1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Năng Lực Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Tôm Tỉnh Kiên Giang
Tác giả Nguyễn Thanh Nhàn
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Thanh Đức Hải
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 543,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Tỉnh Kiên Giang.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã ngành: 62620115 NGUYỄN THANH NHÀN

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU TÔM

TỈNH KIÊN GIANG

Cần Thơ , 2023

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn chính: PGS.TS Lưu Thanh Đức Hải

Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng bảo vệ luận án cấp cơ sở

Họp tại: Phòng Bảo vệ luận án tiến sĩ (Phòng họp 3, lầu 2) Nhà điều hành, Trường Đại học Cần Thơ

Vào lúc: giờ ngày tháng năm 2023

Phản biện 1:

Phạn biện 2:

Xác nhận đã xem lại của Chủ tịch Hội đồng

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ

- Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ Tạp chí trong nước

1 Nguyễn Thanh Nhàn và Lưu Thanh Đức Hải (2023) Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến tôm xuất khẩu Tỉnh Kiên

Giang Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Tập 59, Số 3D (2023): 236-246

2 Nguyễn Thanh Nhàn (2019) Giải pháp đẩy mạnh hoạt động thủy sản

của doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang Tạp chí Công thương số 19 - Tháng 10/2019 p 92-97

3 Nguyễn Thanh Nhàn (2022) Một số khuyến nghị gia tăng kim ngạch xuất khẩu và sản lượng xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang từ nay đến

năm 2025 Tạp chí Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương tháng 05/2022

5 Nguyễn Thanh Nhàn (2022) Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang Tạp chí Công Thương Số 20 – Tháng 8/2022 p 234-238

Kỷ yếu hội thảo

1 Nguyễn Thanh Nhàn và Lưu Thanh Đức Hải (2022) Development of supply of shrimp materials for Kien Giang Provincial export market 2021-2030 International Conference on Investment and evelopment for Agricultural Markets and Rural Tourism Can Tho University

2 Nguyễn Thanh Nhàn (2022) Phân tích thực trạng phát triển kinh tế biển của tỉnh Kiên Giang Kỹ yếu hội thảo phát triển du lịch gắn với kinh tế biển vùng ĐBSCL Đại học Kiên Giang

Trang 4

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Tính cấp thiết về mặt lý thuyết

Theo Aiginger (2006), năng lực cạnh tranh (NLCT) đã trở thành một chủ đề cực kỳ phổ biến trong chính sách kinh tế và là mối quan tâm lớn của chính phủ và các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia (Porter, 1985)

Ở cấp độ vi mô, khái niệm về NLCT rất đơn giản (Reinert, 1995) Khái niệm này được xem là đồng nghĩa với việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ chất lượng ngày càng tốt hơn được tiếp thị thành công cho người tiêu dùng (Newall, 1992) hoặc được mô tả là khả năng giữ lại vị thế cạnh tranh của một tổ chức bằng cách đáp ứng sự mong đợi của khách hàng (Feurer

& Chaharbaghi, 1994) Theo nghĩa này, khả năng cạnh tranh chỉ có thể được duy trì và nâng cao thông qua việc cải tiến liên tục các dịch vụ và khả năng của một tổ chức (Kim, 2012)

Theo Porter (1990) NLCT là một khái niệm đa chiều, nó có thể được xem xét từ ba cấp độ khác nhau, (1) quốc gia; (2) ngành và (3) doanh nghiệp Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận NLCT theo cấp độ doanh nghiệp Mô hình này được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì và tăng lợi nhuận Ông cho rằng NLCT là khả năng sáng tạo của doanh nghiệp để tạo

ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Mô hình của Porter (1980) đã đề xuất 5 áp lực cạnh tranh, (1) xác định cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang tồn tại (2) mối đe dọa về đối thủ mới tham gia vào thị trường (3) nguy cơ có các sản phẩm thay thế mới xuất hiện (4) doanh nghiệp chịu sự chi phối bởi nhà cung ứng (5) doanh nghiệp bị áp lực bởi thương lượng của khách hàng Mô hình của Porter (1990) cho chúng ta hiểu được các yếu tố hình thành nên sự cạnh tranh trong một doanh nghiệp, từ đó giúp chúng ta điều chỉnh chiến lược của mình phù hợp với môi trường cạnh tranh và để cải thiện lợi nhuận trong tương lai

