1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf

113 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông
Tác giả Nguyễn Văn Toàn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Giao
Trường học University of Education - University of Da Nang
Chuyên ngành Education Management
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 8,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN VĂN TOẢN QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ T[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN VĂN TOẢN

QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

ĐÀ NẴNG - 2021

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 16990034259361000000

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -

NGUYỄN VĂN TOẢN

QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TẠI CÁC

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục

Mã số: 814.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG GIAO

Đà Nẵng – Năm 2021

Trang 3

Toi xin cam iloan ilay la cong trinh nghien cuu cita rieng toi

Cac s6 li¢u, kit qua tinh toan trong lwJn van la trung th11c va chua tirng ilur/c

ai c1ng b6 trong bdt cu cong trinh nao

Tac gia lu(m van

Nguyin Viin Toan

Trang 4

QUAN Li PHONG HQC B<) MONT� cAc TRUONG TRUNG HQC PHO THONG TREN DJA BAN QU4N LIEN CHIEU THANH PHO DA NANG DA.P UNG

Nganh: Quan Ii giao d l) C

H9 ten h9c vien: Nguy�n Van Toan

Nguai hu&ng dftn khoa h9c: PGS.TS Nguy�n Quang Giao

Ca s& dao t�o: Tnrang D�i h9c Su ph�m - D�i h9c Da Ning

1: Nang cao nMn tht'.rc cho can b{>, giao vien, h9c sinh vS vi tri, vai tro cua PHBM

2: Xay dJJng k� ho�ch ho�t d{>ng cua PHBM phu hqp dap irng yeu d.u d6i m6i giao dl)c 3: Tang cm:mg dfru tu nang dp, xay dJJng PHBM dap irng yeu d.u d6i m6i giao dl)c hi?n nay 4: D6i moi quan Ii ho�t d{>ng PHBM theo hu6ng irng dl)ng CNTT dap irng yeu d.u d6i mo·i giao dl)C ph6 thong

5: T?p hufrn nang cao ky nang sir dl)ng PHBM cho can b9, giao vien, nhan vien phi) trach thi�t

bj dap irng yeu cftu d6i mai giao d l) C hi?n nay

6: T6 cht'.rc sir dl)ng hi?u qua PHBM ph l) c VI) d�y hc;,c

DS tai neu tren co y nghia khoa h9c va thJJC ti�n: Tfrt ca cac bi?n phap dS xufrt co m6i quan h? th<3ng nhfrt voi nhau trong cong tac quan Ii xay dJJng tnrang THPT d�t chufrn Qu6c gia dap t'.rng cac quy djnh hi?n hanh D6ng thai la tiSn dS cho bi?n phap khac nh�m dem l�i nhfrng thong tin quan tr9ng

va d.n thi�t cho cac nha quan Ii giao dl)C trong cong tac xay dlJilg truang THPT d�t chufrn Qu6c gia d� dap irng yeu cftu d6i mai can ban, toan di?n giao d l) C Va dao t�O, dap trng yeu c;iu Cong nghi?p boa, hi?n d�i boa dfrt nu6c

DS tai co th� ap dl)ng lam tai li?u tham khao cho cac ca s& giao dl)C khac co cung diSu ki?n

Tir khoa: Quan Ii, Quan Ii giao dl)c; quan Ii PHBM; Trm'mg THPT tren dja ban qu?n Lien Chi�u thanh ph<3 Da Ning

Xac nhqn cita giao vien hucmg ddn Nguai th1,tc hiin ai tai

/

Trang 5

MANAGEMENT OF SUBJECT CLASSROOM AT HIGH SCHOOLS IN LIEN CHIEU DISTRICT, DA NANG CITY TO MEET THE REQUIREMENTS OF

HIGH SCHOOL EDUCATION INNOVATION

Sector: Education Management

Full name of student: Nguyen Van Toan

Scientific instructor: Assoc.Prof.,Dr Nguyen Quang Giao

Training institution: University of Education - University ofDa Nang

Summary:

Building subject classrooms is an objective requirement of high schools m our country today Managing subject classrooms at high schools in Lien Chieu district, Da Nang city to meet the requirements of general education reform is to improve the quality of education, develop education in the standard spirit, modernization

Research results of the topic systematized theoretical problems to build theoretical frameworks for researching the topic At the same time, the topic also identifies the management situation of subject classrooms at high schools in Lien Chieu district, Da Nang city From there, building an overall model

of classroom management measures in the area of Lien Chieu district, Da Nang city, including 6 measures:

1: Raising awareness of staff, teachers and students about the position and role of the subject

6: Organize the effective use of subject classrooms for teaching

The above topic has scientific and practical significance: All proposed measures have a systematic relationship with each other in the construction management of high schools meeting national standards to meet the current regulations At the same time is a premise for other measures to bring important and necessary infonnation to educational administrators in the construction of high schools meeting national standards to meet the requirements of fundamental and comprehensive innovation education and training to meet the requirements of industrialization and modernization of the country The topic can be applied as a reference for other educational institutions with the same conditions

-Lien Chieu district, Da Nang city

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHÒNG HỌC BỘ MÔN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9

1.2.1 Quản lí và các chức năng quản lí 9

1.2.2 Quản lí giáo dục 11

1.2.3 Phòng học bộ môn 12

1.2.4 Quản lí hoạt động PHBM 13

1.3 Lí luận về quản lí phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 14

1.3.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 14

1.3.2 Xu hướng phát triển của PHBM 15

1.3.3 Mối quan hệ giữa quản lí PHBM với việc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay 17

1.4 Nội dung quản lí phòng học bộ môn ở trường THPT 18

1.4.1 Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở phòng học bộ môn 18

1.4.2 Quản lí khai thác, sử dụng, bảo quản thiết bị phòng học bộ môn 20

1.4.3 Quản lí việc bố trí viên chức phụ trách phòng học bộ môn 24

1.4.4 Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của phòng học bộ môn 26

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TẠI CÁC TRƯỜNG THPT QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28

2.1 Khái quát quá trình khảo sát 28

2.1.1 Mục đích khảo sát 28

Trang 7

2.1.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 28

2.1.3 Phạm vi và đối tượng khảo sát 28

2.1.4 Quy trình thực hiện 29

2.1.5 Xử lí số liệu và viết báo cáo hiệu quả khảo sát 29

2.2 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 29

2.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội quận Liên Chiểu 29

2.2.2 Khái quát về các trường trung học phổ thông quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 31

2.3 Thực trạng phòng học bộ môn ở các trường trung học phổ thông quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 33

2.3.1 Số lượng 33

2.3.2 Đầu tư mua sắm 35

2.3.3 Tần suất sử dụng PHBM của giáo viên 35

2.3.4 Nhận thức của giáo viên về vai trò của PHBM 36

2.3.5 Đánh giá PHBM 38

2.4 Thực trạng quản lí phòng học bộ môn ở các trường trung học phổ thông quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2018 - 2020 42

2.4.1 Thực trạng quản lí đầu tư, xây dựng, mua sắm thiết bị dạy học phòng học bộ môn 42

2.4.2 Thực trạng quản lí sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị phòng học bộ môn .43

2.4.3 Thực trạng quản lí thời khóa biểu, bố trí giáo viên bộ môn, nhân viên thiết bị 46

2.4.4 Thực trạng quả lí công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của phòng học bộ môn 47

2.5 Đánh giá chung 48

2.5.1 Điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn 48

2.5.2 Nguyên nhân 50

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 52

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 52

3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn 52

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 52

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 52

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 52

3.2 Đề xuất các biện pháp quản lí PHBM đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông tại các trường trung học phổ thông quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 53

Trang 8

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, học sinh về vị trí,

vai trò của phòng học bộ môn 53

3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch quản lí PHBM phù hợp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 56

3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường đầu tư nâng cấp, xây dựng phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 60

3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới quản lí hoạt động PHBM theo hướng ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 62

3.2.5 Biện pháp 5: Tập huấn nâng cao kĩ năng sử dụng phòng học bộ môn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên phụ trách thiết bị đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 64

3.2.6 Biện pháp 6: Tổ chức sử dụng hiệu quả phòng học bộ môn phục vụ dạy học 69

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74

3.4 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi đối với các biện pháp 75

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 Phụ lục PL1

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Thống kê về quy mô trường lớp từ năm 2017 – 2018

2.2 Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ QLGD của các

trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 32

2.3 Thống kê số lượng giáo viên dạy PHBM các trường

THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 32

2.4 Thống kê số lượng NVTB các trường THPT quận

2.5 Thống kê số lượng PHBM tại các trường THPT

2.6

Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng PHBM của các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

34

2.7

Thống kê đầu tư mua sắm thiết bị dạy học PHBM giai đoạn 2018 - 2020 các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

35

2.8

Mức độ nhận thức của cán bộ quản lí về vai trò của PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

36

2.9:

Mức độ nhận thức của giáo viên về vai trò của PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

37

2.10 Thực trạng thiết bị dạy học dùng chung các trường

THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 40 2.11

Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng TBDH bộ môn được cung cấp ở trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

41

2.12

Thực trạng mức độ đáp ứng về chất lượng TBDH bộ môn được cung cấp ở trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

41

2.13 Thực trạng ý thức tự làm TBDH bộ môn ở trường

THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 42

Trang 11

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Thực trạng sử dụng các loại văn bản pháp lí để quản

lí PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

44

2.16

Kết quả đánh giá thực trạng xây dựng và triển khai

kế hoạch hoạt động PHBM của Hiệu trưởng các trường THPT quận Liên Chiểu

2.18 Hiệu quả sử dụng TBDH bộ môn của GV trường

THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng 46 2.19 Thực trạng đánh giá mức độ hợp lí trong phân công

chuyên môn đối với giáo viên dạy ở PHBM 46 2.20 Thực trạng đánh giá mức độ hợp lí trong việc xếp

2.21

Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phòng học

bộ môn của Hiệu trưởng trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Sô hiệu

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản

để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Mục tiêu của giáo dục và đào tạo được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập và Chủ nghĩa Xã hội, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều chủ trương, quyết sách lớn đầu tư cho chiến lược phát triển GD & ĐT nhằm nâng cao chất lượng, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà nước đã xây dựng bốn chương trình Quốc gia bao gồm: đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa; đổi mới phương pháp dạy học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa và mua sắm TBDH được đặc biệt quan tâm

Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “… Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học .” TBDH vừa là nguồn tri thức, vừa là phương tiện truyền tải thông tin nhằm tích cực hóa quá trình nhận thức, kích thích hứng thú học tập, phát triển trí tuệ, kỹ năng thực hành của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học TBDH còn góp phần đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học, mở rộng khả năng tiếp cận với các sự vật và hiện tượng, cho phép HSSV có điều kiện tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

Tại thành phố Đà Nẵng, trong những năm qua, nhiều trường trung học phổ thông, trong đó có các trường trên địa bàn quận Liên Chiểu đã chú trọng xây dựng PHBM, nhằm giúp học sinh sớm làm quen với môi trường khoa học và những kĩ năng thực hành Để xây dựng phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu dạy và học hiện nay, các nhà trường trang bị đồng bộ cho PHBM các thiết bị dạy học hiện đại như: bàn ghế thí nghiệm, hệ thống điện, cấp thoát nước, bảng chống lóa, các trang thiết bị phục vụ cho giờ thí nghiệm, máy tính, máy chiếu, bảng tương tác thông minh và nhiều những thiết

bị, đồ dùng dạy học tiên tiến, hiện đại, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ… phục

vụ hoạt động dạy và học Tuy nhiên, hiện nay, trong mỗi trường học trên địa bàn quận vẫn chưa đủ so với quy chuẩn (bình quân, có từ 04 - 06 phòng bộ môn: trường THPT Liên Chiểu có 04 phòng (trong đó tạm thời trưng dụng phòng học làm phòng công

