TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỀ TÀI: NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP DƯỚI GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG HỆ THỐNG Ngành: Ngôn ngữ học Họ và tên học viên: VŨ THỊ TH
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn Khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
ĐÀ NẴNG – 2023
Trang 3Tôi xin cảm ơn tất cả những người thân yêu trong gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đã luôn khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thúy Hòa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Sáng Nội dung, các số liệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thúy Hòa
Trang 5TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐỀ TÀI: NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP DƯỚI GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG HỆ
THỐNG
Ngành: Ngôn ngữ học
Họ và tên học viên: VŨ THỊ THÚY HÒA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Cơ sở đào tạo: Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt:
Luận văn đã hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về ngôn ngữ đánh giá Luận văn cũng đã trình bày những tri thức cần thiết liên quan đến ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Từ nền tảng lý thuyết đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các truyện ngắn trong cuốn
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tìm hiểu các hệ thống ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ”
và “Thang độ” trong một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Luận văn đã phân tích, làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ của nguồn lực đánh giá
và sự thể hiện chức năng liên cá nhân – nghĩa liên nhân trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Luận văn cũng đã áp dụng khung lý thuyết ngôn ngữ đánh giá để phân tích truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, khảo sát nguồn lực đánh giá thể hiện “Thái độ” và “Thang độ” với mục đích tìm hiểu việc thực hiện chức năng liên nhân như thế nào trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Các kết quả nghiên cứu ở Chương 2 và Chương 3 đã làm sáng tỏ những nguồn lực NNĐG được xem là thực hiện chức năng liên nhân trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ hữu ích cho sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học, tâm lý học, đặc biệt ai muốn tìm hiểu sâu về Nguyễn Huy Thiệp Tư liệu của luận văn cũng có giá trị tham khảo cho những công trình nghiên cứu khác
Từ khóa: nguồn lực ngôn ngữ đánh giá; Nguyễn Huy Thiệp; chức năng liên nhân; thái độ; thang độ
Trang 6INFORMATION PAGE ON MASTER’S THESIS
TOPIC: THE LANGUAGE OF EVALUATION IN NGUYEN HUY THIEP’S SHORT STORIES BELOW THE VIEW OF SYSTEMIC FUNCTIONAL GRAMMAR
Sector: Linguistic
Master student‟s full name: VU THI THUY HOA
Scientific instructor: Assoc Prof., Dr TRAN VAN SANG
Training institution: Pedagogy University – Danang University
Summary:
The thesis has systematized the basic theoretical issues of The Language of Evaluation The thesis also presented the necessary knowledge related to The Language of Evaluation in Nguyen Huy Thiep‟s short stories
From that theoretical background, we conducted a survey of the short stories in the
book “Nguyen Huy Thiep‟s short story collection”, explored the linguistic systems of
evaluation expressing “Attitude” and “Graduation” in a number of short stories‟ Nguyen Huy Thiep
The thesis has analyzed and clarified the linguistic features of Evaluation resources
and the expression of interpersonal function – interpersonal meaning in Nguyen Huy Thiep short stories
The thesis also applied the theoretical framework of evaluative language to analyze Nguyen Huy Thiep short stories, survey assessment resources expressing “Attitude” and
“Graduation” with the aim of understanding the performance of interpersonal function in the short story‟s Nguyen Huy Thiep
The research results in Chapter 2 and Chapter 3 have clarified the linguistic resources that are considered to perform the interpersonal function in Nguyen Huy Thiep‟s short stories
Besides, the research results of the thesis will be useful for student, trainees, researchers in the field of linguistics, psychology, especially those who want to learn deeply about Nguyen Huy Thiep The material of the thesis is also valuable as a reference for other research works
Keywords: The Language of Evaluation; Nguyen Huy Thiep; interpersonal function; attitude; graduation
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Khái quát lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống 13
1.1.2 Lý thuyết Đánh giá 14
1.1.3 Về nguồn lực ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt 23
1.2 Khái lược về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 26
1.2.1 Truyện ngắn 26
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 27
1.3 Tiểu kết 28
CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ “THÁI ĐỘ” TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 30
2.1 Thống kê, phân loại nguồn lực ngôn ngữ đánh giá “Thái độ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 30
2.1.1 Các nguồn lực ngôn ngữ đánh giá xét theo cấp độ 30
2.1.2 Lớp từ ngữ có vai trò như nguồn lực ngôn ngữ đánh giá 32
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” hiển ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 34
2.2.1 Ngôn ngữ hiện thực hóa “Tác động” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 37
Trang 82.2.2 Ngôn ngữ thực hiện hóa “Phán xét hành vi” trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp 39
2.2.3 Ngôn ngữ hiện thực hóa “Đánh giá sự vật hiện tượng” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 43
2.3 Ngôn ngữ đánh giá “Thái độ” hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 44
2.3.1 Biện pháp “Gợi mở” 45
2.3.2 Biện pháp “Ra hiệu” 54
2.3.3 Biện pháp “Cung cấp” 57
2.4 Tiểu kết 59
CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ “THANG ĐỘ” TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 61
3.1 Thống kê, phân loại nguồn lực ngôn ngữ đánh giá “Thang độ” theo cấp độ và đặc điểm ngôn ngữ 61
3.2 Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thang độ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 62
3.2.1 Biện pháp thể hiện “Thang độ” hiển ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 64
3.2.2 Biện pháp thể hiện “Thang độ” hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Huy Thiệp 69
3.2.3 Hiện thực hóa “Tiêu điểm” 76
3.3 Tiểu kết 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC PL1
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Ví dụ về nguồn từ vựng hiện thực hóa phán xét hành vi 19 2.1 Bảng thống kê và phân loại theo cấp độ và đặc điểm ngôn ngữ
hiện thực hóa thái độ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
31
2.2 Thể hiện số lượng và tỉ lệ các lớp từ ngữ có vai trò như nguồn lực
đánh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.8 Tỉ lệ các biện pháp hiện thực hóa “Thái độ” hàm ngôn trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
45
2.9 Các hình thức hiện thực hóa của biện pháp “Gợi mở” thể hiện
thái độ hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
45
2.10 Tỉ lệ các biện pháp hiện thực hóa “Thái độ” hàm ngôn trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
49
2.11 Tổng hợp các đơn vị từ vựng làm phương tiện xưng hô và sự
phân bố trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
54
2.12 Các hình thức của biện pháp “Cung cấp” trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
57
3.1 Phân loại nguồn lực NNĐG thể hiện “Thang độ” trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
3.4 Tỉ lệ các biện pháp thể hiện “Thang độ” trong truyện ngắn truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
64
Trang 113.5 Tỉ lệ các biện pháp thể hiện “Cường độ” trong truyện ngắn truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
66
3.6 Tỉ lệ các biện pháp thể hiện “Lượng hóa” trong truyện ngắn
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
2.1 Biểu đồ thống kê và phân loại theo cấp độ và đặc điểm ngôn ngữ
hiện thực hóa thái độ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
32
2.2 Biểu đồ thống kê số lƣợng và tỉ lệ lớp từ ngữ hiện thực hóa “Thái
độ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
34
2.3 Biểu đồ tỉ lệ các loại “Thái độ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp
36
2.4 Tỉ lệ các nhóm thuộc giá trị “Tác động” trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
Huy Thiệp
63
3.2 Tỉ lệ các biện pháp thể hiện “Thang độ” trong truyện ngắn truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 13DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
1.1 Các tầng ngôn ngữ và các siêu chức năng của ngôn ngữ 151.2 Phán xét hành vi và đánh giá sự vật hiện tƣợng- tác động thể
chế hóa
16
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo Volosinov (1973), ngôn ngữ không chỉ có nghĩa mà còn có giá trị trong
môi trường xã hội của nó - “nơi nghĩa luôn thấm đẫm sự phán xét về giá trị” Do vậy,
ngôn ngữ không chỉ đơn giản là phương tiện giao tiếp của con người mà ngôn ngữ còn
là một thực thể chịu tác động của rất nhiều nhân tố trong xã hội hay các đặc trưng xã hội và văn hóa
Từ những năm 1970 trở lại đây, các khuynh hướng ngữ pháp chức năng của Dik, M.A.K.Halliday, J Lyons, B Brown, G Yule … trong giới ngôn ngữ học đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về bản chất của giao tiếp trong xã hội loài người
và nhấn mạnh khía cạnh chức năng của ngôn ngữ Đặc điểm nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại là sự nới rộng về không gian và thời gian cũng như các điều kiện giao tiếp của một hành vi nói năng Do khuynh hướng tự nhiên hoá sự giao tiếp của con người mà đối tượng ngôn ngữ không dừng lại ở phát ngôn riêng lẻ nữa mà là các chuẩn phát ngôn khác nhau trong một diễn ngôn nhằm thực hiện các mục đích và ý định của người nói
Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (NNHCNHT) do M.A.K.Halliday đề nghị có thể xem là cách tiếp cận tín hiệu học hệ thống về ngôn ngữ - một lí thuyết toàn diện về ngôn ngữ và ngữ cảnh xã hội được cấu thành từ 5 cấp độ trừu tượng là ngữ âm học, từ vựng ngữ pháp, ngữ nghĩa học diễn ngôn, ngữ vực và thể loại Các cấp độ này đan cài với nhau và biên độ được mở rộng dần từ ngữ âm đến thể loại Đây là một hướng nghiên cứu trọng yếu của trường phái Sydney với lý thuyết thể loại trong việc thiết kế các thực hành về giáo pháp học mới, và lý thuyết đánh giá cũng như việc ứng dụng của nó trong việc nghiên cứu loại hình truyện kể, diễn ngôn
Lý thuyết đánh giá (hay còn gọi khung đánh giá) là một lý thuyết do James Martin và Peter White (2005) phát triển gần đây dựa trên mô hình lí luận của NNHCNHT Lý thuyết đánh giá được xây dựng nhằm để giải thích một cách có hệ thống và nguyên tắc về cách thức mà người sử dụng ngôn ngữ dùng ngôn ngữ để thể hiện những thái độ tích cực và tiêu cực của mình đối với nội dung, chủ đề đang được
đề cập, nhằm làm tăng hay giảm sức thuyết phục của phát ngôn ở trong diễn ngôn, xác định rõ vị trí và vai trò của chính người sử dụng ngôn ngữ (người nói/ người viết) đối với những phát ngôn xuất hiện liền trước hay liền sau nội dung đang được nói tới ở diễn ngôn
Theo quan điểm của Halliday, NNHCNHT với tư cách là một mô hình toàn diện và mạnh mẽ về lý thuyết, đồng thời khả dụng với các vấn đề cả trong nghiên cứu các tác phẩm văn học lẫn thực tế sử dụng ngôn ngữ Theo người viết, trong văn xuôi, một số cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới đến nay như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh
Trang 15Thái…đã có ý thức sử dụng nguồn lực ngôn ngữ và các cấu trúc ngôn ngữ để bày tỏ quan điểm của bản thân về hành vi con người, về các hiện tượng, sự vật trong đời sống
xã hội nước ta vào giai đoạn những năm 30 của thế kỷ trước trong sáng tác Đây là một trong số những nỗ lực nghệ thuật của nhà văn Họ tiếp tục tinh thần phê phán và nhân bản, khơi sâu vào các vấn đề thế sự, đời tư, phát hiện những mặt trái của nhân sinh, xã hội, văn hóa; tự vấn, phản biện, đối thoại với tinh thần dân chủ, cởi mở Trong văn học thời kỳ Đổi mới, có thể nói Nguyễn Huy Thiệp là một trong số những cây bút tiêu biểu nhất và có những đóng góp lớn Ông chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau: lịch sử, huyền thoại, tôn giáo, văn hóa bác học và bình dân, nông thôn và đô thị, quá khứ và hiện hành, bản địa và ngoại lai Nhiều nhà văn tiền nhân như Nguyễn Trãi,
Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Puskin, Dostoevsky, Bồ Tùng Linh trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo và chất liệu văn chương trong sáng tác của ông Nhà văn đã sống và sáng tạo trong môi trường sinh thái văn học/văn hóa khát khao đổi thay, vươn xa hòa nhập với thế giới hiện đại, dân chủ Do đó, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều cách tân táo bạo và nhận được sự ủng hộ nhiệt thành của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín Nguyễn Huy Thiệp đã gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài Tầm vóc của ông có thể nói là ít nhiều mang tính quốc tế Người ta bàn nhiều về ông, sách của ông được dịch in ở nhiều nước trên thế giới Tác phẩm của ông là đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn từ các lập trường và phương pháp khác nhau như phân tâm học, văn hóa học, phê bình huyền thoại, thi pháp học, trần thuật học, xã hội học, liên văn bản…
Trên cơ sở tiếp cận sáng tác Nguyễn Huy Thiệp từ lý thuyết đánh giá của M.A.K.Halliday, chúng tôi muốn mang lại những khám phá mới, khác về tư tưởng và nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp, hoặc có cách kiến giải phù hợp với một số vấn đề phức tạp được khơi động từ những sáng tác của ông trong dòng chảy văn học Việt Nam thời
kỳ Đổi mới Đó là những lí do cơ bản, cần thiết để chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài
Ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Với những lý do được trình bày trên đây, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình là: “Ngôn ngữ đánh giá trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dưới góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống”
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết ngôn ngữ đánh giá
Nghiên cứu về ngôn ngữ học chức năng hệ thống là một hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm, khởi đầu cho việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu từ bản thân hệ thống ngôn ngữ sang việc sử dụng ngôn ngữ vì bên cạnh những đặc điểm
về tâm lí ngôn ngữ học thì ngôn ngữ còn là một thực thể chịu tác động của rất nhiều nhân tố trong môi trường xã hội hay các đặc trưng xã hội và chủng tộc Vì vậy, đã có
Trang 16rất nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng hệ thống trên thế giới cũng như ở Việt Nam
2.1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
2.1.1.1 Về ngữ pháp ch c n ng hệ th ng
Lý thuyết NPCNHT có nguồn gốc trực tiếp từ các công trình nghiên cứu của J.R Firth (1890-1960), một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh Sau đó, lý thuyết này đã được môn đệ xuất sắc của ông, Michael Halliday và các đồng nghiệp của ông phát triển
Trong số các nhà ngôn ngữ học sinh ra ở thế kỉ XX, Michael Alexander Kirkwood Halliday chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của tư duy Tây
Âu về ngôn ngữ học Những công trình nghiên cứu của ông về ngôn ngữ học chức năng đã hình thành nên một ngôn ngữ chủ chốt tạo cơ sở không những cho sự phát triển của ngôn ngữ học mà còn cho sự hình thành phong trào trí tuệ rộng lớn từ nửa sau thế kỉ XX Các công trình của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục ngôn ngữ
Ông đã cho ra đời một số ấn phẩm kinh điển như Các khoa học ngôn ngữ và dạy ngôn
ngữ (The linguistic sciences and language teaching, 1961)
Kế thừa các quan niệm của Firth và Hjelmslev về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, Halliday đã điều chỉnh lại khái niệm hệ thống (system), tạo ra một hệ thống phạm trù hoàn chỉnh (thông qua sự đối lập căn bản giữa các phạm trù lý thuyết (theoretical
categories) và các phạm trù miêu tả (descriptive categories) trong ấn phẩm Hệ th ng
và ch c n ng trong ngôn ngữ (System and function in language, 1976) Ông cũng điều
chỉnh lại lý thuyết Ngữ cảnh tình hu ng (Context of situation) và đưa ra lý thuyết Tín
hiệu học xã hội (Socio-semiotics) trong ngôn ngữ học, để có thể xây dựng một mô
hình lý luận ngôn ngữ học hoàn chỉnh, rõ ràng, có tính ứng dụng cao, dễ mở rộng và
phát triển trong một số sách và tài liệu như: Giải thích ngôn ngữ và ý nghĩa (The
interpretation of language and meaning, 1978); Khẩu ngữ và bút ngữ (Spoken and writen language, 1985), Viết khoa học (Writing science, 1993); Dẫn luận ngữ pháp
ch c n ng (An introduction to functional grammar, 1994) Ngoài ra, những ấn phẩm
khác của ông đã mở đường cho những thay đổi trong việc dạy và học ngôn ngữ, cụ thể
là tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ hay tiếng thứ hai (ESL)
2.1.1.2 Về lí thuyết ngôn ngữ đánh giá
Lý thuyết đánh giá (Aprraisal theory) là một hướng hướng tiếp cận để miêu tả
và giải thích cách thức mà ngôn ngữ được sử dụng trong đánh giá, xác lập các ngữ vực Martin và White (2005) và các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác đã phát triển bộ công cụ đánh giá (Appraisal framework) Bộ công cụ đánh giá (Aprraisal framework) là phần cốt lõi của lý thuyết về ngôn ngữ đánh giá của Halliday và các cộng sự của ông trong lĩnh vực nghiên cứu NHCNHT Lý thuyết đánh giá này đã thổi
Trang 17một luồng gió mới vào trong nghiên cứu ngôn ngữ học, góp phần chứng minh ngôn ngữ là một thực thể xã hội Lý thuyết này dựa trên bộ công cụ đánh giá: thái độ, thang
độ và giọng điệu
Lý thuyết về bộ công cụ đánh giá đã được vận dụng để phân tích NNĐG trong các diễn ngôn ở nhiều lĩnh vực khác nhau Chẳng hạn như: lĩnh vực truyền thông, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực nghề nghiệp Bên cạnh đó, bộ công cụ đánh giá cũng được vận dụng để phân tích các thể loại (genres) khác nhau như: tự sự, sách giáo khoa, các bài báo cáo khoa học, các bài nghị luận thuyết phục
2.1.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1.2.1 Về Ngữ pháp ch c n ng
Ở Việt Nam, vấn đề về ngữ pháp chức năng được quan tâm từ những năm
80-90 của thế kỉ XX, như trong một số chuyên đề ở các trường đại học, hay trong một số công trình của một số tác giả như Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Hoàng Vân Vân, Nguyễn Văn Hiệp Hướng nghiên cứu này có thể xem là đối lập với cấu trúc luận bởi vì các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cho rằng các yếu tố bên ngoài, thuộc về ngữ cảnh giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố bên trong của hệ thống ngôn ngữ Trong đó, phạm vi cấu trúc thông tin của phát ngôn trong tiếng Việt có những đặc điểm riêng mà nó liên quan đến cái gọi là cấu trúc “Đề - Thuyết” của câu
Trong cuốn sách Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp ch c n ng – quyển 1(1991), trên quan điểm ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã nhận định:“Thoạt tiên có những nhu cầu
thực tiễn của giao tế xã hội đặt ra cho con người những nhiệm vụ trao đổi và thông báo cần được thực hiện bằng những phương tiện ngôn ngữ, nghĩa là bằng những phát ngôn,và công việc của ngôn ngữ học là tìm hiểu xem những nhiệm vụ ấy được thực hiện bằng những phát ngôn nào, xem có những quy tắc gì chi ph i việc sử dụng những phát ngôn ấy,và những quy tắc gì chi ph i việc cấu tạo những những phát ngôn ấy."
Việc đi ngược trở lại từ mục đích (nghĩa) đến phương tiện để bổ sung cho viêc miêu tả hình thức hoàn toàn phù hợp với quan niệm hiện đại về tính phổ quát của cách tư duy của con người và do đó cũng là của những nội dung ý nghĩa mà ngôn ngữ nào cũng có
cách biểu hiện Đây chỉ mới là giai đoạn khởi điểm cho việc ứng dụng NPCNHT vào
trong nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam
Nghiên cứu theo đường hướng NPCNHT, Đỗ Hữu Châu đã có công trình Ngữ
pháp ch c n ng dưới ánh sánh của dụng học hiện nay, Ngôn ngữ (1992) Ngữ dụng
học và ngữ pháp chức năng quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ và các phạm vi của giao tiếp lời nói Với phương diện nghiên cứu này, ngữ dụng học và ngữ pháp chức năng hy vọng tìm kiếm những bản chất mới của ngôn ngữ bởi vì, theo M.A.K Halliday thì một sự giải thích cuối cùng đối với các hiện tượng ngôn ngữ là nằm ở trong việc sử dụng ngôn ngữ
Trang 18Thêm vào đó, năm 1997, Hoàng Văn Vân đã dịch cuốn Dẫn luận ngữ pháp
ch c n ng của M.A.K Halliday (An Introduction to Functional Grammar) mà theo
ông thì những nghiên cứu ngữ pháp của tiếng Việt, cũng như ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo, mặc dù có những thành tựu nhưng vẫn không tỏ ra có sức mạnh giải thích ngữ pháp tiếng Việt
Trong tài liệu Diệp Quang Ban Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/2009) hay tài liệu Phân biệt ba bình diện v n bản, giao tiếp
và biểu hiện trong ngữ pháp câu (2003) của Diệp Quang Ban đã chỉ ra ba tính ưu việt
của NPCNHT của Halliday về tính hệ thống trong miêu tả; gắn liền câu với ngữ cảnh
và xác lập kiểu cấu trúc riêng cho từng phương diện
Nguyễn Văn Hiệp trong công trình Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp tiếng
Việt (2008), tuy không tuyên bố là ngữ pháp chức năng nhưng đi từ quan điểm ngữ
nghĩa/ngữ pháp ngữ nghĩa cũng được xem là tiếp cận chức năng về cú pháp tiếng Việt trên cả ba bình diện: cú học, nghĩa học và dụng pháp
Từ những năm 1970 trở lại đây, trong giới ngôn ngữ học xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về bản chất của giao tiếp trong xã hội loài người và nhấn mạnh khía cạnh chức năng của ngôn ngữ Mặc dù lý thuyết ngữ pháp chức năng du nhập vào Việt Nam muộn nhưng cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu văn bản và nghiên
cứu diễn ngôn như: Đỗ Xuân Thơm với “Nghiên c u diễn ngôn đàm phán thương
mại” (2001); Nguyễn Thị Hà (2010) về việc “Khảo sát ch c n ng ngôn ngữ v n bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn”, Trần Thị Thùy Linh (2016)
với đề tài “Nghiên c u ngôn ngữ v n bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích
diễn ngôn”,…
2.1.2.2 Về lí thuyết ngôn ngữ đánh giá
Trong hơn mười năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định được vai trò, vị trí của lý thuyết NHCNHT trong việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ, nhấn mạnh tính ưu việt của lý thuyết này với những phương diện khác nhau của cơ cấu ngữ pháp; qua đó giúp chúng ta càng ngày tiến gần đến một đối tượng nghiên cứu mới và phức tạp, đó là ngôn ngữ và người sử dụng nó có mối tương quan như thế nào
Theo các tài liệu hiện hành, công trình nghiên cứu về thể loại và NNĐG ở Việt Nam bằng tiếng Việt vẫn chưa nhiều; tuy nhiên, vẫn có một số công trình nghiên cứu
về NNĐG trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ mà chúng tôi đánh giá cao nên chúng tôi
sử dụng để tham khảo phục vụ cho đề tài của mình, đó là:
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Thanh Hương (2003) về đề tài “Đ i
chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo tin bằng tiếng Anh và tiếng Việt” cũng đã đóng
góp vào việc hình thành vào phương pháp phân tích toàn bộ một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất và có mục đích là diễn ngôn; phát hiện cấu trúc điển hình và các
Trang 19phương tiện chức năng ngữ nghĩa của phóng sự báo in tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời làm sáng tỏ những đặc điểm của loại diễn ngôn này
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn “Cấu trúc Đề - Thuyết trong bản tin tiếng Anh và
tiếng Việt” của Nguyễn Thị Thu Hiền (2008) đã góp phần làm sáng tỏ một số đặc
điểm ngôn ngữ báo chí của cả hai ngôn ngữ, đóng góp tài liệu tham khảo cho các nhà giảng dạy ngôn ngữ đặc biệt là ngành báo chí về tầm quan trọng của cấu trúc Đề - Thuyết trong mối quan hệ với ba siêu chức năng
Luận án tiến sĩ của Ngô Thị Bích Thu (2013), tác giả người Việt ở nước ngoài
(ĐH Catholic University, Úc) với đề tài “The deployment of the language of
evaluation in English and Vietnamese spoken discourse”, tác giả đã tập trung vào
nghiên cứu hai phạm trù thái độ và thang độ để phân tích một số tư liệu hội thoại giữa các nhóm sinh viên đang học tập tại Úc về những trải nghiệm và vị trí công việc ở Việt Nam Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra các nguồn lực ngôn ngữ về thái độ và thang
độ của đặc điểm ngôn ngữ như từ láy, từ ghép, tiểu từ tình thái, đại từ nhân xưng Bên cạnh đó, công trình cũng chỉ ra sự khác biệt về khả năng sử dụng NNĐG bằng tiếng Việt và tiếng Anh của sinh viên thông qua các số liệu thống kê từ luận án
Luận văn “Ngôn ngữ đánh giá trong phóng sự “Cạm bẫy người” của Vũ Trọng
Phụng” của Trần Thị Tú Linh (2019) dựa vào lý thuyết đánh giá của Martin và White
để làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ thể hiện chức năng liên nhân qua trong phóng sự
Vũ Trọng Phụng, qua đó góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ phóng sự nói chung
và ngôn ngữ phóng sự văn học của Vũ Trọng Phụng nói riêng Luận văn chỉ đề cập đến hai góc độ Thái độ và Thang độ và chưa đề cập đến thể loại
Tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, cơ sở đào tào sau đại học mà tác giả luận văn đang học tập và nghiên cứu, một số luận văn, luận án cũng lựa chọn cách tiếp
cận từ lý thuyết NNHĐG làm đề tài tốt nghiệp Có thể kể đến: Luận văn thạc sĩ “Ngôn
ngữ đánh giá trong truyện ngắn của Nam Cao” của Nguyễn Thị Tuyết Tâm (2020)
2.2 Tình hình nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là nhà văn sau 1986 được giới nghiên cứu quan tâm rất nhiều Hầu hết các nhà nghiên cứu, dù hết sức khác biệt về phương pháp và quan điểm tiếp cận đều ít hay nhiều bàn đến sáng tác Nguyễn Huy Thiệp Chúng tôi tạm phân loại thành hai nhóm sau:
2.2.1 Những nghiên cứu gián tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Đối tượng nghiên cứu trong các bài viết của các tác giả như Nguyễn Thị Bình,
Lê Lưu Oanh, Bùi Việt Thắng…là các vấn đề về ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu, trần thuật, điểm nhìn, thời gian trong các tác phẩm văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới Dĩ nhiên Nguyễn Huy Thiệp sẽ là một đối tượng được dẫn chứng và phân tích như là đại
Trang 20biểu của giai đoạn văn học này Nguyễn Thị Bình trong bài Đổi mới ngôn ngữ và
giọng điệu – một thành công đáng chú ý của v n xuôi sau 1975, khẳng định NHT có
“lối nói cộc lốc, sắc bén và hàm súc, câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn chế tối đa sự miêu tả và bình luận, chứa một năng lượng bùng nổ dữ dội và trước hết làm rung chuyển lối văn mực thước trang trọng hoặc rào đón, đưa đẩy” Lê Lưu Oanh trong bài
Thời hiện tại chưa hoàn thành của truyện ngắn hiện đại, nhận định truyện NHT có
“kết cấu mở”, “câu chuyện có thể thuộc về thời quá khứ song vẫn được kể dưới điểm
nhìn của thời hiện tại” Bùi Việt Thắng trong bài Vấn đề kể chuyện trong truyện ngắn
đương đại (Một khía cạnh của thi pháp thể loại) cho “tính hiện đại” là “phẩm chất
truyện ngắn NHT”, “văn chương luôn đi đến chỗ tận cùng" Những nghiên cứu trên
đây coi sáng tác NHT như là những ngữ liệu tiêu biểu để làm rõ những vấn đề về lí
thuyết trần thuật Ngoài ra cũng phải kể đến nhiều bài viết của La Khắc Hoà (Nhìn lại các bước đi, lắng nghe những tiếng nói), Nguyễn Nghĩa Trọng (Thử nhận diện v n học ba mươi n m qua), Nguyễn Văn Long (Một s vấn đề cơ bản trong nghiên c u lịch sử v n học Việt Nam giai đoạn từ sau 1975), Nguyên Ngọc (V n xuôi Việt Nam hiện nay – lôgic quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng),
Nguyễn Văn Hiếu (Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn trong v n xuôi Việt
Nam sau 1975), Đây là những bài nghiên cứu có tính khái quát, bàn về văn học thời
kỳ Đổi mới trong đó có những nhận định đánh giá về văn chương NHT Các nhà nghiên cứu khẳng định NHT là “người khởi xướng ra dòng văn học tự vấn ở trong văn học Việt Nam hiện đại”, “đã cách tân nghệ thuật trần thuật bằng việc sáng tạo “người
kể chuyện không đáng tin cậy”, “cách nhìn hiện thực nhiều chiều, bình tĩnh đến sắc lạnh, phân tích đến kiệt cùng ( ) mở đầu cho xu hướng phân tích chiêm nghiệm lịch sử” Qua những bài viết trên, có thể thấy vị trí rất quan trọng của NHT trong lịch sử văn học Việt Nam sau 1975
2.2.2 Những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Những bài nghiên cứu này hầu hết tập trung trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp Đây là những bài viết tiêu biểu nhất trong số gần một trăm bài nghiên cứu được
đăng rải rác trên nhiều tờ báo giai đoạn trước năm 2000 Nhìn chung, các bài viết này
là cứ liệu quan trọng cho các nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận sáng tác NHT Những nhận định về truyện ngắn của NHT nhiều khi trái ngược nhau, bộc lộ những thiên kiến văn chương rất xa nhau Dựa vào những xác tín đã định hình một thời về quan niệm văn chương phản ánh hiện thực, thói quen tiếp nhận nền văn học sử thi và cái nhìn mang tính sử thi đối với cuộc sống, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, một số nhà nghiên cứu đã tỏ ra có phần khá khắt khe với những tìm tòi nghệ thuật của NHT, không nhìn thấy những đóng góp to lớn của ông trong việc hình thành một dòng văn chương mới mà về sau được gọi là dòng văn học phản tỉnh xã hội Tiêu biểu cho cách nhìn trên có lẽ là các ý kiến của Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Thuý Ái,
Trang 21Vũ Phan Nguyên, Hồng Diệu Do quan niệm truyền thống về mối quan hệ giữa văn học và lịch sử, văn học và hiện thực nên trong những bài viết của các tác giả trên đây, NHT bị đánh giá là đã “xuyên tạc lịch sử”, “hạ bệ thần tượng”, hoặc “bôi đen hiện thực”, “bắn súng lục vào quá khứ”…Vì lẽ đó, mặc dù khẳng định NHT có tài nhưng
“cái tâm thiếu trong sáng”, thiếu cội rễ nhân đạo cần thiết, hiện tượng NHT “đáng lo hơn là đáng mừng” Những nghiên cứu này đã dùng văn chương để luận tư tưởng, đạo đức, trình độ văn hoá của nhà văn, khó mà phát hiện được sự đa dạng và sức hấp dẫn của phong cách văn chương NHT, nhất là khả năng đối thoại với ý thức hệ của diễn ngôn tập thể
Trong tập sách này, có nhiều bài của các tác giả như Văn Tâm, Nguyễn Văn Lưu, Trịnh Bá Đĩnh – Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Hải Hà – Nguyễn Thị Bình bàn về sáng tác NHT như một hiện tượng tiếp nhận văn học Nhìn chung, các tác giả đã bao quát nhiều tư liệu, bám sát những bài viết bàn về văn chương NHT, lẩy ra nhiều ý kiến quý báu…Những bài viết trên là cần thiết, nó cung cấp một cái nhìn toàn cảnh quá trình tiếp nhận NHT, định hướng cho bạn đọc tiếp nhận hiện tượng văn học đang còn nhiều tranh cãi và phức tạp này nhằm cổ vũ những đổi mới trong văn học và thị hiếu thẩm mỹ mới của người đọc Các bài viết của các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Anh Đào, Đỗ Đức Hiểu, Diệp Minh Tuyền, Trần Đạo, Thái Hoà, Nguyễn Thanh Sơn, Đông La, Lại Nguyên Ân, Văn Tâm, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Thị Mai Nhi, Đào Duy Hiệp…tập trung phân tích, đánh giá những đóng góp tư tưởng
và nghệ thuật của NHT Với sự chuyên nghiệp và nhạy cảm văn chương, kết hợp giữa
lí luận và cảm xúc, các nhà nghiên cứu đã “đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” ở những vỉa sâu, với thái độ trân trọng một tài năng đang khẳng định mình Họ đã phát hiện trong truyện ngắn NHT có “nghệ thuật ba – rốc” (Thái Hoà), có “người kể chuyện không đáng tin cậy” (Lại Nguyên Ân), có “thiên tính nữ”, “tư duy tiểu thuyết và foklore hiện đại” (Hoàng Ngọc Hiến), rằng truyện của ông có cái “ma lực” bởi ông “hướng về cái tôi”, “giàu chất triết lý”, có kết cấu “lỏng lẻo” nhưng biểu thị được cái “sôi động, nhiều thông tin, đồng hiện, đan xen nhau” (Đông La) Nguyễn Thanh Sơn chứng minh một cách thuyết phục và hấp dẫn về những “sự thật được phơi bày” trong tác phẩm của NHT Ông kết luận: “những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như những viên ngọc Biện Hoà” Đặng Anh Đào phát hiện “tính gián cách” của điểm nhìn giữa tác giả và bạn đọc, tính “dự báo” về sự cô đơn của con người hiện đại, trò chơi
“giả – lịch sử”, “giả – cổ tích” như một hình thức nhại thể loại, “lối kể cổ điển” trong
Tướng về hưu Đỗ Đức Hiểu “đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” thấy “thơ ca và triết lý là
những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn NHT” Văn Tâm “Đọc Nguyễn Huy Thiệp”
thấy có bốn nét phong cách đặc thù: “sắc độ hiện đại thẫm”, “cảm hứng huyền thoại mạnh”, “tính nhiều tầng đa nghĩa cao”, “tính hệ thống mở có khẩu độ lớn” Đào Duy Hiệp phát hiện “hình thức diễn đạt khắc nghiệt, một cách nói nhịu dân gian rất đạt và
Trang 22chính xác trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp”…Những bài viết này có giá trị khẳng định và ủng hộ một tài năng văn chương với nhiều tìm tòi sáng tạo
Các tác giả khác như T.N Filimonova, Nguyễn Vy Khanh, Vương Anh Tuấn, Đặng Anh Đào…xuất phát từ cái nhìn huyền thoại học, muốn khám phá cơ tầng văn hóa đằng sau các VB văn chương NHT Nguyễn Vy Khanh khẳng định NHT muốn
“lôi xuống đời thường những đỉnh cao của lịch sử văn học, trần tục hoá các vua Gia Long, Quang Trung và các nhân vật lịch sử Nguyễn Thái Học, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Lộ” bằng “thể huyền thoại”; Đặng Anh Đào phát hiện những môtip dân gian trong những truyện giả – cổ tich T.N Filimonova khẳng định chùm
truyện Những ngọn gió Hua Tát “như hình mẫu các truyền thuyết văn học”, ở đó “một
mặt, chúng giữ được những đặc điểm thể loại của các truyền thuyết dân gian, mặt khác chúng có sự xử lý văn học rõ ràng của tác giả” Vương Anh Tuấn khẳng định NHT đã
“bổ sung, đào sâu thêm vào mặt sau của quá khứ, mong muốn nó cũng trở thành những bài học lịch sử bổ ích cho đời sống hôm nay”, vì vậy “có một quy mô đối thoại
“vô hình” giữa điều được kể ra với cái đã định hình trong ý thức xã hội” khi đọc những truyện giả – lịch sử của NHT
Sau khi cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp ra đời, người ta vẫn tiếp tục “đi
tìm Nguyễn Huy Thiệp” Lê Huy Bắc phát hiện một “kỹ thuật nhại” mang phong cách NHT: “bậc hiền triết – con chó xồm” Phạm Phú Phong đi tìm “giọng điệu văn chương Nguyễn Huy Thiệp” Châu Minh Hùng tìm thấy “hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại” qua truyện ngắn NHT Trần Văn Toàn nhận ra “những giới hạn và sứ mệnh” của “nhà văn hiện đại” qua những quan niệm văn chương rối bời, phi chính thống của ông Nguyễn Văn Tùng đi tìm “Cấu tứ tự sự của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” Nguyễn Đăng Điệp bị “cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp”, phát hiện nhà văn
“đã xử lý một cách hết sức hiệu quả hai cực đối lập: sự sắc lạnh tỉnh táo trong cái nhìn
về hiện thực và chiều sâu trữ tình trong tác phẩm” Nguyễn Văn Thuấn khẳng định một “lập trường đối thoại‟ trong tư duy nghệ thuật của NHT La Khắc Hòa nghiên cứu
“những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam” qua tác phẩm NHT và Phạm Thị Hoài Ông phát hiện những “kịch tính” được tạo bởi thủ pháp “giễu nhại”, những hình thức nhại thể loại cổ tích, truyện lịch sử, huyền thoại, gia phả, thư tín, thơ ca trong sáng tác NHT Nguyễn Hồng Dũng tìm kiếm hiệu ứng thẩm mỹ qua hiện tượng “thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp” Phan Huy Dũng nghiên cứu sự tiếp
biến và sáng tạo của NHT qua trường hợp quan hệ giữa Huyền thoại ph phường và
Con đầm pích Phạm Ngọc Lan nghiên cứu diễn ngôn nữ quyền trong các truyện lịch
sử của NHT Tất cả những điều này càng chứng tỏ đóng góp lớn của NHT trong thể loại truyện ngắn với những cách tân táo bạo về mặt ngôn ngữ của ông trong tiến trình đổi mới văn xuôi sau 1975
Trang 23Việc nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp từ cách tiếp cận lý thuyết đánh giá:
Nói chung, từ sau năm 2000, các nhà nghiên cứu không còn vướng bận vấn đề
“thị hiếu với cách đọc”, “cái tâm và cái tài”…vì địa vị của NHT đối với văn học Đổi
mới đã được khẳng định dứt khoát Gần đây nhất, bên cạnh bài viết Hiện tượng liên
v n bản trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp (www.tienve.org, truy cập 13/2/2013),
công trình đặc biệt nhất có thể kể đến là của Nguyễn Văn Thuấn Du hành giữa các v n
bản Nguyễn Huy Thiệp – xã hội Việt Nam sau 1975 đã nhìn những tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp dưới một góc độ mới mẻ hơn – liên văn bản Nhìn chung, nếu xét những công trình nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp dựa vào các lý thuyết của ngôn
ngữ học thì có thể nói lý thuyết đánh giá là một địa hạt rất mới, rất cần được nghiên
cứu chuyên sâu
Có thể nói, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, ngữ pháp chức năng hay ngữ pháp chức năng hệ thống (NPCNHT) ngày càng được giới ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm và vận dụng trong phân tích diễn ngôn Dưới ánh sáng của NPCNHT – một khuynh hướng giàu năng lực giải thích, ngôn ngữ học đã trở thành mảnh đất hấp dẫn
và hứa hẹn nhiều tiềm năng khai thác với các nhà ngôn ngữ học NPCNHT đóng một vai trò quan trọng trong việc kiến giải các loại nghĩa khác nhau và ngôn ngữ được tổ chức theo lối siêu chức năng Tư tưởng cốt lõi cách tiếp cận này là xem ngôn ngữ học như là
nguồn lực tạo nghĩa (Language is the „meaning-making resources”), là hệ thống
những sự lựa chọn có quan hệ với nhau để diễn đạt nghĩa, và ngôn ngữ đã tiến hóa để đảm bảo thực hiện việc chức năng đó
Qua quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học chức năng hệ thống và ngôn ngữ đánh giá của các công trình nên trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc áp dụng lý thuyết đánh giá để nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có thể phần nào khẳng định vị trí của tác giả này trên con đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý thuyết, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NNĐG và về
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 24- Khảo sát, thống kê, phân loại NLĐG, chỉ ra hệ thống NNĐG thể hiện “Thái độ”
và “Thang độ” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Phân tích làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn ngữ của NLĐG và sự thể hiện chức
năng liên cá nhân - nghĩa liên nhân trong diễn ngôn truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là NNĐG thực hiện chức năng liên nhân trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trong luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát, nghiên cứu góc độ “Thái độ” và
“Thang độ” với mục đích tìm hiểu: Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” và “Thang độ” thực hiện chức năng liên nhân như thế nào trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm tiếp cận: Luận văn sử dụng các kiến thức và phương pháp của
ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday và khung lý thuyết Đánh giá của Martin
& White để miêu tả đặc điểm ngôn ngữ đánh giá trong diễn ngôn phóng sự văn học
5.2 Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng Phương pháp miêu tả, với các thủ
pháp giải thích bên trong và bên ngoài như: thủ pháp thống kê; thủ pháp phân loại và
hệ thống hóa; thủ pháp phân tích ngôn cảnh vào thống kê, miêu tả và phân tích các nguồn lực đánh giá, biểu thức đánh giá Thái độ và Thang độ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
6 Đóng góp của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn mong muốn góp phần làm rõ thêm lý thuyết về NNHCNHT và bộ công cụ đánh giá, cụ thể là trong việc xác định và bổ sung về NLĐG trong văn bản tiếng Việt
Về phương diện thực tiễn, những kết quả của luận văn sẽ góp phần vào công tác giảng dạy, học tập môn ngữ văn ở nhà trường đối với thể loại truyện ngắn viết sau năm 1975
Trang 257 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương, cụ thể như sau:
Trang 26CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống
Ngữ pháp hình thức, cấu trúc không quan tâm đến nghĩa và càng không quan tâm đến tác dụng giao tiếp Đối với nó, nghĩa chỉ là một chỗ dựa bất đắc dĩ để miêu tả hình thức, để phân đoạn ngữ lưu ra thành những chiết đoạn được coi như là những thực thể
tự tại có thể được lắp ghép thành những chiết đoạn lớn hơn theo những quy tắc “phân bố” (độc lập hay ràng buộc, đứng trước ngữ đoạn nào, đứng sau ngữ đoạn nào) không liên quan gì đến nghĩa và chức năng cú pháp
Mối liên hệ giữa phương tiện thể hiện (mặt hình thức) và mục đích thể hiện (mặt nội dung) hiểu theo quan điểm Ngữ pháp chức năng (NPCN) là mối quan hệ giữa ba bình diện: kết học (syntactics), nghĩa học (semantics), dụng học (pragmatics)
Theo quan điểm NPCN, hình thức ngữ pháp tồn tại chính là để thực hiện chức năng của một công cụ giao tiếp nhất định, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giao tiếp
và truyền đạt nghĩa, cho nên đây là kết học là bình diện chức năng của hình thức Còn truyền đạt nghĩa chính là nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ, cho nên nghĩa học là bình diện chức năng ngữ nghĩa
Nhiệm vụ của dụng học là nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với người sử dụng chúng, cụ thể là nghiên cứu nội dung của ngôn từ trong những tác dụng qua lại của nó với tình huống bên ngoài, với ngữ cảnh, với người tham gia giao tiếp bằng ngôn ngữ, tức là nghiên cứu trực tiếp cách sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt xã hội Như vậy, NPCN coi cả ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học của ngôn ngữ
là ba bình diện chức năng và thực hiện cách tiếp cận chức năng với cả ba bình diện
Mô hình tam phân của Halliday có điểm khác biệt so với các công trình nghiên cứu khác ở chỗ ba bình diện của câu đều thuộc mặt nghĩa Ông coi câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời Nó vừa là một sự biểu hiện của kinh nghiệm vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động lẫn nhau, vừa là một thông điệp
Ba bình diện nghĩa này được gọi là nghĩa ý niệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản, tương ứng với ba chức năng: chức năng kinh nghiệm, chức năng liên nhân và chức năng tạo văn bản Cụ thể như sau:
+ Chức năng kinh nghiệm: Chức năng này trả lời các câu hỏi: Ai? Làm gì? Ở đâu? Là sự thể hiện kinh nghiệm của con người về thế giới xung quanh, trong bản thân người phát ngôn và thể hiện nội dung giao tiếp Phân tích câu nói từ góc độ chức năng kinh nghiệm sẽ liên quan đến việc lựa chọn các kiểu quá trình, các kiểu tham thể và các kiểu chu cảnh Theo cấu trúc nghĩa biểu hiện, cú được phân chia thành: Quá trình
Trang 27+ tham thể + chu cảnh Theo đó, cấu trúc nghĩa biểu hiện có 6 quá trình khác nhau: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình phát ngôn, quá trình tồn tại và quá trình hành vi
+ Chức năng liên nhân: Đối với cấu trúc nghĩa liên nhân, cú được tổ chức như một sự kiện tương tác giữa hai phía, trong đó người nói/ người viết dùng ngôn ngữ để tác động vào người nghe/người đọc Chức năng liên nhân của câu luân phiên thay đổi vai trò trong cách tác động qua lại
Trong hành động nói năng, người nghe tự thân tiếp nhận một vai phát ngôn riêng biệt và cũng bằng cách đó phân công cho người nghe vai trò bổ sung Theo đó, khi đặt câu hỏi, người nói/ người viết nhận vai trò là người cần thông tin, tìm thông tin và yêu cầu người nghe/ người đọc nhận vai là người cung cấp thông tin Theo Halliday, sự trao đổi, cho và đòi hỏi hàng hóa, dịch vụ, thông tin tạo thành bốn chức năng lời nói cơ bản: đề nghị (offer), ra lệnh (command), trình bày (statement) và hỏi (question) Những chức năng này, đến lượt chúng, được làm cho phù hợp bởi bốn phản ứng được mong đợi là: chấp nhận một lời đề nghị, thực hiện một mệnh lệnh, thừa nhận một lời tuyên bố hay trình bày và trả lời một câu hỏi Như vậy, nghĩa liên nhân sẽ xác lập mối quan hệ giữa các vai giao tiếp, thể hiện cách ứng xử của các nhân vật và qua đó bộc lộ bản chất của họ Sự thể hiện cá nhân của người nói/người viết được thực hiện thông qua cách dùng từ ngữ mang tính đánh giá Theo Lý thuyết khung đánh giá (Appraisal Framework) của Martin và Peter White (2005) – một lý thuyết được phát triển gần đây dựa trên mô hình lý luận của NNHCNHT do Halliday khởi xướng – thì từ ngữ thể hiện