Theo mô hình nghiên cứu NLCT của Thompson & Strickland (1998), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan, các yếu tố môi trường kinh doanh (những nhân tố này rất quan trọng khi lượng hóa năng lực cạnh tranh quốc gia) và cũng không bao gồm các yếu tố ngoài nước Mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ doanh nghiệp của Thompson bao gồm: (1) Năng lực nghiên cứu dự báo thị trường; (2) Năng lực tìm kiếm khách hàng và đối tác kinh doanh; (3) Năng lực tổ chức sản xuất sản phẩm cạnh tranh; (4) Năng lực tổ chức xuất khẩu;

Trang 5

(5) Năng lực thanh toán quốc tế; (6) Năng lực xử lý các tình huống về tranh chấp thương mại quốc tế; (7) Vấn đề cải tiến công nghệ đổi mới sản phẩm; (8) Vấn đề quản lý nguồn nhân lực; (9) Khả năng thích ứng và quản lý sự thay đổi; (10) Năng lực tài chính; (11) Hình ảnh, uy tín thương hiệu; (12) Năng lực cạnh tranh về giá cả Các luận cứ khoa học của các nhà nghiên cứu nói trên là nền tảng lý thuyết để tác giả tiếp tục phát triển

mô hình nghiên cứu và công cụ phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Tính cấp thiết về mặt thực tiễn

Trong những năm gần đây, diện tích nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) tỉnh Kiên Giang liên tục tăng từ 159.175 ha năm 2014 lên 221.580 ha năm

2016, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2014-2016 là 18,3%/năm Nuôi tôm nước lợ chiếm tỷ trọng lớn ở loại hình nuôi tôm luân canh với trồng lúa (tôm-lúa) và tôm quản canh cải tiến (QCCT) Diện tích nuôi tôm thâm canh- bán thâm canh (TC-BTC) có tỉ lệ rất thấp (1,78% tồng diện tích nuôi tôm) Tổng sản lượng NTTS tỉnh Kiên Giang tăng từ 136.626 tấn năm 2014, lên 196.049 tấn năm 2016 (tăng 1,4 lần) và đạt tốc độ tăng bình quân 20,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng diện tích, điều này cho thấy năng suất bình quân được cải thiện Trong đó, thủy sản nuôi chủ lực là tôm nước lợ có tốc độ tăng trưởng khá cao về sản lượng trong giai đoạn 2014-2016 Ngành hàng tôm cũng chính là mặt hàng chủ lực của Tỉnh Kiên Giang trong hoạt động xuất khẩu cũng như trong việc phát triển kinh

tế nông nghiệp

Bên cạnh việc liên tục tăng diện tích, năng suất và sản lượng thì việc kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng thuỷ hải sản của các doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang ngày càng phát triển so với những năm trước Tuy nhiên, do yếu tố toàn cầu hoá và trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế thế giới nên các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản tại tỉnh Kiên Giang nói riêng và Việt Nam nói chung còn gặp nhiều khó khăn trên thị trường quốc tế Cụ thể như chất lượng sản phẩm phải đảm bảo chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế, giá cả thường bị các quốc gia nhập khẩu áp giá theo qui định chống bán phá giá của nước sở tại, nhiều doanh nghiệp chưa quan tậm nhiều đến hoạt động nghiên cứu thị trường, công nghệ chế biến chưa đổi mới, nguồn lực tài chính hạn hẹp,… nói chung là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế so với các đổi thủ cạnh tranh trên thị trường quốc tế Do đó, việc nghiên cứu để tìm hiểu khám phá ra khả năng hoạt động bên trong của doanh nghiệp đang ở tình trạng nào yếu hay tốt để đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả nhằm giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh tốt trên thị trường quốc tế, đạt được kết quả hoạt động kinh doanh như mong muốn Theo

Trang 6

tôi, đây là điều hết sức cần thiết hiện nay Chính vì vậy, tôi quyết định

chọn đề tài “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang” trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh

tế quốc tế ngày càng sâu rộng để làm đề tài luận án tiến sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, luận án sẽ đề xuất một số hàm ý về quản trị cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang nâng cao năng lực cạnh tranh cho đơn vị đồng thời để xuất một số hàm ý về mặt chính sách cho lãnh đạo tỉnh Kiên Giang để gia tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm trong tương lai

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DNXK tôm tỉnh Kiên Giang Để thực hiện nghiên cứu, luận án xác định đối tượng khảo sát là các chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu tôm, các giám đốc/phó giám đốc, thuộc cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu tôm, các giám đốc/phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh DNXK tôm và một số chuyên gia ở các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trong và ngoài tỉnh Thời gian thực hiện khảo sát là 8 tháng Từ tháng 05/2018 – tháng 01/2020

Không gian nghiên cứu

Về không gian, luận án tập trung nghiên cứu các DNXK đóng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Thời gian nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu từ năm 2011-2022

Nội dung nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi các yếu tố thể hiện công tác quản lý các hoạt động bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Thứ nhất, tổng hợp thông tin thứ cấp để phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu tôm của tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn 2011-

2020

Thứ hai, phân tích năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh của ngành hàng tôm nuôi xuất khẩu tỉnh Kiên Giang dựa trên Mô hình 5 áp lực cạnh tranh và chỉ tiêu Chi phí nguồn lực trong nước DRC

Thứ ba, phân tích các nhân tố bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Kiên Giang Thứ tư, đề xuất một số hàm ý cho các DNXK tôm tỉnh Kiên Giang

Trang 7

nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và một số hàm ý chính sách cho lãnh đạo tỉnh Kiên Giang để hỗ trợ DNXK nâng cao hiệu quả kinh doanh tôm xuất khẩu nói riêng và thủy sản nói chung trong tương lai

1.4 Những điểm mới của luận án

Về học thuật

Thứ nhất, luận án tiến sĩ đã hệ thống được một số lý thuyết về cạnh tranh như lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh của một số nhà khoa học nổi tiến trên thế giới như Michae E.Porter, Thompson Strickland qua đó luận

án đã phân tích, chỉ rõ sự ảnh hưởng của yếu tố lợi thế thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh vào chuỗi giá trị của DN

Thứ hai, luận án cũng đã lấp được một số khoảng trống của các nghiên cứu trong và ngoài nước trước kia có liến quan đến năng lực cạnh tranh

Vì vậy, luận án có thể được xem là một tài liệu khoa học dành cho các DNXK tỉnh Kiên Giang tham khảo, là một tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy sinh viên đại học, học viên sau đại học ngành Kinh tế nông nghiệp và là một tài liệu tham khảo mang tính chất nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu khoa học sau này

Với những đóng góp trên luận án có thể xem là một tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn cho các nhà lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế tỉnh Kiên Giang

Trang 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết cạnh tranh

Các khái niệm cơ bản

Khái niệm về cạnh tranh đã được đề cập đến từ rất lâu, theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình”

Qua thời gian và không gian các quan niệm về cạnh tranh dần phân hóa và có sự khác nhau Theo từ điển kinh doanh Anh Quốc xuất bản năm

1992, cạnh tranh được xem là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Theo nhà kinh tế học Michael E.Porter (1988) của Mỹ, cạnh tranh (trong kinh tế) là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh”, một số nhà khoa học cho rằng cạnh tranh là vấn đề dành lợi thế về giá cả hàng hoá - dịch vụ và đó là phương thức để dành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế Nói khác đi là dành lợi thế để hạ thấp các yếu tố “đầu vào” của chu trình sản xuất kinh doanh và nâng cao giá của “đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất

Chuỗi giá trị và lợi thế cạnh tranh

Chuỗi giá trị của doanh nghiệp gắn liền với nhiều mảng hoạt động rộng khắp Chuỗi giá trị của các doanh nghiệp trong cùng một ngành là khác nhau, phản ánh quá trình phát triển và chiến lược của mỗi doanh nghiệp, và thành quả thu được chỉ trong quá trình thực hiện Chuỗi giá trị của các doanh nghiệp có phạm vi cạnh tranh khác nhau sẽ khác nhau, tương ứng với tiềm lực của lợi thế cạnh tranh

Lý thuyết lợi thế so sánh bắt nguồn từ lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute advantage) trong sản xuất của Adam Smith Tác phẩm “Sự giàu

có của các quốc gia” công bố vào năm 1776 của Adam Smith cho rằng:

“việc buôn bán giữa các nước diễn ra trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước khi quốc gia này có lợi thế hơn quốc gia khác về sản xuất một loại hàng hoá nào đó, ngược lại quốc gia khác lại có lợi thế tuyệt đối về một mặt hàng nào đó, do đó khi tiến hành trao đổi cả hai nước đều có lợi ích cao nhất Bởi vậy, mỗi quốc gia phải biết chuyên môn hoá sản xuất loại hàng hoá mà họ có lợi thế hơn” Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của một quốc

Trang 9

gia về một sản phẩm nghĩa là quốc gia đó sản xuất ra sản phẩm với các chi phí thấp hơn các nước khác (Adam Smith, 1776) Theo lý thuyết này, mỗi quốc gia nên tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp hơn so với quốc gia khác và nhập khẩu hàng hóa không có lợi thế Như vậy, thì các nguồn lực được

sử dụng một cách hiệu quả nhất và sản lượng của cả hai hàng hóa đều tăng Sự tăng lên về sản lượng của hai hàng hóa này do lượng thặng dư

từ chuyên môn hóa trong sản xuất được phân bố lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại quốc tế Theo quan điểm của Adam Smith thì lợi thế được tạo nên từ: (1) lợi thế tự nhiên (nước, đất, khí hậu thời tiết…) và (2) lợi thế do nỗ lực (kỹ thuật, sự lành nghề, chuyên môn hóa,…) Quan điểm trong lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo (1817) cho rằng một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất một loại hàng hóa với chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác

Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo được sử dụng rộng rãi và trở thành nguyên tắc kinh tế giúp thúc đẩy giao thương quốc tế và làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu về về lợi thế so sánh, giúp nói phát triển sau này, như lợi thế so sánh theo quan điểm chi phí cơ hội của Gottfried Haberler (1930), lợi thế so sánh theo mô hình H-O của Ohlin (1933),… và đến lợi thế so sánh theo chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) của Balassa (1965), lợi thế so sánh theo quan điểm chi phí nội nguồn (DRC) của Bruno (1972)

Hệ thống lại, có ba quan điểm chính để đo lường lợi thế so sánh: (1) Lợi thế so sánh trên cơ sở lợi thế chi phí sản xuất (lợi thế sản xuất); (2) Lợi thế so sánh trên cơ sở lợi thế so sánh hiện hữu (lợi thế tiêu thụ) và (3) Lợi thế so sánh trên cơ sở chi phí nội nguồn (so sánh chi phí nội nguồn đầu

tư sản xuất – xuất khẩu hàng hóa với giá trị thu được từ xuất khẩu hàng hóa)

Lý thuyết về nguồn lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Khái niệm NLCT được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm

1980 Theo Buckley et al (1988): “DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN” Năm 1994, định nghĩa này được nhắc lại trong “Sách trắng về NLCT của Vương quốc Anh” Porter (1985, 1998) định nghĩa năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp theo ba khía cạnh Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì,

mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của doanh nghiệp Hai là, năng lực

Trang 10

cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với DN, NLCT

là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất

và hiệu quả hơn các DN khác”

Như vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp Theo Barclay (2005) và Williams (2007) việc xác định được các nhân tố để cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là rất quan trọng bởi những nhân tố này là sự đổi mới các tiêu chuẩn, khả năng lãnh đạo, tập trung nghiên cứu chất lượng sản phẩm, nhằm đáp ứng được nhu cầu khách hàng Trong điều kiện kinh tế thị trường, lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực để đánh giá NLCT của doanh nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Theo cách tiếp cận cổ điển, các yếu tố quyết định NLCT được chia thành các yếu tố bên ngoài và bên trong (Carvalho & Costa, 2014; Piatkowski, 2012) Các yếu tố bên ngoài xuất phát từ việc DN bị ảnh hưởng không chỉ bởi môi trường cạnh tranh (các doanh nghiệp khác) mà còn bởi môi trường chung, kinh tế vĩ mô, kinh tế trung mô và kinh tế vi

mô (Lisowska, 2015) Các yếu tố bên trong có liên quan đến khả năng của DN phát triển khả năng cạnh tranh của chính họ (lợi thế cạnh tranh của chính họ)

Các giải thích về vấn đề này được cung cấp bởi các xu hướng hiện đại trong lý thuyết về doanh nghiệp: tài nguyên, năng lực và kiến thức

dựa trên trình độ học vấn (Freiling et al., 2008; Plawgo, 2004), lý thuyết

này đã nổi lên như một phản ứng trước sự rời khỏi các chiến lược kinh điển về lãnh đạo chi phí, khác biệt hóa và tập trung vào các yếu tố bên ngoài cơ bản, chủ yếu là thị trường, nhưng không tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh bền vững của các doanh nghiệp nhỏ (Zvirblis & Buracas, 2012;

Karpacz, 2011; Man et al., 2008) Khả năng nội bộ của các thực thể nhỏ,

là chìa khóa cho khả năng cạnh tranh của họ, xảy ra ở cả cấp độ chiến lược và tổ chức (Chaston, 2010)

2.2 Một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh

Mô hình kim cương của Porter

Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng cơ sở

lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế

và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “viên kim cương” Ông cho rằng

Trang 11

không có quốc gia nào có lợi thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hay hầu hết các ngành Mỗi quốc gia chỉ có thể thành công ở những ngành nhất định và những ngành đó phải có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia vào thương trường kinh doanh quốc tế Các yếu tố quyết định của mô hình bao gồm: điều kiện về các nhân tố; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của DN Ngoài ra, còn có hai biến bổ sung là vai trò của nhà nước và các yếu tố thời cơ

Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter (1980)

Mô hình này được hình thành bởi Porter (1980) của trường Quản trị Havard Đây là một công cụ đơn giản nhưng hiệu quả được sử dụng giúp các DN hiểu rõ khả năng cạnh tranh và tạo ra lợi nhuận cho mình Công cụ này còn giúp doanh nghiệp hiểu rõ vị trí cạnh tranh hiện tại và

vị trí cạnh tranh trong tương lai Do đó, có thể tận dụng lợi thế của doanh nghiệp và khắc phục các nhược điểm

Quan điểm dựa trên lý thuyết nguồn lực (Resource Base View – RBV)

Trong lý thuyết của Porter (1990) cũng có đề cập đến nguồn lực như nguồn lực tri thức, nguồn lực vốn, nguồn lực hữu hình, nguồn lực con người, cơ sở hạ tầng tham gia vào quá trình và có liên đến việc tạo lợi thế cạnh tranh (LTCT) Đồng quan điểm của Porter (1990) và mở rộng

về sự quan trọng của nguồn lực trong việc tạo LTCT tác giả Yolles (2009) xây dựng lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (resource base view) (Yolles, 2009 trích dẫn theo Barney, 1991; Priem and Butler, 2001)

Phương pháp của Thompson – Strickland (1998)

Theo Thompson – Strickland (1998), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan, các yếu tố môi trường kinh doanh (những nhân tố này rất quan trọng khi lượng hóa năng lực cạnh tranh quốc gia) và cũng không bao gồm các yếu tố ngoài nước

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo Mô hình của Thompson – Strickland (1998)

Thompson Strickland đề xuất cách đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc sử dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp đánh giá được năng lực cạnh tranh của mình trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mục tiêu Từ đó tìm ra được những lợi thế cơ bản nhằm nâng

Trang 12

cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ doanh nghiệp bao gồm:

1 Năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo về thị trường trong nước và thị trường nước ngoài

2 Năng lực tìm kiếm khách hàng và đối tác tin cậy có năng lực hợp tác kinh doanh có hiệu quả với doanh nghiệp

3 Năng lực tổ chức sản xuất những mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước

4 Năng lực tổ chức xuất khẩu, mua, bán, vận chuyển hàng hóa

5 Năng lực thanh toán quốc tế

6 Năng lực xử lý các tình huống về tranh chấp thương mại quốc tế nhanh chóng và hiệu quả

7 Các nhân tố về công nghệ: như khả năng nghiên cứu về công nghệ nhất là đối với những ngành hàng có hàm lượng công nghệ cao, khả năng đổi mới quá trình kinh doanh, khả năng đổi mới sản phẩm, khả năng

sử dụng các công nghệ tin học

8 Các nhân tố liên quan tới nguồn nhân lực: nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng chuyên môn cao, bí quyết quản lý chất lượng, đội ngũ chuyên gia về thiết kế sản phẩm hoặc về loại công nghệ quan trọng, khả năng phát triển và đổi mới sản phẩm, thời gian phát triển sản phẩm từ ý tưởng tới thị trường nhanh chóng

9 Các nhân tố về văn hoá doanh nghiệp

10 Các nhân tố về khả năng thích ứng và quản lý sự thay đổi

11 Các nhân tố về tài chính

12 Các nhân tố về hình ảnh, uy tín

13 Năng lực cạnh tranh về giá và giá thành

2.3 Thương mại quốc tế

Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế được hiểu là các hoạt động mua bán, trao đổi, hàng hóa hữu hình giữa các công ty ở các nước khác nhau nhằm mục đích

mở rộng thị trường, gia tăng thị phần hoặc mang lại một mục tiêu sinh lời nào đó mà trong nước doanh nghiệp không đạt được

Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế thì thường mại quốc tế (TMQT) được hiểu theo nghĩa rộng hơn, với nhiều hoạt động hơn như mua bán, trao đổi hàng hóa hữu hình, cung cấp các dịch như tài

Khái niệm về xuất khẩu

Theo Joshi (2005), xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm

Trang 13

mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác Xuất khẩu có nghĩa là vận chuyển các hàng hóa và dịch vụ ra khỏi thẩm quyền của một quốc gia Người bán hàng hóa, dịch vụ đó được gọi là một nhà xuất khẩu và có trụ sở tại nước xuất khẩu trong khi người mua có trụ

sở ở nước ngoài được gọi là nhà nhập khẩu Trong thương mại quốc tế, hoạt động xuất khẩu đề cập đến việc bán hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước cho thị trường ngoài nước tiêu thụ

Vai trò của xuất khẩu thủy sản

Xuất khẩu thủy sản có thể coi là thành quả lớn nhất của ngành thủy sản Việt Nam, xuất khẩu thủy sản đã góp phần xác định vị trí quan trọng của ngành thủy sản đối với nền kinh tế đất nước và trên thị trường quốc tế, từng bước đưa thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam

Các hình thức xuất khẩu thủy sản

Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ vào nguồn hàng xuất khẩu Ứng với mỗi phương thức xuất khẩu

sẽ có những đặc điểm riêng, kỹ thuật tiến hành riêng Các DN trong ngành thủy sản ở nước ta thường sử dụng ba phương thức xuất khẩu chủ yếu gồm xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu ủy thác, và xuất khẩu tại chỗ

Chỉ số đánh giá mức độ đa dạng hóa thị trường và chỉ số đánh giá mức độ đa dạng hóa sản phẩm

Chỉ số đánh giá đa dạng hóa thị trường được dùng để đánh giá mức

độ đa dạng hóa thị trường của Việt Nam trong xuất khẩu sản phẩm ngành hàng tôm, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm tôm của Việt Nam tới mỗi quốc gia được so sánh với tỷ trọng nhập khẩu sản phẩm tôm của quốc gia đó (từ thế giới) trong tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm tôm trên toàn thế giới Mức độ đa dạng hóa lý tưởng là khi cơ cấu thị trường xuất khẩu sản phẩm tôm của Việt Nam giống với cơ cấu nhập khẩu sản phẩm tôm trên thế giới

Ngày đăng: 02/11/2023, 20:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w