Trang 14

nghệ thông tin); trường THPT Nguyễn Thượng Hiền có 06 phòng; trường THPT Nguyễn Trãi có 06 phòng) Chính điều này đã gây nên nhiều khó khăn trong việc vận hành và sắp xếp thời khóa biểu Bên cạnh đó, phần lớn PHBM của các trường xây dựng đã lâu, chưa đảm bảo đúng quy chuẩn; giáo viên thiết bị kiêm nhiệm, chuyên ngành được đào tạo chưa phù hợp với vị trí công tác; một số giáo viên bộ môn còn có

tư tưởng ngại sử dụng thiết bị do những hạn chế trong việc tiếp cận được quy trình sử dụng, vận hành thiết bị, từ đó nhiều thiết bị không được sử dụng trong thời gian dài gây hư hỏng, lãng phí

Xuất phát từ thực tiễn đó, với mong muốn làm tốt hơn nữa công tác quản lí đồng thời phát huy hiệu quả phòng học bộ môn trong nhà trường, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lí phòng học bộ môn tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong đề đề tài này, trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng quản lí PHBM ở các trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, chúng tôi muốn đề xuất các biện pháp quản lí và khuyến nghị trong quản lí PHBM đối với hiệu trưởng và các cấp, nhằm góp phần nâng cao hiệu năng sử dụng, để phần nào đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lí PHBM của hiệu trưởng các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lí PHBM của Hiệu trưởng ở các trường THPT trên địa bàn

quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

4 Giả thuyết khoa học

Trong thời gian qua, công tác quản lí phòng học bộ môn ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, đã có nhiều chuyển biến song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế so với yêu cầu đổi mới giáo dục đặt ra

Nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức tầm quan trọng của phòng học bộ môn cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh; tăng cường quản lí và sử dụng phòng học bộ môn, sự phối hợp giữa phó hiệu trưởng phụ trách dạy học, tổ trưởng chuyên môn, viên chức thiết bị và giáo viên bộ môn đồng bộ thì chất lượng dạy học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng sẽ được nâng cao, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình giáo dục phổ thông mới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí phòng học bộ môn ở trường THPT 5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lí PHBM tại các

Trang 15

trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

5.3 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí PHBM tại các trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: quản lí hoạt động PHBM của Hiệu

trưởng các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

6.2 Giới hạn về khách thể điều tra

Cán bộ quản lí THPT: 09/09 người;

Viên chức làm công tác thiết bị: 5/5 người;

Tổ/nhóm trưởng chuyên môn: 12/12 người

Giáo viên bộ môn tham gia dạy học tại PHBM: 18/18 người

6.3 Giới hạn về địa bàn khảo sát: 03/03 trường THPT công lập, trên địa bàn

quận Liên Chiểu, thuộc Sở GD&ĐT thành phố Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu tài liệu liên quan đến nhà trường phổ thông: Luật giáo dục, Điều lệ nhà trường, văn bản pháp quy, quy chế về lĩnh vực giáo dục phổ thông, các tài liệu về khoa học quản lí và quản lí giáo dục, lí luận dạy học và các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát cách thức quản lí PHBM của Hiệu trưởng; nhân viên phụ trách PHBM

và hoạt động dạy - học ở các PHBM của giáo viên và học sinh các trường THPT quận Liên Chiểu

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Sử dụng phiếu hỏi để điều tra các đối tượng khảo sát như lãnh đạo, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, nhân viên, học sinh trong phạm vi triển khai đề tài

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ lưu trữ

Nghiên cứu các loại hồ sơ liên quan đến quản lí thiết bị dạy học ở các trường THPT quận Liên Chiểu như: Sổ theo dõi, quản lí tài sản của nhà trường và của từng PHBM; sổ đăng ký sử dụng TBDH dùng chung; phiếu nhập kho, xuất kho khi mua sắm TBDH; biên bản kiểm kê tài sản hàng năm; sổ ghi kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng TBDH;

kế hoạch mua sắm, trang bị TBDH,…

7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm ý kiến chuyên gia

Xây dựng các phiếu hỏi trong đó đề xuất các biện pháp quản lí PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu , tiến hành khảo nghiệm ý kiến đối với Ban giám hiệu nhà trường,

tổ trưởng, giáo viên, nhân viên thiết bị của nhà trường về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp luận văn đề xuất

Trang 16

7.2.5 Nhóm phương pháp thống kê

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả điều tra khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí PHBM tại các trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu

thành phố Đà Nẵng

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tại trường trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lí phòng học bộ môn ở trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Biện pháp quản lí phòng học bộ môn tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG PHÒNG HỌC BỘ MÔN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Từ nửa đầu thế kỉ 20, việc dạy học theo PHBM đã được triển khai ở trường phổ thông của Mĩ và một số nước châu Âu và đến nay rất nhiều nước đã triển khai hình thức tổ chức dạy học này Tuy nhiên mô hình PHBM được nghiên cứu và triển khai khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước

Theo tài liệu “Một số vấn đề về phòng học bộ môn” năm 2012 [53] của Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, do nhóm tác giả của Viện khoa học Giáo dục Việt Nam biên soạn có thể tổng kết sự phát triển PHBM như sau:

Phòng học bộ môn được hình thành từ rất lâu do nhu cầu của việc nghiên cứu khoa học Trước thế kỉ 19, hầu hết các nghiên cứu và phát minh đều được thực hiện độc lập bởi các nhà khoa học quí tộc và phòng thí nghiệm ra đời đáp ứng nhu cầu này Năm 1830, Faraday - một người rất say mê môn Vật lí đã lập nên một phòng thí nghiệm mang tính cá nhân, sau đó một vài phòng thí nghiệm ở một số trường đại học như Cambridge, Edinburgh, Glasgow ra đời

Năm 1849, ông Stokes - một giảng viên ở đại học Cambridge, đã chính thức lập nên một phòng thí nghiệm Vật lí (Physic lab) đầu tiên ở Anh Phòng này không chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu mà cả sử dụng dạy học Cùng với sự phát triển của loại phòng học có thí nghiệm, cách kiểm tra, thi cử ở phổ thông để lấy bằng “O” và “A” level theo hệ thống của đại học Cambridge cũng có nhiều thay đổi theo Năm 1851 trường đại học Cambridge đã áp dụng việc thi cả thực hành, ứng dụng vào các môn khoa học tự nhiên như Vật lí, Hoá học, Sinh học

Năm 1863, Alfred Krupp là một người làm ngành thép rất giàu có ở Đức đã sáng lập ra phòng Lab về Hoá học Năm 1876, lần đầu tiên ở Anh có thí nghiệm Hoá học (Chemist Lab) do Thomas Edison lập nên với mong muốn các nhà khoa học sẽ từ bỏ thói quen nghiên cứu độc lập và ông đã quy tụ một nhóm các nhà nghiên cứu tài năng cùng nhau nghiên cứu, sáng chế, và đã lấy được 1093 bằng sáng chế

Hoạt động dạy học gắn với việc sử dụng TBDH được đặt ra đầu tiên ở các trường dạy nghề Tại các trường dạy nghề Châu Âu vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX, việc học thực hành nghề là chủ yếu Phương tiện dạy nghề được bố trí cố định tại các khu vực phòng khác nhau: dạy nghề may, dạy nghề nấu ăn, dạy nghề mộc, dạy nghề cơ khí Trong mỗi nghề lại được chia ra thành các phòng chuyên môn hẹp hơn,

ví dụ nghề may có phòng dạy cắt, phòng dạy may, phòng dạy vắt sổ, đơm khuy

Trang 18

Nghề sửa chữa xe máy lại có các phòng dạy hệ thống điện, phòng dạy hệ thống cơ Tại các phòng đó, hệ thống phương tiện dạy học được bố trí, sắp đặt một cách khoa học với GV bộ môn có trình độ chuyên môn cao, còn HS thì đến học tại các phòng dạy nghề đó theo thời khoá biểu

Từ đó, một khái niệm mới ra đời, đó là phòng học bộ môn Thay vì việc lớp học và

HS cố định, GV cùng TBDH di chuyển đến từng lớp học theo TKB thì nay HS lại di chuyển theo TKB và TBDH thì cố định tại một phòng học Các nước Châu Âu đã là nơi đầu tiên phát triển hình thức dạy học này và kinh nghiệm của họ đã được nhiều nước trên thế giới học tập và vận dụng một cách sáng tạo cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể Dưới đây, thông qua quá trình nghiên cứu tài liệu, chúng tôi sẽ điểm qua khái quát một vài nét về quá trình nghiên cứu, sử dụng PHBM ở các nước trên thế giới

Trước hết, các nước Đông Âu là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới

phát triển hệ thống PHBM theo một quy chuẩn bài bản Từ năm học 1950 - 1951, Nước Nga (Liên Xô cũ) đã bắt đầu tiến hành triển khai việc chuyển dạy học truyền

thống sang dạy học theo PHBM Việc triển khai dạy học theo PHBM ban đầu cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khó khăn về cơ sở hạ tầng, nhưng họ đã có những giải pháp thiết thực để giải quyết vấn đề này Với những trường khó khăn về lớp học, họ đã

có phương án ghép một số môn vào một PHBM như Toán và Vẽ kĩ thuật, Vật lí với Hóa học , thậm chí ở những trường phổ thông ít lớp ở nông thôn, người ta đã phải ghép

3 môn Toán, Vật lí và Hóa học vào một PHBM Trong suốt quá trình triển khai dạy học theo PHBM, một số địa phương cũng phải chấp nhận sự chênh lệch giữa các trường thành phố và nông thôn, và phải qua thời gian dài, gần 30 năm sau, nước Nga mới hoàn thành việc chuyển cách dạy từ phòng học truyền thống sang cách dạy theo PHBM

Cộng hòa Kazacxtan: Việc triển khai dạy học theo PHBM của nước cộng hòa

Kazacxtan chậm hơn Nga 10 năm, nên có kinh nghiệm hơn nhưng cũng phải sau hơn

20 năm mới hoàn thành về cơ bản, cụ thể: năm học 1960 - 1961 tổng số trường phổ thông là hơn 4000 trường trong đó số trường có PHBM Vật lí là gần 2000 trường chiếm 50%; năm học 1981-1982 tổng số trường phổ thông là 5.728 trường trong đó số trường có PHBM Vật Lí là 5.590 trường đạt tới 96,7% điều đó chứng tỏ việc xây dựng PHBM đã được trang bị gần như 100% sau 20 năm nghiên cứu và phát triển

Tiếp theo, Cộng hòa liên bang Đức cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc triển khai dạy học trong các PHBM Năm 1964 mới triển khai dạy học theo

PHBM nhưng việc dạy học theo PHBM phát triển rất nhanh Đến năm 1974, số trường

có ít nhất 1 PHBM của các môn như sau: bộ môn vật lí có tỉ lệ số trường có PHBM chiếm tới 91%, Hóa học chiếm 96%, sinh học chiếm 82%, tiếng Đức cũng chiếm 50% Cũng năm này, nước Đức có 35% tổng số trường phổ thông dạy học theo hệ thống các PHBM Năm học 1980 - 1981 (tức là sau 16 năm) đã có 95% tổng số trường THPT hệ