sự đánh giá của người nói/ người viết được xem xét ở các góc độ sau [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp,19]:
– Thái độ (Attiute): Người nói/ người viết trực tiếp bày tỏ thái độ tích cực hay tiêu cực đối với người khác, đối với nội dung phản ánh hoặc tác động để người khác
có cùng thái độ với mình;
– Thang độ (Graduation): Người nói/ người viết điều biến (tăng hay giảm) mức
độ xác quyết, làm mờ hoặc làm rõ ranh giới các phạm trù ngữ nghĩa mà người nói muốn biểu đạt;
– Giọng điệu (Engagement): Người nói/ người viết hướng mình vào đối thoại hay tranh luận với những gì người khác đã nói hay có thể nói trước đó
+ Chức năng tạo văn bản: Nghĩa văn bản liên quan đến việc tổ chức các yếu tố trong văn bản Nó được sử dụng để tổ chức nghĩa tư tưởng và nghĩa liên nhân và tạo ra
sự mạch lạc trong toàn bộ văn bản
1.1.2 Lý thuyết Đánh giá
Lý thuyết Đánh giá cung cấp một bộ công cụ để khám phá NNĐG trong văn bản
Trang 28bằng cách phân tích nguồn tài nguyên mang chức năng liên nhân đồng thời cho thấy những tác động về mặt xã hội thể hiện xuyên suốt trong toàn văn bản Bộ công cụ Đánh giá được phát triển bởi Martin và các cộng sự (Martin, 2000; Martin & Rose, 2007; Martin & White, 2005) NNĐG nằm ở vị trí tầng ngữ nghĩa diễn ngôn
Sơ đồ 1.1: Các tầng ngôn ngữ và các siêu chức năng của ngôn ngữ
(Rose & Martin, 2005)
Theo trường phái NNHCNHT, ngôn ngữ được coi là một hệ thống gồm 3 tầng bậc: tầng ngoài cùng, là tầng ngữ nghĩa diễn ngôn Tầng này được hiện thực hoá bằng tầng ngữ pháp - từ vựng và tầng ngữ pháp - từ vựng được hiện thực hoá thông qua tầng
ngữ âm / chữ viết NNĐG ở vị trí tầng ngữ nghĩa diễn ngôn Nó được hiện thực hoá
thông qua từ vựng và ngữ pháp mang nghĩa đánh giá ở tầng ngữ pháp - từ vựng NNĐG liên quan đến chức năng liên nhân /nghĩa đánh giá Cả ngữ pháp - từ vựng và ngữ nghĩa diễn ngôn góp phần tạo nên các tầng nghĩa cho văn bản
Hệ thống NNĐG bao gồm: “Thái độ”, “Thang độ” và “Giọng điệu” “Thái độ” là các giá trị mà theo đó các quan điểm tích cực/tiêu cực được hoạt hoá “Thang độ” là các giá trị mà theo đó cường độ hoặc sức mạnh của các mệnh đề được nâng cao hoặc hạ thấp
“Giọng điệu” là các giá trị theo đó người nói/người viết khoác các giọng điệu khác nhau
và giá trị thay thế được đặt trong các ngữ cảnh giao tiếp thực tế
Trang 29hành vi” được sử dụng để thể hiện đánh giá về mặt đạo đức đối với những hành vi và tính cách của con người và “Đánh giá SVHT” được sử dụng để đánh giá chất lượng
về mặt thẩm mỹ hay những cảm nghĩ, tầm quan trọng đối với quá trình và hiện tượng
tự nhiên
Sơ đồ 1.2: Phán xét hành vi và đánh giá sự vật hiện tượng- tác động thể chế hóa
(Martin & White 2005: 45) Như được đề cập ở trên, “Tác động” có thể được coi như là hệ thống cơ bản của
hệ thống thái độ “Phán xét hành vi” và “Đánh giá SVHT” được coi là thể chế hóa của tác động “Phán xét hành vi” có liên quan tới đạo đức, hành vi và tính cách của con người, thường dựa trên các quy tắc và các quy định, trong khi “Đánh giá SVHT”
liên quan tới thẩm mỹ hoặc giá trị thường là thông qua một số tiêu chí và đánh giá
c “Tác động” được hiện thực hóa thông qua nguyên nhân của một phản ứng nào đó (ví dụ Con gái tôi ghét sữa) hoặc tâm trạng ẩn chứa bên trong (ví dụ: cô ấy buồn bã)
d “Tác động” được phân loại dựa theo thang độ (thấp, trung bình, cao) (ví dụ không thích-ghét-ghét cay ghét đắng)
e “Tác động” được phân loại dựa theo dấu hiệu trạng thái cảm xúc tiềm ẩn
Đạo đức (nguyên tắc và nhận định) Cảm xúc được thể chế hóa như những đề xuất
Cảm xúc được thể chế hóa như những định đề Giá trị (tiêu chí và đánh giá)
Trang 30(irrealis: tác động tiềm ẩn) và cảm xúc ngay trước những hành động đang diễn ra (realis: tác động trực tiếp)
Những ví dụ sau trích từ Martin & White (2005)
* Ví dụ tác động tiềm ẩn:
The captain feared leaving (Đội trưởng sợ rời đi)
* Ví dụ tác động trực tiếp:
The captain disliked leaving (Đội trưởng không thích rời đi)
Tác động tiềm ẩn lại tiếp tục được phân loại ra là “mong muốn” (inclined) hoặc
“không mong muốn, sợ” (disclined)
*Mong muốn/không mong muốn
*Hạnh phúc/không hạnh phúc: the captain felt sad / happy (thuyền trưởng cảm thấy buồn/vui)
*An toàn/không an toàn: the captain felt anxious/confident (thuyền trưởng cảm thấy lo lắng/tự tin)
*Thoả mãn/không thoả mãn: the captain felt fed up/absorbed (thuyền trưởng cảm thấy chán/thu hút) (Martin & White 2005)
Hạnh phúc/không hạnh phúc là cảm xúc chúng ta thể hiện đầu tiên liên quan đến tâm trạng cảm xúc hạnh phúc/buồn bã; an toàn/không an toàn, là “vấn đề an sinh xã hội”, liên quan đến cảm xúc bình yên và lo lắng với những gì xung quanh; hài lòng/không hài lòng là “vấn đề theo đuổi mục tiêu”, liên quan đến cảm xúc đạt được
và thất bại với những hoạt động mà chúng ta tham gia
Trang 31* Thuộc tính cá nhân (Social Esteem): quan tâm đến việc ngợi khen hoặc chỉ
trích những thuộc tính cá nhân
Thuộc tính cá nhân được phân chia thành 3 tiểu nhóm:
- Khả năng (capacity) (anh ấy/cô ấy có khả năng gì?) Ví dụ: As a manager, he was grossly incompetent (Là một giám đốc nhưng anh là hoàn toàn là không có khả
* Quy ước xã hội (Social Sanction): liên quan đến đánh giá các hành vi của con
người bằng cách quy chiếu vào một hệ thống chuẩn mực được qui ước hoá hoặc thiết chế hoá Quy ước xã hội được phân chia thành hai tiểu nhóm:
- Thành thật (Veracity) (anh ấy/cô ấy có thật thà không?) Ví dụ: We discussed the matter openly and frankly (Chúng tôi thảo luận vấn đề một cách
cởi mở và thẳng thắn)
- Phép tắc / đạo đức (Propriety) (anh ấy/cô ấy có đúng mực không?)
Ví dụ: She‟s just a gossip (Cô ta chỉ là một kẻ mách lẻo)
Cũng giống như “Tác động ”, “Phán xét hành vi” có thể là tích cực hoặc tiêu cực,
và được thể hiện một cách hiển ngôn hoặc hàm ngôn Vì ranh giới về ý nghĩa của NNĐG
là mờ, và ý nghĩa của dẫn dụ từ vựng phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, Bảng dưới đây nên được coi là một hướng dẫn chung (J.R Martin & White, 2005: 52)
Trang 32Bảng 1.1: Ví dụ về nguồn từ vựng hiện thực hóa phán xét hành vi
(Martin &White, 2005:53)
C Đánh giá sự vật hiện tượng
Cùng với phản ứng về mặt cảm xúc trước sự vật, hiện tượng, chúng ta còn thể hiện ý kiến về chất lượng và đánh giá một số khía cạnh của chúng, nghĩa là nguồn tài nguyên ngôn ngữ đánh giá bản chất hoặc giá trị của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn hiện
tượng tự nhiên, sản phẩm hay quá trình Cũng như „Tác động”, “Đánh giá SVHT” có
thể là tích cực hoặc tiêu cực, và được thể hiện một cách hiển ngôn hoặc hàm ngôn
“Đánh giá SVHT” được chia làm ba nhóm: “Phản ứng” (reaction), “Tổng hợp”
(composition) và “Giá trị” (valuation)
* “Phản ứng”, loại này rất dễ bị nhầm lẫn với nhóm tác động được đề cập ở trên
Tuy nhiên, tác động liên quan đến những cảm xúc chủ quan của người đánh giá, nhấn mạnh vào nhân vật và cảm xúc của họ (ví dụ: tôi buồn), phản ứng liên quan đến hiện tượng sản sinh ra cảm xúc đó (ví dụ: buổi triển lãm rất tuyệt vời hay đó là 1 bộ phim kinh dị)
Trang 33* “Tổng hợp” liên quan đến hình thức hay kết cấu của hiện tượng về mặt cân
bằng hay sự phức tạp, chẳng hạn như có kết cấu chặt chẽ không? có hệ thống không?
có hoàn chỉnh không? … Đánh giá này là dựa theo quan điểm cá nhân, theo tiêu chuẩn
xã hội và theo sở thích văn hoá Từ vựng thuộc nhóm này có thể dùng để nói về sự cân bằng và phức tạp của bản chất các thực thể, hiện tượng hay hoạt động con người …
* “Giá trị” là đánh giá tầm quan trọng về mặt giá trị xã hội như: chúng có ích
không? có quan trọng không? Những giá trị như vậy rõ ràng là cần thiết để hình thành nên giá trị tư tưởng (Đánh giá tầm quan trọng (liệu điều đó có quan trọng không?), đánh giá sự lợi hoặc hại (điều đó làm “phát triển” hay “hủy hoại”?)
1.1.2.2 Sự thể hiện “Thái độ”
A Sự thể hiện “Thái độ” hiển ngôn
“Thái độ” hiển ngôn là loại thái độ có thể được mã hóa trực tiếp trong từ vựng
mà không có tự do nhiều cho việc diễn giải của người đọc
Từ quan điểm của hiện thực hoá ngữ pháp, “Thái độ” hiển ngôn có thể được hiện thực hoá trong các chức năng khác nhau thông qua các hình thức khác nhau Tác động
có thể được hiện thực hoá là "định tố” trong hình thức của tính từ và phó từ, "quá trình" trong hình thức của động từ và như phụ ngữ trong hình thức của phó từ “Đánh
giá SVHT” cũng có thể được hiện thực hoá theo các cách tương tự như “Tác động” và
“Phán xét hành vi”
B Sự thể hiện “Thái độ” hàm ngôn
“Thái độ” thể hiện hàm ngôn là “thái độ” mà trong đó quan điểm tích cực/tiêu cực được thể hiện thông qua nhiều cơ chế đồng hành và hàm ngôn khác nhau (dấu hiệu biểu thái) Các ý nghĩa hàm ẩn khác nhau được thể hiện ở 3 cấp độ: gợi mở (provoke),
ra hiệu (flag), cung cấp (afford)
* Gợi mở: được hiện thực hoá bằng các thủ pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân cách hoá, hoặc các thành ngữ, tục ngữ, chửi thề
* Ra hiệu: được hiện thực hoá bằng - Các yếu tố hiện thực hoá thang độ - Các đại
từ nhân xưng có thái độ tích cực hay tiêu cực trong một ngữ cảnh cụ thể
* Cung cấp: được hiện thực hoá bằng sự lựa chọn có mục đích nghĩa biểu đạt
C Ranh giới giữa các giá trị trong hệ thống “Thái độ”
“Tác động”, “Phán xét hành vi”, “Đánh giá SVHT” tượng đều là nguồn lực thể hiện “Thái độ” Do vậy ở đây chúng tôi muốn làm rõ làm thế nào để phân biệt được ba giá trị này, đặc biệt là phân biệt giữa “Phán xét hành vi” và “Đánh giá SVHT” Theo Martin và White (2005: 58-60), chúng ta dựa vào khung ngữ pháp chức năng hệ thống cùng với xem xét nguồn gốc và mục đích của đánh giá
Trang 34Đối với “Tác động”, khung ngữ pháp là quá trình quan hệ thuộc tính (relational attributive process) và người tham gia liên quan đến động từ feel (cảm thấy):
Tác động:
(ai đó + cảm thấy + tác động)
(một điều làm cho ai đó cảm thấy + tác động + định đề)
Họ cảm thấy yên tâm về việc học của con trai họ
Kết quả thi của con gái làm cho họ cảm thấy hài lòng
Đối với “Phán xét hành vi”, để diễn tả hành vi của ai đó, chúng ta có thể dựa
vào khung ngữ pháp sau:
Yếu tố quan trọng thứ hai trong hệ thống ý nghĩa của khung đánh giá là Thang
độ Nguồn lực này được sử dụng để tạo nên các cấp độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn cho tính tích cực và tiêu cực của các hành động, sự kiện hay nhân vật cần được đánh giá Hệ
thống thang độ gồm “Lực” và “Tiêu điểm”
A Lực
Lực bao gồm hai loại: sự tăng/giảm về “Cường độ”, “Lượng hóa”
Các đánh giá về “Cường độ” có thể vận hành qua chất lượng, quá trình và tình thái từ Trong đó, các đánh giá về “cách thức hành động” thể hiện ý nghĩa của quá trình hành động, cụ thể là sự sâu sắc, nỗ lực, sức mạnh, sự cần mẫn, … của “hành động”, “cảm xúc”, “suy nghĩ” và “lời nói”
Các đánh giá về “Lượng hóa” được áp dụng cho các thực thể, cho chúng ta một
Trang 35sự đo lường về khối lượng (như kích cỡ, trọng lượng, sức mạnh, con số), phạm vi kể
cả thời gian và không gian (được phân bổ rộng đến mức nào, kéo dài bao lâu) và độ gần trong không gian và thời gian (gần cỡ nào, mới (xảy ra) cỡ nào) và tần xuất (mức
độ thường xuyên của hành động, sự việc)
(2) “Đạt được” nhấn mạnh vào sự tăng giảm quá trình bao gồm hai yếu tố “hoàn thành” & “thực chất (actualisation)
1.1.2.4 Giọng điệu (Engagement)
Người nói/ người viết hướng mình vào đối thoại hay tranh luận với những gì người khác đã nói hay có thể nói trước đó Giọng điệu được hiện thực hóa qua các cách diễn đạt được trích từ Martin &White (2005: tr 97-98):
a Từ chối trách nhiệm: vị trí giọng nói văn bản như mâu thuẫn hoặc từ chối
+ Phủ nhận: (ví dụ: Bạn không cần từ bỏ khoai tây để giảm cân.)
+ Phản đối: sự nhượng bộ / kỳ vọng (ví dụ: Mặc dù anh ấy đã ăn khoai tây hầu hết các ngày anh ấy vẫn giảm cân.)
b Tuyên bố: bằng cách thể hiện đề xuất có tính hợp lý cao (hấp dẫn, hợp lệ, hợp
lý, có cơ sở, nói chung là đồng ý, đáng tin cậy, v.v.), giọng văn bản tự đặt ra để chống lại, triệt tiêu hoặc loại trừ:
+ Đồng tình: tự nhiên là, dĩ nhiên là, rõ ràng là, đã thừa nhận là
+ Trang luận: Tôi tranh luận, sự thật của vấn đề là, không thể nghi ngờ rằng… + Chứng thực: X đã chứng minh rằng; Như X đã hiển thị, …
c Tán thành: bằng cách trình bày rõ ràng mệnh đề dựa trên tính chủ quan cá
nhân của riêng mình:
+ Có vẻ như, bằng chứng cho thấy, rõ ràng, tôi nghe thấy
+ Có lẽ, nó có thể, theo quan điểm của tôi, tôi nghi ngờ rằng, tôi tin rằng, , nó gần như chắc chắn rằng Gabriel, có thể / sẽ / phải;
d Bổ sung: bằng cách thể hiện mệnh đề dựa trên tính chủ quan của giọng nói
bên ngoài:
Trang 36+ Xác nhận: X đã nói , X tin rằng, theo X,
+ Khoảng cách: X tuyên bố rằng, nó đã đồn rằng
1.1.3 Về nguồn lực ngôn ngữ đánh giá trong tiếng Việt
1.1.3.1 Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện “Thái độ”
a Hệ thống từ xưng hô:
Người Việt Nam chúng ta có một kho các từ ngữ xưng hô vô cùng phong phú Nguyễn Thị Trung Thành trong bài “Cần phân biệt từ xưng hô với đại từ xưng hô” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống số 3 năm 2007, phân loại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm: đại từ dùng để xưng hô, danh từ chỉ quan hệ họ hàng dùng để xưng hô, danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp Tuy nhiên, các từ xưng hô vốn không đơn thuần chỉ dùng để gọi hoặc xưng mà trong những hoàn cảnh nhất định còn có thể biểu hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối với nhân vật giao tiếp hoặc người được nói tới
1 Đại từ xưng hô là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp : tôi, chúng tôi ; mày, chúng mày ; nó, chúng nó,
2 Bên cạnh các từ nói trên, người Việt Nam còn dùng nhiều danh từ chỉ người làm đại từ xưng hô để thể hiện rõ thứ bậc, tuổi tác, giới tính : ông, bà, anh, chị, em, cháu, thầy, bạn,
3 Khi xưng hô, cần chú ý chọn từ cho lịch sự, thể hiện đúng mối quan hệ giữa mình với người nghe và người được nhắc tới
Mục đích nâng cao năng lực giao tiếp và tư duy càng rõ hơn qua các bài tập thực hành, yêu cầu các em nhận xét về thái độ, tình cảm của nhân vật khi dùng từ xưng hô trong đoạn văn:
Trời mùa thu mát mẻ Trên bờ sông, một con rùa đang cố sức tập chạy Một con thỏ thấy thế liền mỉa mai:
- Đã gọi là chậm như rùa mà cũng đòi tập chạy à! Rùa đáp:
- Anh đừng diễu cợt tôi! Anh với tôi thử chạy thi coi ai hơn! (thể hiện sự tự trọng, lịch sự với thỏ)
Trang 37(tự chỉ mình - ngôi thứ nhât) cho thấy thái độ của Rùa thể hiện sự giao tiếp lịch sự, khiêm tốn, nhã nhặn, bản lĩnh, tự tin
b Từ “được” trong tiếng Việt
+ Đóng vai trò làm tiểu từ khi đứng sau động từ biểu đạt nghĩa có khả năng làm
gì Ví dụ: Từ khi có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người V3.3
+ Đóng vai trò làm động từ biểu đạt ý nghĩa đạt kết quả tốt của hoạt động
Ví dụ: Từ đầu năm học đến giờ, cháu được tám điểm 10 rồi đấy, bà ạ! V6.3
c Tiếng lóng
+ Tiếng lóng là lớp từ hình thành từ nhu cầu sử dụng của một nhóm người xã hội, được dùng để đề cập đến những sự vật, hiện tượng, hành động vốn đã có tên gọi Tiếng lóng là ngôn ngữ kí sinh vào tiếng Việt, có tính chất tạm thời, không trang trọng
+ Tiếng lóng làm tăng tính hiện thực, tăng sức biểu cảm trong văn bản tác phẩm
d Thành ngữ/biến thể thành ngữ:
+ Là cách diễn đạt khái niệm, khái quát các hiện tượng riêng lẻ
+ Sử dụng thành ngữ/biến thể thành ngữ trong văn bản nhằm tăng tính thẩm mĩ, làm uyển chuyển, mềm mại lối diễn đạt
1.1.3.2 Nguồn lực ngôn ngữ thể hiện “Thang độ”
Như chúng ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định Các kiểu cấu tạo
từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ, bao gồm: từ đơn,
từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp Trong phần sau đây chúng tôi trình bày về tiềm năng
thể hiện thang độ đối với từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp
a Từ ghép
- Từ ghép đẳng lập là từ có các thành tố đồng nghĩa hoặc gần nghĩa nhau ví dụ như xinh đẹp hay thương nhớ Trong trường hợp này nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ, nhưng mang ý nghĩa thang độ cao hơn, cụ thể là xinh đẹp làm tăng cường độ phẩm chất xinh/đẹp và thương nhớ làm tăng sức mạnh quá trình thương/nhớ
- Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác
bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa tăng/giảm thang độ Ví dụ, so sánh xanh lè với xanh và xanh mát, …
Trang 38b Từ láy: là từ mà giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm
- Từ láy bộ phận biểu hiện ở sự giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu của các tiếng
- Từ láy hoàn toàn biểu hiện ở lặp lại chính các tiếng
Theo Hoàng Văn Hành (2008), mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên
sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa, tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt Một số ví dụ thể hiện ý nghĩa tăng giảm thang độ đối với từ láy đó là: láy giảm tính chất, trạng thái khi đặt tiếng láy trước ví dụ nhè nhẹ
- giảm thang độ của từ nhẹ, ngược lại láy tăng tính chất trạng thái khi đặt tiếng láy sau
ví dụ nặng nề - tăng thang độ của từ nặng Tăng thang độ đối với láy toàn phần ví dụ ngày ngày – tăng về mức độ tần xuất Nói riêng, những động từ trong tiếng Việt sử dụng rất nhiều hiện tượng láy từ hoặc xen:
Láy: đi đi lại lại, xuống xuống lên lên Xen: quanh đi quẩn lại, bàn qua tán lại Láy + xen: chạy ngược chạy xuôi, nghĩ tới nghĩ lui
c Từ ngẫu hợp: Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp Ðó là
trường hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa Một số từ trong nhóm này cũng mang ý nghĩa tăng/giảm thang độ, ví dụ từ “ba hoa” mang nghĩa nói nhiều, vẻ khoác lác
Ngoài những nét riêng biệt của tiếng Việt về mặt cấu tạo từ, khi phân tích ý nghĩa
từ vựng thể hiện tăng/giảm thang độ cần lưu ý những vấn đề sau:
- Phụ tố chỉ mức độ: rất, quá, lắm (Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản) để phân biệt những động từ có khả năng tăng giảm mức độ như: tin, ngờ với những động từ không có khả năng tăng giảm mức độ như: đánh, ngồi
- Theo Nguyễn Kim Thản (1977), nhóm động từ tình cảm bao gồm: yêu, ghét, giận, kính trọng, v.v và nhóm động từ tri giác: am hiểu, am tường, v.v có thể kết hợp với phụ từ chỉ mức độ như “rất”
- Nhóm từ vựng tự thân không mang nét nghĩa đánh giá, kết hợp với tính từ ở phía sau nếu muốn đánh giá, ví dụ: suy nghĩ chín chắn, nông cạn, nhanh nhạy, chậm chạp, miệt mài, mông lung, cẩn thận, cẩu thả, đúng đắn, sai lệch, v.v, trong đó:
* Tính từ thể hiện mức độ thực hiện hành động được đánh giá cao: suy nghĩ chin chắn, biết rõ
Trang 39* Tính từ thể hiện mức độ thực hiện hành động được đánh giá thấp: suy nghĩ ngu ngốc, ấu trĩ
* Tính từ thể hiện tốc độ, năng lực thực hiện hành động tích cực: suy nghĩ nhanh nhạy
* Tính từ thể hiện tốc độ, năng lực thực hiện hành động hạn chế: suy nghĩ cứng nhắc
* Tính từ thể hiện khả năng tập trung: miệt mài suy nghĩ hay suy nghĩ lan man
* Tính từ thể hiện tính nghiên túc: suy nghĩ kỹ càng, tính toán cẩu thả
* Tính từ thể hiện chân lí/sai lầm: nhận thức đúng đắn hay suy nghĩ lệch lạc
1.2 Khái lược về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
1.2.1 Truyện ngắn
Theo định nghĩa của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: “Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ”
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê – chủ biên): “Truyện ngắn là truyện bằng
văn xuôi, có dung lượng nhỏ, số trang ít, miêu tả một khía cạnh tính cách, một mẩu trong cuộc đời của nhân vật” [26, tr.1054]
Còn theo các sách giáo khoa chính thống hiện nay, truyện ngắn được định nghĩa
là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn thường là những chi tiết cô đúc, có dung lượng nhỏ và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu hết sức thú vị
Như vậy, ta có thể hiểu truyện ngắn là một thể loại văn học thuộc loại hình tự
sự Nó thường là các câu chuyện được kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết
Để thể hiện được đặc trưng hàm súc, ngắn gọn không gì khác là sử dụng yếu
tố hàm ngôn Vì vậy, trong một tác phẩm văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng, bao giờ cũng có hai câu hỏi lớn “nó nói gì?” và “nó như thế nào?” Trả lời cho câu cho câu hỏi thứ nhất thì tác phẩm là một thông báo về một nội dung nào đấy Còn câu hỏi thứ hai lại lệ thuộc vào việc tổ chức ngôn từ cho văn bản truyện ngắn
Văn chương là nghệ thuật ngôn từ Hơn nữa, ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương khác với lời nói thường ở chỗ nó gợi ra một tập hợp không sao kể xiết những ý
Trang 40tưởng tình cảm, những sự giải thích Và điều đó lý giải tại sao nghiên cứu ngôn ngữ văn chương ta không thể bỏ qua các tiềm lực đánh giá, đặc biệt là trong những tác phẩm có dung lượng hạn chế như truyện ngắn Bởi vì, trong khuôn khổ nhất định, nó phải chứa đựng một lượng giá trị nội dung rất lớn, cũng có nghĩa là đòi hỏi người nghệ
sĩ luôn có sự tìm tòi sáng tạo, tạo nên sự phong phú đa dạng cho văn chương thông qua việc sáng tạo và chọn lọc ngôn từ phù hợp Trong nền văn học Việt Nam, rất nhiều nhà văn đã đạt được điều đó nhờ việc sử dụng hàm ngôn, một trong những nhà văn đó có Nguyễn Huy Thiệp
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, quê quán huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Ông vốn xuất thân là giáo viên dạy Lịch sử nhưng sau đó lại trở
thành nhà văn nổi tiếng
Thuở nhỏ, ông đã cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên Năm 1960, gia đình chuyển về quê, định cư ở làng Khương Hạ, Hà Nội Sau khi tốt nghiệp Khoa Sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 1970), ông lên dạy học tại Tây Bắc mười năm Đến năm 1980, Nguyễn Huy Thiệp chuyển về làm việc tại công ty sách thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, sau
đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật Trắc địa Bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu Ông qua đời ngày 20 tháng 3 năm 2021 tại nhà riêng ở phố Bùi Xương Trạch, quận
Thanh Xuân, Hà Nội
Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động Sở trường của ông là truyện ngắn, mảng đề tài đa dạng gồm lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng
quê và những người lao động
Ngoài truyện ngắn, ông còn viết tiểu thuyết (3 tiểu thuyết) kịch (10 vở kịch), thơ (chưa xuất bản tập nào, nhưng xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông) và tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong nước
Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với tập truyện ngắn đầu tay Những ngọn gió Hua Tát, đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986 Lúc bấy giờ, tác giả
đã gây cho người đọc một sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trước sự trình làng của một cây bút đã vào tuổi tứ tuần Và khi tác phẩm thứ hai Tướng về hưu ra đời sau đó một năm (tháng 6 năm 1987), Nguyễn Huy Thiệp được biết đến như là một “hiện tượng văn học” và làn sóng dư luận trở nên xôn xao Đặc biệt không lâu sau đó
chùm truyện Kiếm sắc – Vàng lửa – Phẩm tiết ra mắt bạn đọc (tháng 4 năm 1988)
đã thực sự tạo nên bầu không khí phê bình, tranh luận hết sức sôi nổi, với nhiều ý
kiến đối lập gay gắt
Với sự cách tân mới lạ, vừa xuất hiện trên văn đàn Việt Nam, tác phẩm của