1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận bộ luật hình sự năm 2015 bình luận chuyên sâu ph 2 các tội phạm chương xv các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân ; chương xxiii các tội phạm về chức vụ

464 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình Luận Bộ Luật Hình Sự Năm 2015
Tác giả Đinh Văn Quế
Người hướng dẫn Nguyễn Thành Viên, Chủ Tịch Hội Đồng Thẩm Phán
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bình Luận Chuyên Sâu
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 464
Dung lượng 9,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa: Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi bắt, giữ hoặc giam người không đúng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của ngư

Trang 1

CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN T ự DO CỦA CON NGƯỜI,

Trang 2

ĐINH VĂN QUẾ

Nguyên thành viên Hội đồng Thầm phán, Chánh tòa Hình sự

Tòa án nhân dân tối cao

CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN Tự DO CỦA CON NGƯỜI,

QUYỀN Tự DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

Chương XXIII

CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC vụ

(BÌNH LUẬN CHUYÊN SÂU)

TRƯỜNG ĐẠI H#c QUY NH#N

THƠ VIỆN

Wf> 4 4 8 4 A

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Trang 3

MỤC LỤC

Chương XV: CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYÈN Tự DO CỦA 9 CON NGƯỜI, QUYỀN Tự DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN

Điều 157 Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật 10

Điều 158 Tội xâm phạm chỗ ờ cùa người khác 39

Đieu 162 Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc 104

sa thải người lao động trái pháp luật

Trang 4

125 Điều 163 Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của

Điều 165 Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới 158

Điều 166 Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo 171

Trang 5

Điều 355 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt 251 tài sản

B Các trường hợp phạm tội cụ thê

Điều 357 Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ 278

Điều 358 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh 292 hưởng đối với người khác đề trục lợi

I Tội cô ý làm lộ bí mật công tác

A Những dấu hiệu cơ bản của tội phạm

B Các trường hợp phạm tội cụ thê

Trang 6

II Tội làm mất tài liệu bí mật công tác 390

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

ơ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật.

Nhằm thể chế hỏa Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua

Bộ luật Hình sự 2015 và được sửa đổi, bổ sung năm 2017, trong đó Chương X V quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, Ọĩtvêỉi tự do dâu chủ của cóng dân có nhiều điểm mới so với Bộ luật Hình sự 1999.

Các tội phạm vê chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đủng đăn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ Chương XXIII Bộ luật Hình sự 2015 quy định các tội phạm về chức vụ cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng thê chê hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng về chổng tham nhũng, khăc phục những bất cập trong quả trình đấu tranh phòng, chông tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chinh trị của đât nước, cũng như bảo đảm thực thi các nghĩa vụ mà chủng ta đã cam kết theo Công ước về chống tham nhũng của Liên hợp quốc.

Việc hiêu và áp dụng các quy định tại Chương XV và Chương XXIII của Bộ luật Hình sự 2015 trong việc đấu tranh và phòng ngừa tọi phạm là rât quan trọng

Tiêp theo cuôn “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phân thứ hai - Các tội phạm), Chương XIV: Các tội xâm phạm tính

Trang 8

mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người ” Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông phổi hợp với tác giả Đinh Văn Quế cho ra

mắt cuốn sách: “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015

(Phần thứ hai - Các tội phạm), Chương XV: Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; Chương XXIII: Các tội phạm về chức vụ”.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này đến tất cả bạn đọc!

Hà Nội, tháng 3 năm 2019

Đinh Văn Quế

Trang 9

Chương XV

CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TƯ DO

CỦA CON NGƯỜI, QƯỶÈN T ự DO, DÂN CHỦ

CỦA CÔNG DÂN

Mở đầu

Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định quyền tự do, dân chủ của công dân, mà chưa quy định quyền tự do của con người

r.tvH ỊV' *" pV*”’ <•’!’ < ' ĩ ' " riv.rmv* ỴV Bộ Ịuột Hình sựnăm 2015 lại quy định thêm “quyền tự do của con người’ , bởi lẽ

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hộĩ chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân vê chinh trị, dân sự, kinh tể, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo

vệ, bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật” và “Quyên con người, quyền công dân chi cỏ thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quôc gia, trợt tự,

an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đông”.

Quyền con người là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người, được cộng đồng quốc tế bảo vệ, nếu không được hưởng thi không thể sống như một con người; còn quyền công dân là những lợi ích pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch Bản chất của quyền con người là quyền tự nhiên, vôn có, không do ai ban phát, còn quyền công dân là quyên được nhà nươc xác định bằng các quy định của pháp luật Q uyền con người có từ khi con người được sinh ra, quyền công dân có từ khi con người đáp ưng được đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định

9

Trang 10

Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người” còn có khái niệm “nhân quyền” Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “human rights”, mà nếu dịch sang tiếng Việt là “quyền con người”, nếu dịch qua Hán - Việt là “nhân quyền”1 Quyền con người

và quyền công dân bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau Quyền con người có thể được nhìn nhận thông qua quyền công dân và ngược lại Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp quyền con người và quyền công dân rất khó phân biệt và trong một số trường hợp chúng ta không nhất thiết phải phân biệt

Chương XV Bộ luật Hình sự năm 20152 quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân gồm 11 điều, tương ứng với 11 tội danh khác nhau So với Chương XIII (phần tội phạm) Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của người khác, thì Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung thêm một tội danh: “xâm phạm quyền tự do ngôn luận tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của người khác (Điều 167), đồng thời sửa đổi, bổ sung một số khái niệm cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và cuộc sống

TỘI BÁT, GIỮ HOẶC GIAM NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Điều 157 Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1 Người nào bắt, giữ hoặc giam người trải pháp luật, nêu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ

06 tháng đến 03 năm.

1 Viện Ngộn ngữ học, Đại từ điền tiếng Việt, NXB Văn hóa-Thông tin, năm 1999, tr 1239.

2 Trong cuôn sách này, cụm từ “Bộ luật Hình sự năm 2015” được viết tát là “Bộ luật Hình sự”.

Trang 11

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt

đ) Đổi với 02 nguời trở lên;

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yểu hoặc người không có khả nâng tự vệ;

g) Làm cho nguời bị bắt giữ giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tể đặc biệt khó khăn;

h) Gây thưomg tích gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vỉ của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương

cơ thể từ 31% đến 60%.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đay’, thi bl phạt

tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phâm của người bị bắt, giữ, giam;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bất, giữ, giam mà tỳ lệ tôn thương

cơ thể 61% trở lên.

4 Người phạm tội còn cỏ thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhầt định từ 01 năm đến 05 năm.

Trang 12

Định nghĩa: Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi

bắt, giữ hoặc giam người không đúng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc không thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật

Điều 157 Bộ luật Hình sự quy định ba hành vi phạm tội khác nhau, đó là: “bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” nhưng đều có cùng tính chất nên nhà làm luật quy định chung trong cùng một điều luật Tuy nhiên, khi định tội cần chú ý:

- Nếu chỉ có hành vi bắt người trái pháp luật mà không có hành

vi giữ hoặc giam trái pháp luật thì chỉ định tội là “bắt người trái pháp luật” mà không định tội như điều luật ghi: “bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”;

- Nếu chỉ có hành vi giữ người trái pháp luật mà không có hành

vi bắt hoặc giam người trái pháp luật thì chỉ định tội là “giữ người trái pháp luật”;

- Nếu chỉ có hành vi giam người trái pháp luật mà không có hành

vi bắt hoặc giữ người trái pháp luật thì chỉ định tội là “giam người trái pháp luật”;

- Nếu người phạm tội vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi giữ người trái pháp luật mà không có hành vi giam người trái pháp luật thì định tội “bắt, giữ người trái pháp luật”;

- Nếu người phạm tội vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi giam người trái pháp luật mà không có hành vi giữ người trái pháp luật thì định tội là “bắt, giam người trái pháp luật”;

- Nấu người phạm tội có cả ba hành vi bắt, giữ và giam người trái pháp luật thì định tội là “bắt giữ và giam người trái pháp luật” (không

có dấu phẩy và kết từ hoặc)

Trang 13

A NHỮNG DẤU HIỆU c ơ BẢN CỦA TỘI PHẠM

1 Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật cũng phải bảo đảm các yếu tố (điều kiện) càn và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12 và Điều 21 Bộ luật Hình sự

Nếu trước đây Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọn", thì nav Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định một số tội phạm mà người từ đủ 14 tuôi trở lên, nhưng chưa

đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, trong đó không có Điều

1573 Như vậy, đối với tội phạm này, chủ thể không phải là người từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi So với Bộ luật Hình sự năm 1999, đây là quy định mới có lợi cho người phạm tội, nên được áp dụng đối với hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018, mà sau thời điểm này mới phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử thì tùy giai đoạn tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án phải ra quyêt định đình chỉ đối với người phạm tội

Đối với tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, chỉ những người sau đây mới có thể là chủ thể của tội phạm này:

Nói chung, chủ thể của tội phạm này là bất kỳ, nhưng trong một

sô trường họp, người phạm tội là người có chức vụ, quyên hạn nhât

3 Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hlnh sự năm 2015 qụy định: “Người từ đủ 14 tuôi đên dưới 16 tuồi phái chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169,

170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và

304 Bộ luật Hình sự”.

Trang 14

định như bộ đội biên phòng; cán bộ kiểm lâm; cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang; cán bộ, nhân viên công an nhân dân Đối với những người này, thông thường phạm tội trong khi thi hành công

vụ, cá biệt có trường hợp vì động cơ cá nhân hoặc vụ lợi mà bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Chỉ là chủ thể của tội phạm này, nếu nhu hành vi của họ không thuộc trường hợp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc không thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật quy định tại Điều 153 và Điều

377 Bộ luật Hình sự

2 Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm

Khách thể của tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là quyền tự do thân thể của người khác, là một trong các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013:

“Không ai bị bắt nếu không có quyết định của tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam giữ người do luật định”4

Quyền tự do thân thể của con người còn được cụ thể hóa bởi những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như: “Không

ai bị bắt nếu không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự”5

Đối tượng tác động của tội phạm này là con người, mà cụ thể là con người bị bắt, bao gồm người Việt Nam và người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch cư trú tại Việt Nam

4 Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.

5 Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trang 15

Theo Hiến pháp năm 2013 thì công dân là người có quốc tịch Việt Nam6 Người nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ7 Người Việt Nam địrứi cư ở nước ngoài là

bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam mà tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thì được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét cho cư trú8

k ; VC; /¿iì; 2::! 5 khô::í- phH Hột Y:ệ:Nam hay người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, đều là đối tượng tác động của hành vi “bắt, giữ, giam người trái pháp luật

3 Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

a) Hành vi khách quan

Người phạm tội có thể thực hiện cả ba hành vi: bắt, giữ hoặc giam người, nhưng có thể chỉ thực hiện một trong ba hành vi đó.Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào hành vi mà người phạm tội thực hiện để định tội danh cho sát thực

Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người ngoài các trường

hợp pháp luật cho phép như bắt người mà không có lệnh của những người có thấm quyền theo quy định của pháp luật; bắt người không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt

6 Điệu 17 Hiến pháp năm 2013.

7 Điêu 18 Hiến pháp năm 2013.

8 Điều 48 và Điều 49 Hiến pháp năm 2013.

Trang 16

người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục, như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.

Hành vi bắt người trái pháp luật có thể được thực hiện bằng các hình thức như: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn Nếu trong quá trình bắt

mà gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình

sự về các tội phạm tương ứng với hành vi phạm tội đã gây ra như: tội

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội giết người Nếu hành vi của người phạm tội lại thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 hoặc Điều 377 Bộ luật Hình sự9 thì họ sẽ chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm đó

Giữ người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không

đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người

có thẩm quyền; giữ người quá hạn; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ Hành vi bắt và giữ bao giờ cũng đi liền với nhau Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ có hành vi bắt mà không có hành vi giữ hoặc ngược lại Ví dụ: A nợ tiền của B nên B đã cùng với

c chặn xe của A để bắt A, buộc A phải trả nợ cho B, nhưng sau khi bắt được A thì c giao cho B giữ A, còn c bỏ về Sau khi bắt được A,

B đã trói A lại và đưa A về nhà mình

Khi xác định hành vi giữ người trái pháp luật cần phải phân biệt với biện pháp giữ người theo thủ tục hành chính, là một trong những

9 Điều 153 Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi; Điều 377 Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật.

ếể ■ •v0'> *

16

Trang 17

biện pháp ngăn chặn hành chính và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính do người có thẩm quyền theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thưcmg tích cho người khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính10.

Giam người trải pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giam người

không đúng với quy định của pháp luật; giam người không có lệnh của người có thẩm quyền; giam người quá hạn; giam người thuộc trường họp không được tạm giam Hành vi giam người trái pháp luật

luật Hình sự thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điêu 157

Bộ luật Hình sự

Tính trái pháp luật trong việc bắt, giữ hoặc giam người là việc bắt, giữ hoặc giam người ngoài những trường hợp pháp luật cho phép Vì vậy, khi xác định hành vi bắt, giữ hoặc giam người có trái pháp luật hay không, cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật

về việc bắt, giữ hoặc giam người Những quy định này có thê trong

Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng có thể trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhưng chủ yéu là Bộ luật Tố tụng hình sự

Việc bắt, giữ hoặc giam người được quy định rât chặt che, ngoai những trường hợp quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và trong Luật Xử lý vi phạm hành chính thì mọi trường hợp băt, giữ hoạc giam người đều là trái pháp luật

10 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Mục 1 Chương 3 Nghị đinh 112/2013/NĐ-CP của Chính phù.

I THƯỜNG ĐẠI H # c QUY NHƠN

THƯ VIỆN _ 17

Trang 18

Nếu người phạm tội có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đã chuẩn bị phương tiện, địa điểm, lực lượng để thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi bắt người thì không bị coi là hành vi phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự thì hành vi chuẩn bị bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật không phải là hành vi phạm tội Điều 14 Bộ luật Hình sự không có liệt kê trường hợp chuẩn bị phạm tội theo Điều

157 Bộ luật Hình sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự11

4 Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tộí phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là do cố ý (lồi cố ý) Nếu do thiếu trách nhiệm hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì tùy trường hợp cụ thể, hành vi của người phạm tội có thể cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chỉ bị xử

Trang 19

Động cơ và mục đích của người phạm tội có thê khác nhau, nhưng nếu bắt, giữ hoặc giam người ừái pháp luật vì mục đích xâm phạm an ninh quốc gia thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phản bội Tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ, tội khủng bố quy định tại Chương XIII Bộ luật Hình sự - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; nếu nhằm mục đích chiêm đoạt tai sản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự vê tội băt coc nhằm chiếm đoạt quy định tại Điều 153 Bộ luật Hình sự; nêu băt người rồi tra tấn đến chết thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự; nêu 1-1 „•% m.Ạ 1.\ - "O plv^.-ỊỊ (t)VH 1-ù^n d?rv* rtvngười phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự vê tội hiêp dâm hoặc hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 141 hoặc Điều 142 Bộ luật Hình sự; nếu bắt người nhằm mục đích đem bán thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người quy định tại Điêu 150

Bộ luật Hình sự; nếu bắt trẻ em nhằm mục đích đem bán, đê đưa ra nước ngoài, để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo, đê sử dụng vao mục đích mại dâm hoặc vì động cơ đê hèn thì người phạm tội b| truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điêu

Trang 20

luật, là cấu thành 'Cơ bản của tội phạm, khung hình phạt tù từ 06

tháng đến 03 năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

So với Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 thì khoản 1 của Điều 157

Bộ luật Hình sự 2015 nặng hơn, vì khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự

1999 có hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, còn hình phạt

tù cũng chỉ từ 03 tháng đến 02 năm Do đó, chỉ áp dụng đối với hành

vi phạm tội được thực hiện từ 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 trở đi Nếu hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018,

mà sau thời điểm này mới bị phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử thì áp dụng khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 đối với người phạm tội

Khi áp dụng mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 157, tòa án cần căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự12 Nếu người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi trong ba hành vi quy định tại điều luật, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, thì tòa án có thể áp dụng hình phạt dưới 06 tháng tù

Hiện nay tình trạng bắt, giữ, giam người trái pháp luật xảy ra càng nghiêm trọng nên việc cho người phạm tội được áp dụng dưới

06 tháng tù hoặc cho hưởng án treo cần phải cân nhắc rất kỹ Tuy nhiên, nếu người phạm tội có đủ các điều kiện quy định tại Điều 65

Bộ luật Hình sự thì vẫn có thê cho họ được hưởng án treo

12 Khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự quy định cãn cứ quyết định hình phạt như sau: “Khi quyết định hình phạt, tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiêm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.

Trang 21

2 Phạm tội thuộc trường họp quy định tại khoản 2 Điều 157

Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có tổ chức là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người

, d ụ m m ộ i h o ậ e " - ổ lù m h Y : YỲ

phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu Ví dụ: Cháu Chu Thị T

17 tuổi con của Chu Hữu K bỏ nhà đi vì bị hành hạ, ngược đãi Do nghi ngờ cháu Đinh Thu Tr là bạn của cháu T biết nơi ở của cháu T, nên Chu Hữu K cùng vợ là Phạm Thị Th đã mua chuộc hai cán bộ Công an phường N.K là Bùi Văn L và Nguyễn Văn H bàn bạc việc bắt cháu Tr về trụ sở Công an phường để tra khảo, nhằm buộc cháu

Tr phải khai chồ ở của cháu T Theo kế hoạch, Phạm Thị Th và con trai là Chu Hữu D theo dõi quy luật đi về của cháu Tr, Chu Hữu K được phân công viết đơn vu khống cháu Tr bắt cóc cháu T, D được phân công đánh cháu Tr; sau khi đánh cháu Tr, Th là người gọi điện cho L và H để phối hợp bắt cháu Tr về trụ sở Công an phường Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 2 2 -9 -2 0 1 8 , cháu Tr trên đường đi học bằng xe máy Khi đến gần trụ sở Công an phường N.K thì bât ngờ bị tên D đấm vào mắt làm cháu Tr bị thương và bị ngã xe; cùng lúc đó

L và H dùng xe jeep từ trụ sở Công an phường ra bắt cháu Tr vê trụ

sở tra khảo, buộc cháu Tr phải khai ra chỗ ở của cháu T Vì cháu Tr không biết chỗ ở của cháu T nên không khai ra được Đến 15 giờ

Trang 22

cùng ngày, hành vi tổ chức đánh, bắt, giữ người trái pháp luật của vợ chồng Chu Hữu K bị phát hiện.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách

dễ dàng

Tuy nhiên, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để phạm tội thì mới bị coi là tình tiết quy định tại điểm b khoản 2 của điều luật Nếu tội phạm do họ thực hiện không liên quan gì đến chức

vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không thuộc trường hợp phạm tội này Ví dụ: Đặng Quang Ph là đại biểu hội đồng nhân dân phường, vì nghi ngờ cháu Bùi Quốc H trộm cắp hai chiếc điều khiển ti vi của nhà mình nên Ph đã bắt cháu H tra khảo nhằm buộc cháu H phải nhận đã trộm cắp tài sản của Ph Mặc dù Ph

có chức vụ nhưng khi bắt cháu H, Ph không lợi dụng chức vụ của mình để phạm tội nên không thuộc trường hợp bắt, giữ người do lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Trang 23

c) Đối với người thi hành công vụ

Đây là trường hợp người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam (bị hại) là người thi hành công vụ, tức là người bị hại thực hiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao phó Nhiệm vụ được giao có thể là đương nhiên do nghề nghiệp quy định như: cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân làm nhiệm vụ bảo vệ; thầy thuốc điều trị tại bệnh viện; thầy giáo giảng bài hoặc hướng dẫn học sinh tham quan, nghỉ mát; thẩm phán xét xử tại phiên tòa; cán bộ thuế thu thuế; thanh niên cờ đỏ, dân quân tự vệ làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự ở nơi công cộng

10'Y 1-' *1' * V]T rfẠì vó*Ị n h írn c r n ọ ir ò ’ị t r v

không được giao nhiệm vụ nhưng họ tự nguyện tham gia vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong một số trường hợp nhất định, như: đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn, hòa giải những vụ đánh nhau nơi công cộng

Người bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật phải là người thi hành nhiệm vụ đúng pháp luật, nếu thi hành nhiệm vụ trái với pháp luật

mà bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật thì không thuộc trường họp phạm tội này Ví dụ: Một người tự xưng là công an đòi khám nhà của người khác Chủ nhà yêu cầu xuất trình lệnh khám nhà, nhưng người này không đưa, nên chủ nhà và những thành viên trong gia đình đã băt, giữ và báo cho công an biết

Điêu luật chỉ quy định “đối với người thi hành công vụ” mà không quy định “đối với người đang thi hành công vụ” nên trường hợp phạm tội này bao gồm cả người đang thi hành công vụ và người

đã hoặc sê thi hành công vụ mà bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật (vì lý do công vụ của nạn nhân) Lẽ ra, nhà làm luật phải quy định

Trang 24

“Đố/ với người thỉ hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân ” thì chính xác hơn.

Ví dụ: A bắt B để buộc B phải trả tiền cho A, B hứa sẽ trả, nên A thả

B ra; không thấy B trả tiền nên A lại bắt B lần thứ hai để khống chế buộc B phải trả tiền cho mình

Phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội có từ 02 lần trở lên thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và mỗi lần thực hiện hành vi đều

đã cấu thành tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Nếu có 02 lần bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, trong đó

có 01 lần hành vi chưa cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hiệu truy cửu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính thì không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự

đ) Đối với 02 người trở lên

Đây là trường hợp bắt, giữ hoặc giam nhiều người quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 Có thể một lần hoặc

có thể nhiều lần nhưng số người bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật

Trang 25

phải từ 02 người trở lên Ví dụ: Tháng 7-2010, Vũ Khăc X băt Đào Văn T và Đỗ Văn K, đến tháng 3-2018 X lại bắt Trần Văn H.

Trong số những người bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật, co the

có người chỉ bị bắt, có người chỉ bị giữ, có người chỉ bị giam, nhưng cũng có thể có người vừa bị bắt, vừa bị giữ lại vừa bị giam

Nếu trong số những người bị bắt, giữ hoặc giam trái phap luạt co người thi hành công vụ thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tình tiết “đối với người thi hành công vụ ngoai tình tiết “đối với 02 người trở lên” hoặc trong sô những nạn nhan (bl hại) có người bị bắt, giữ hoặc bị giam 02 lân trở lên thì ngươi phạm tội còn bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lân trở lên

e) Đối với người dưới 18 tuôi, phụ ttũ’ mà biêt là có thai, nguoi già yếu hoặc người không có khả năng ttf v?

Điểm e khoản 2 Điều 157 thực chất quy định 5 tình tiết chứ không phải 01 tình tiết, đó là:

- Đối với người dưới 18 tuổi

Trường hợp phạm tội này chỉ cần xác định bị hại (ngươi bl bat, giữ, giam) dưới 18 tuổi là người phạm tội đã bị áp dụng điem e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự

Việc xác định tuổi của bị hại được quy định tại Điêu 417 Bọ luạt

Tố tụng hình sự 2015 như đối với các trường họp xác định tuoi cua người bị hại là người chưa thành niên, với nội dung:

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp họp pháp mà vân không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

- Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh

Trang 26

- Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

- Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh

- Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh

- Trường họp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi

- Đổi với phụ nữ mà biết là cỏ thai

Khác với tình tiết “đối với phụ nữ có thai” quy định ở một số điều luật là tình tiết thuộc mặt khách quan, chỉ cần xác định bị hại có thai là người phạm tội bị áp dụng tình tiết phạm tội này Còn tình tiết

đổi với phụ nữ mà biết là có thai lại là tình tiết thuộc mặt chủ quan

của tội phạm, thuộc về nhận thức của người phạm tội Tình tiết này đòi hỏi người phạm tội phải biết người phụ nữ mà mình bắt, giữ hoặc giam là người đang mang thai Neu có căn cứ để xác định người phạm tội không biết hoặc không buộc phải biết người phụ nữ bị bắt, giữ, giam đang có thai thì người phạm tội không bị áp dụng tình tiết

“đối với phụ nữ mà biết là có thai” Ví dụ: Chị Bảo Tr vay 1 tỷ đồng của bà Nguyễn Thị Huyền Nh Do làm ăn thua lồ nên chị Tr chưa trả được cho bà Nh đúng hạn Bà Nh đã thuê một số người bắt chị Tr để

ép chị Tr và gia đình chị phải trả nợ cho bà Sau khi một số người bắt chị Tr về nhà bà Nh thì những người thực hiện hành vi bắt đã lấy tiền công rồi bỏ đi Tại nhà bà Nh, chị Tr nói với bà Nh là mình đang mang thai tháng thứ hai đứa con đầu lòng nên xin với bà Nh về nói

Trang 27

gia đình đem tiền đến Bà Nh thấy chị Tr nói vậy không tin, còn noi:

“Mày đừng nói xạo, tao không tin đâu” Sự việc sau được mọi ngươi can ngăn báo với công an phường nên chị Tr được giải cứu Trường hợp này, cả bà Nh và những người thực hiện hành VI băt chị

Tr đều không biết và không buộc phải biết chị Tr đang có thai nen không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết quy định tại điêm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự

- Đối với người già yếu

Đây là tình tiết thuộc mặt khách quan, nên chỉ cân xác định ngươi

bị bắt, giữ, hoặc giam là người già yếu là người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết phạm tội này

Tuy nhiên, việc xác định thế nào là người già thì các cơ quan tien hành tố tụng lại chưa hướng dẫn Nếu xét về y học thì vân còn ý kiên khác nhau

Hiện nay, pháp luật của nước ta chỉ đề cập đến khái niệm người cao tuổi” Tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy đinh:

“Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam

từ đủ 60 tuổi trở lên” Tuy nhiên, đối với khái niệm ngươi gia, người già yếu” thì chỉ có Bộ luật Hình sự đề cập nhưng lại khong co giải thích thế nào là “người già, người già yếu”

Đe áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự 1999, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết hướng dẫn và theo tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyêt sô 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao thì “người già” được xác định là người từ 70 tuôi trở lên và tại điểm a tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết sô 01/2007/NQ- HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Người quá già yếu” là người từ 70 tuôi trở lên

Trang 28

hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm Tuy nhiên, đối với khái niệm “người già yếu” là tình tiết định khung được quy định tại Điều 157 và một số điều luật khác của Bộ luật Hình sự thì đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể Vậy, hiểu thế nào là người già, người già yếu?

Căn cứ vào các quy định về các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 51 và 52 Bộ luật Hình sự 2015 thì người

từ 70 tuổi trở lên phạm tội được coi là tình tiết giảm nhẹ và phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên thì bị coi là tình tiết tăng nặng Do

đó, có thể coi tình tiết “người già” là người từ 70 tuổi trở lên Điều này cũng phù hợp với các quy định khác của Bộ luật Hình sự đổi với tình tiết “người già phạm tội” và “phạm tội đối với người già” được quy định ở các tội phạm trong Bộ luật Hình sự

Tuy nhiên, điều luật lại quy định nạn nhân là người “già yếu” chứ không phải “già, (phẩy) yếu” tức là ngoài độ tuổi thì nạn nhân phải là người yếu hoặc ốm đau thì người phạm tội mới bị áp dụng tình tiết phạm tội này Cũng chính vì vậy mà nhiều chuyên gia cho rằng, lẽ ra điều luật chỉ quy định nạn nhân là người già, không phân biệt người

đó có yếu, đau hay không thì người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết này rồi, vì người già là người được xã hội kính trọng nên việc buộc người phạm tội phải bị xử lý nghiêm là cần thiết, phù hợp với thuần phong mỹ hạc và truyền thống của nhân dân ta “kính già, yêu trẻ”, tương tự như đối với trường hợp nạn nhân là ông bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của người phạm tội

Cũng có ý kiến cho rằng, một số tội phạm điều luật quy định

“Phạm tội đối với người già yếu, (phẩy) ốm đau nên không thể hiểu ràng đó là quy định chỉ đối với người già mà khái niệm “ốm đau” phải được hiểu là quy định độc lập với “già yếu” nên đối với cả

Trang 29

người dưới 70 tuổi mà bị ốm đau thì người phạm tội cũng bị áp dụng tình tiết tăng nặng này Bởi lẽ, có nhiều người chưa đến 70 tuổi nhưng bị ốm đau liên miên hoặc bị mắc bệnh mà người phạm tội vẫn bắt, giữ hoặc giam họ thì cũng phải coi là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Điều luật quy định tình tiết phạm tội này là đối với người “già yếu”, tức là phải hội tụ cả 02 yếu tố “già và yếu” thì người phạm tội mới bị áp dụng tình tiết quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự

Rõ ràng về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật đã không nhất quán sử dụng các thuật nsữ nên mỗi tôi phạm quy định khác nhau Nếu không chú ý rất dề áp dụng sai

- Đối với người không cỏ khả năng tự vệ

Tình tiết phạm tội đối với người không thể tự vệ được cũng được quy định ở một số tội phạm Đây là trường hợp người bị bắt, giữ hoặc giam (nạn nhân) là người mà bản thân họ bị hạn chế về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do bẩm sinh hoặc

do những điêu kiện khách quan đem lại, như người bị tâm thân, bị bại liệt, bị mù, bị điếc, bị câm, bị tàn tật ; người đang ngủ say, đang truyền dịch; đang ở trong tình thế khó khăn không thể tự vệ được

g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kỉnh tế đặc biệt khó khăn

Đây là trường hợp do bị bắt, giữ hoặc giam, mà người bị bắt, giữ hoặc giam lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn hoặc gia đình

họ lâm vào hoàn cảnh kinh tể đặc biệt khó khăn

Tình tiết phạm tội này cũng không thuộc yếu tố chủ quan của người phạm tội, mà chỉ cần xác định do bị bắt, giữ hoặc giam mà dẫn

Trang 30

đến hoàn cảnh kinh tế của họ hoặc gia đình họ rơi vào tình trạng đặc biệt khó khăn.

Điểm g khoản 2 Điều 157 nhà làm luật cũng quy định 02 tình tiết,

đó là: làm cho người bị bắt, giữ, giam lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn và làm cho gia đình người bị bắt, giữ, giam lâm vào hoàn cảnh kinh tể đặc biệt khó khăn Do đó, khi áp dụng cần tách

bạch nội dung của 02 tình tiết này để xác định xem chính người bị bắt, giữ hoặc bị giam lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn hay gia đình người bị bắt, giữ hoặc bị giam lâm vào hoàn cảnh kinh

tế đặc biệt khó khăn

Thông thường thì người bị bắt, giữ hoặc bị giam lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn cũng đồng thời làm cho gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ người bị bắt, giữ hoặc bị giam lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, còn gia đình họ thì không lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn hoặc ngược lại

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là căn cứ nào để xác định hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn?

Đến nay chưa có hướng dẫn chính thức về tình tiết phạm tội này Tuy nhiên, chúng ta có thể tham khảo Thông tư liên tịch

số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17-6-2005 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính hướng dẫn đối với trường hợp cho người bị kêt án được hoãn chấp hành bản án; đặc biệt là Công văn

số 330/TANDTC-V1 ngày 01-11-2016 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn đối với người phải thi hành án Theo đó, “Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh

Trang 31

kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được tối thiểu cuộc sống cho bản thân người đó ” Ngoài ra, nhiều ý kiến cho rằng “hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn” là những gia đình được xác nhận là hộ nghèo, cận nghèo được hưởng những ưu đãi đặc biệt thẹo quy định của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội”, được ủy ban nhân dân nơi người đó cư trú xác nhận.Tuy nhiên, vẫn cần một văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao theo sự phân công của Quốc hội tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã

Uiiợc sua UOI, bo sung mọi sơ dieu meo Lu ạ i so i2/2u i / V ‘ l | -+ •

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tăm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tôn thương cơ thể từ 31% đến 60%

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như một số trường hợp đôi với tội phạm khác có quy định tình tiết “gây thương tích, gây tôn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn

nhân” có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, chỉ khác ở chô

trường hợp phạm tội này là người bị gây thương tích, gây tôn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi là người bị băt, giữ hoặc bị giam

Khi áp dụng tình tiết phạm tội này, cần chú ý nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại cho sức khỏe hoặc bị rối loạn tâm thần và hành vi là 13

13 Giao Tòa án nhân dân tối cao thông qua tồng kết việc áp dụng pháp luật, giám đôc việc xét xir bảo đảm áp dụng thống nhất phap luật trong xét xir các quy định vê “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quà rất nghiêm trọng”, “gây hậu quà đặc biệt nghiêm trọng ’, “sô lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lợn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; khi cần thiết, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xừ các điều, khoán, điếm khác trong Bộ luạt Hình sự 2015.

Trang 32

do bị bắt, giữ hoặc bị giam Neu do nguyên nhân khác thì người phạm tội không bị áp dụng tình tiết phạm tội này.

Đây cũng là tình tiết mới so với khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình

sự 1999, nên chỉ áp dụng đối với hành vi thực hiện từ 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật thì người phạm tội bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, là tội phạm nghiêm trọng So với khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999, thì khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 nặng horn, vì khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Do

đó, chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018

Khi quyết định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội, tòa

án cần căn cứ vào Điều 50 Bộ luật Hình sự, đồng thời căn cử vào số lượng, tính chất, mức độ tăng nặng của các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật

Nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau thì người phạm tội có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật sẽ bị áp dụng mức hình phạt nặng hơn người chỉ có 01 tình tiết

Tuy nhiên, cũng có trường hợp người phạm tội chỉ có 01 tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật nhưng vẫn bị áp dụng mức hình phạt nặng hơn người có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật Ví dụ: A phạm tội có 02 tình tiết “phạm tội 02 lần” và “đối với

02 người” còn B phạm tội có 01 tình tiết “gây rối loạri tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân đến 60%”, thì mức hình phạt của B có thể nặng hơn mức hình phạt của A

Trang 33

Có thể nói khoản 3 của điều luật là trường hợp cụ thê hóa khoản

3 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999, vì khoản 3 Điều 123 Bộ luật Hình

sự 1999 chỉ quy định “gây hậu quả nghiêm trọng” nhưng cho đên khi

Bộ luật Hình sự 2015 được ban hành, chưa có cơ quan tiến hành tố tụng nào hướng dẫn trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng là những trường hợp nào, ngoài ý kiến bình luận khoa học của một sô chuyên gia pháp luật Do đó, cần phải hiểu rằng các tình tiêt quy định tại khoản 3 Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 là quy định mới và chỉ được áp dụng đối với hành vi được thực hiện tù’ ngày 01-01-2018

a) Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát

Điểm a khoản 3 của điều luật cũng quy định 02 tình tiêt là dâu hiệu định khung hình phạt, đó là: “làm người bị bắt, giữ, giam chêt”

và “làm người bị bắt, giữ, giam tự sát”

- Làm người bị bắt, giữ, giam chết

Trường hợp phạm tội này, người bị chết là do hành vi băt, giữ, giam của người phạm tội Nạn nhân bị chết có thể là ngoài ý muôn của người phạm tội nhưng cũng có thể người phạm tội có ý thức bỏ mặc cho nạn nhân bị chết Ví dụ: Người bị bắt bị nhét chanh vào miệng, rồi bị đưa vào cốp xe để chở đến một địa diêm mà người phạm tội đã định, nhimg khi đến nơi thì nạn nhân do bị ngạt thở đã chêt.Trường hợp sau khi bị bắt, nạn nhân bị tra tấn đến chêt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người, chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt người trái pháp luật làm nạn nhân chết

3 Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 157

Bộ luật Hình sự

Trang 34

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, do không có hướng dẫn nên một số địa phương đã truy cứu trách nhiệm hình sự về trường hợp người bị bắt, bị tra tấn đến chết không thống nhất Có nơi truy cứu về tội giết người như ở thành phố Hà Nội, nhưng có nơi chỉ truy cứu về tội dùng nhục hình hoặc tội bắt, giữ người trái pháp luật làm nạn nhân bị chết như ở tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên mà báo chí đã nêu Thiết nghĩ, các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương cần hướng dẫn áp dụng tình tiết phạm tội này để việc xử lý thống nhất trên phạm vi cả nước.

Nếu người phạm tội biết trước hoặc bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra thì tùy trường hợp có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người Ví dụ: Rơ Chăm Rươi bắt trói chị Măng Hloi vào gốc cây cạnh bờ suối Khi trời mưa, Rươi biết chắc chắn nước lũ sẽ đổ về nhưng y vẫn bỏ mặc cho chị Hloi bị trói và bị chết

vì nước lũ

- Làm người bị bắt, giữ, giam tự sát

Trường hợp này cũng như một số trường hợp mà Bộ luật Hình sự

có quy định nạn nhân tự sát, chỉ khác ở chỗ trường hợp phạm tội này

là trường hợp nạn nhân là người bị bắt, giữ, giam

Chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát là người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết phạm tội này rồi, không cần hậu quả của hành vi tự sát như thế nào

Neu nạn nhân tự sát và bị chết thì người phạm tội bị áp dụng 02

tình tiết: “Làm người bị bắt, giữ, giam tự sát và chết ” thêm từ “và”,

bỏ từ “hoặc”

Trường hợp nạn nhân có hành vi tự sát nhưng không chết mà chỉ

bị thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần

Trang 35

và hành vi mà có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên thì tùy trường hợp, người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết quy định tại điểm

h khoản 2 hoặc điểm c khoản 3 của điều luật

b) Tra tẩn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc

hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam

Trường hợp phạm tội này nhà làm luật đã nêu nhiều hành vi để nói lên tính chất nghiêm trọng của tội phạm Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà khi áp dụng tình tiết phạm tội này, cơ quan tiến hành

tố tụng cần căn cứ vào hành vi cụ thể để xác định người phạm tội có những hành vi nào

l i a Lai ì iu ÙÙL CílịU Cực iiiliil lHiUnÌ ủưọc pilai CltnL, wilUi • > u u' :

tra tẩn dã man, chết đi sống lại Có rất nhiều hình thức tra tấn nhưng nói chung là tra tấn bằng bạo lực Tuy nhiên, có trường hợp người phạm tội tra tấn nạn nhân không phải bằng bạo lực mà bằng tinh thần

Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam là một tập hợp các hành

vi mà có thể hiểu ràng, bất kỳ hành động nào mà theo đó dân đên sự đau đớn hoặc chịu đựng nghiêm trọng về thể chât hoặc tinh thân của nạn nhân14

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rôi loạn tâm thân và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tôn thương cơ thể 61 % trở lên

14 Xem thêm Tuyên bố về bào vệ mọi ngirời khỏi bị Ira tân và các hình thực đoi XIC hay trừng ph ạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1975 Thông qua bơi Nghị quyet ại Ọ1

đòng số 3452 (XXX) ngày 09-12-1975.

Trang 36

Trường hợp phạm tội này hoàn toàn tương tự như trường hợp quy định tại điểm h khoản 2 của điều luật, chỉ khác là nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên Tuy nhiên, khi xác định tình tiết phạm tội này, cần chú ý là thương tích hay tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam không phải

do người phạm tội trực tiếp gây ra mà do người khác gây ra hoặc do nguyên nhân khách quan khác Neu thương tích hay tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân lại do chính người phạm tội gây ra thì tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân mà người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự

Ngoài các tình tiết quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 157

Bộ luật Hình sự thì nhà làm luật không quy định tình tiết nào khác là dấu hiệu định khung hình phạt Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp do bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật mà đã gây ra thiệt hại khác như thiệt hại về tài sản cho bị hại hoặc cho cơ quan, tổ chức mà

bị hại công tác Ví dụ: Ông Đặng Quang Ph là một nhà khoa học đang nghiên cứu một công trình có giá trị hàng trăm tỷ đồng, nhưng

vì bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật nên công trình khoa học mà ông Ph đang nghiên cứu phải bỏ dở, gây thiệt hại 1.500.000.000 đồng Nếu trước đây khoản 3 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 quy định “gây hậu quả nghiêm trọng” thì trường hợp đối với ông Ph sẽ bị coi là trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Do đó, nhiều ý kiến cho ràng, lẽ ra ngoài 03 tình tiết quy định tại khoản 3 Điều 157

Bộ luật Hình sự, nhà làm luật nên quy định trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” mới đáp ứng được thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này Hy vọng rằng, khi có chủ trương sửa đổi,

bổ sung Bộ luật Hình sự 2015, nhà làm luật quan tâm đến ý kiến này

Trang 37

So với khoản 3 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 thì khoản 3 Điều

157 Bộ luật Hình sự 2015 nặng hơn, vì tuy mức hình phạt cao nhất đêu là 12 năm tù nhưng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt

la 05 năm, so với 03 năm mà khoản 3 Điều 123 Bộ luật Hình sự 1999 quy định Do đó, chỉ áp đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ

0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 trở đi, còn trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 nhưng sau thời điêm này mới bị phát hiện, điều tra, truy tố hoặc xét xử thì người phạm tội chỉ bị áp dụng khung hình phạt từ 03 năm đến 12 năm tù

Cung như các trường hợp phạm tội khác, ngoài việc căn cứ vào Đieu 50 Bộ luật Hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiét thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 của điều luật thì mức hình phạt phải nặng hơn người phạm tội chỉ có 01 tình tiết quy định tại khoản 3 của đieu luật Tuy nhiên, cũng có trường họp người phạm tội chỉ có 01 tinh tiêt quy định tại khoản 3 nhưng vẫn bị áp dụng mức hình phạt nặng hơn người phạm tội có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 của đieu luạt Ví dụ: Nạn nhân bị bắt, giữ hoặc bị giam trái pháp luật dẫn đen nạn nhân bị chết thì mức hình phạt phải nặng hơn trường hợp nạn nhân tự sát nhưng không chết, mà chỉ bị tổn hại đến sức khỏe có

tỷ lệ tôn thương cơ thể 31% và bị đối xử vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm

Neu người phạm tội có nhiều tỉnh tiết giảm nhẹ, không có tình tiêt tăng nặng, tòa án có thể phạt dưới 05 năm tù; việc cho người phạm tội được hưởng án treo phải hết sức thận trọng và phải có đủ

N gười phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 của điều luật thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

Trang 38

điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự Nếu người phạm tội

có nhiều tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ, là người thuộc đối tượng nghiêm trị được quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều

3 Bộ luật Hình sự (người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn

để phạm tội, người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng) Ngoài các tình tiết quy định tại khoản 3 của điều luật thì người phạm tội còn thuộc nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật thì không thể cho hưởng án treo, mà có thể bị áp dụng mức hình phạt cao của khung hình phạt

4 Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ

01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc

từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc trường hợp được hưởng án treo

Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, tòa án cần xác định, nếu xét thấy để người phạm tội đảm nhiệm những chức

vụ đó có thể gây nguy hại cho xã hội, thì mới áp dụng hình phạt này, không nên áp dụng tràn lan Thông thường, chỉ áp dụng hình phạt này đối với trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Trang 39

TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA NGƯỜI KHÁC

Điều 158 Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chô ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đên 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;

b) Đuối trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ ở của họ;

c) Chiêm giữ chỗ ở hoặc cản trở trải pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ;

d) Xam níiạp trai p tia p luạt d iu Ư cua người Uiac.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3 Người phạm tội còn cỏ thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Định nghĩa: Xâm phạm chỗ ở của người khác là hành vi khảm

xét trải pháp luật chỗ ở, đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chỗ

ở của họ; chiếm giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang

ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ hoặc có hành vi xâm nhập trái pháp luật chỗ ở của họ.

Trang 40

So với Điều 124 Bộ luật Hình sự 1999 thì Điều 158 Bộ luật Hình

sự 2015 đã sửa tên tội danh từ tội “xâm phạm chỗ ở của công dân” thành tội ‘‘xâm phạm chỗ ở của người khác Việc sửa tên tội danh không chỉ có ý nghĩa về câu chữ cho phù hợp với điều văn của điều luật, mà còn thể hiện được việc thể chế hóa quyền con người mà Hiến pháp năm 2013 quy định Chỗ ở của người khác rộng hơn khái niệm chỗ ở của công dân

Mặc dù điều văn của điều luật nêu 04 hành vi (khám xét, đuổi, chiếm giữ và xâm nhập) nhưng các hành vi này đều được gọi chung

là hành vi xâm phạm, nên dù người phạm tội thực hiện 01 hoặc cả 04 hành vi thì cũng chỉ định tội là “xâm phạm chỗ ở của người khác”

Tội danh của tội phạm này là “xâm phạm chỗ ở của người khác”

mà không quy định “xâm phạm trái pháp luật (hay trái phép) chỗ ở của người khác”, nhưng không vì thế mà cho rằng tội phạm này có cả hành vi khám xét, đuổi, chiếm giữ và xâm nhập đúng luật chồ ở của người khác, vì bản thân thuật ngữ “xâm phạm” đã bao hàm tính trái phép (trái pháp luật) rồi Tất cả các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của người khác đều không kèm theo từ “trái pháp luật” hay từ

“trái phép” Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, chỉ coi là tội phạm khi hành vi xâm phạm trái phép chỗ ở của người khác, vì trên thực tế

có nhiều trường hợp có nhiều hành vi khám xét, đuổi, chiếm giữ và xâm nhập chỗ ở của người khác được pháp luật cho phép Đây chỉ là

ý kiến có tính chất về học thuật nhưng bản thân các hành vi “khảm xét, đuổi, chiếm giữ và xâm nhập ” trái phép chỗ ở của người khác đã

được nhà làm luật quy định là “xâm phạm” nên không cần phải quy định thêm từ “trái phép” nữa

Ngày đăng: 02/11/2023, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w