: mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
+ Xã hội: giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham gia, thực tập, nghiên cứu khoa học Góp phần xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên Tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình
LLGD trong nhà trường giữ vai trò trung tâm, chủ động kết nối thành một tổ chức và định hướng phối hợp với các LLGD ngoài nhà trường đảm bảo sự thống nhất
Trang 40trong nhận thức và trong hoạt động GD ĐCHT có cùng một hướng, cùng một đích Nếu nhà trường thực hiện tốt vai trò trung tâm của các LLGD thì sẽ tránh được sự tách rời, mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau trong giáo dục ĐCHT cho học sinh
1.4.5 Các điều kiện giáo dục động cơ học tập của học sinh
Các điều kiện phục vụ giáo dục trong nhà trường bao gồm CSVC-KT, phương tiện dạy học, tài chính và con người Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ xác định: “Từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính và phương tiện dạy học tối thiểu của tất cả các cơ sở giáo dục”
Giáo dục ĐCHT là một phần quan trọng trong quá trình GD hình thành nhân cách học sinh Về mặt lý luận, quá trình GD ĐCHT trong nhà trường giống với quá trình GD chung, cũng được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố đó là: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, GV, HS và phương tiện GD (CSVC-KT)
PPGD ĐCHT có quan hệ mật thiết với phương tiện giáo dục ĐCHT Phương tiện GD bao gồm các loại hình hoạt động khác nhau của HS cũng như các vật thể và sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần được sử dụng trong quá trình GD
Các phương tiện phục vụ giáo dục ĐCHT trong nhà trường gồm có:
- Cơ sở vật chất, khung cảnh tự nhiên trong và ngoài khuôn viên nhà trường, cụ thể như: phòng học, sân chơi, cây xanh, nhà cửa…
- Thư viện có phòng đọc sách; phong phú sách tham khảo, sách giáo khoa; báo, tạp chí,…
- Phòng truyền thống, nhà đa năng…
- Các thiết bị dạy học, các thiết bị hiện đại ứng dụng CNTT trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ĐCHT
Tài chính được xem là một trong những phương tiện có vai trò quan trọng trong việc góp phần hoàn thành mục tiêu GD trong nhà trường Do đó quản lí tài chính là một công cụ quản lí quan trọng của Hiệu trưởng, chi phối toàn bộ hoạt động của nhà trường, có mối liên hệ biện chứng và chịu sự quy định của nhiệm vụ, bộ máy tổ chức,
cơ chế tài chính và hệ thống các quy định của Nhà nước
Đặc điểm của học sinh và giáo viên tại địa phương cũng được xem là điều kiện phục vụ giáo dục ĐCHT
Đối với giáo viên: Đội ngũ GV phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, tâm huyết, năng động, nhiệt tình, tận tụy trong công tác; được phân công nhiệm
vụ đúng chuyên môn đào tạo, đúng sở trường để phát huy tối đa năng lực cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao