1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và kết quả bổ sung vi chất sắt, kẽm ở trẻ em 1 3 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại một số tỉnh phía bắc (2017 2020)

172 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tình Trạng Dinh Dưỡng Và Kết Quả Bổ Sung Vi Chất Sắt, Kẽm Ở Trẻ 1 – 3 Tuổi Suy Dinh Dưỡng Thấp Còi Tại Một Số Tỉnh Phía Bắc (2017 – 2020)
Tác giả Phan Tiến Hoàng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Quang Dũng, PGS. TS. Trần Thúy Nga
Trường học Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Dinh dưỡng
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 16,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi bổ sung vi chất sắt, kẽm cùng một lúc lên tình trạng vi chất, tăng trưởng ởmột số nghiên cứu cho thấy, tương tác giữa sắt và kẽm đưa ra kết quả trái ngượcnhau về mặt tiêu cực và tích

Trang 1

VIỆN DINH DƯỠNG

PHAN TIẾN HOÀNG

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG

VÀ KẾT QUẢ BỔ SUNG VI CHẤT SẮT, KẼM

Ở TRẺ 1 – 3 TUỔI SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC (2017 – 2020)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: DINH DƯỠNG

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

VIỆN DINH DƯỠNG

PHAN TIẾN HOÀNG

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS NGUYỄN QUANG DŨNG 2 PGS TS TRẦN THÚY NGA

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

Tôi là Phan Tiến Hoàng, nghiên cứu sinh khóa 11, Viện Dinh dưỡng Quốcgia, chuyên ngành dinh dưỡng, xin cam đoan:

1 Đây là luận án do bản thân tôi tham gia triển khai can thiệp, thu thập sốliệu, trực tiếp phân tích kết quả và viết báo cáo dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Nguyễn Quang Dũng – Phó Trưởng Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn vệ sinh thựcphẩm, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội vàPGS.TS Trần Thúy Nga – Khoa Vi chất dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia

2 Số liệu và kết quả nêu trong luận án hoàn toàn chính xác, trung thực vàmột phần đã được tác giả luận án công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành

Hà Nội, ngày … tháng năm 2023

Tác giả luận án

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Lãnh đạo Viện Dinh dưỡng, Trung tâm Đào tạo Dinh dưỡng và Thực phẩm, các Thầy Cô giáo và các Khoa - Phòng liên quan của Viện dinh dưỡng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ, Nguyễn Quang Dũng; Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Thúy Nga, Cô và Thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện luận án.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Lãnh đạo Trung Tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Bình và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành các anh chị, các bạn tham gia điều tra, nghiên cứu, xét nghiệm Trung tâm kiểm soát bệnh tật các tỉnh:

Hà Nam, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, 3 Trung tâm Y tế huyện và 12 Trạm Y tế xã của 3 tỉnh trên đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành nghiên cứu.

Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng chân thành tới Gia đình tôi, những người đã luôn dang rộng vòng tay, tiếp năng lượng, tạo niềm tin và động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án.

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN……… i

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ……… v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT………. viii

ĐẶT VẤN ĐỀ………. 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN………. 4

1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi và vi chất dinh dưỡng ……… 4

1.3 Vi chất dinh dưỡng sắt ……… 10

1.3 Vi chất dinh dưỡng kẽm ……… 12

1.4 Thực trạng thiếu sắt và thiếu kẽm ở trẻ em……… 17

1.5 Tương tác giữa sắt và kẽm và nghiên cứu về hiệu quả của bổ sung vi chất sắt, kẽm……… 22

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…… 37

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu……… 37

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu……… 37

2.1.3 Thời gian nghiên cứu:……… 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 38

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu……… 38

2.2.2 Công thức tính mẫu và cỡ mẫu……… 39

2.2.3 Chọn mẫu……… 41

2.2.4 Sơ đồ nghiên cứu……… 42

2.2.5.Tóm tắt các biến số nghiên cứu……… 43

2.2.6 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá……… 43

2.2.7 Phương pháp thu thập số liệu……… 45

2.2.8 Triển khai nghiên cứu……… 49

2.2.9 Sản xuất sản phẩm bổ sung……… 54

2.2.10 Phân tích số liệu……… 55

2.2.11 Sai số hệ thống và biện pháp khắc phục……… 57

2.2.12 Đạo đức nghiên cứu……… 58

Trang 6

suy dinh dưỡng thấp còi 1-3 tuổi……….

3.2 Kết quả của sử dụng sắt - kẽm phối hợp, sử dụng kẽm riêng rẽ lên

tình trạng thấp còi, nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu kẽm ở

trẻ 1-3 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi sau 6 tháng can thiệp………… 70

4.1 Tình trạng nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm ở trẻ

suy dinh dưỡng thấp còi 1-3 tuổi……… 914.2 Kết quả của sử dụng sắt - kẽm phối hợp, sử dụng kẽm riêng rẽ lên

tình trạng thấp còi, nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu kẽm ở

trẻ 1-3 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi sau 6 tháng can thiệp………… 97

1 Tình trạng nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm ở trẻ suy

dinh dưỡng thể thấp còi 1-3 tuổi……… 120

2 Kết quả của sử dụng sắt - kẽm phối hợp với sử dụng kẽm riêng rẽ ở

của trẻ 1-3 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi sau 6 tháng can thiệp……… 120

KHUYẾN NGHỊ……… 123 DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ

Trang 7

Bảng 3 1 Thứ tự sinh trong gia đình của đối tượng nghiên cứu 61 Bảng 3 2 Trình độ học vấn, nghề nghiệp của mẹ đối tượng nghiên cứu 62 Bảng 3 3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 63 Bảng 3 4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm của đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 64 Bảng 3 5 Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu ở các mức độ 65 Bảng 3 6 Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 66 Bảng 3 7 Tỷ lệ thiếu sắt của đối tượng nghiên cứu theo địa bàn nghiên cứu67 Bảng 3 8 Tình trạng thiếu sắt của đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 67 Bảng 3 9 Tỷ lệ thiếu kẽm của đối tượng nghiên cứu theo giới và tuổi 69 Bảng 3 10 Đặc điểm nhân trắc của đối tượng nghiên cứu thời điểm trước can thiệp 70 Bảng 3 11 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tỉnh và nhóm nghiên cứu tại71 Bảng 3 12 Kết quả thay đổi chỉ số Z-score chiều cao/tuổi của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 72 Bảng 3 13 Kết quả can thiệp thay đổi tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 73 Bảng 3 14 Chỉ số hiệu quả đối với tình trạng SDD thấp còi sau can thiệp 74 Bảng 3 15 Kết quả thay đổi chỉ số Z-score cân nặng/tuổi của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 75 Bảng 3 16 Thay đổi tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân sau can thiệp 76

Trang 8

nhẹ cân sau can thiệp 77 Bảng 3 18 Kết quả thay đổi chỉ số Z-score cân nặng/ chiều cao của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 78 Bảng 3 19 Thay đổi tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm sau can thiệp 79 Bảng 3 20 Chỉ số hiệu quả đối với tình trạng suy dinh dưỡng gầy còm sau can thiệp 80 Bảng 3 21 Thay đổi nồng độ Hb của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 81 Bảng 3 22 Kết quả thay đổi tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu trước

và sau can thiệp 82 Bảng 3 23 Chỉ số hiệu quả can thiệp đối với tình thiếu máu sau can thiệp 83 Bảng 3 24 Thay đổi nồng độ Ferritin huyết thanh của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 84 Bảng 3 25 Thay đổi tỷ lệ thiếu sắt của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 85 Bảng 3 26 Chỉ số hiệu quả can thiệp đối với tình trạng thiếu sắt sau can thiệp 86 Bảng 3 27 Thay đổi nồng độ kẽm huyết thanh của đối tượng nghiên cứu 87 Bảng 3 28 Giảm tỷ lệ thiếu kẽm của đối tượng nghiên cứu sau 6 tháng can thiệp 88 Bảng 3 29 Chỉ số hiệu quả đối với tình trạng thiếu kẽm sau can thiệp 89

Trang 9

Hình 1 1 Diễn biến SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi theo 6 vùng sinh thái

từ năm 2015 – 2020 7

YHình 3 1 Phân bố đối tượng theo giới tính 60

Hình 3 2 Tỷ lệ trẻ có cân nặng sơ sinh ngưỡng 2500g 60

Hình 3 3 Tỷ lệ đối tượng theo trình độ học vấn 61

Hình 3 4 Tỷ lệ Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của đối tượng nghiên cứu 62

Hình 3 5 Tỷ lệ Suy dinh dưỡng thể gầy còm của đối tượng nghiên cứu 64

Hình 3 6 Tỷ lệ thiếu kẽm của đối tượng nghiên cứu 68

Trang 10

AAS Atomic Absorption Spectrophotometric (Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử).ARR Absolute risk reduction (giảm nguy cơ tuyệt đối)

BMI Body mass index (chỉ số khối cơ thể)

DNA Deoxyribonucleic acid (Vật chất di truyền)

EDTA aminopolycarboxylic)Etheylene diaminete Traacetic acid (axit

HAZ Height for age z-score (Chỉ số z-score chiều cao theo tuổi)

UNICEF (Quỹ Nhi đồng lLiên hợp quốc)United Nations International Children's Emergency Fund

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

WAZ Weight-for-Age Z-score (Chỉ số z-score cân nặng theo tuổi)

WHZ chiều cao)Weight-for-Height Z-score (Chỉ số z-score Cân nặng theo

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng (SDD), thiếu vi chất dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý mangtính cộng đồng phổ biến ở các nước đang phát triển Tình trạng tăng trưởng kém ởtrẻ em, trong đó suy dinh dưỡng thể thấp còi là một trong những thách thức y tếcông cộng toàn cầu [152] Trên phạm vi toàn thế giới, có 165 triệu trẻ bị SDD thấpcòi, 52 triệu trẻ bị SDD gầy còm Suy dinh dưỡng trong những năm đầu đời có mốiliên quan tới nguy cơ mắc bệnh, tử vong, thành tích học tập kém, giảm năng suấtlao động, thu nhập kém khi ở tuổi trưởng thành [19], [26], [42] Thiếu vi chất dinhdưỡng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của hơn 50% tổng số ca tử vong ở trẻdưới 5 tuổi trên toàn cầu Khoảng 12% trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi là

do thiếu 4 vi chất dinh dưỡng phổ biến bao gồm sắt, iốt, vitamin A và kẽm [1] Thiếu sắt và kẽm trên toàn cầu là một trong những thiếu hụt vi chất dinhdưỡng phổ biến, phụ nữ và trẻ em là đối tượng nguy cơ thiếu vi chất dinh dưỡngđặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi [9] Ước tính toàn cầu, cứ 5 người thì có 1 người (17%)

có nguy cơ bị thiếu kẽm trong đó châu Á và châu Phi là 2 khu vực có tỷ lệ thiếukẽm cao nhất [1], [19], [56], hơn 1,2 tỷ người thiếu máu do thiếu sắt [156] Tại ViệtNam, theo kết quả điều tra vi chất dinh dưỡng 2019 - 2020 trên toàn quốc cho thấy

tỷ lệ thiếu sắt, thiếu kẽm còn cao Tỷ lệ thiếu sắt của trẻ 6 đến 59 tháng tuổi toànquốc chiếm 53,2% tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ 6-59 tháng tuổi chiếm tỷ lệ 58,0% So vớiđiều tra toàn quốc năm 2015 tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ em 6-59 tháng tuổi giảm đáng kể(từ 69% xuống 58,0%) Tỷ lệ thiếu sắt, thiếu kẽm ở trẻ 6-59 tháng phổ biến tại khuvực nông thôn và miền núi [154] [153]

Nguyên nhân chủ yếu là khẩu phần không đầy đủ, chất lượng khẩu phần kém,giá trị sinh học thực phẩm thấp (do có mặt chất ức chế và tương tác chất dinhdưỡng), tình trạng nhiễm trùng… [51],[57] Sắt và kẽm là những vi chất thiết yếucho sức khỏe [76], [139], [33], [90], [115] Tình trạng sắt, kẽm huyết thanh trong cơthể có mối liên quan tới tăng trưởng, phát triển và bệnh tật của trẻ [99]

Trang 12

Sắt, kẽm là 2 khoáng chất thường có trong các loại thực phẩm có nguồn góc từđộng vật, việc hấp thụ cả hai vi chất dinh dưỡng từ thực phẩm được cho là tăngcường hoặc ức chế tương tự các hợp chất [72] và do đó, sự thiếu hụt cả hai vi chấtdinh dưỡng được cho là xảy ra đồng thời Một số nghiên cứu cho thấy thiếu sắtthường đi kèm thiếu kẽm, thiếu kẽm thường được báo cáo ở những người thiếu sắt

và thiếu máu do thiếu sắt [59] [47] Do đó, cần có bằng chứng để đề ra phương pháp

bổ sung vi chất dinh dưỡng, cải thiện tình trạng thiếu hụt đồng thời 2 vi chất dinhdưỡng sắt kẽm

Sự thiếu hụt sắt và kẽm tạo thành hai trong số các vấn đề dinh dưỡng và sứckhỏe cộng đồng, sự thiếu hụt này tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Kếthợp bổ sung sắt và kẽm là một chiến lược có thể được sử dụng để cải thiện tìnhtrạng sắt và kẽm trong cộng đồng Tuy nhiên, sắt và kẽm có những đặc tính hóa họctương tự nhau, có thể tương tác ảnh hưởng lẫn nhau khi tiến hành bổ sung cùng mộtlúc Do đó có mối lo ngại về sự tương tác tiêu cực tiềm ẩn giữa sắt và kẽm Nhìnchung, bổ sung sắt hoặc kẽm riêng rẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới tình trạngsắt và kẽm của cơ thể, nhưng hiệu quả lên tình trạng bệnh tật chưa được xác định rõ[124]

Khi bổ sung vi chất sắt, kẽm cùng một lúc lên tình trạng vi chất, tăng trưởng ởmột số nghiên cứu cho thấy, tương tác giữa sắt và kẽm đưa ra kết quả trái ngượcnhau về mặt tiêu cực và tích cực [51], [136] [149] Hiệu quả bổ sung sắt - kẽm phốihợp so với bổ sung sắt kẽm riêng rẽ nghiên cứu trên trẻ dưới 5 tuổi không có sựthống nhất [51], [136] Các nghiên cứu nuôi cấy tế bào phát hiện thấy sắt ức chế hấpthu kẽm khi tỷ số sắt:kẽm rất cao, nhưng ở chiều ngược lại thì không thấy hiệntượng này [77]

Đánh giá hiệu quả của bổ sung sắt riêng rẽ, kẽm riêng rẽ lên tình trạng của vichất kia (ví dụ kẽm lên tình trạng sắt, và sắt lên tình trạng kẽm) hoặc bổ sung phốihợp sắt và kẽm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ảnh hưởng tiêu cực (tác dụng phụ) liênquan tới tăng liều bổ sung 1-2 lần so với nhu cầu khuyến nghị [51] Vì vậy, cần có

Trang 13

thêm các thông tin từ các nghiên cứu tương tác bổ sung sắt, kẽm hay tăng cường sắt

và kẽm phối hợp lên tăng trưởng và tình trạng vi chất

Tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi liên quan đến thiếu vi chất kẽmhậu quả làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả cuối cùnggiảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất thườngxảy ra ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi [91]

Với việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp bổ sung vi chất dinh dưỡng phùhợp, phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng sắt và kẽm đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổisuy dinh dưỡng thể thấp còi là rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và kết quả bổ sung vi chất sắt, kẽm ở trẻ em 1-3tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại một số tỉnh phía Bắc (2017- 2020)” Tìm hiểu, bổsung thêm một số kiến thức liên quan đến 2 vi chất sắt và kẽm cung cấp thêm bằngchứng về việc bổ sung riêng rẽ vi chất Kẽm hay Sắt - Kẽm phối hợp lên tình trạngdinh dưỡng, tình trạng vi chất vi chât dinh dưỡng ở trẻ 1- 3 tuổi suy dinh dưỡngthấp còi

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả tỷ lệ nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽm trên trẻ 1-3 tuổisuy dinh dưỡng thấp còi ở một số xã của tỉnh Hà Nam, Vĩnh Phúc, Phú Thọ năm2017

2 Đánh giá kết quả giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt, thiếu kẽmtrên trẻ 1-3 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi ở nhóm bổ sung vi chất kẽm hoặc nhómphối hợp vi chất sắt và kẽm sau 6 tháng can thiệp

Giả thuyết nghiên cứu

1 Bổ sung kẽm hoặc phối hợp sắt, kẽm có hiệu quả đến chỉ số thấp còi, nhẹcân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu kẽm hơn so với nhóm trẻ suy dinhdưỡng thấp còi không được bổ sung trên trẻ 1-3 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi

Trang 14

2 Bổ sung phối hợp sắt, kẽm có hiệu quả hơn bổ sung kẽm đến chỉ số thấpcòi, nhẹ cân, gầy còm, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu kẽm trên trẻ 1-3 tuổi suy dinhdưỡng thấp còi ở nhóm được bổ sung kẽm.

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi và vi chất dinh dưỡng

1.1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi

1.1.1.1 Định nghĩa

Suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi là tình trạng cơ thể kém tăng trưởng và pháttriển Trẻ SDD thấp còi có khẩu phần dinh dưỡng nghèo nàn, thiếu số lượng, kémchất lượng, trẻ hay bị bệnh Ở trẻ em dưới 5 tuổi SDD thể thấp còi được thể hiện ởtình trạng chiều cao của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện

ở chỉ số "chiều cao theo tuổi" (Height for Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2

SD so với chuẩn tăng trưởng, WHO 2006) [81], [101],[144],[113]

Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả cuốicùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính Tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất thường xảy ra

ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [91] Ở mọi nơi trên thế giới tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còicao hơn tỷ lệ hiện mắc SDD thể nhẹ cân Lý do là có những trẻ bị SDD thấp còitrong giai đoạn sớm của cuộc đời, nhưng lại đạt được cân nặng bình thường sau đónhưng vẫn có chiều cao thấp [148]

Khuynh hướng thay đổi gia tăng về chiều cao ở người trưởng thành bắt nguồn

từ 2 năm đầu tiên của cuộc đời chủ yếu thông qua tăng chiều dài chân Thời kỳ này

là thời kỳ tăng trưởng cao nhất sau khi sinh và do đó rất nhạy cảm với các yếu tố bấtlợi Trẻ thấp còi ở thời kỳ này ít có cơ hội đạt chiều cao bình thường khi trưởngthành hoặc đòi hỏi thời gian dài qua nhiều thế hệ [30]

1.1.1.2 Hậu quả Suy dinh dưỡng thấp còi

SDD thấp còi trong những năm đầu đời, đặc biệt trong 1000 ngày đầu đời kể

từ khi mang thai, cho tới khi trẻ được 24 tháng tuổi, gây ảnh hưởng tới tăng trưởng.SDD thấp còi ảnh hưởng tới nhận thức của trẻ, khả năng học tập giảm sút, năngsuất lao động giảm, thu nhập kém hơn ở trẻ bình thường Những trẻ SDD thấp còi

Trang 16

sau này có mức tăng cân quá mức trong thời kỳ niên thiếu sẽ là yếu tố nguy cơ mắccác bệnh mạn tính liên quan tới dinh dưỡng khi ở tuổi trưởng thành [160].

Tăng trưởng kém trong giai đoạn thơ ấu có liên quan tới nguy cơ mắc bệnh,

tử vong, bệnh không lây nhiễm, khả năng học tập và năng suất lao động Tăngtrường kém có mối liên quan chặt chẽ tới phát triển của trẻ như khả năng nhậnthức, ngôn ngữ, cảm giác-vận động Các chiến lược can thiệp phòng chống SDDthấp còi cho trẻ nhỏ giúp trẻ tăng trưởng thể chất, phát triển nhận thức, tinh thần, xãhội, trí tuệ

SDD thấp còi ở trẻ em để lại hậu quả trước mắt và lâu dài, ảnh hưởng tới sứckhỏe và nguồn lực con người Trẻ SDD thấp còi thường chậm lớn, tăng nguy cơmắc bệnh nhiễm trùng, tử vong, chậm phát triển trí tuệ và vận động, khả năng họctập, thành tích học tập kém Khi ở tuổi trưởng thành, những trẻ SDD thấp còi sẽ lànhững người có năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, nếu là trẻ gái thì sức khỏesinh sản kém, nguy cơ cao mắc bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch [112],[160]

1.1.1.3 Thực trạng SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới và Việt Nam

Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi trên thế giới

Tình trạng SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi những năm gần đây trên toàn thếgiới đã được cải thiện, tuy nhiên tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ vẫn còn khá cao, phổbiến ở những nước chậm và đang phát triển Theo báo cáo của UNICEF năm 2013cho thấy, có khoảng 165 triệu trẻ em trên toàn cầu, chiếm trên ¼ (một phần tư) trẻ

em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi [145] Số trẻ dưới 5 tuổi tử vong hàng năm tuy đãgiảm so với những năm 1990 nhưng vẫn còn cao (xấp xỉ 7 triệu trẻ em) trong đó cókhoảng 2,3 triệu trẻ chết vì những nguyên nhân liên quan đến SDD [147] Báo cáocủa WHO cũng cho thấy, năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệu trẻ em bị SDD thấpcòi, chiếm khoảng 23% tổng số trẻ dưới 5 tuổi Nhiều báo cáo cho thấy số trẻ dưới 5tuổi bị SDD thấp còi còn cao, tỷ lệ phân bố trẻ SDD thấp còi ở các khu vực trên thế

Trang 17

giới không đều [145], [16], [146].

Các dữ liệu phân tích cho thấy SDD thấp còi vẫn là một vấn đề y tế côngcộng quan trọng của nhiều nước đặc biệt ở các nước chậm và đang phát triển SDDthấp còi cản trở sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ Thêm vào đó, nó cũngảnh hưởng lớn đến sự sống còn của trẻ Các báo cáo của UNICEF và WHO đều chobiết, số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn rất cao trên thế giới, gánh nặng củaSDD thấp còi phân bố không đồng đều, phổ biến ở 2 châu lục là châu Phi và châu

Á Theo báo cáo của UNICEF năm 2013 cho biết, khu vực Sub-Saharan của châuPhi và Nam Á chiếm khoảng ¾ tổng số trẻ em thấp còi trên toàn thế giới Khu vựccận Sahara của châu Phi có khoảng 40% phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và

ở Nam Á, con số này là 39%

Thực trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ở Việt Nam

Ở Việt Nam tình trạng SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi là một trong nhữngthách thức đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội SDD thể thấpcòi để lại hậu quả trước mắt và lâu dài và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và nguồnlực của đất nước Trong những năm qua, Việt Nam có nhiều cố gắng cải thiện tìnhtrạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi và được đánh giá là quốc gia thành công trong việcgiảm nhanh tỷ lệ SDD trẻ em nói chung và SDD thể thấp còi nói riêng Theo tổchức Y tế Thế giới, tình trạng SDD thể thấp còi hiện vẫn còn ở mức cao [154][153]

Theo số liệu Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020, Tình trạng SDD thấpcòi trong những năm qua được cải thiện Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5tuổi từ 24,6% năm 2015 xuống còn 19,6 % năm 2020 , tuy vậy hiện vẫn ở mứctrung bình theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO

Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi ở

6 vùng sinh thái có sự chênh lệch đáng kể

Trang 18

Bảng 1 1 Diễn biến SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi theo 6 vùng sinh thái từ năm 2015 – 2020

3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 27,1 17,4

Nguồn: Tổng điều tra dinh dưỡng 2019 – 2020, Viện Dinh dưỡng

Hình 1.1 cho thấy diễn biến SDD thấp còi theo vùng sinh thái từ năm 2015 đếnnăm 2020 còn cao nhưng cao nhất ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc

Mức độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi đáng kể ở cả khu vực thành thị và nông thôn.Tuy nhiên, tỷ lệ SDD thấp còi giảm rất chậm ở khu vực miền núi và vẫn ở mức cao(38% năm 2020)

1.1.2 Khái niệm về vi chất dinh dưỡng

1.1.2.1 Định nghĩa

Vi chất dinh dưỡng (VCDD) là những chất dinh dưỡng mà cơ thể chỉ cần vớimột lượng rất nhỏ nhưng vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của

cơ thể, nếu thiếu sẽ gây tác hại to lớn

Được gọi là vi chất dinh dưỡng vì chúng chỉ cần với số lượng rất nhỏ nhưngrất cần thiết cho cơ thể, tham gia vào các quá trình sản xuất enzyme, hormone vàcác chất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển Tuy cơ thể người và động vậtcần các vi chất dinh dưỡng với một hàm lượng rất nhỏ nhưng thiếu vi chất dinhdưỡng gây hậu quả nghiêm trọng đối với cơ thể Bốn vi chất Iốt, vitamin A, Sắt vàKẽm là nhóm vi chất dinh dưỡng thiếu hụt phổ biến trên thế giới nói chung và phổ

Trang 19

biến tập trung ở các nước chậm và đang phát triển Thiếu hụt 4 vi chất dinh dưỡngtrên là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và sự phát triển của dân số trên toàn thếgiới, đặc biệt là đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước thu nhập thấp [112].

1.1.2.3 Chất khoáng

Chất khoáng là những chất dinh dưỡng vô cơ, có vai trò quan trọng với sứckhỏe, các chất khoáng vi lượng (vết) bao gồm: đồng, I ốt, sắt, mangan, selen, kẽm,các chất khoáng đa lượng bao gồm: canxi, magie, kali, natri Không thực phẩm nàochứa đủ các vitamin, chất khoáng Vì vậy, chế độ ăn cần đa dạng, cân đối, đầy đủ.Chất khoáng chỉ có 1 lượng nhỏ trong cơ thể và phải được cung cấp từ thực phẩm[141]

Chất khoáng là một nhóm các chất dinh dưỡng cần thiết, không sinh nănglượng, nhưng có vai trò trong nhiều chức phận quan trọng của cơ thể Chất khoángthường ở dạng rắn, là chất vô cơ Cơ thể có khoảng 60 nguyên tố hóa học trongbảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev Dựa theo nhu cầu hàng ngày, chất khoángđược phân thành 2 nhóm: chất khoáng đa lượng và chất khoáng vi lượng Chấtkhoáng đa lượng là loại chất khoáng có nhu cầu hàng ngày lớn hơn 100 mg, ví dụcanxi, phospho, magie, natri, kali, clo, sulfur Chất khoáng vi lượng, còn gọi là yếu

tố vết, là loại chất khoáng có nhu cầu hàng ngày nhỏ hơn 100 mg, ví dụ sắt, kẽm,

đồng, bạc, mangan, selen [141]

Cơ thể cần lượng chất khoáng đa lượng nhiều hơn so với chất khoáng vilượng để thực hiện các chức năng của cơ thể Chất khoáng vi lượng cần với lượng

Trang 20

nhỏ, ít hơn so với chất khoáng đa lượng, nhưng cũng đóng vai trò rất quan trọngđối với cơ thể

1.2 Vi chất dinh dưỡng sắt

1.2.1 Phân bố sắt trong cơ thể

Sắt là một trong những chất khoáng vi lượng được tập trung nghiên cứu nhiềunhất Mặc dù chỉ có một lượng rất nhỏ trong cơ thể, nhưng sắt lại rất cần thiết với

sự sống, là thành phần của máu và các chất xúc tác của các phản ứng trong cơ thể.Transferrin gắn 2 phân tử sắt hóa trị 2, vận chuyển sắt tới nơi lưu trữ (thường làgan) và tới nơi sử dụng (tủy xương) Cơ thể người trưởng thành có từ 3 tới 5 gramsắt, xấp xỉ 50 mg sắt/1kg cân nặng, tùy thuộc vào tuổi, giới tính, tình trạng dinhdưỡng, sức khỏe Trong số đó, phần lớn chất sắt trong cơ thể nằm tronghemoglobin hay sắc tố của hồng cầu, chiếm tới 70% tổng lượng sắt cơ thể, 20%lượng sắt được dự trữ dưới dạng ferritin và haemosiderin ở gan, 5% lượng chất sắtnằm trong một loại hemoglobin khác ở bắp thịt gọi là myoglobin, 5% lượng chấtsắt còn lại được gắn với các enzym (cytochrome, catalase, peroxidase,flavoprotein) Một lượng sắt rất nhỏ khác gắn với 1 loại protein vận chuyển làtransferrin, chiếm 0,1% Ngoài ra, còn một lượng rất nhỏ (khoảng 5 mg) chất sắtđược tìm thấy trong huyết thanh Đời sống của hồng cầu khoảng 120 ngày, nhưnglượng sắt được giải phóng không bị đào thải, mà phần lớn được dùng lại để tái tạohuyết sắc tố [53]

Myoglobin chỉ có ở cơ vân, có tác dụng là nơi dự trữ ô xy, chúng kết hợp vớicác chất dinh dưỡng để giải phóng năng lượng cho hoạt động cơ bắp Myoglobinđược xem như là hemoglobin của bắp thịt, chỉ có một nhân protoporphyrin nghĩa làchỉ có một nguyên tử sắt thay vì 4 nguyên tử sắt như phân tử hemoglobin Khoảng5-10% lượng sắt trong cơ thể được tìm thấy trong các enzym tham gia các phảnứng trong chuỗi hô hấp tế bào của cơ thể, ví dụ enzym cytochrome oxidase Mộtlượng chất sắt chiếm khoảng 20% tổng lượng sắt cơ thể được tìm thấy trong gan, lálách, tủy xương Ngoài ra, còn một lượng rất nhỏ (khoảng 5 mg) chất sắt được tìmthấy trong huyết thanh

Trang 21

1.2.2 Cân bằng sắt

Sắt mất đi qua đường ruột, đường tiêu hóa, da, tóc, chảy máu Lượng sắt mất

đi khoảng 1 mg/ngày ở nam giới và 1,3-1,4 mg/ngày ở phụ nữ tiền mãn kinh, domất sắt theo chu kỳ kinh nguyệt Lượng sắt mất mát này được bù lại bằng chế độ

ăn, do đó giúp duy trì cân bằng sắt của cơ thể Có 3 cơ chế duy trì cân bằng sắt làtái sử dụng liên tục sắt giải phóng từ hồng cầu già; điều hòa hấp thu sắt tại ruột; sửdụng sắt tại kho lưu giữ như ferritin ở gan [53]

Sắt là thành phần cấu tạo của một số loại protein và enzyme, có vai trò trongquá trình giải phóng năng lượng khi oxy hóa các chất dinh dưỡng và năng lượng

Hỗ trợ hệ thống miễn dịch và cần thiết cho hoạt động của hệ thần kinh

1.2.4 Nhu cầu sắt

Nguyên tắc tính nhu cầu sắt khuyến nghị dựa vào 2 đặc điểm chính là khảnăng hấp thu và lượng sắt mất đi trung bình hàng ngày Giả sử ở người trưởngthành, lượng sắt mất đi trung bình 1 mg/ngày đối với nam giới và 1,7 mg/ngày đốivới nữ giới; với chế độ ăn nhiều thịt, gia cầm, cá, vitamin C, tức là khả năng hấpthu sắt đạt cao: 15%, thì nhu cầu sắt khuyến nghị với nam giới là 6,7 mg/ngày và

nữ giới là 11,4 mg/ngày [53]

Ngoài lượng sắt mất đi trung bình hàng ngày, ở trẻ dưới 1 tuổi và trẻ vị thànhniên, sắt cần cho sự tăng trưởng các mô và cơ quan và tăng cao nồng độhemoglobin; ở phụ nữ thời kỳ có kinh nguyệt, sắt cũng mất đi 1 lượng đáng kể.Trong vòng 1 năm đầu, lượng sắt cơ thể của trẻ tăng gấp đôi; giai đoạn từ 1 tới 6

Trang 22

tuổi, lượng sắt cơ thể một lần nữa lại tăng gấp đôi Chính vì vậy, với những đốitượng này, nhu cầu sắt khuyến nghị cần được đảm bảo cung cấp đủ.

1.2.5 Nguồn thực phẩm chứa sắt

Sắt từ thực phẩm có 2 dạng là sắt HEM và sắt không HEM Sắt HEM có trongthịt và chế phẩm từ thịt do chứa nhiều 2 loại protein mang HEM là hemoglobin vàmyoglobin Sắt không HEM có trong ngũ cốc, rau, đậu đỗ, trái cây Sắt HEM làdạng có giá trị sinh học tốt hơn sắt không HEM Sắt HEM được hấp thu khoảng 20-30%, sắt không HEM được hấp thu khoảng 1-10% Những chất làm tăng cườngkhả năng hấp thu sắt không HEM là vitamin C, acid citric Chất làm ức chế khảnăng hấp thu sắt không HEM là phytate, có nhiều trong các loại ngũ cốc Các hợpchất polyphenolic có trong thực phẩm nguồn gốc thực vật như tanin có trong chè,rượu vang đỏ cũng là chất làm ức chế khả năng hấp thu sắt không HEM

1.2.6 Hậu quả của thiếu sắt

Thiếu sắt ảnh hưởng tới sự vận chuyển ô xy đến các mô cơ thể, dự trữ ô xy ở

cơ vân giảm sút, người mau mệt mỏi, kém tập trung, trí nhớ kém, hay quên Thiếusắt dẫn tới thiếu máu, khả năng vận chuyển ô xy của hồng cầu giảm dẫn tới thiếu ô

xy ở các tổ chức như tim, cơ bắp, não gây hiện tượng tim đập nhanh, trẻ nhỏ có thể

bị suy tim do thiếu máu Các biểu hiện có thể gặp là hoa mắt, chóng mặt do thiếu ô

xy não, cơ bắp yếu làm cơ thể mệt mỏi Ở trẻ đi học, thiếu máu làm cho trẻ mệtmỏi, hay ngủ gật, thiếu tập trung trong giờ học dẫn đến học tập sút kém Biểu hiệncủa thiếu máu thiếu sắt là da xanh, niêm mạc nhợt (niêm mạc mắt và môi), móngtay móng chân nhợt nhạt, móng tay dễ gẫy, tóc khô, cứng, dễ gãy Trẻ thiếu máuthường biếng ăn, chậm lớn Thiếu sắt ảnh hưởng tới tế bào não, tới chỉ số phát triểntâm thần-vận động, làm cho trí thông mình giảm sút, khả năng vận động chậmchạp

1.2.7 Đối tượng nguy cơ bị thiếu sắt

Đối tượng nguy cơ cao bị thiếu máu thiếu sắt là trẻ em, phụ nữ tuổi sinh đẻ,đặc biệt phụ nữ mang thai và bà mẹ cho con bú Nguyên nhân gây bệnh là do

Trang 23

nguồn thực phẩm cung cấp chất sắt bị thiếu, khả năng hấp thu sắt kém, bị mất chấtsắt do nhiễm giun móc, xuất huyết đường tiêu hóa, mất qua kinh nguyệt, hoặc nhucầu của cơ thể tăng cao trong một số giai đoạn tăng trưởng nhanh và hồi phục saukhi bị bệnh.

1.3 Vi chất dinh dưỡng kẽm

Kẽm là một trong những chất khoáng cần thiết cho cơ thể do nó có vai tròtrong hoạt động của hàng trăm enzym [117] Kẽm phân bố ở mọi cơ quan trong cơthể như não, cơ, xương, gan, thận, đặc biệt một lượng lớn kẽm có trong tiền liệttuyến, và một phần mắt [14], [118] Kẽm có vai trò quan trọng trong sinh sản, điềuhòa miễn dịch, tăng trưởng, phát triển Thiếu kẽm là vấn đề sức khỏe lần đầu tiênđược quan tâm phát hiện từ năm 1961 [116] Kể từ đó đến nay, kẽm là một trongnhững vi chất được quan tâm nghiên cứu Người ta ước tính có khoảng một phần badân số sống tại các nước với tỷ lệ thiếu kẽm cao [23] Trẻ nhỏ, trẻ em, phụ nữ cóthai, bà mẹ cho con bú là đối tượng nguy cơ cao thiếu kẽm do nhu cầu tăng cao,cần cho tăng trưởng và các giai đoạn thay đổi sinh lý cơ thể Có tới 82% phụ nữmang thai toàn cầu có khẩu phần kẽm không đủ đáp ứng nhu cầu khi mang thai[27] ở trẻ em ước tính thiếu kẽm có liên quan tới 4% số ca tử vong và số năm tàntật hiệu chỉnh ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước thu nhập thấp [27] Bổ sung kẽm cómối liên quan giảm tỷ lệ tử vong do ỉa chảy và viêm phổi [165]

1.3.1 Phân bố kẽm trong cơ thể

Cơ thể người trưởng thành chứa 2-3 g kẽm, chủ yếu ở trong tế bào Có 0,1%lượng kẽm tìm thấy trong huyết tương Có 60% lượng kẽm nằm ở cơ vân, 30% ởxương, 10% ở răng, tóc, móng, da, gan, bạch cầu, cầu, tiền liệt tuyến, tinh trùng,tinh hoàn [53]

1.3.2 Vai trò của kẽm

Kẽm giúp tăng cường chức năng miễn dịch, do tham gia vào xây dựng cấutrúc da, niêm mạc Kẽm là thành phần của chất nhày trong hệ thống hô hấp, họng,giúp chống vi khuẩn, virus Kẽm còn có trong nước bọt, niệm mạc đường tiêu hóa

Trang 24

Thiếu kẽm có liên quan tới tăng nguy cơ tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp cấptính Ngoài ra, kẽm giúp sản xuất bạch cầu, hoạt hóa lympho B, lympho T [141].Kẽm bảo vệ tế bào khỏi các tổn thương ô xy hóa, do kẽm là thành phần củamột chất có tên là Superoxide Dismutase (chất chống ô xy hóa), giúp gắn với cácđộc tố và loại khỏi cơ thể

Kẽm tham gia sản xuất hormon vùng dưới đồi TRH, hormon T3, T4 Kẽm làthành phần để sản xuất collagen, phosphatase kiềm, giúp hình thành xương Kẽmcòn là nguyên liệu để sản xuất hormon calcitonin, có tác dụng ức chế phân hủyxương Kẽm giúp tăng tổng hợp protein, phân chia tế bào, làm nhanh lành vếtthương Khi thiếu kẽm, khả năng phân chia tế bào bị ảnh hưởng, nên khả năng tăngtrưởng bị hạn chế Vì vậy, thiếu kẽm làm chậm tăng trưởng chiều cao, phát triểnxương kém, chức năng sinh dục suy giảm

Kẽm duy trì, bảo vệ tế bào vị giác, khứu giác Trẻ thiếu kẽm sẽ bị biếng ăn,lâu dài dẫn tới SDD, nhất là SDD thấp còi

Vai trò miễn dịch

Kẽm có vai trò tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể Trước hết, kẽmtham gia vào tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại bệnh tật hay hàng rào vật lý như

da và niêm mạc các bộ phần cơ thể Kẽm có trong chất nhày của hệ thống hô hấp,

bề mặt phổi và họng, có tác dụng chống vi khuẩn, virus Tuyến nước bọt và niêmmạc hệ thống tiêu hóa cũng bài tiết kẽm để tiêu diệt tác nhân gây bệnh Thiếu kẽmlàm tăng nguy cơ tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính

Không chỉ hỗ trợ hàng rào vật lý giúp cơ thể phòng chống bệnh tật, kẽm còntham gia sản xuất tế bào bạch cầu, hoạt hóa tế bào lympho B và lympho T để chốnglại vi khuẩn và virus

Chống ô xy hóa

Kẽm bảo vệ tế bào khỏi các tổn thương ô xy hóa do sắt và đồng gây ra kẽm làthành phần của chất chống ô xy hóa trong cơ thể có tên gọi là superoxideDismutase, được gan sử dụng để gắn với các độc tố và loại bỏ khỏi cơ thể

Trang 25

Tăng trưởng

Kẽm tham gia vào thành phần hormon vùng dưới đồi TRH, phát tín hiệu đểtuyến giáp sản xuất hormon giáp trạng T3 và T4 Các enzym trong cơ thể sử dụngkẽm để sản xuất collagen và phosphatase kiềm, 2 yếu tố quan trọng cho hình thànhxương Kẽm được dùng để sản xuất hormon calcitonin có tác dụng ức chế phân hủyxương Kẽm giúp làm tăng tổng hợp protein, phân chia tế bào, mau làm lành vếtthương Thiếu kẽm thì khả năng phân chia tế bào khó xảy ra nên ảnh hưởng tới sựtăng trưởng Chính vì vậy, thiếu kẽm làm chậm phát triển chiều cao, rối loạn pháttriển xương, chậm dậy thì, giảm chức năng sinh dục

Ăn ngon miệng

Kẽm giúp duy trì và bảo vệ tế bào vị giác và khứu giác Thiếu kẽm làm ảnhhưởng tới chuyển hóa của các tế bào vị giác, gây biếng ăn, nếu kéo dài sẽ làm trẻ bịsuy dinh dưỡng

1.3.3 Nhu cầu kẽm

Kẽm đào thải khỏi cơ thể qua thận, da, ruột Lượng kẽm đảo thải qua đườngruột khoảng 0,5 mg – 3 mg /ngày, qua da và nước tiểu: 0,5-0,7 mg/ngày Trung bìnhngười trưởng thành tại các nước châu Âu ăn 10-12 mg kẽm mỗi ngày Lượng kẽm ởnam mất đi 2,2 mg/ngày và nữ mất đi 1,6 mg/ngày Khả năng hấp thu kẽm đạt 30%,nhu cầu kẽm của nam là 9,5 mg/ngày và nữ là 7 mg/ngày Nhu cầu kẽm của phụ nữ

có thai, bà mẹ cho con bú tăng cao hơn phụ nữ bình thường, nhu cầu kẽm của trẻ vịthành niên cao hơn so với trẻ ít tuổi hơn Dưới đây là bảng Nhu cầu khuyến nghịkẽm ở trẻ em dưới 10 tuổi) [79]

Bảng 1 1 Nhu cầu khuyến nghị kẽm ở trẻ em dưới 10 tuổi (mg/ngày) [79]

Nhóm tuổi

RDA

Mức hấp Mức hấp Mức Mức Mức Mức

Trang 26

thu kém thu vừa hấp thu

tốt

hấp thu kém

hấp thu vừa

hấp thu tốt

a Trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn; b Trẻ ăn sữa công thức và trẻ bú mẹ một phần hoặc

ăn bổ sung có ít phytat với dung dịch sữa khác;c Trẻ ăn sữa công thức, thức ăn bổsung có nhiều phytat và protein nguồn thực vật; d không áp dụng cho trẻ bú sữa mẹhoàn toàn

1.3.4 Nguyên nhân thiếu kẽm

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thiếu kẽm, bao gồm khẩu phần không đủ, giátrị sinh học của kẽm thấp: do nhiều chất xơ, phytat, giảm hấp thu, tăng nhu cầu, vàmất kẽm quá mức: bỏng Các nguyên nhân nói trên tác động tới việc hấp thu kẽm ởruột sự hấp thu kẽm tại đây gây ảnh hưởng tới 1) khả năng sinh sản: tổng hợp LH

và FsH; hình thành prostaglandin; trưởng thành tinh trùng; 2) Tăng trưởng: tổnghợp collagen, osteocalcin; biệt hóa chondrocyte, nguyên bào xương, nguyên bàosợi; 3) Miễn dịch: Trưởng thành và hoạt động tế bào T, đại thực bào, tế bào tiêudiệt tự nhiên (Nk cells); 4) Giảm thời gian và mức độ ỉa chảy, lỵ, viêm phổi, cảmlạnh thông thường ở trẻ em

Khẩu phần không đủ dẫn tới thiếu kẽm bao gồm: 1) Chế độ ăn nghèo kẽm:Thức ăn có ít thức ăn động vật (người ăn chay); 2) Mất kẽm trong quá trình chế

Trang 27

biến; 3) Nuôi dưỡng kéo dài qua đường tĩnh mạch, ống thông; 4) Khẩu phần dinhdưỡng thiếu Tình trạng kém hấp thu kẽm gặp trong 2 tình huống: 1) Bẩm sinh doviêm da cơ địa; 2) Mắc phải sử dụng chất ức chế hấp thu: phytate, chất xơ; Hộichứng kém hấp thu: giảm chức năng gan, tụy, viêm ruột, hội chứng ruột ngắn;thuốc, chất tạo phức: EDTA (Etheylene diaminete Traacetic acid), penicillamine.Thiếu kẽm còn do mất kẽm qua dịch cơ thể như dịch tiêu hóa do ia chảy, rò ruột,bệnh dạ dày ruột gây ỉa chảy; do tăng bài tiết qua nước tiểu gặp trong các bệnh: xơgan, đái tháo đường, bệnh thận, thiếu máu tan máu, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch,

dị hóa (phẫu thuật, chấn thương, nhiễm trùng), thuốc lợi tiểu Cuối cùng thiếu kẽmcòn do tăng nhu cầu: có thai, trẻ sơ sinh đẻ non, tăng đồng hóa

1.3.6 Hậu quả của thiếu kẽm

Thiếu kẽm ảnh hưởng tới da và đường tiêu hóa, não, hệ thống thần kinh trungương, hệ miễn dịch, xương, sinh sản Thiếu kẽm mức độ nặng gây rụng tóc, gây hóiđầu

Thiếu kẽm mức độ nặng ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, suy giảm chức năngmiễn dịch, viêm da, vết thương lâu lành, rụng tóc, thai kém phát triển, quái thai,chậm phát triển sinh dục, thiểu năng sinh dục, chán ăn, rối loạn nhận thức Thiếukẽm mức độ nhẹ tới vừa làm tăng nguy cơ nhiễm trùng [92] Do đó, thiếu kẽm làyếu tố nguy cơ dẫn tới ỉa chảy, viêm phổi, sốt rét [50] Thiếu kẽm ở trẻ dưới 5 tuổilàm tăng nguy cơ ỉa chảy 1,28 lần, tăng nguy cơ viêm phổi 1,52 lần, tăng nguy cơsốt rét 1,56 lần Thiếu kẽm có liên quan tới 780 ngàn trường hợp tử vong ở trẻ dưới

5 tuổi hàng năm do ỉa chảy, viêm phổi và sốt rét [29] Dưới đây trình bày số ca tửvong hàng năm của trẻ dưới 5 tuổi liên quan tới thiếu kẽm

1.3.7 Đối tượng nguy cơ thiếu kẽm

Do vai trò chính của kẽm là tham gia vào quá trình phân chia tế bào, tổng hợpprotein, tăng trưởng cơ thể, nên trẻ nhỏ, trẻ em, trẻ vị thành niên, phụ nữ mang thai

là đối tượng có nguy cơ cao khẩu phần thiếu kẽm, dẫn tới thiếu kẽm huyết thanh.Những người nghiện rượu cũng là đối tượng có nguy cơ bị thiếu kẽm Trẻ SDD

Trang 28

thấp còi thường có tình trạng thiếu kẽm, những trẻ nhẹ cân sẽ tăng cân nhanh saukhi được bổ sung kẽm [132]

1.4 Thực trạng thiếu sắt và thiếu kẽm ở trẻ em

1.4.1 Thiếu sắt

Trên thế giới: Thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu vi chất phổ biến nhất trên toàn

cầu, có khoảng 50% các trường hợp thiếu máu là do thiếu sắt [41] Tỷ lệ thiếu máuthiếu sắt xảy ra ở các nước phát triển và đang phát triển, nhưng có xu hướng caohơn ở các nước đang phát triển Tại khu vực Đông Nam Á, WHO ước tính có65,5% trẻ trước tuổi học đường bị thiếu máu, 48,2% phụ nữ mang thai, và 45,7%phụ nữ không mang thai bị thiếu máu, làm tăng nguy cơ thiếu máu của trẻ sơ sinhsau này Đây là nơi mà tỷ lệ thiếu máu của cộng đồng cao nhất trên thế giới

Có hơn 1,6 tỷ người, gần 1 phần 4 dân số thế giới bị thiếu máu Mặc dù có sựcải thiện đáng kể về kinh tế, khoa học trong những thập kỷ gần đây, nhưng người tathấy rằng tỷ lệ thiếu máu toàn cầu giảm đi không đáng kể [13] Theo WHO ướctính, trên phạm vi toàn cầu có 42% phụ nữ mang thai, 30% phụ nữ không mang thai(15-50 tuổi), 47% trẻ tiền học đường (0-5 tuổi) bị thiếu máu

Theo ước tính của WHO năm 2004, thiếu máu thiếu sắt liên quan tới 273.000

ca tử vong : 45% ở đông Nam Á, 31% ở châu Phi, 9% ở Đông địa trung hải, 7% ởchâu Mỹ, 4% ở Tây Thái Bình Dương, 3% ở châu Âu, với 97% số ca tử vong là ởcác nước kém phát triển và đang phát triển [164] Thiếu máu thiếu sắt làm mất 19,7triệu số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật: 40% ở đông Nam Á, 25% ở châuPhi, 17% ở Tây Thái Bình Dương, với 97% gặp ở các nước kém và đang phát triển[93] Thiệt hại kinh tế do thiếu máu thiếu sắt gây ra ở 10 nước đang phát triển ướctính là 16,78 USD đầu người, chiếm 4% GDP [69]

Thiếu máu là tình trạng thiếu tế bào hồng cầu hoặc Hemoglobin, dẫn tới giảmkhả năng vận chuyển ô xy của máu Thiếu máu là do sự mất cân bằng sắt trong thờigian dài, dẫn tới sự thiếu hụt dự trữ sắt cơ thể sắt là chất khoáng cần thiết để sảnxuất tế bào hồng cầu Vì vậy, chế độ ăn thiếu sắt làm giảm sản xuất Hemoglobin, từ

Trang 29

đó giảm sản xuất tế bào hồng cầu Thiếu máu ngoài nguyên nhân thiếu sắt, còn domất máu do chấn thương, chảy máu sau khi sinh, nhiễm ký sinh trùng, sốt rét, rốiloạn hemoglobin bẩm sinh [96].

Có một vài yếu tố nguy cơ gây thiếu máu thiếu sắt, dẫn tới sự phân bố khácnhau về tỷ lệ thiếu máu trên thế giới, phổ biến nhất ở các nước đang phát triển khuvực châu Phi và châu Á [10] Yếu tố nguy cơ phổ biến nhất dẫn tới thiếu máu thiếusắt là: đói nghèo [10], thực phẩm địa phương như gạo với sắt có giá trị sinh họcthấp [89], bệnh huyết sắc tố di truyền [54], giới tính nữ có nguy cơ thiếu máu caohơn nam giới, trình độ học vấn bố mẹ thấp, mẹ bị thiếu máu, mất an ninh lươngthực Có thể thấy nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt là đa yếu tố, bao gồm yếu tố xãhội, sinh thái, sinh học, kinh tế xã hội đều có tác động tới thiếu máu thiếu sắt Quanhiều kết quả nghiên cứu, đói nghèo là yếu tố quan trọng hơn cả

Tại Mỹ, ước tính có 2,7% trẻ từ 1-2 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt [60] Trongmột bài tổng quan từ 44 nghiên cứu tại 19 nước châu Âu, các tác giả cho thấy, có 2-25% trẻ 6-12 tháng tuổi bị thiếu sắt, với tỷ lệ thiếu sắt cao hơn ở nhóm có điều kiệnkinh tế xã hội khó khăn, uống sữa bò trong năm đầu tiên Ở trẻ 12-36 tháng tuổi, tỷ

lệ thiếu sắt dao động từ 3% tới 48%, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt (IDA) ở cả 2 nhómtuổi lên tới 50% ở các nước Đông Âu, nhưng chỉ dưới 5% ở các nước Tây Âu [48].Trong khi đó, tại các nước thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ thiếu sắt ở trẻ trướctuổi học đường lên tới 40% [7]

Ở Việt Nam:

Theo số liệu điều tra vi chất dinh dưỡng năm 2019 - 2020 về tỷ lệ thiếu máucủa trẻ 6 đến 59 tháng tuổi còn cao Tỷ lệ thiếu máu chung của toàn quốc chiếm16,9 % Thiếu máu ở lứa tuổi 6-24 tháng tuổi chiếm tỷ lệ rất lớn ở vùng miền núi(chiếm tỷ lệ 45,3%) vùng thành thị và nông thôn lứa tuổi 6-24 háng tuổi còn cao(29,3% và 28,5%) Xếp theo vùng sinh thái cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếumáu chiếm tỷ lệ như sau: vùng đồng bằng sông Cửu Long 17,3%, vùng đông Nam

Bộ 16,9%, vùng Tây Nguyên 26,3%, vùng Băc Trung Bộ và Duyên Hải Miền

Trang 30

Trung 18,6% vùng Trung Du và miền núi phía Bắc 23,4% và vùng đồng bằng sôngHồng 16,2% Trong đó cao nhất vùng Tây Nguyên và tiếp theo vùng Trung du vàmiền núi phía bắc có tỷ lệ thiếu máu cao thứ 2 hai vùng này tình trạng thiếu máucòn có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trung bình theo đánh giá của WHO Nhìnchung, tỷ lệ thiếu máu của trẻ 6 đến 60 tháng tuổi của toàn quốc có xu hướng giảm

từ 27,8% năm 2015 xuống 19,6% năm 2020 [154]

Thiếu sắt có liên quan đến thiếu máu, thiếu sắt thường chiếm mội phần haicủa tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng Theo điều tra tình trạng vi chất dinh dưỡng năm2019-2020 cho thấy thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em 6 -59 tháng tuổi là: 12,3% Tìnhhình thiếu sắt được đánh giá trong điều tra vi chất dinh dưỡng năm 2019- 2020 Tỷ

lệ thiếu sắt của trẻ 6 đến 59 tháng tuổi chung của toàn quốc còn cao chiếm 53,2%[154]

1.4.2 Thiếu kẽm

Trên thế giới: Tỷ lệ thiếu kẽm trên toàn cầu ước tính khoảng 31%, dao động

từ 4-73% Dựa trên tỷ lệ này, người ta cho rằng, thiếu kẽm trên trẻ dưới 5 tuổi liênquan tới 176 ngàn ca tử vong do tiêu chảy, 406 ngàn ca tử vong do viêm phổi và

207 ngàn ca tử vong do sốt rét [28] Thiếu kẽm ở trẻ dưới 5 tuổi làm tăng nguy cơtiêu chảy 1,28 lần, tăng nguy cơ viêm phổi 1,52 lần, tăng nguy cơ sốt rét 1,56 lần.Thiếu kẽm có liên quan tới 780 ngàn trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi hàngnăm do tiêu chảy, viêm phổi và sốt rét [28] Hình dưới đây trình bày tỷ lệ thiếu kẽm

ở trẻ dưới 5 tuổi tại các khu vực khác nhau

Trang 31

Hình 1 1 Tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ em dưới 5 tuổi

0 20 40 60 80

Mặc dù người ta đều thống nhất cho rằng thiếu kẽm là vấn đề rất phổ biến trêntoàn cầu, nhưng con số về tỷ lệ thực chưa rõ ràng Tổ chức Y tế thế giới ước tính cókhoảng 800.000 ca tử vong mỗi năm có liên quan tới thiếu kẽm, trong đó 50% là trẻdưới 5 tuổi Người ta ước tính có khoảng 20% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu kẽm [23],[55] Dựa trên báo cáo lương thực thực phẩm quốc gia, tỷ lệ trẻ em có khẩu phần ăn

bị thiếu kẽm cũng tương tự con số trên [159] Tỷ lệ SDD thấp còi có mối liên quanthuận chiều với tình trạng thiếu kẽm khẩu phần, nhưng thông thường tỷ lệ SDDthấp còi cao hơn tỷ lệ thiếu kẽm khẩu phần [159] Có sự khác biệt về tỷ lệ thiếukẽm trong khẩu phần theo khu vực, ước tính có khoảng 30% trẻ em ở các nướcNam Á bị thiếu kẽm trong khẩu phần

Trang 32

Theo 3 chỉ số đánh giá thiếu kẽm của WHO, tỷ lệ thiếu kẽm dựa trên mỗi chỉ

số Tỷ lệ thiếu kẽm khẩu phần ở trẻ em chỉ 8%; tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em là 33%,

tỷ lệ nồng độ kẽm huyết thanh trẻ em là 83% [78]

Tại Việt Nam: Tương tự nhiều nước đang phát triển, chất lượng của bữa ăn

kém, ăn nhiều ngũ cốc, thiếu thức ăn có nguồn gốc động vật là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng gây thiếu kẽm cũng như các vi chất dinh dưỡng khác.Một số nghiên cứu trong nước về tình trạng thiếu kẽm cho thấy: Nghiên cứutrên trẻ 3-5 tuổi tại 2 xã miền núi, thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, nghiêncứu của Nguyễn Đăng Trường và cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm là 75% [102].Trên trẻ 36-72 tháng tuổi tại Đồng kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, nghiên cứucủa Lê Thị Hợp và cộng sự cho thấy, tỷ lệ thiếu kẽm là 30,6% [82] Nghiên cứutrên trẻ 1-36 tháng tuổi tại bệnh viện cho thấy nồng độ kẽm huyết thanh của trẻSDD nặng thấp hơn so với trẻ có TTDD bình thường [142] Trên trẻ tiền học đườngtại nông thôn, một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ trai là 87,2% và trẻ gái

là 86,5% [151] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà và cộng sự trên trẻ 6-35 thángtuổi tại Gia Bình, Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm là 42% [105] Trên trẻ 11-33tuổi, một nghiên cứu tại vùng ven biển Thái Bình cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm là 62,9%[36]

Nghiên cứu về tình trạng thiếu kẽm ở trẻ nhỏ tại một số tỉnh miền núi phíaBắc cho thấy, nồng độ kẽm huyết thanh trong máu ở trẻ dưới 5 tuổi thấp (514,3 µg/l) và tỷ lệ thiếu kẽm còn rất cao 86,9% trẻ em [100] Tỷ lệ này là rất cao so với phânloại của IZiNCG (trên 20%) được xác định là vấn đề thiếu kẽm có ý nghĩa sức khoẻcộng đồng Những trẻ suy dinh dưỡng có nồng độ kẽm thấp hơn có ý nghĩa so vớitrẻ không suy dinh dưỡng Nghiên cứu tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh của NguyễnThanh Hà và Cs cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ 6-35 tháng là 42,0% [105] Tại vùngven biển Thái Bình tỷ lệ thiếu kẽm là 62,9% và thiếu máu là 67,6% trên trẻ từ 11-

13 tuổi [36]

Trang 33

Tình trạng thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm ở trẻ 36-72 tháng tại xãĐồng kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang được một nghiên cứu mô tả năm 2011.Kết quả cho thấy, tỷ lệ thiếu máu là 19,4%, thiếu vitamin A là 11,1% và thiếu kẽm

Trang 34

vi chất khác (sắt ảnh hưởng lên kẽm, kẽm ảnh hưởng lên sắt) giúp chúng ta hiểubiết rõ hơn về tác dụng phụ liên quan tới sử dụng liều bổ sung với tỷ lệ 1:1 hoặc 2:1

so với nhu cầu khuyến nghị Kordas và stoltzfus đã đưa ra giả thuyết về tương tác

vi chất tại ruột [77] Cả sắt và kẽm đều có vai trò quan trọng đối với các bộ phận cơthể, và chúng có khả năng tương tác tại các cơ quan như hệ thống thần kinh Mặc

dù các chức năng riêng rẽ của sắt và kẽm lên hệ thống thần kinh đã được nghiêncứu, nhưng các nghiên cứu về tác dụng phối hợp sắt và kẽm còn hạn chế

Kẽm có thể ảnh hưởng tới hấp thu sắt, ngược lại, sắt cũng có thể ảnh hưởngtới hấp thu kẽm, do đó để hạn chế ảnh hưởng này, người ta đã bổ sung sắt và kẽmvào thực phẩm với tỷ lệ sắt:kẽm là 1:1 [5] Tại ruột non ở người trưởng thành, khi

tỷ số giữa sulphat sắt và sulphat kẽm là 1:1 thì sự ức chế hấp thu kẽm là nhỏ, nhưngkhi tỷ lệ này là 2: 1 và 3: 1 thì sự ức chế hấp thu kẽm tăng lên [136]

Trong một thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng trong 6 tháng tạiViệt Nam, đối tượng nghiên cứu là trẻ 4-6 tháng tuổi, được chia vào 4 nhóm, được

bổ sung hàng ngày 10 mg sắt, 10 mg kẽm, 10 mg sắt + 10 mg kẽm và giả dược Kếtquả cho thấy bổ sung phối hợp sắt-kẽm có hiệu quả tương tự như bổ sung sắt riêng

rẽ trong việc phòng chống thiếu sắt và thiếu máu [162] Một vài nghiên cứu kháctrên trẻ em người Mexico cũng cho kết quả tương tự: bổ sung phối hợp sắt-kẽm và

bổ sung sắt riêng rẽ có hiệu quả phòng chống thiếu máu như nhau [3], [99], [120].Trái lại, 2 nghiên cứu trên trẻ nhỏ tại Indonesia [44], [84] với liều lượng bổ sung sắt

và kẽm và thời gian can thiệp tương tự như nghiên cứu tại Việt Nam [162] lại chokết quả khác: bổ sung sắt-kẽm lại kém hiệu quả hơn bổ sung sắt riêng rẽ trong việccải thiện tình trạng sắt kết quả này dẫn tới kết luận là bổ sung sắt-kẽm phối hợplàm giảm hiệu quả cải thiện tình trạng sắt [84] Trong bài tổng quan của mình,Fischer Walker và cộng sự [51] đã kết luận là bổ sung kẽm riêng rẽ không gây ảnhhưởng tiêu cực tới tình trạng sắt Tuy nhiên, bài viết này cho thấy, khi sắt và kẽmđược bổ sung cùng một lúc, tình trạng sắt sẽ không được cải thiện tốt như khi sắtđược bổ sung riêng rẽ

Trang 35

Hiện nay, người ta vẫn chưa có bằng chứng cho thấy thiếu kẽm gây thiếumáu, nhưng có một thực tế là, thiếu kẽm và thiếu sắt thường đi kèm với nhau Việc

bổ sung cả sắt và kẽm có thể có ý nghĩa đối với những nhóm đích dễ bị tổn thương.Tuy nhiên, một vài nghiên cứu cho thấy bổ sung sắt-kẽm phối hợp có thể khônggiúp cải thiện tình trạng sắt, do kẽm ức chế hấp thu sắt khẩu phần giàu sắt Non-Hem lại ức chế hấp thu kẽm [125], [137], [150], ngược lại, khẩu phần ăn nhiều kẽm

so với sắt lại ức chế hấp thu sắt [35], [121] Sự tương tác này được ghi nhận từ kếtquả các nghiên cứu trên người trưởng thành trong đó vi chất được đưa cùng vớinước [35], [121], nhưng không thấy hiện tượng này khi vi chất được đưa vào sữacông thức trẻ em hay trong bữa ăn [39], [49], [63], [121], [125] Cơ chế của sựtương tác này chưa rõ, nhưng có thể liên quan tới cạnh tranh hấp thu sắt và kẽm tạiruột non Ngoài ra, bổ sung kẽm có thể làm giảm hấp thu sắt do làm tăng sự chặngiữ sắt tại niêm mạc ruột, do làm giảm Hephaestin, một protein có tác dụng điềuhòa và cân bằng nội môi đối với sắt [73]

1.5.2 Sự cần thiết phải bổ sung sắt và kẽm cho trẻ dưới 5 tuổi

Sắt và kẽm là hai chất khoáng cần thiết cho tăng trưởng, phát triển và duy trìchức năng miễn dịch của cơ thể Sắt cần cho sự phát triển tâm vận động, duy trìhoạt động thể lực, năng suất lao động, và đề kháng nhiễm trùng [138] Kẽm cầncho tăng trưởng, duy trì chức năng miễn dịch, giúp tăng khả năng dự phòng và hồiphục sức khỏe sau khi mắc bệnh nhiễm trùng [18] Thịt là thực phẩm chứa nhiềusắt và kẽm Do đó, thiếu sắt và thiếu kẽm đồng thời xảy ra ở quần thể có chế độ ănthiếu thực phẩm nguồn gốc động vật khẩu phần 2 chất khoáng này có thể đượccung cấp đủ thông qua chế độ ăn đa dạng Đồng thời, việc tăng cường hay bổ sung

vi chất cũng giúp cải thiện khẩu phần sắt và kẽm

Trẻ em dưới 5 tuổi có nguy cơ cao bị thiếu sắt, thiếu kẽm Thức ăn bổ sungkhông cung cấp đủ sắt cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên làm trẻ bị thiếu sắt Trẻ có cânnặng sơ sinh thấp có nguy cơ bị thiếu hụt sắt cao hơn, tốc độ nhanh hơn so với trẻ

Trang 36

có cân nặng bình thường [2] khẩu phần ăn của trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đangphát triển thường chứa ít thịt, hải sản

Trẻ em dưới 5 tuổi là đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu sắt, thiếu kẽm, nhất là

ở khu vực nông thôn, miền núi Các nghiên cứu tìm hiểu hiệu quả/ảnh hưởng của

bổ sung riêng rẽ kẽm hay phối hợp sắt-kẽm là cần thiết kết quả nghiên cứu giúpđưa ra bằng chứng về ảnh hưởng tương tác vi chất, giúp các nhà sản xuất, cơ quanxây dựng chính sách, cơ sở y tế cộng đồng có căn cứ cơ sở để triển khai hoạt độngphù hợp

1.5.3 Nghiên cứu về hiệu quả của bổ sung kẽm

Hiệu quả của bổ sung kẽm với tăng trưởng

Từ lâu, việc bổ sung vi chất dinh dưỡng nhằm phòng tránh tình trạng thiếu vichất dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em đã được xem là một trong các giải pháp quantrọng để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và nâng cao tầm vóc cho trẻ em Việt Nam.Việc bổ sung thường bắt đầu từ rất sớm – từ khi mang thai và ở giai đoạn trẻ nhỏ đểgóp phần hạn chế SDD thấp còi gây ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của trẻtrong những giai đoạn tiếp theo Hiện nay, tập trung giải quyết thấp còi ở học sinhtiểu học sẽ giúp cải thiện chiều cao người trưởng thành trong tương lai vì đây làgiai đoạn trẻ phát triển chiều cao mạnh trong giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì Quamột số nghiên cứu cho thấy, nếu giáo dục và can thiệp kịp thời sẽ giúp cải thiệntình trạng dinh dưỡng của học sinh ở giai đoạn này [80] [45]

Sazawal S và cộng sự đã nhận thấy kẽm có tác dụng tăng cường hoạt độngthể lực ở trẻ em Ấn Độ Nhóm trẻ được bổ sung kẽm có thời gian hoạt động nhiềuhơn 72%, mức độ hoạt động cao hơn 12% và mức tiêu hao năng lượng cao hơn8,3% so với nhóm chứng [127]

Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự [107], trong một nghiên cứu bổ sung kẽm ở

146 trẻ em từ 4 đến 36 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng ở Việt nam đã nhận thấy trẻđược bổ sung kẽm có mức tăng cân năng và chiều dài tốt hơn và tỷ lệ mắc tiêu chảythấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng Tác giả nhận thấy trẻ được bổ

Trang 37

sung kẽm có mức hormon tăng trưởng giống insulin (IGF-I) trong máu cao hơn có

ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng và cho rằng vai trò kích thích tăng trưởng củakẽm được thông qua việc làm tăng mức IGF-I trong máu

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tăng cường kẽm vào thực phẩm giúp làmcải thiện hàm lượng kẽm huyết thanh [20], [43], [52], [61], [74], [94], [108], [123],[128] Một vài nghiên cứu đã cho thấy sự thay đổi không đáng kể về tốc độ tăngchiều cao (mm/ngày) [20], [43], [61], [94], [123], [158] Với đối tượng nghiên cứu

là trẻ có cân nặng sơ sinh rất thấp, tăng cường kẽm giúp cải thiện tốc độ tăng chiềucao đáng kể, trong khi đó sự cải thiện tốc độ tăng chiều cao là không đáng kể đốivới trẻ sơ sinh khỏe mạnh [123] Dựa vào mức thay đổi cân nặng (g/ngày), cácnghiên cứu đã cho thấy tăng cường kẽm vào thực phẩm giúp cải thiện không đáng

kể cân nặng ở nhóm can thiệp so với nhóm đối chứng [20], [43], [61], [94], [123],[128], [158]

Tại Ghana, Zlotkin và cộng sự đã so sánh hiệu quả của bột đa vi chất chứakẽm (10 mg) và không chứa kẽm trên 239 trẻ 6-18 tháng tuổi, thời gian can thiệp 2tháng [167] Cuối can thiệp, hàm lượng kẽm huyết thanh ở nhóm tăng cường kẽm

là 87  25 g/dL và nhóm không tăng cường kẽm là 81  22 g/dL (p > 0,05).Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm về mức thay đổi chiều cao và cân nặng

Tại Campuchia, Giovannnini và cộng sự đã so sánh hiệu quả của bột đa vichất chứa kẽm (5 mg kẽm) và không chứa kẽm trên 191 trẻ 6 tháng tuổi, thời giancan thiệp 12 tháng [58] Cuối can thiệp, không phát hiện sự khác biệt về thay đổichiều cao, cân nặng giữa 2 nhóm

Trên 107 trẻ 6-12 tháng tuổi, trong thời gian 6 tháng, tại Nam Phi, Smuts vàcộng sự đã so sánh hiệu quả sử dụng hàng ngày viên đa vi chất chứa 10 mg sắt, 10

mg kẽm và các vi chất khác (nhóm 1), sử dụng hàng tuần viên đa vi chất chứa 20

mg sắt, 20 mg kẽm và các vi chất khác (nhóm 2), với nhóm giả dược không chứa vichất (nhóm 3) [134] Cuối can thiệp, không phát hiện sự khác biệt về hàm lượngkẽm huyết thanh giữa 3 nhóm: 78  16 g/dL (nhóm 1), 78  14 g/dL (nhóm 2)

Trang 38

và 73  10 g/dL (nhóm 3) Về thay đổi chiều dài, nhóm 1 tăng 2,4  0,6mm/tuần, nhóm 2 tăng 2,5  0,5 mm/tuần, nhóm 3 tăng 2,4  0,6 mm/tuần (p >0,05) Về thay đổi cân nặng, nhóm 1 tăng 56,6  25,8 g/tuần, nhóm 2 tăng 50,0 21,3 g/tuần, nhóm 3 tăng 51,6  27,7 g/tuần (p > 0,05) không có sự khác biệt ýnghĩa thống kê về tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm.

Có 8 nghiên cứu tìm hiểu tác dụng của tăng cường đa vi chất, bao gồm kẽmlên tình trạng vi chất Chỉ có một nghiên cứu cho thấy việc tăng cường này giúp cảithiện hàm lượng kẽm huyết thanh Có hai nghiên cứu cho thấy hiệu quả của tăngcường đối với tăng trưởng Người ta cho rằng, lý do các nghiên cứu khác chưa tìmthấy tác dụng của tăng cường vi chất lên tăng trưởng liên quan tới vấn đề phươngpháp nghiên cứu, bao gồm thời gian ngắn, cỡ mẫu nhỏ, quần thể nghiên cứu khôngphải là trẻ bị suy dinh dưỡng [65]

Hiệu quả của tăng cường kẽm vào sữa trẻ nhỏ được Walravenes và cộng sựtiến hành tại Mỹ trên trẻ 68 trẻ (cả can thiệp và đối chứng) 6 ngày tuổi, sinh đủtháng, khỏe mạnh trong 6 tháng Nhóm can thiệp được tăng cường 5,8 mg kẽm/lít,nhóm đối chứng 1,8 mg kẽm/lít [158] kết quả cho thấy, cuối can thiệp, không có

sự khác biệt hàm lượng kẽm huyết thanh giữa 2 nhóm Nhưng có sự khác biệt có ýnghĩa thống kê (p < 0,05) về thay đổi chiều dài giữa nhóm can thiệp (tăng 18,2 0,5 cm) và nhóm chứng (tăng 17,0  0,5 cm) Nghiên cứu cũng phát hiện sự khácbiệt về thay đổi cân nặng giữa 2 nhóm: 4.282  104 g ở nhóm can thiệp so với3.867  170 g ở nhóm chứng (p < 0,03)

Hiệu quả của tăng cường kẽm vào sữa trẻ nhỏ được tiến hành tại Phần Lantrên 32 trẻ 2-3,5 tháng tuổi, khỏe mạnh, sinh đủ tháng, trong 12 tháng Nhóm canthiệp được tăng cường 5,1 mg kẽm/lít, nhóm đối chứng 1,1 mg kẽm/lít [123] Kếtquả cho thấy, cuối can thiệp, hàm lượng kẽm huyết thanh của nhóm can thiệp caohơn có ý nghĩa thống kê (p = 0,03) so với nhóm đối chứng: 85  3 g/dL so với 65

 4 g/dL Nhưng không có sự khác biệt về thay đổi chiều dài cũng như cân nặnggiữa 2 nhóm nghiên cứu

Trang 39

Nghiên cứu tại Úc trên 20 trẻ trai 6 ngày tuổi, đẻ non, cân nặng sơ sinh thấpđược thực hiện kéo dài 3,8 tháng [62] Nhóm can thiệp nhận 4,1 mg kẽm/lít, nhómđối chứng 1,4 mg kẽm/lít Kết quả cho thấy, cuối can thiệp, hàm lượng kẽm huyếtthanh của nhóm can thiệp là 106 g/dL và nhóm đối chứng là 75 g/dL (p < 0,05).không có sự khác biệt về thay đổi chiều dài giữa 2 nhóm: 1,2  0,2 mm/ngày(nhóm can thiệp) so với 1,2  0,2 mm/ngày (nhóm đối chứng) Không có sự khácbiệt về thay đổi cân nặng giữa 2 nhóm: 27,7  7,8 g/ngày (nhóm can thiệp) so với31,0  8,8 g/ngày (nhóm đối chứng).

Tại Canada, Friel và cộng sự nghiên cứu hiệu quả của tăng cường kẽm lên sữacho 50 trẻ đẻ non, cân nặng sơ sinh rất thấp, kéo dài 12 tháng [52] Nhóm can thiệpnhận 11 mg kẽm/lít, nhóm đối chứng nhận 6,7 mg kẽm/lít Kết quả cho thấy, kếtthúc can thiệp, không có sự khác biệt về hàm lượng kẽm huyết thanh giữa 2 nhóm:

95  17 ở nhóm can thiệp và 93  30 ở nhóm chứng Có sự cải thiện ý nghĩa thống

kê về chiều dài ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng, nhưng không có sự khác biệtthay đổi cân nặng giữa 2 nhóm Không có sự khác biệt về hàm lượng Hemoglobinmáu giữa 2 nhóm lúc kết thúc can thiệp

Diaz-Gomez và cộng sự tiến hành nghiên cứu hiệu quả của tăng cường kẽmlên sữa cho 36 trẻ 4 tuần tuổi, đẻ non, cân nặng sơ sinh rất thấp trong 6 tháng.Nhóm can thiệp nhận 10 mg kẽm/lít, nhóm đối chứng nhận 5 mg kẽm/lít [43] Kếtquả cho thấy, cuối can thiệp, hàm lượng kẽm huyết thanh của nhóm can thiệp là

119  37 g/dL và nhóm đối chứng là 87  30 g/dL (p = 0,01) Có sự cải thiện

về thay đổi chiều dài của nhóm can thiệp 1,04  0,07 mm/ngày so với nhóm đốichứng 0,99  0,07 mm/ngày (p = 0,036) Tuy nhiên, không có sự khác biệt về thayđổi cân nặng giữa 2 nhóm: 180  24 g/tuần (can thiệp) và 174  32 g/tuần (đốichứng)

Schlesinger và cộng sự tiến hành nghiên cứu hiệu quả của tăng cường kẽm lênsữa cho 39 trẻ 7,6  2,6 tháng tuổi, bị suy dinh dưỡng, trong 3,5 tháng Nhóm canthiệp nhận 15 mg kẽm/lít và nhóm đối chứng nhận 3,2 mg kẽm/lít [128] Kết quảcho thấy, kết thúc can thiệp, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về hàm lượng

Trang 40

kẽm huyết thanh giữa 2 nhóm: 122  28 g/dL ở nhóm can thiệp và 118  38

g/dL ở nhóm đối chứng không có sự khác biệt về thay đổi chiều dài giữa 2 nhóm,nhóm can thiệp tăng 0,62  0,23 mm/ngày, nhóm đối chứng tăng 0,58  0,26 mm/ngày Tương tự, không có sự khác biệt về thay đổi cân nặng giữa 2 nhóm, nhómcan thiệp tăng 24,9  6,3 g/ngày, nhóm đối chứng tăng 25,8  10,2 g/ngày Nghiêncứu này phát hiện nhóm đối chứng có số đợt ỉa chảy nhiều hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm can thiệp Hàm lượng Hemoglobin máu cũng như Ferritin huyết thanh

ở 2 nhóm lúc kết thúc can thiệp cũng không khác biệt nhau

Tại Mỹ, Hambidge và cộng sự đã tìm hiểu hiệu quả của tăng cường kẽm vàongũ cốc cho 96 trẻ 2-7 tuổi, thời gian can thiệp 9 tháng Trẻ ở nhóm can thiệp nhận2,57 mg kẽm/ngày [61] Kết thúc can thiệp, hàm lượng kẽm huyết thanh của nhómcan thiệp cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,05): 77  14

g/dL so với 71  14 g/dL Không có sự khác biệt về thay đổi chiều dài giữa 2nhóm: 0,176  0,03 mm/ngày (nhóm can thiệp) và 0,170  0,03 mm/ngày (nhómđối chứng) không có sự khác biệt về thay đổi cân nặng giữa 2 nhóm: 7,97  2,33g/ngày (nhóm can thiệp) và 7,45  1,67 g/ngày (nhóm đối chứng)

Tại Peru, López de Romana và cộng sự đã tìm hiểu hiệu quả của tăng cườngkẽm vào bánh bích qui và mỳ ăn liền cho 41 trẻ, 3-4 tuổi, thời gian can thiệp 2tháng Đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 nhóm, nhóm 1 nhận 9 mgkẽm/ngày, nhóm 2 nhận 3 mg kẽm/ngày và nhóm đối chứng không nhận kẽm [87].Kết thúc can thiệp, không có sự khác biệt hàm lượng kẽm huyết thanh giữa 3nhóm: 82 g/dL (nhóm 1), 76 g/dL (nhóm 2) và 78 g/dL (nhóm 3) Không có sựkhác biệt về thay đổi chiều dài giữa 3 nhóm: 2,9  1,3 cm/2 tháng (nhóm 1), 3,0 1,4 cm/2 tháng (nhóm 2), và 2,9  1,3 cm/2 tháng (nhóm 3) Không có sự khác biệt

về thay đổi cân nặng giữa 3 nhóm: 1,0  1,2 kg/2 tháng (nhóm 1), 1,1  1,1 kg/2tháng (nhóm 2), và 1,5  1,2 kg/2 tháng (nhóm 3) Không có sự khác biệt về thayđổi hàm lượng Hemoglobin và Ferritin huyết thanh giữa 3 nhóm

Trên cháo lúa mỳ, Brown và cộng sự tìm hiểu hiệu quả tăng cường kẽm cho

178 trẻ 6-8 tháng tuổi, thời gian can thiệp 6 tháng Nhóm can thiệp nhận 3 mg kẽm/

Ngày đăng: 03/11/2023, 04:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ahmed T, Hossain M., and Sanin K. I. (2012), "Global burden of maternal and child undernutrition and micronutrient deficiencies", Ann Nutr Metab, 61 Suppl 1, pp. 8-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global burden of maternal and child undernutrition and micronutrient deficiencies
Tác giả: Ahmed T, Hossain M., Sanin K. I
Nhà XB: Ann Nutr Metab
Năm: 2012
2. Allen L. H. (2002), "Iron supplements: scientific issues concerning efficacy and implications for research and programs", J Nutr, 132 (4 Suppl), pp. 813s-9s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iron supplements: scientific issues concerning efficacy and implications for research and programs
Tác giả: Allen L. H
Nhà XB: J Nutr
Năm: 2002
3. Allen L. H., Rosado J. L., Casterline J. E., et al. (2000), "Lack of hemoglobin response to iron supplementation in anemic mexican preschoolers with multiple micronutrient deficiencies", Am J Clin Nutr, 71 (6), pp. 1485-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lack of hemoglobinresponse to iron supplementation in anemic mexican preschoolers with multiplemicronutrient deficiencies
Tác giả: Allen L. H., Rosado J. L., Casterline J. E., et al
Năm: 2000
4. Anand K., Lakshmy R., Janakarajan V. N., et al. (2007), "Effect of consumption of micronutrient fortified candies on the iron and vitamin A status of children aged 3-6 years in rural Haryana", Indian Pediatr, 44 (11), pp. 823-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of consumptionof micronutrient fortified candies on the iron and vitamin A status of childrenaged 3-6 years in rural Haryana
Tác giả: Anand K., Lakshmy R., Janakarajan V. N., et al
Năm: 2007
5. Angeles-Agdeppa I., Magsadia C. R., and Capanzana M. V. (2011), "Fortified juice drink improved iron and zinc status of schoolchildren", Asia Pac J Clin Nutr, 20 (4), pp. 535-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fortifiedjuice drink improved iron and zinc status of schoolchildren
Tác giả: Angeles-Agdeppa I., Magsadia C. R., and Capanzana M. V
Năm: 2011
6. Angeles-Agdeppa I., Saises M., Capanzana M., et al. (2011), "Pilot-scale commercialization of iron-fortified rice: effects on anemia status", Food Nutr Bull, 32 (1), pp. 3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pilot-scale commercialization of iron-fortified rice: effects on anemia status
Tác giả: Angeles-Agdeppa I., Saises M., Capanzana M., et al
Nhà XB: Food Nutr Bull
Năm: 2011
7. Armitage AE,Moretti D (2019), "The importance of iron status for young children in low- and middle-income countries: a narrative review.", Pharmaceuticals (Basel). 2019;12(2). pii: E59., pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The importance of iron status for young children in low- and middle-income countries: a narrative review
Tác giả: Armitage AE, Moretti D
Nhà XB: Pharmaceuticals (Basel)
Năm: 2019
8. Arsenault J. E.,Brown K. H. (2003), "Zinc intake of US preschool children exceeds new dietary reference intakes", Am J Clin Nutr, 78 (5), pp. 1011-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zinc intake of US preschool childrenexceeds new dietary reference intakes
Tác giả: Arsenault J. E.,Brown K. H
Năm: 2003
9. Bailey R. L., West K. P. Jr., and Black R. E. (2015), "The epidemiology of global micronutrient deficiencies", Ann Nutr Metab, 66 Suppl 2, pp. 22-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology ofglobal micronutrient deficiencies
Tác giả: Bailey R. L., West K. P. Jr., and Black R. E
Năm: 2015
10. Balarajan Y., Ramakrishnan U., Ozaltin E., et al. (2011), "Anemia in low- income and middle-income countries", The Lancet, 378, pp. 2123-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anemia in low- income and middle-income countries
Tác giả: Balarajan Y., Ramakrishnan U., Ozaltin E., et al
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2011
11. Baqui A. H., Black R. E., El Arifeen S., et al. (2002), "Effect of zinc supplementation started during diarrhoea on morbidity and mortality in Bangladeshi children: community randomised trial", Bmj, 325 (7372), pp. 1059 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of zinc supplementation started during diarrhoea on morbidity and mortality in Bangladeshi children: community randomised trial
Tác giả: Baqui A. H., Black R. E., El Arifeen S
Nhà XB: Bmj
Năm: 2002
12. Baqui A. H., Zaman K., Persson L. A., et al. (2003), "Simultaneous weekly supplementation of iron and zinc is associated with lower morbidity due to diarrhea and acute lower respiratory infection in Bangladeshi infants", J Nutr, 133 (12), pp. 4150-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simultaneous weeklysupplementation of iron and zinc is associated with lower morbidity due todiarrhea and acute lower respiratory infection in Bangladeshi infants
Tác giả: Baqui A. H., Zaman K., Persson L. A., et al
Năm: 2003
13. Benoist B, McLean E, Egli I, et al. (2008), "Worldwide Prevalence of Anaemia 1993-2005. Geneva, Switzerland: World Health Organization; 2008&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Worldwide Prevalence of Anaemia 1993-2005
Tác giả: Benoist B, McLean E, Egli I
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2008
14. Berdanier CD, Dwyer J, and EB F (2007), "Handbook of Nutrition and Food.Florida, CRC Press, 2007", pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Nutrition and Food
Tác giả: Berdanier CD, Dwyer J, EB F
Nhà XB: CRC Press
Năm: 2007
15. Bhutta Z. A., Black R. E., Brown K. H., et al. (1999), "Prevention of diarrhea and pneumonia by zinc supplementation in children in developing countries:pooled analysis of randomized controlled trials. Zinc Investigators' Collaborative Group", J Pediatr, 135 (6), pp. 689-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevention of diarrhea and pneumonia by zinc supplementation in children in developing countries: pooled analysis of randomized controlled trials
Tác giả: Bhutta Z. A., Black R. E., Brown K. H., Zinc Investigators' Collaborative Group
Nhà XB: J Pediatr
Năm: 1999
16. Bhutta ZA, Ahmed T, Black RE, et al. (2008), "For the Maternal and Child Undernutrition Study Group. What works? Interventions for maternal and child undernutrition and survival.", Lancet, (371), pp. 417 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: For the Maternal and ChildUndernutrition Study Group. What works? Interventions for maternal and childundernutrition and survival
Tác giả: Bhutta ZA, Ahmed T, Black RE, et al
Năm: 2008
17. Black M. M., Baqui A. H., Zaman K., et al. (2004), "Iron and zinc supplementation promote motor development and exploratory behavior among Bangladeshi infants", Am J Clin Nutr, 80 (4), pp. 903-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iron and zinc supplementation promote motor development and exploratory behavior among Bangladeshi infants
Tác giả: Black M. M., Baqui A. H., Zaman K., et al
Nhà XB: Am J Clin Nutr
Năm: 2004
18. Black R. E. (2003), "Zinc deficiency, infectious disease and mortality in the developing world", J Nutr, 133 (5 Suppl 1), pp. 1485s-9s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zinc deficiency, infectious disease and mortality in thedeveloping world
Tác giả: Black R. E
Năm: 2003
19. Black R. E., Victora C. G., Walker S. P., et al. (2013), "Maternal and child undernutrition and overweight in low-income and middle-income countries", Lancet, 382 (9890), pp. 427-451 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maternal and child undernutrition and overweight in low-income and middle-income countries
Tác giả: Black R. E., Victora C. G., Walker S. P., et al
Nhà XB: Lancet
Năm: 2013
20. Brown K. H., Lopez de Romana D., Arsenault J. E., et al. (2007), "Comparison of the effects of zinc delivered in a fortified food or a liquid supplement on the growth, morbidity, and plasma zinc concentrations of young Peruvian children", Am J Clin Nutr, 85 (2), pp. 538-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparisonof the effects of zinc delivered in a fortified food or a liquid supplement on thegrowth, morbidity, and plasma zinc concentrations of young Peruvian children
Tác giả: Brown K. H., Lopez de Romana D., Arsenault J. E., et al
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w