10 năm và 100% số trường Trung học mở rộng (Trường có lớp 11, 12) đã được dạy học theo hệ thống PHBM

Trang 19

Ở, Phần Lan, tất cả HS đều được học tại PHBM theo thời khóa biểu Môn học

nào cũng có PHBM, có GV được phân công chịu trách nhiệm Phòng học có đủ ti vi, đầu máy, cassette, máy tính, projector, overhead, camera vật thể, bảng đen, bảng trắng (để viết bút dạ), các hệ thống bảng biểu của bộ môn, các loại thước đo được để sẵn Phía cuối PHBM là một kho học cụ được nối với phòng học bằng cánh cửa lớn Tất cả TBDH được trang bị trong PHBM đều có giá trị sử dụng cao

Cuối cùng, tuy có chậm hơn so với các nước châu Âu, nhưng từ cuối thế kỉ XX, các nước châu Á đã bắt đầu chú trọng trong việc phát triển PHBM trong công tác

giảng dạy Ở Trung Quốc, các cuộc cải cách về kinh tế đã kéo theo các cuộc cải cách

về giáo dục Hiện nay tất cả các trường phổ thông của Trung Quốc đều phải có các

PHBM: Tin học, Vật lí, Hóa học, Sinh học và Kĩ thuật Ngoài ra rất nhiều trường có thêm các PHBM Thể dục, Âm nhạc, Ngoại ngữ Giáo dục Tin học được nhiều địa phương đặc biệt quan tâm Các trường ở thành phố, thị xã, thị trấn, những nơi có điện lưới, có hệ thống máy tính được nối mạng LAN và Internet Bên cạnh sự nỗ lực của ngành giáo dục, Chính phủ Trung Quốc chủ trương xã hội hóa giáo dục và việc xây dựng PHBM cũng được Bộ giáo dục quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về kích thước,

hệ thống bàn mặt bằng, độ thông thoáng, độ sáng, hệ thống điện nước, hệ thống tủ và

giá đựng TBDH, hệ thống đảm bảo vệ sinh môi trường Ở Singapore, các PHBM được xây dựng khang trang với đầy đủ các tiện nghi Các phương tiện nghe nhìn và

máy vi tính được đặc biệt quan tâm, đủ cho mỗi học sinh 1 máy vi tính Số lượng tranh giáo khoa được chuyển dần từ bản in sang bản điện tử Trung bình mỗi trường có 02 PHBM Vật lí, 01 PHBM Hóa, 01 PHBM Âm nhạc, 01 PHBM Thể dục Tuy nhiên số

lượng và quy mô PHBM trong mỗi trường ở Singapo cũng không quy định bắt buộc,

có trường được trang bị hiện đại nhưng cũng có trường được trang bị mức trung bình

tùy theo điều kiện đầu tư, có trường lại ghép 1 đến 2 môn chung vào 1 phòng học Ở Thái Lan, việc dạy học theo PHBM được chú ý ở các cấp học Ở trường Tiểu học, đã

có PHBM Tin học và Phòng nghe nhìn, HS từ lớp 3 đã được học và sử dụng máy tính

Ở cấp THPT và THPT việc dạy học đều theo PHBM

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Việc triển khai dạy học theo PHBM Việt Nam đã bắt đầu từ thời kì Pháp thuộc, khi các môn Khoa học tự nhiên bắt đầu được đưa vào học trong nhà trường Một số trường đã có phòng thí nghiệm cho các môn Lí - Hoá - Sinh và một số trường nghề đã

có phòng học nghề

Từ năm 1975, tác giả Nguyễn Gia Cốc đã đề xuất “Mấy ý kiến bước đầu về việc

xây dựng trường sở theo hệ thống phòng bộ môn” [10], nêu rõ bản chất của sự thay

đổi tổ chức phòng học là “Thay thế nguyên tắc phân chia phòng học theo lớp bằng

nguyên tắc phân chia phòng học theo bộ môn” Như vậy tính theo số liệu của kế

hoạch dạy học lúc đó thì tổng số phòng học không đủ cho các lớp, vì vậy đề xuất của tác giả Nguyễn Gia Cốc do nhiều lí do chưa thực hiện được

Trang 20

Khi thực hiện thí điểm THPT chuyên ban, đề tài nghiên cứu “Xây dựng hệ thống

PBM cho trường THPT chuyên ban” do Trần Doãn Quới thực hiện [41] đã đưa ra một

số cơ sở lí luận và thực tiễn việc xây dựng hệ thống PHBM cho trường trung học chuyên ban Đề tài đã đề xuất mô hình hệ thống PHBM trường trung học chuyên ban

và mô hình PHBM cụ thể một số môn học giai đoạn 1998 - 2005 Mô hình dự kiến tập trung vào cải tạo các phòng học sẵn có thành PHBM và đưa ra một số yêu cầu trang bị nội thất, TBDH của PHBM Mô hình này là phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, TBDH, nội dung chương trình và phương pháp dạy học trong giai đoạn đó

Tiếp theo đó, Hội thảo khoa học về PHBM tổ chức vào tháng 12/2005 trên phạm

vi cả nước tại Hà Tĩnh, tại Thái Bình Hội thảo này, ngoài việc tổng kết 5 năm thí điểm dạy học theo PHBM tại 8 tỉnh, Bộ GD&ĐT đã chính thức phát động việc dạy học theo PHBM cho tất cả các tỉnh thành với những mức độ khác nhau theo tỉnh

Trong quá trình đổi mới giáo dục vừa qua, nhu cầu dạy học theo PHBM là xu thế tất yếu Đề tài cấp bộ B 2005- 49 do chủ nhiệm đề tài tài Hà Văn Quỳnh làm chủ

nhiệm “Mô hình PHBM phục vụ dạy học phân ban trường THPT” [42] đã nghiên cứu

bổ sung và hoàn thiện cơ sở lí luận và thực tiễn của việc triển khai dạy học theo phòng học bộ môn Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đưa ra mô hình PHBM cho trường THPT phân ban hiện nay và trong giai đoạn tới Trong nội dung của đề tài cũng chỉ rõ các định hướng cho dạy và học trong PHBM

Việc dạy và học trong PHBM đã được triển khai và thu được thành công trong rất nhiều tỉnh thành Năm 2008 cũng đã có cuộc Hội thảo do Dự án THPT tổ chức với

sự tham gia của 63 tỉnh và báo cáo tham luận của 27 tỉnh về “Quản lí, tổ chức, sử

dụng và triển khai sử dụng PHBM” [12] Trong Hội thảo có chia sẻ và đề cập đến một

số kinh nghiệm trong công tác quản lí tuy nhiên các chia sẻ chỉ mang tính chất riêng lẻ chưa mang tính chất hệ thống Nghiên cứu quản lí PHBM mới chỉ được nhắc đến nhưng không nhiều Quyết định số 32 ngày 24/9/2004 Bộ GD&ĐT (Sau đây gọi là Quyết định 32) ban hành Quy chế công nhận PHBM trường Trung học đạt chuẩn Quốc gia chính là cơ sở pháp lí đầu tiên để giáo dục Việt Nam thực hiện triển khai phương thức dạy học theo PHBM Sau đó Bộ GD&ĐT ra Quyết định 37/2008/QĐ-BGD&ĐT (Sau đây gọi là Quyết định 37) ban hành quy định về PHBM rất cụ thể từ quy cách PHBM, các yêu cầu kĩ thuật, quản lí và sử dụng PHBM để thay thế cho Quyết định 32 và mới nhất là Thông tư số 14/2020/TT-BGD&ĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 thay thế Quyết định 37/2008/QĐ-BGD&ĐT Có thể nói dạy học ở PHBM

đã bắt đầu được thực hiện và triển khai ở Việt Nam

Các tác giả có nhiều nghiên cứu về PHBM như tác giả Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Phạm Văn Nam đã đưa ra một số vấn đề về lí luận và thực tiễn về PHBM để đổi mới PPDH [35]

Trong một số Luận văn Thạc sĩ về quản lí TBDH như “Quản lí thiết bị dạy học ở

các trường Trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” [49]

Trang 21

của tác giả Trần Thế Vinh cũng đề cập đến quản lí PHBM để nâng cao hiệu quả của

TBDH

Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Các biện pháp quản lí nhằm phát huy hiệu quả của

tổ chuyên môn tại trường Trung học phổ thông chuyên Bắc Giang” [2] của tác giả

Ngô Văn Bình thì quản lí PHBM cũng là một biện pháp cơ bản để phát huy hiệu quả

dạy học

Năm 2012 có Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Hải Việt nghiên cứu về “Những

giải pháp cơ bản để triển khai dạy học theo PHBM cấp THPT huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc” [48] đã đưa ra 06 giải pháp để triển khai dạy học theo PHBM ở các trường

THPT thuộc Phòng GD&ĐT huyện Vĩnh Tường

Năm 2013 có Luận văn Thạc sĩ của tác giả Cao Thị Phương Chi nghiên cứu

“Biện pháp quản lí PHBM của Hiệu trưởng trường THPT Lào Cai - Thành phố Lào Cai” [6] đã đánh giá thực trạng về các biện pháp quản lí PHBM của Hiệu trưởng các

trường THPT ở thành phố Lào Cai và đề xuất 06 biện pháp để giải quyết các thực trạng đó, trong đó nhấn mạnh giải pháp sử dụng bảo quản các TBDH

Nhìn chung, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài về quản lí thiết bị dạy học, quản lí PHBM Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quản lí PHBM ở các trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng

Với ý nghĩa đó, vấn đề đặt ra là cần có các công trình nghiên cứu về quản lí PHBM để đặt cơ sở lí luận và thực tiễn cho công tác quản lí PHBM của Hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn quận nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay, từ đó góp phần nâng cao chất lượng sử dụng PHBM và góp phần nâng cao chất lượng dạy học của các nhà trường

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lí và các chức năng quản lí

Từ trước đến nay, nhiều học giả, nhiều nhà quản lí đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí, tùy thuộc vào cách tiếp cận quản lí với những góc độ khác nhau Những khái niệm về quản lí có thể được tập trung ở một số khía cạnh như

sau:

Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về quản lí: “Quản lí xã hội một cách

khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát

triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [39]

Theo Harold Koontz - Cyric Odonnell - Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn

đề cốt yếu của quản lí” cho rằng “Quản lí là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu quan trọng điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất và đạt được kết quả cao nhất” [27]

Trang 22

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về Khoa học quản lí cũng bàn nhiều về khái

niệm quản lí Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lí gồm hai

quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển” Trong “quản” phải có “lí”, trong “lí” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [1]

Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí

trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26]

Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lí khác nhau nhưng chúng đều có

một điểm chung thống nhất như sau: Quản lí là một quá trình tác động có định hướng

phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lí để đạt được mục tiêu quản lí trong một môi trường luôn biến động, chủ thể quản lí tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách đường lối chủ chương trong các phương pháp quản lí và công vụ quản lí để đạt mục tiêu quản lí

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lí nhưng tựu trung lại quản lí là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí nhằm

tổ chức, điều hòa, phối hợp hoạt động của các đối tượng quản lí nhằm đạt tới mục tiêu

đã xác định Như vậy, quản lí là một hoạt động có tính hệ thống, bao gồm các yếu tố cơ bản hợp thành: chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, cơ chế tác động, mục tiêu và khách

thể (hay các yếu tố môi trường bên ngoài)

Sự phân định chủ thể quản lí và đối tượng quản lí chỉ mang tính chất tương đối, một cá nhân, một bộ phận đặt trong quan hệ này là chủ thể quản lí nhưng đặt trong

quan hệ khác lại là đối tượng quản lí

* Các chức năng quản lí:

Để đạt được mục tiêu đã định, quản lí phải thông qua các chức năng quản lí như sau: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra

- Chức năng lập kế hoạch: là chức năng khởi đầu, là tiền đề của mọi quá trình

quản lí Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó

- Chức năng tổ chức: Tổ chức sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố,

những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lí

có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực Công tác tổ chức bao

Trang 23

gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạt động giao phó quyền hành của người quản lí

và tạo sự liên hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách tự giác và hăng hái

- Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): Là huy động lực lượng để thực hiện kế hoạch, là

biến những mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện Phải giám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của tổ chức đúng tiến trình, đúng kế hoạch Khi cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục tiêu hướng vận hành của tổ chức, quản lí nhằm nắm vững mục tiêu chiến lược đã đề ra

- Chức năng kiểm tra đánh giá: Nhiệm vụ của kiểm tra nhằm đánh giá trạng thái

của tổ chức, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt tới mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lí rút ra những bài học kinh nghiệm

Muốn cho hệ thống quản lí vận hành có kết quả thì quá trình quản lí là một thể thống nhất trọn vẹn Cần lưu ý vai trò của thông tin rất quan trọng, nó được coi như

“mạch máu” của hoạt động quản lí Chính vì vậy trong những nghiên cứu gần đây coi thông tin như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lí khác

1.2.2 Quản lí giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một bộ phận của hình thái kinh tế -

xã hội, là một hoạt động xã hội có chức năng làm cho thế hệ sau chiếm lĩnh được các

di sản xã hội của thế hệ trước, bao gồm những hiểu biết, năng lực và phẩm chất mà các thế hệ trước đã tích lũy được Hệ thống giáo dục, mạng lưới các trường học là bộ phận cấu trúc hạ tầng của xã hội Quản lí giáo dục chính là một loại hình quản lí trong xã hội, tức là quản lí mọi hoạt động giáo dục trong xã hội

Khái niệm quản lí giáo dục được các học giả, những nhà nghiên cứu giáo dục trong nước và nước ngoài nghiên cứu và định nghĩa khác nhau

Nếu giáo dục là một hiện tượng xã hội vĩnh hằng, thì quản lí giáo dục cũng là một hoạt động đồng hành, xuyên suốt với quá trình đó Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:

“QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ

mà cho mọi người Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [1]

Tác giả Trần Kiểm khi định nghĩa niệm về quản lí giáo dục đã phân loại hai nhóm khái niệm tương ứng ở vĩ mô và vi mô:

+ Đối với cấp độ vĩ mô: “Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác

(có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cấp cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [26]

“Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể

Trang 24

quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống; sử dụng một cách tối

ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa ra hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường ngoài luôn luôn biến động” [26]

“Quản lí giáo dục là tác động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [26]

+ Đối với cấp vi mô: “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự

giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lí đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo của nhà trường” [26]

Như vậy, QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong việc vận dụng nguyên lí, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học có kế hoạch QTDH theo mục tiêu đào tạo QLGD có thể xem là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình giáo dục, những hoạt động của cán bộ, GV và HS, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà QLGD và phù hợp với quy luật khách quan

1.2.3 Phòng học bộ môn

Có thể nói, PHBM về mặt bản chất đó là phòng chuyên dụng cho một môn học Trong tài liệu lưu hành nội bộ của Viện khoa học Giáo dục Việt Nam năm 1972 có bài

viết của viện sỹ X.I.Sapôvalencô, đề cập đến vấn đề PHBM và cho rằng “PHBM là

những phòng học được trang bị những tài liệu trực quan, những thiết bị học tập, bàn ghế và các dụng cụ khác phục vụ học tập mà ở đó chúng được sử dụng một cách tích cực trong bài học, trong giờ ngoại khóa và giáo trình tự chọn và công tác giáo dục học sinh được tiến hành một cách có hệ thống với mức độ khoa học cao về các vấn đề hoàn thiện quá trình giáo dục trong nhà trường” [43] Như vậy, ông cho rằng PHBM

không chỉ có hoạt động dạy và học mà ở đó các TBDH được sử dụng nhằm phát huy tính tích cực của HS, ngoài ra nó được sử dụng trong các giờ ngoại khoá và công tác giáo dục khác cho HS để hoàn thiện quá trình giáo dục

Theo nhóm tác giả Viện khoa học giáo dục Việt Nam định nghĩa như sau:

“PHBM là những phòng học được trang bị những tài liệu trực quan, những thiết bị học tập, bàn ghế và các dụng cụ khác phục vụ học tập mà ở đó chúng được sử dụng một cách tích cực trong bài học, trong giờ ngoại khóa Giáo trình tự chọn và công tác giáo dục học sinh được tiến hành một cách hệ thống với mức độ khoa học cao về các vấn đề hoàn thiện quá trình giáo dục trong nhà trường” [48]

Trang 25

Có thể nhận biết được phòng học bộ môn qua một số đặc điểm cơ bản sau:

- TBDH được bố trí sẵn theo yêu cầu của môn học

- Có tủ (giá) đựng TBDH để ngay trong khuôn viên lớp học; Có khu vực chuẩn

bị các bài thí nghiệm thực hành của GV và HS

- Phòng học và bàn ghế được thiết kế theo các yêu cầu học kết hợp với sử dụng TBDH Hệ thống chỗ ngồi được bố trí cơ động, thuận tiện cho việc học tập theo hướng tăng cường sự hoạt động của HS Bàn học có thể vừa là nơi ghi chép những kiến thức

lí thuyết nhưng cũng có thể là nơi thực hiện các thí nghiệm (với bài học dạy lí thuyết

có thực hành thí nghiệm)

- HS không học ở một phòng cố định mà thay đổi theo từng bộ môn Hoạt động dạy và học của thầy và trò được xây dựng theo hướng gắn với việc sử dụng TBDH bộ môn GV là người tổ chức cho HS tự chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động với TBDH dưới các hình thức học lí thuyết kết hợp với thí nghiệm, thực hành

Theo Thông tư 14/2020/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Bộ GDĐT giải thích “Phòng học bộ môn là phòng học đặc thù được trang bị, lắp đặt các thiết bị dạy học chuyên dung để tổ chức dạy học một hoặc một số môn học theo yêu cầu chương trình giáo dục” Ở trường THPT có các phòng học bộ môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Ngoại nữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Đa chức năng, Khoa học

xã hội

1.2.4 Quản lí hoạt động PHBM

Việc dạy và học trong PHBM đã được triển khai và thu được thành công trong rất nhiều tỉnh thành Năm 2008 cũng đã có hội thảo do dự án THPT tổ chức với sự

tham gia của 63 tỉnh và báo cáo tham luận của 27 tỉnh về “Quản lí, tổ chức, sử dụng và

triển khai sử dụng PHBM” [13] Trong hội thảo có chia sẻ và đề cập đến một số kinh

nghiệm trong công tác quản lí tuy nhiên các chia sẻ chỉ mang tính chất riêng lẻ chưa mang tính chất hệ thống

Nghiên cứu quản lí PHBM mới chỉ được nhắc đến, nhưng không nhiều trong các

tài liệu “Một số vấn đề về phòng học bộ môn” do Viện khoa học Giáo dục Việt Nam

kết hợp với dự án THPT II nghiên cứu

Trong một số luận văn thạc sĩ về quản lí thiết bị dạy học như “Quản lí thiết bị

dạy học ở các trường trung học phổ thông của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” [49] của tác giả Trần Thế Vinh cũng đề cập đến quản lí PHBM để nâng cao hiệu

quả của sử dụng TBDH

Trong luận văn thạc sĩ về “Các biện pháp quản lí nhằm phát huy hiệu quả của tổ

chuyên môn tại trường THPT chuyên Bắc Giang” [2] của tác giả Ngô Văn Bình thì

quản lí PHBM cũng là một biện pháp cơ bản để phát huy hiệu quả dạy học

Gần đây nhất năm 2012 có Luận văn thạc sĩ của Vũ Hải Việt nghiên cứu về

“Những giải pháp cơ bản để triển khai dạy học theo PHBM cấp THPT huyện Vĩnh

Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” đã đưa ra 6 giải pháp để triển khai dạy học theo PHBM ở các

Trang 26

trường THPT thuộc Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Tường là chủ yếu [48] Tất cả các bài báo và nghiên cứu trên thì việc quản lí PHBM đã được đề cập đến, tuy nhiên quản lí hoạt động PHBM hầu như chưa được đề cập đến cụ thể, chỉ dừng lại

ở quán lí thiết bị của trường phổ thông nói chung, hoặc nó mới chỉ là định hướng trong lĩnh vực quản lí chứ nó chưa được đề cập đến như một vấn đề độc lập, và được đề ra

để nghiên cứu một cách hệ thống

Tóm lại, với bối cảnh nghiên cứu và thực tiễn đang diễn ra, chúng ta cần có các công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động PHBM một cách cụ thể, chuyên sâu, có hệ thống, để đặt cơ sở lí luận và thực tiễn cho quản lí PHBM của Hiệu trưởng trường phổ thông, từ đó góp phần nâng cao chất lượng sử dụng PHBM và góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

1.3 Lí luận về quản lí phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

1.3.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo

Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả

và hạn chế nhược điểm của chúng Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát

Trang 27

triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên” Đó mới thực sự là cái đích hướng tới vĩnh viễn của quá trình giáo dục

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học

đã trở thành một yêu cầu bắt buộc Theo đó, người dạy cần căn cứ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học

cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quy định

Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.3.2 Xu hướng phát triển của PHBM

Quá trình dạy học được xem như một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố

liên hệ tương tác với nhau tạo nên chất lượng mới Trong đó mục tiêu quy định nội dung chương trình, nội dung đó truyền đạt cho học sinh theo phương pháp đặc trưng

với mỗi lứa tuổi, người truyền đạt đó là giáo viên Để truyền đạt nội dung đó phải

có điều kiện về cơ sở vật chất Các thành tố phải đặt trong mối quan hệ biện chứng để

cho kết quả đầu ra như mong muốn

Chính vì thế, việc xây dựng PHBM ở các trường THPT là ý tưởng mang tầm chiến lược trong chủ trương đổi mới phương pháp dạy học Điều này giúp học sinh sớm làm quen với môi trường khoa học, có những kiến thức thực tiễn, đồng thời, giúp công việc giảng dạy của giáo viên tiện lợi hơn Vì vậy, các nhà trường đều coi đó như

là một trong những mục tiêu chiến lược tạo nên thành công trong việc “Xây dựng

trường học thân thiện, học sinh tích cực” và xây dựng trường chuẩn Quốc gia

Lí luận và thực tiễn đã khẳng định, sự ra đời của PHBM là xu hướng tất yếu mang tính khách quan và quy luật Xây dựng PHBM là một đòi hỏi khách quan của

các nhà trường phổ thông hiện nay ở nước ta

1.3.2.1 PHBM làm tăng tần suất sử dụng và độ bền của TBDH và đem lại những lợi ích về kinh tế

Vì không phải chuyển TBDH từ lớp này sang lớp khác do đó sẽ tránh được hư hỏng khi di chuyển đồng thời tiết kiệm được thời gian Điều quan trọng nữa là GV không thể dạy chay khi xung quanh họ các TBDH được chuẩn bị sẵn sàng Chính vì lẽ

đó mà phần lớn các TBDH đều được khai thác triệt để sử dụng một cách có hiệu quả Các tủ và giá đựng thiết bị là những giá tủ chuyên dùng theo tiêu chuẩn quy định

Trang 28

Có những loại tủ chỉ đựng hoá chất, có những tủ chỉ đựng tiêu bản, có những tủ chỉ đựng các dụng cụ khác Bởi vậy mà TBDH được được bảo quản một cách tốt nhất Điều này tránh được thực trạng cái gọi là “Phòng thiết bị” của các trường hiện nay tất

cả đều được chất vào một kho Có những loại thiết bị mà có lẽ khi nhận về lại nay vẫn còn nguyên hộp thậm chí mối mọt gần hết mà cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn vẫn chưa biết

Trong thực tế, những GV có tâm huyết với việc dạy có thiết bị đã phải vất vả khi mang thiết bị dạy học đến từng lớp Điều đó buộc GV phải lựa chọn một vài thí nghiệm với những dụng cụ nhẹ, gọn, dễ vận chuyển, không độc hại Đó là chưa kể đến các thiết bị nặng như máy chiếu qua đầu, máy vi tính để sử dụng phần mềm dạy học

GV dạy Hoá học rất khó vận chuyển những thiết bị, dụng cụ bằng thuỷ tinh dễ vỡ đến lớp (chưa nói đến nhiều loại hoá chất độc hại bị dính vào người, quần áo ) Để giải quyết những khó khăn này là phải dạy học tại các PHBM

PHBM có khả năng đem lại lợi ích về kinh tế vì TBDH được sử dụng lâu dài (hạn chế hỏng hóc, trục trặc) tăng tuổi thọ do đó có điều kiện đầu tư thêm các hạng mục khác nhằm phục vụ QTDH trong nhà trường

1.3.2.2 Chỉ có PHBM mới có điều kiện lắp đặt phương tiện dạy học hiện đại

Như chúng ta đã biết ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, của công nghệ thông tin (CNTT), bởi vậy việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong nhà trường không còn là vấn đề xa lạ Các phương tiện nghe nhìn đã được sử dụng rất nhiều trong giáo dục, phương tiện nghe nhìn bao gồm 02 khối: Khối mạng thông tin (phim, ảnh, bản trong, đĩa mềm, ) và khối chuyển tải thông tin (máy chiếu qua đầu, radio, catsette, máy vi tính, máy chiếu đa năng ) để sử dụng khối mạng thông tin thì bắt buộc phải có khối chuyển tải thông tin, khối này không thể nào mang đến từng lớp được mà phải lắp đặt cố định ở PHBM Những phương tiện này phần lớn là cồng kềnh, dễ vỡ, dễ hư hỏng, đặc biệt lại đắt tiền, vì vậy nếu không có PHBM thì đành nằm “chờ” ở kho và việc khai thác kém hiệu quả

1.3.2.3 PHBM giúp cho năng lực thực hành của GV được nâng lên và đòi hỏi

GV phải nâng cao trình độ tiếp cận với khoa học công nghệ

Một thực tế khá phổ biến đối với GV đứng lớp hiện nay là: Năng lực sư phạm, trình độ chuyên môn, năng lực thực hành của một số GV còn yếu kém Điều này cũng

dễ hiểu do đã từ lâu “lối mòn” đọc chép, nhìn chép cùng với tâm lý ngại chuẩn bị TBDH để đỡ mất thời gian Vì thế muốn sử dụng thành thạo các TBDH hiện đại đòi hỏi GV phải không ngừng học hỏi nâng cao kỹ năng sử dụng đáp ứng với nhu cầu bài dạy Bởi vậy việc tổ chức dạy học tại PHBM giúp cho trình độ chuyên môn của GV được nâng lên Năng lực thực hành, tư duy lô gích, tư duy sáng tạo của thầy và trò không ngừng được phát triển Khi đã sử dụng nhiều lần thì trình độ sử dụng TBDH của GV sẽ thành thạo, họ sẽ bớt ngại làm thí nghiệm từ đó tạo không khí học tập nghiên cứu của thầy trò thực sự nghiêm túc, có hiệu quả

Trang 29

1.3.2.4 PHBM tạo ra được không khí học tập khoa học của HS

Đã đến học tại PHBM điều tất yếu các em HS đã mang theo một tâm thế là ở đó

sẽ được quan sát thí nghiệm do GV làm hoặc các em trực tiếp làm thí nghiệm, sử dụng một loại thiết bị nào đó Trường hợp những thiết bị khó hoặc gây nguy hiểm cho giáo viên và học sinh thì các em được quan sát thí nghiệm ảo hoặc qua phim ảnh Học ở PHBM dần dần các em sẽ hình thành các kĩ năng sau:

- Kĩ năng tổ chức lao động khoa học

- Kĩ năng quan sát, nhận biết

- Kĩ năng thực hành

- Kĩ năng hợp tác

1.3.2.5 Có thể tổ chức các hoạt động ngoại khoá tại các PHBM cho GV và HS

Theo tác giả X.I Sapovalenco “Các phòng bộ môn là trung tâm công tác giáo

dục học sinh tiến hành không chỉ những vấn đề liên quan đến học tập mà cả những vấn đề khác thí dụ đều đặn thông báo các sự kiện đã qua trong nước và trên thế giới

về thành tựu khoa học, những tin tức thời sự Đồng thời phòng bộ môn là một trung tâm phương pháp giảng dạy trong nhà trường, trung tâm tuyên truyền các kiến thức sư phạm cho cha mẹ học sinh và nhân dân, trung tâm học tập chính trị và khoa học của

GV Ở đây có sự trao đổi phương pháp của các thầy giáo bộ môn nhà trường, những cuộc gặp gỡ của họ với các thầy giáo ở các trường khác Khi có PHBM thầy giáo ít phải chuẩn bị bài dạy ở nhà hơn mà làm việc đó trong các PHBM Bởi vì ở đây soạn bài nhanh hơn và tiện lợi hơn Trong các phòng học lịch sử và Khoa học xã hội có thể

tổ chức các buổi dạy chính trị Nói cách khác PHBM dần biến thành phòng thí nghiệm của công tác sáng tạo của trường” [43]

Trên thực tế, nếu sử dụng nhiều năm khi trình độ sử dụng TBDH của GV và HS thành thạo thì GV có thể giao cho HS các bài tập hoặc các tiểu luận khoa học mà kết quả của bài tập hoặc tiểu luận có đó phải sử dụng đến các kết quả thu được từ thực nghiệm Tại PHBM giáo viên cũng có thể tổ chức thảo luận nhóm và các chuyên đề, hội thảo khoa học thiết thực gắn với thực nghiệm Tổ chức sinh hoạt tổ nhóm và các hoạt động chuyên môn ở PHBM Tuy nhiên đây là một hoạt động không dễ, đòi hỏi phải có quá trình làm quen với PHBM và có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động đó Tất cả những ưu điểm trên cho ta thấy dạy học ở PHBM là biện pháp hữu hiệu nhất để đổi mới PPDH và đem lại hiệu quả cao cho QTDH

1.3.3 Mối quan hệ giữa quản lí PHBM với việc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

QTDH hiện nay được tiến hành trong điều kiện CSVC và phương tiện dạy học ngày càng hiện đại, có tác dụng gây hứng thú học tập cho HS, giúp họ lĩnh hội nhanh

và dễ dàng hơn những tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời, phương tiện dạy học mới, hiện đại sẽ làm giảm cường độ lao động của giáo viên về mặt truyền đạt thông tin để tập trung thời gian suy nghĩ hướng dẫn, tổ chức

Trang 30

học sinh lĩnh hội và vận dụng tri thức, tìm tòi các biện pháp mới để dạy cho các em cách học tập có hiệu quả nhất Việc tăng cường trang bị những phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật không có nghĩa là hạ thấp trình độ nghiệp vụ của người GV, lại càng không có nghĩa thay thế người GV, trái lại càng đòi hỏi trình

độ nghề nghiệp của họ phải cao Thực tiễn dạy học đã khẳng định, với việc trang bị những phương tiện dạy học hiện đại mà trình độ nghiệp vụ của GV thấp hiệu quả dạy học không những không tăng mà còn giảm nghiêm trọng

Tác dụng PHBM đối với chất lượng của QTDH: hầu như các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới hiện nay đều tổ chức dạy học theo PHBM So với phòng học truyền thống (kiểu dạy truyền thống) kể cả so với phòng học thí nghiệm thì PHBM đem lại hiệu quả cao đối với chất lượng của QTDH

Đổi mới giáo dục phổ thông là quy luật phát triển tất yếu của dạy học, bắt nguồn

từ việc đổi mới quan niệm về dạy học: dạy học không chỉ tập trung vào nội dung (tức

là chỉ lo dạy “cái gì”) mà còn tập trung hình thành phương pháp học tập, tự phát hiện,

tự giải quyết vấn đề thuộc phạm vi bài học để tự chiếm lĩnh kiến thức mới; giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để học sinh chủ động, tự lực, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới, kế thừa có chọn lọc một cách sáng tạo các phương pháp dạy học truyền thống, bổ sung các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm…

Nhân tố PHBM là điều kiện quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông Không ở môi trường học tập nào, học sinh có cơ hội hoạt động nhiều như ở PHBM Ở đây các em không chỉ được rèn luyện kĩ năng thực hành mà còn được quan sát, nhận xét, tranh luận những vấn đề nảy sinh trong thực tế Chính nhờ đó, khắc phục được những thói quen xấu cho học sinh trong học tập như: thụ động, ỉ lại, tiếp thu một chiều… Hoạt động của PHBM không chỉ tác động tích cực đến học sinh về khả năng

tư duy, sáng tạo mà ngay cả giáo viên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng được nâng cao Khi tiếp xúc với công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị dạy học nhiều lần, chính bản thân giáo viên sẽ gắn bó với bài giảng, hứng thú với việc thiết kế bài giảng điện tử, không ngại làm thí nghiệm Đối với thí nghiệm khó, giáo viên còn có hể dùng công nghệ thông tin để mô phỏng lại… qua đó tự bồi dưỡng được chuyên môn

1.4 Nội dung quản lí phòng học bộ môn ở trường THPT

1.4.1 Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở phòng học bộ môn

Việc quản lí CSVC thiết bị dạy học ở PHBM là hết sức quan trọng, bởi hiệu quả

sử dụng PHBM, thiết bị dạy học đạt hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào khâu quản lí Mỗi nhà trường đều có 1 hoặc 2 biên chế nhân viên thiết bị dạy học Tuy nhiên cho thấy với số lượng công việc quản lí và trình độ của nhân viên thiết bị trên thực tế còn nhiều yếu kém về trình độ bởi vậy nhà trường nên cử thêm 1 giáo viên chuyên trách môn cùng với nhân viên phụ trách PHBM đó làm công tác quản lí thiết bị thì mới đạt

Trang 31

hiệu quả

Thiết bị dạy học trong PHBM được chia ra làm 3 phần cơ bản:

- Thiết bị dạy học theo danh mục tối thiểu của Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành

- Thiết bị dạy học hiện đại được trang bị theo yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu của trường

- Thiết bị dạy học tự làm do giáo viên và học sinh tự sưu tầm và thiết kế trong quá trình dạy và học

Với các quy định về PHBM, quy trình quản lí thì yêu cầu đối với hiệu trưởng trong công tác quản lí có thể phân tích các nội dung quản lí như sau:

 Quản lí đầu tư mua sắm thiết bị dạy học

Xây dựng kế hoạch hóa việc đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy học trong mỗi cơ

sở đào tạo là công việc quan trọng hàng đầu, vừa là mục tiêu vừa mang tính chất định hướng, tạo sự chủ động đối với các nguồn lực để đạt được kế hoạch đề ra

Công tác kế hoạch hóa đầu tư mua sắm thiết bị dạy học tại cơ sở giáo dục là hoạt động của người quản lí trong việc quy hoạch các nội dung: lập, thực hiện, theo dõi và đánh giá kế hoạch trong lĩnh vực mua sắm, trang bị, đồng thời đề ra các biện pháp tương ứng phù hợp nhằm bảo đảm thực hiện sao cho hiệu quả nhất

Đánh giá công tác đầu tư mua sắm thiết bị dạy học của các cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước trong thời gian qua, công văn số 7842/BGDĐT ngày 28 tháng 10 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “… Chú trọng mua sắm thiết bị mới mà không chú ý đến việc khai thác sử dụng hết công suất, khả năng của các thiết bị hiện có; mua sắm thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin nhưng không đồng bộ và thiếu các phần mềm ứng dụng phù hợp; mua sắm thiết bị hiện đại, nhiều chức năng, đắt tiền nhưng không khai thác sử dụng hết các chức năng của thiết bị; mua sắm mới các thiết

bị trong khi chưa có người đủ kiến thức, khả năng để vận hành và khai thác sử dụng Các hạn chế nêu trên dẫn đến việc khai thác sử dụng thiết bị kém hiệu quả, lãng phí trong đầu tư, gây bức xúc trong ngành và trong nhân dân”

Để thực hiện công tác quản lí đầu tư mua sắm thiết bị dạy học, nhà trường cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

- Xây dựng kế hoạch mua sắm thiết bị dạy học phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường;

- Tổ chức quản lí đầu tư, mua sắm thiết bị dạy học phải tuân thủ quy trình, thủ tục; lập và phê duyệt đề án mua sắm; tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị dạy học theo đúng các quy định hiện hành của nhà nước;

- Tăng cường chỉ đạo công tác đầu tư, mua sắm TBDH Việc mua sắm mới phải dựa trên cơ sở khai thác sử dụng hết công suất của những thiết bị đã được trang bị, phù hợp với điều kiện kinh phí và chuẩn bị đủ người vận hành, khai thác sử dụng thiết bị Việc đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy học phải theo hướng hiện đại, đồng bộ, hiệu quả, đảm bảo khai thác được nguồn dự liệu phong phú, góp phần đổi mới phương

Trang 32

pháp dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn;

- Kiểm tra, đánh giá công tác mua sắm, trang bị TBDH đi đôi với việc rà soát thực trạng TBDH hiện có để làm cơ sở lập kế hoạch mua sắm bổ sung những TBDH cần thiết và đồng bộ;

- Xây dựng các nội dung dạy và học phong phú, sinh động như sách giáo khoa, giáo trình điện tử, phần mềm kiểm tra đánh giá, trắc nghiệm và các phần mềm hấp dẫn khác Ưu tiên mua sắm, trang bị các thiết bị trực quan giúp cho bài giảng dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ nhớ để giúp giáo viên và học sinh, sinh viên có hứng thú trong dạy và học;

- Thường xuyên triển khai đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, thiết bị dạy học đảm bảo tính lâu bền trong sử dụng;

- Đảm bảo các điều kiện cơ bản khi mua sắm thiết bị dạy học phải có cơ sở vật chất, kho bãi, phòng ốc để lắp đặt thiết bị; có người quản lí và sử dụng thành thạo; thiết bị phải phù hợp và đồng bộ với với nội dung chương trình, khả năng sử dụng của giáo viên, kỹ thuật viên, học sinh, sinh viên và phải được tập huấn, hướng dẫn

sử dụng; phải có nguồn học liệu và các chương trình để giảng dạy trên thiết bị; phù hợp điều kiện kinh phí hiện có và khả năng nhân rộng mô hình

 Xây dựng quy chế hoạt động của PHBM

Theo thống kê yêu cầu của các bộ môn, của tổ trưởng chuyên môn hiệu trưởng từ các căn cứ đó có thể lập kế hoạch cho hoạt động của PHBM theo ngày, tuần, tháng, học kì, năm học về sử dụng PHBM, về các thiết bị dạy học trong PHBM để trên cơ sở

đó nhân viên phụ trách thiết bị cùng giáo viên chuẩn bị thiết bị dạy học cho tiết dạy có

sử dụng PHBM

Trên cơ sở đăng kí sử dụng PHBM của từng giáo viên với từng PHBM kết hợp với thời khóa biểu của nhà trường để từ đó Hiệu trưởng có nhiệm vụ lập thời khóa biểu về PHBM cho giáo viên và học sinh biết để có lộ trình di chuyển đến nơi học Trước tiên là quy định cho người sử dụng PHBM gồm GV, NVTB, HS Cụ thểm,

là các nội quy khi vào phòng học bộ môn, trong nội quy đưa ra những quy định của những người sử dụng PHBM Mỗi phòng học bộ môn có một quy định riêng ví dụ như PHBM hóa học có yêu cầu của sử dụng Hóa chất, yêu cầu vệ sinh học đường, yêu cầu

về an toàn khi sử dụng hóa chất… Quy chế cho mỗi đối tượng 1 khác nhau với giáo viên có quy chế an toàn sử dụng, quy chế khi mượn trả thiết bi; với nhân viên thiết bị chịu trách nhiệm về sổ sách, về việc mượn trả thiết bị và về vệ sinh thiết bị; với học sinh phải chịu tuân thủ quy định giữ trật tự, bảo quản thiết bị trong giờ học và những giữ vệ sinh, dọn dẹp khi học xong…

1.4.2 Quản lí khai thác, sử dụng, bảo quản thiết bị phòng học bộ môn

Trên cơ sở kế hoạch về việc sử dụng PHBM, Hiệu trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động dạy và học ở PHBM, đây chính là khâu triển khai các kế hoạch hoạt động một cách chi tiết và được thực hiện bởi giáo viên, học sinh dưới sự chỉ đạo và giám sát của Hiệu trưởng Đây có thể nói là nhiệm vụ quản lí nặng nề nhất của Hiệu trưởng

Trang 33

trong nhà trường bởi nó quyết định sự đổi mới PPDH để từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường cũng chính là mục tiêu chính của nhà trường phổ thông

 Xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng, bảo quản thiết bị của PHBM

Từ cơ sở pháp lí của Điều lệ trường phổ thông trong đó phân tích rõ chức năng nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường THPT và trên cơ sở Thông tư 14 về PHBM, trong

đó chỉ rõ những nội dung quản lí của Hiệu trưởng để tác động đến PHBM như sau:

“Hiệu trưởng nhà trường chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động phòng học bộ môn hoặc phân công một lãnh đạo trường trực tiếp phụ trách công tác này”

Căn cứ Hướng dẫn nhiệm vụ năm học và thực tế nhà trường, Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch quản lí PHBM Các bộ phận chuyên môn và cá nhân dựa vào kế hoạch chung của nhà trường để xây dựng kế hoạch năm, kế hoạch theo kỳ, theo tháng và theo tuần

 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch

Dựa trên kế hoạch về việc sử dụng PHBM, Hiệu trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động dạy và học ở PHBM, đây chính là khâu triển khai kế hoạch hoạt động một cách chi tiết và được thực hiện bởi GV và HS dưới sự chỉ đạo, giám sát của Hiệu trưởng

Có thể nói đây là nhiệm vụ quản lí nặng nề nhất của Hiệu trưởng trong nhà trường bởi

nó đẩy mạnh sự đổi mới PPDH để từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường cũng chính là mục tiêu chính của nhà trường phổ thông Trong quản lí hoạt động dạy

và học nói chung bao gồm:

- Khâu phân công chuyên môn: trong PHBM phân công chuyên môn như tổ trưởng chuyên môn, tổ phó, giáo viên phụ trách PHBM, các phân công này phải dựa trên năng lực, tinh thần trách nhiệm, nhiệt huyết của giáo viên trong tổ

- Khâu phân công TKB cho các tiết dạy và học ở PHBM cũng rất quan trọng Nếu sắp xếp hợp lí thì nâng cao tần suất sử dụng tại các PHBM, hiệu quả giờ dạy của

GV và hiệu quả học của HS

- Khâu tổ chức hoạt động dạy của GV: Muốn thực hiện tốt quá trình quản lí hoạt động dạy và học ở PHBM thì người Hiệu trưởng trước hết phải có những tác động đến

GV và HS về vấn đề nhận thức việc đổi mới PPDH Muốn làm được như vậy trước tiên người Hiệu trưởng phải thông qua hệ thống quản lí của mình là Phó Hiệu trưởng

và tổ trưởng bộ môn để từ đó có những yêu cầu cụ thể đến từng GV và HS khi dạy và học ở PHBM

Tổ trưởng bộ môn trên cơ sở của phân phối chương trình trong PHBM cùng các giáo viên đưa ra được các hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp và đạt hiệu quả nhất

ở PHBM Trước tiên chúng ta phải hiểu hoạt động dạy học ở PHBM chủ yếu là hình thức dạy học trên lớp Đó là một hình thức dạy học quen thuộc với tất cả GV trường THPT Thời gian học tập được quy định chặt chẽ theo tiết học (mỗi tiết 45’), địa điểm

và đối tượng học tập cố định, thành phần học tập không đổi GV chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính tập thể ổn định, đồng thời chú ý đến đặc điểm của HS để sử dụng

Trang 34

các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho HS nắm vững kiến thức một cách trực tiếp Hầu hết GV trường THPT rất quen thuộc với việc

tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp GV có thể vừa dạy lí thuyết vừa hướng dẫn sử dụng TBDH

Có thể khẳng định: Trong quản lí hoạt động dạy và học ở PHBM người Hiệu trưởng phải có những biện pháp quản lí của mình đảm bảo GV và HS được tiếp cận với TBDH, hoạt động tích cực, tiếp nhận tri thức một cách năng động từ đó hình thành

kĩ năng cần thiết theo chuẩn kiến thức kĩ năng cho từng nội dung học đã được Bộ GD&ĐT ban hành

 Chỉ đạo sự phối hợp giữa giáo viên- học sinh- nhân viên thiết bị

Trong quản lí PHBM thì mối liên hệ giữa GV- HS- NV thiết bị là mối quan hệ rất quan trọng, mọi hành động giữa 3 đối tượng quản lí này đều ảnh hưởng đến nhau bởi vậy người quản lí phải có sự phân công hợp lí đồng thời tận dụng được khả năng tương trợ lẫn nhau thì hiệu qua quản lí mới đạt kết quả cao

Trong việc quản lí và sử dụng PHBM thì nhân viên thiết bị có trách nhiệm lên kế hoạch mua sắm thiết bị tuy nhiên kế hoạch mua sắm ấy lại phải dựa trên yêu cầu sử dụng của giáo viên và học sinh Từ như cầu và yêu cầu của GV và HS nhân viên phụ trách thiết bị đối chiếu với nguồn lực của trường để lên kế hoạch mua sắm Trong công việc mua sắm và học hỏi về thiết bị thì nhân viên thiết bị phải có sự trợ giúp của GV

bộ môn thì mới hoàn thành tốt được công việc của mình

 Quản lí sử dụng thiết bị dạy học ở PHBM

Quản lí sử dụng TBDH là quản lí mục đích, hình thức, cách thức tổ chức và sử dụng TBDH của cán bộ giáo viên ở các trường THPT Trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phương pháp dạy học không thể tách rời với việc sử dụng chúng TBDH với tư cách là công cụ phục vụ việc chuyển tải thông tin đến người học Nếu như sử dụng chúng một cách hợp lí, phù hợp với không gian, thời gian và phù hợp với nội dung của mỗi bài giảng thì sẽ kích thích được tâm lí học tập, tính chủ động, tích cực và lòng say mê khoa học của người học, thúc đẩy nhận thức, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh Lúc này, TBDH sẽ phát huy được hiệu quả của nó Ngược lại, nếu sử dụng thiết bị một cách tuỳ tiện, chưa có sự chuẩn bị chu đáo sẽ dẫn đến hiệu quả học tập không cao, có khi giáo viên mất nhiều thời gian trên lớp học sinh học tập căng thẳng, mệt mỏi, gây ra những phản ứng ngược làm hạn chế đến hiệu quả của quá trình dạy học Chính vì vậy, việc sử dụng TBDH phải đúng nguyên tắc, đồng thời phải đảm bảo đầy đủ các tính năng, chỉ số kĩ thuật của TBDH Muốn vậy, công tác quản lí TBDH phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết đến từng

bộ môn, từng giáo viên và người sử dụng để tạo ra tính chủ động tích cực của mỗi chủ thể; để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong quá trình dạy học cần đảm bảo thực hiện những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Sử dụng TBDH đúng mục đích: TBDH giúp học sinh lĩnh hội tri thức và tác

Trang 35

động đến sự phát triển nhân cách Mặt khác, mỗi TBDH đều có một tính năng, tác dụng riêng, do vậy chúng phải được sử dụng phù hợp với nội dung bài giảng, với đặc điểm tâm lí học sinh và với mục đích nghiên cứu của quá trình dạy học

- Sử dụng TBDH đúng lúc: Sử dụng TBDH đúng lúc có nghĩa là phải thực hiện vào đúng lúc cần thiết của nội dung bài học, đúng với phương pháp tương ứng, lúc học sinh thấy cần thiết, mong muốn nhất được quan sát, phù hợp với trạng thái tâm lí nhất Một TBDH được sử dụng có hiệu quả cao, nếu nó xuất hiện và tác động đúng lúc với nội dung và phương pháp dạy học cần đến, tránh hiện tượng TBDH được đưa ra hàng loạt làm phân tán sự chú ý của học sinh

- Sử dụng TBDH đúng chỗ: Sử dụng TBDH đúng chỗ là tìm vị trí để trình bày TBDH trên lớp học hợp lí nhất, giúp học sinh ngồi ở mọi vị trí trong lớp học đều có thể tiếp nhận thông tin từ các TBDH bằng nhiều giác quan khác nhau

- Sử dụng TBDH đúng mức độ và cường độ: Sử dụng TBDH phù hợp với yêu cầu của mỗi tiết lên lớp và trình độ tiếp thu kiến thức của học sinh Nếu sử dụng quá nhiều một loại hình TBDH trong một tiết học sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giờ lên lớp, học sinh sẽ chán nản, kém tập trung và như vậy chất lượng dạy học cũng sẽ không đạt kết quả như mong muốn Giáo viên cần nghiên cứu, cân nhắc kỹ nội dung SGK môn học Căn cứ vào số TBDH được trang bị và tự làm mà định ra kế hoạch sử dụng cụ thể các loại hình TBDH đã có sao cho mỗi chủng loại đều được phát huy tốt tác dụng của

nó và nâng cao hiệu quả sử dụng trong quá trình dạy học

 Quản lí bảo quản thiết bị dạy học trong PHBM

Bảo quản TBDH là một việc làm cần thiết, quan trọng trong mỗi nhà trường, nếu không thực hiện tốt công tác bảo quản thì thiết bị dễ bị hư hỏng, mất mát, làm lãng phí tiền của, công sức, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả sử dụng TBDH dạy học phải được sắp đặt khoa học để tiện sử dụng và có các phương tiện bảo quản (tủ, giá, hòm, kệ…), vật che phủ, phương tiện chống ẩm, chống mối mọt, dụng cụ phòng chữa cháy

Để thực hiện tốt công tác quản lí bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo, sửa chữa thiết bị dạy học, nhà trường cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

- Thường xuyên xây dựng kế hoạch bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo và sửa chữa thiết bị dạy học;

- Tổ chức thực hiện bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo và sửa chữa TBDH Thực hiện phân loại các TBDH, trong đó: thiết bị dùng chung, thiết bị dùng cho dạy học lí thuyết, thiết bị thực hành và thiết bị dạy học của từng bộ môn, đồng thời được sắp xếp ngăn nắp riêng hoặc theo từng nhóm để tiện cho việc theo dõi, sử dụng, bảo quản, cất giữ và phục vụ;

- Thường xuyên tổ chức chỉ đạo bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo và sửa chữa thiết

bị dạy học;

- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá công tác bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo và sửa

Trang 36

chữa TBDH Các phòng chứa thiết bị thường xuyên phải được kiểm tra, vệ sinh sạch

sẽ để tránh các loại con vật như chuột, kiến, gián có thể xâm nhập phá hoại làm hỏng hóc thiết bị Cuối mỗi năm học cán bộ phụ trách TBDH cùng với giáo viên bộ môn, các bộ phận liên quan tiến hành kiểm kê thiết bị dạy học nhằm đánh giá chất lượng, tính năng, công năng, hạn sử dụng của thiết bị dạy học để có đề xuất cho những năm học tiếp theo

- TBDH phải được làm sạch và bảo quản ngay sau khi sử dụng, thực hiện bảo quản theo chế độ phù hợp đối với từng loại dụng cụ, thiết bị, vật tư khoa học kĩ thuật Quan tâm đến ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, môi trường … đối với các thiết bị điện

tử hiện đại, đắt tiền (như máy chiếu, máy vi tính, bảng thông minh…) đồng thời bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ những quy trình chung về bảo quản Các thiết bị thí nghiệm có độc hại, gây ô nhiễm phải được bố trí và xử lí theo tiêu chuẩn quy định để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường

- Bố trí kinh phí để mua sắm vật tư, công cụ, dụng cụ, linh kiện, vật tư tiêu hao cho việc định kỳ bảo dưỡng, bảo quản Bên cạnh việc đầu tư mua sắm mới các TBDH, các trường phải chú ý thực hiện tốt việc bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên các phương tiện, thiết bị dạy học hiện có, vừa không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vừa tiết kiệm được kinh phí

1.4.3 Quản lí việc bố trí viên chức phụ trách phòng học bộ môn

 Sử dụng đội ngũ theo vị trí việc làm

Trong tổ chức PHBM thì bước đầu tiên của Hiệu trưởng là xây dựng đội ngũ quản lí, mạng lưới nhân sự cho PHBM gồm có chịu trách nhiệm chung là Hiệu trưởng, chịu sự quản lí dưới Hiệu trưởng là Hiệu phó phụ trách chuyên môn, các tổ trưởng bộ môn và nhân viên thiết bị phụ trách PHBM

Để hoạt động được hiệu quả Hiệu trưởng phải xây dựng được trách nhiệm của từng cá nhân trong mạng lưới của mình cụ thể:

Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chịu trách nhiệm chung với các tổ trưởng

bộ môn trong khâu quản lí thời khóa biểu sao cho hợp lí, cùng các tổ trưởng chuyên môn lên kế hoạch dạy và học ở PHBM, cùng nhân viên thiết bị lên kế hoạch đầu tư trang bị thiết bị dạy học cho PHBM, quản lí việc trang bị, quản lí, sử dụng TBDH trong PHBM cho đạt hiệu quả cao

 Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, viên chức quản lí PHBM

Công tác quản lí và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhân viên thiết bị sử dụng TBDH là quản lí về số lượng, trình độ, tay nghề, kĩ năng, kĩ xảo, kế hoạch sử dụng TBDH trong chương trình giảng dạy ở trường THPT

Để học sinh có ý thức tốt trong việc bảo quản và sử dụng TBDH, đồng thời sử dụng TBDH có kết quả cao, giáo viên cần có lòng say mê nghề nghiệp, đồng thời cần được bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ quản lí, khai thác

sử dụng TBDH

Trang 37

Thực tiễn chỉ ra rằng, sự bất cập về kiến thức, kinh nghiệm trong quản lí sử dụng bảo quản thiết bị, sự thiếu hụt về đội ngũ giáo viên chuyên trách về TBDH là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giảng dạy, học tập ở các trường THPT Bởi vậy cần

có các giải pháp hữu hiệu trong quản lí, sử dụng đội ngũ giáo viên và nhân viên thiết

bị để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng TBDH

Thiết bị dạy học có vai trò và tác dụng to lớn trong nâng cao chất lượng dạy và học; là điều kiện để thực hiện nguyên lí “Trực quan sinh động” góp phần thực hiện

“Học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thực tiễn” Vì vậy CBQL các nhà trường cần phải có nhiều giải pháp tích cực, đồng bộ và hiệu quả hơn nữa để phát huy vai trò, tác dụng của TBDH trong giảng dạy, học tập và rèn luyện Hiệu trưởng cần nắm vững

cơ sở khoa học, pháp lí để chỉ đạo và tổ chức thực hiện đầy đủ các chức năng quản lí thiết bị dạy học trong PHBM

Cùng với sách giáo khoa, thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm không thể thiếu để giáo viên và học sinh phối hợp tổ chức các hoạt động dạy học

và tiến hành một cách hợp lí, có hiệu quả quá trình dạy học ở các môn học, cấp học Bên cạnh việc đầu tư cho thiết bị dạy học hiện đại, một trong những yêu cầu của quản

lí thiết bị dạy học là đội ngũ cán bộ, giáo viên phải biết sử dụng thành thạo và hiệu quả thiết bị dạy học

Để thực hiện tốt công tác quản lí quy hoạch, đào tạo, bố trí và phát triển đội ngũ quản lí sử dụng thiết bị dạy học hiệu trưởng nhà trường cần thực hiện những nội dung

cơ bản sau:

+ Xây dựng kế hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lí sử dụng TBDH Cán bộ phụ trách công tác quản lí sử dụng TBDH có tâm huyết với nghề, có chuyên môn, nghiệp vụ về công tác quản lí, sử dụng TBDH;

+ Thường xuyên tổ chức cử cán bộ, giáo viên tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ quản lí sử dụng TBDH; cử cán bộ, giáo viên tham quan, học hỏi kinh nghiệm quản lí sử dụng thiết bị dạy học ở các trường đại học, cao đẳng để nâng cao trình độ chuyên môn;

+ Cán bộ, giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng phải sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, thiết bị dạy học hiện đại và có nhiệm vụ bồi dưỡng lại cho cán bộ giáo viên nhà trường về việc sử dụng thiết bị dạy học;

+ Thường xuyên chỉ đạo, phân công cán bộ phụ trách, quản lí thiết bị dạy học có

đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ làm cơ sở cho việc bảo quản, bảo dưỡng, chế tạo

và sửa chữa thiết bị dạy học;

+ Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí và phát triển đội ngũ quản lí sử dụng thiết bị dạy học Nhà trường cần có chế độ đãi ngộ, khuyến khích người làm công tác quản lí sử dụng thiết bị dạy học, tạo điều kiện thuận lợi để

họ thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn

Sự bất cập về kiến thức, kinh nghiệm trong quản lí sử dụng bảo quản thiết bị, sự

Trang 38

thiếu hụt đội ngũ giáo viên chuyên trách về TBDH… là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giảng dạy, học tập ở các trường THPT Bởi vậy cần có các giải pháp hữu hiệu trong quản lí, sử dụng đội ngũ giáo viên và nhân viên thiết bị để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng TBDH

1.4.4 Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của phòng học bộ môn

Trong quy trình của quản lí khâu kiểm tra đánh giá là một trong những quy trình quan trọng của quản lí, nó là bước nhìn lại toàn bộ quá trình lên kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và quá trình triển khai so với những mục tiêu đã đề ra, nhìn nhận cái được và cái chưa được để từ đó có những điều chỉnh kịp thời

Trong quá trình quản lí PHBM hiệu trưởng cùng với ban giám hiệu phải thường xuyên kiểm tra và đánh giá lại quá trình hoạt động PHBM của giáo viên, của cán bộ thiết bị đó là các hoạt động như:

- Kiểm tra hệ thống sổ sách quản lí các PHBM và việc sử dụng trang thiết bị của PHBM;

- Kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy định của PHBM theo quy trình bảo quản

và sử dụng thiết bị ở PHBM;

- Kiểm tra việc đăng kí sử dụng của giáo viên thông qua TKB đã được lên lịch tại các PHBM và trên kế hoạch của nhà trường;

- Kiểm tra sử dụng thiết bị dạy học tại các PHBM qua tổ trưởng chuyên môn;

- Kiểm tra và điều chỉnh quy chế hoạt động PHBM qua dự giờ các tiết có sử dụng nhiều thiết bị dạy học tại PHBM

Hiệu trưởng cần nắm bắt tình hình thực tế việc sử dụng TBDH của cả GV và HS

để góp ý hoàn thiện giờ dạy sao cho phát huy tích cực nhất, tần xuất sử dụng PHBM cũng như thiết bị dạy học, hiệu quả sử dụng đạt kết quả cao n

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Quản lí hoạt động phòng học bộ môn trường THPT là những tác động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng, để tổ chức hỗ trợ cho hoạt động dạy học và hoạt động của tổ chuyên môn tại phòng học bộ môn nhằm tạo điều kiện phát triển năng lực cho giáo viên và học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường

Rõ ràng, thông qua quá trình tổng hợp và phân tích lí luận ở trên, chúng ta thấy rằng: chỉ có dạy học ở PHBM mới phát huy hết được tác dụng của TBDH và có thể bảo quản tốt TBDH Thông qua quá trình hoạt động này, người dạy và người học có thể xây dựng thêm nhiều kĩ năng thiết thực, góp phần quan trọng trong việc xây dựng một nền giáo dục có chiều sâu (nhận thức luận) và đáp ứng được như cầu đổi mới của thời đại (thực tiễn) Tuy nhiên, các vấn đề đã trình bày trên chỉ là những tri thức lí luận ban đầu, còn việc đưa ra các biện pháp quản lí PHBM đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông cần phải nghiên cứu về thực trạng quản lí PHBM tại các đơn vị (của các trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) Vấn đề đó sẽ được chúng tôi trình bày ở chương 2 của Luận văn

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ PHÒNG HỌC BỘ MÔN TẠI CÁC TRƯỜNG

THPT QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Khái quát quá trình khảo sát

2.1.2 Nội dung và phương pháp khảo sát

2.1.2.1 Nội dung khảo sát

Thực trạng về số lượng và chất lượng PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu

Thực trạng việc quản lí hoạt động dạy học ở PHBM ở các trường THPT quận Liên Chiểu:

- Thực trạng quản lí đầu tư, mua sắm thiết bị dạy học phòng học bộ môn

- Thực trạng quản lí sử dụng, khai thác, bảo quản thiết bị PHBM

- Thực trạng việc tổ chức thực hiện dạy và học ở PHBM

- Thực trạng kiểm tra, đánh giá

2.1.2.2 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để điều tra các đối

tượng khảo sát như Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên,

nhân viên trong phạm vi triển khai đề tài

- Phương pháp tọa đàm (trò chuyện, phỏng vấn): Thu thập thông tin qua việc

trò chuyện, trao đổi trực tiếp với các đối tượng khảo sát để thu thập những thông tin cần thiết cho nội dung nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp xử lí dữ liệu thu thập trong nghiên cứu: Phương pháp được sử

dụng nhằm thống kê, phân tích, xử lí các số liệu thu được từ các phương pháp điều tra

để rút ra kết luận

2.1.3 Phạm vi và đối tượng khảo sát

Khảo sát được tiến hành với CBQL, giáo viên và NVTB trong phạm vi 03 trường THPT trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng:

- Trường THPT Nguyễn Trãi, thành phố Đà Nẵng

- Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, thành phố Đà Nẵng

- Trường THPT Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

Đối tượng của hoạt động khảo sát là CBQL và giáo viên của các nhà trường nêu trên bao gồm:

Ngày đăng: 03/11/2023, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đặng Quốc Bảo (1999), Quản lí giáo dục - Quản lí nhà trường - Một số hướng tiếp cận, Trường cán bộ Quản lí giáo dục Trung ương 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục - Quản lí nhà trường - Một số hướng tiếp cận
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1999
[2] Ngô Văn Bình (2012), Các biện pháp quan lí nhằm phát huy hiệu quả của tổ chuyên môn tại trường THPT chuyên Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp quan lí nhằm phát huy hiệu quả của tổ chuyên môn tại trường THPT chuyên Bắc Giang
Tác giả: Ngô Văn Bình
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ
Năm: 2012
[6] Cao Thị Phương Chi (2013), “Biện pháp quản lí PHBM của Hiệu trưởng trường THPT Lào Cai - Thành phố Lào Cai”, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lí PHBM của Hiệu trưởng trường THPT Lào Cai - Thành phố Lào Cai
Tác giả: Cao Thị Phương Chi
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lí giáo dục
Năm: 2013
[7] Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1997), Cơ sở khoa học về quản lí giáo dục, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1997
[8] Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Bài tập tình huống Quản lí giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tình huống Quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[9] Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Bài tập thực hành Quản lí giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập thực hành Quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[10] Nguyễn Gia Cốc (1975), “Mấy ý kiến bước đầu về việc xây dựng trường sở theo hệ thống phòng bộ môn”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến bước đầu về việc xây dựng trường sở theo hệ thống phòng bộ môn”, Tạp chí" Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cốc
Năm: 1975
[11] Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Tới (2002), “Một số ý kiến về công tác thiết bị trường học. Thực trạng - Nguyên nhân - Giải pháp”, Tạp chí Phát triển giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về công tác thiết bị trường học. Thực trạng - Nguyên nhân - Giải pháp
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Tới
Nhà XB: Tạp chí Phát triển giáo dục
Năm: 2002
[12] Dự án Phát triển giáo dục THCS I (2004), “Dạy học theo hướng phòng bộ môn”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo hướng phòng bộ môn”
Tác giả: Dự án Phát triển giáo dục THCS I
Năm: 2004
[13] Dự án Phát triển giáo dục THCS I (2008), “Quản lí, tổ chức, sử dụng và triển khai sử dụng PHBM”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí, tổ chức, sử dụng và triển khai sử dụng PHBM”
Tác giả: Dự án Phát triển giáo dục THCS I
Năm: 2008
[14] Dự án Phát triển giáo dục THCS II (2005), “Triển khai phương pháp dạy học theo phòng học bộ môn”, Tạp chí Thiết bị giáo dục (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai phương pháp dạy học theo phòng học bộ môn”, Tạp chí "Thiết bị giáo dục
Tác giả: Dự án Phát triển giáo dục THCS II
Năm: 2005
[15] Dự án Phát triển giáo dục THCS II (2006), “Dạy học theo phòng học bộ môn, một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường THCS”, Tạp chí Thiết bị giáo dục (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo phòng học bộ môn, một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường THCS
Nhà XB: Tạp chí Thiết bị giáo dục
Năm: 2006
[16] Nguyễn Bá Dương (2004), Những vấn đề cơ bản của khoa học tổ chức, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học tổ chức
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
[17] Trần Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[18] Tô Xuân Giáp (2008), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[19] Đỗ Thị Thúy Hằng (2012), Đánh giá trong giáo dục, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Đỗ Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2012
[20] Robert Heller (2004), Nghệ thuật quyết định sách lược, NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật quyết định sách lược
Tác giả: Robert Heller
Nhà XB: NXB Văn hóa- Thông tin
Năm: 2004
[21] Ngô Công Hoàn (1997), Tâm lí học xã hội trong quản lí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học xã hội trong quản lí
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
[22] Vũ Đình Hòe (2000), Truyền thống đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lí, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lí
Tác giả: Vũ Đình Hòe
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
[23] Đỗ Huân (2001), Sử dụng thiết bị nghe nhìn trong dạy và học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thiết bị nghe nhìn trong dạy và học
Tác giả: Đỗ Huân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Thống kê số lượng giáo viên dạy PHBM các trường THPT quận Liên Chiểu, - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.3. Thống kê số lượng giáo viên dạy PHBM các trường THPT quận Liên Chiểu, (Trang 44)
Bảng 2.2.  Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ QLGD của   các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.2. Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ QLGD của các trường THPT quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (Trang 44)
Bảng 2.4. Thống kê số lượng NVTB các trường THPT - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.4. Thống kê số lượng NVTB các trường THPT (Trang 45)
Bảng 2.5. Thống kê số lượng PHBM tại các trường THPT - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.5. Thống kê số lượng PHBM tại các trường THPT (Trang 46)
Bảng 2.6. Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng PHBM của các trường THPT quận - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.6. Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng PHBM của các trường THPT quận (Trang 46)
Bảng 2.9. Mức độ nhận thức của giáo viên về vai trò của PHBM ở các trường THPT - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.9. Mức độ nhận thức của giáo viên về vai trò của PHBM ở các trường THPT (Trang 49)
Bảng 2.10. Thực trạng thiết bị dạy học dùng chung các trường THPT quận Liên - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.10. Thực trạng thiết bị dạy học dùng chung các trường THPT quận Liên (Trang 52)
Bảng 2.11. Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng TBDH bộ môn được cung cấp ở - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.11. Thực trạng mức độ đáp ứng về số lượng TBDH bộ môn được cung cấp ở (Trang 53)
Bảng 2.14. Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học PHBM các trường - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.14. Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học PHBM các trường (Trang 55)
Bảng 2.16. Kết quả đánh giá thực trạng xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.16. Kết quả đánh giá thực trạng xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động (Trang 56)
Bảng 2.15. Thực trạng sử dụng các loại văn bản pháp lí để quản lí PHBM ở các - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 2.15. Thực trạng sử dụng các loại văn bản pháp lí để quản lí PHBM ở các (Trang 56)
Bảng 3.1. Tổng hợp khảo sát mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lí PHBM - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 3.1. Tổng hợp khảo sát mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lí PHBM (Trang 87)
Bảng 3.2. Tổng hợp khảo sát tính khả thi của các biện pháp - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 3.2. Tổng hợp khảo sát tính khả thi của các biện pháp (Trang 88)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả về tính cấp thiết và tính khả thi của - Quản Lí Phòng Học Bộ Môn Tại Các Trường Trung Học Phổ Thông Trên Địa Bàn Quận Liên Chiểu Thành Phố Đà Nẵng Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Phổ Thông.pdf
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả về tính cấp thiết và tính khả thi của (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm