Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV trong bối cảnh nền ki
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN MINH KHÔI
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG XANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 2TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ngân hàng xanh hiện đã và đang trở thành một chiến lược quan trọng đối với các ngân hàng thương mại Thực tế là ngân hàng xanh đã tạo ra những thay đổi lớn trong môi trường làm việc của nhân viên và làm thay đổi việc cung cấp các dịch
vụ ngân hàng cho các khách hàng Nhận thức được lợi ích mà ngân hàng xanh mang lại, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV) đang dần hướng đến việc triển khai áp dụng công nghệ trong hệ thống ngân hàng cho nhân viên ngân hàng bao gồm cả hoạt động nội bộ và các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, hiện tại các chính sách hoạt động nội bộ cũng như những chương trình xanh triển khai trong hoạt động ngân hàng tại BIDV chỉ mang tính chất ngắn hạn, phong trào, chưa mang tính chiến lược, hoạt động lâu dài
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển Bằng cách sử dụng lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng mô hình công nghệ (UTAUT) trong các ngân hàng thương mại, tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV thông qua kết quả khảo sát của gần
300 nhân viên hiện đang làm việc tại BIDV
Nghiên cứu cho thấy có 8 nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện ngân hàng xanh của các nhân viên tại BIDV là hình ảnh của nhân viên ngân hàng, nỗ lực kỳ vọng, điều kiện tạo thuận lợi, kết quả kỳ vọng, mối quan tâm về ngân hàng, ảnh hưởng xã hội, sự phức tạp và ý định hành vi Luận văn góp phần vào việc xây dựng một hệ thống thang đo phù hợp đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung, giúp cho những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng xanh tại Việt Nam
có được hệ thống thang đo về ý định thực hiện hoạt động ngân hàng xanh Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp để việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV được hiệu quả trong thời gian tới
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và đã được ghi chú rõ ràng trong tài liệu tham khảo Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cùng các bài viết được đăng tải trên các báo của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ dàng tra cứu, kiểm chứng Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn tốt nghiệp của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả,
TRẦN MINH KHÔI
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin dành lời tri ân sâu sắc đến TS Lê Thị Kim Xuân – người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dẫn dắt, dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình, cho tôi những góp ý vô cùng sâu sắc và quý giá để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ tốt nhất có thể
Tiếp theo tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo kính yêu của trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt những tri thức vô giá trong suốt 6 năm gắn bó tại trường từ những năm đầu tiên của đại học đến khi hoàn thành chương trình thạc sĩ ngày hôm nay
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp làm việc tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Tây Sài Gòn, các anh chị đã tạo điều kiện hỗ trợ, đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu đạt kết quả tốt nhất
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè – những người đã luôn giúp đỡ, đồng hành và ủng hộ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng!
TRẦN MINH KHÔI
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
hoạt động về Môi trường – Xã hội và Hướng dẫn môi trường, Sức khỏe và An toàn
nghiệp
Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
môi trường
Quốc tế Nhật Bản
Trang 6POS Điểm chấp nhận thẻ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
BIDV
44
2.3 Số lượng thiết bị Số lượng thiết bị và giá trị (tỷ đồng) được thực
hiện tại ATM, POS theo báo cáo quý IV 2013 – 2016 của NHNN
4.6 Kết quả Cronbach’s Alpha của thang đo Mối quan tâm về môi
trường
82
ngân hàng
82
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 9MỤC LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.2.1 Thời gian nghiên cứu 4
1.4.2.2 Không gian nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
1.6.1 Ý nghĩa khoa học 7
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
1.7 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 7
1.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7
1.7.2 Các nghiên cứu trong nước 9
Trang 101.8 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG XANH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG XANH TẠI BIDV 12
2.1 Tổng quan về ngân hàng xanh 12
2.1.1 Khái niệm 12
2.1.2 Đặc điểm ngân hàng xanh 15
2.1.3 Phân biệt ngân hàng xanh và ngân hàng truyền thống 16
2.2 Hoạt động ngân hàng xanh 18
2.2.1 Hoạt động ngân hàng xanh trong nội bộ của ngân hàng 19
2.2.2 Hoạt động ngân hàng xanh trong quá trình kinh doanh 20
2.2.2.1 Hoạt động tiền gửi 20
2.2.2.2 Hoạt động tín dụng 20
2.2.2.3 Hoạt động cung cấp dịch vụ khác 21
2.2.3 Hoạt động ngân hàng xanh trong quản trị và định hướng xã hội 21
2.3 Lợi ích và ý nghĩa khi thực hiện ngân hàng xanh 22
2.4 Hạn chế và thách thức 24
2.5 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam 26
2.5.1 Thực trạng triển khai thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước giai đoạn 2012 – 2015 26
2.5.2 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại các Ngân hàng thương mại 27
2.5.2.1 Hoạt động nội bộ 28
2.5.2.2 Hoạt động ngân hàng xanh trong quá trình kinh doanh 31
2.5.2.3 Hoạt động ngân hàng xanh trong quản trị và định hướng xã hội 38
2.6 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV 39
2.6.1 Tổng quan về BIDV 39
2.6.2 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV 41
Trang 112.6.2.1 Hoạt động nội bộ ngân hàng 41
2.6.2.2 Quá trình kinh doanh 43
2.6.2.3 Quản trị và định hướng xã hội 50
2.7 Đánh giá chung về tình hình thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam 52
2.7.1 Thành tựu 52
2.7.2 Hạn chế 53
2.7.3 Nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI CHẤP NHẬN CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 59
3.1 Lý thuyết nghiên cứu về hành vi chấp nhận công nghệ mới 59
3.1.1 Các lý thuyết nghiên cứu về hành vi chấp nhận công nghệ trước đó (TRA, TAM, UTAUT) 59
3.1.1.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 59
3.1.1.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 59
3.1.1.3 Mô hình hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT) 60
3.1.2 So sánh sự phù hợp giữa các mô hình 62
3.2 Thiết kế nghiên cứu, thang đo các nhân tố và bảng hỏi điều tra 63
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 63
3.2.2 Thiết kế thang đo các nhân tố 64
3.2.2.1 Kết quả kỳ vọng 64
3.2.2.2 Nỗ lực kỳ vọng 65
3.2.2.3 Ảnh hưởng xã hội 67
3.2.2.4 Điều kiện tạo thuận lợi 68
3.2.2.5 Mối quan tâm về môi trường 69
3.2.2.6 Sự phức tạp 69
Trang 123.2.2.7 Hình ảnh của nhân viên ngân hàng 71
3.2.2.8 Ý định hành vi 72
3.2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả 73
3.2.4 Thiết kế bảng câu hỏi 75
3.3 Phương pháp nghiên cứu 75
3.4 Số liệu nghiên cứu 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 77
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 78
4.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu và số liệu nghiên cứu 78
4.1.1 Thống kê mô tả và tần suất đặc trưng của các cá nhân khảo sát 78
4.1.2 Thống kê mô tả và tần suất về đặc trưng có liên quan 79
4.1.3 Thống kê mô tả các thang đo 79
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo 80
4.2.1 Kiểm định Cronbach Alpha 80
4.2.2 Kết quả phân tích nhân tố EFA 83
4.3 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 86
4.4 Kiểm định mô hình 89
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 91
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 96
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 97
5.1 Kết luận và đóng góp của đề tài 97
5.1.1 Kết luận 97
5.1.2 Đóng góp của đề tài 98
5.2 Đề xuất một số gợi ý 98
5.2.1 Căn cứ trên định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước 99
Trang 135.2.2 Căn cứ dựa trên kết quả nghiên cứu và gợi ý một số giải pháp mở rộng
hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV. 100
5.2.2.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động ngân hàng xanh 100
5.2.2.2 Áp dụng kỹ thuật công nghệ cao trong hoạt động ngân hàng 104
5.2.2.3 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ xanh 105
5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 107
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 1 115
PHỤ LỤC 2 117
PHỤ LỤC 3 119
PHỤ LỤC 4 131
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu, một số quốc gia lấy mục tiêu tăng trưởng làm tiêu chí hàng đầu mà bỏ qua nhiều hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên Đây là vấn đề luôn được các Tổ chức quốc tế quan tâm nhằm tạo dựng sự phát triển ổn định, bền vững và lâu dài Chính vì thế, kinh tế xanh, tăng trưởng xanh được xem như là hướng đi mới và phù hợp với xu thế phát triển bền vững của các quốc gia Kinh tế xanh được hiểu là một nền kinh tế sạch, thân thiện với môi trường1 Mục tiêu của kinh tế xanh là nhằm giúp cải thiện đời sống, giảm thiểu những rủi ro từ môi trường và sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang rất chú trọng đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế xanh nhằm hướng tới sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững – phát triển trên cả 3 bình diện kinh tế – xã hội – môi trường là một yêu cầu thiết yếu và cấp bách đối với Việt Nam hiện nay, nhưng cũng
là một thách thức lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Đây là trách nhiệm chung cần có sự phối hợp đồng bộ và cần nhiều nỗ lực hơn nữa từ tất cả các thành phần kinh tế, các cơ quan quản lý, các tổ chức xã hội Ngành ngân hàng với vai trò
là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ đối với sự phát triển bền vững của đất nước Một hệ thống ngân hàng nếu tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động cấp tín dụng hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, giảm thiểu những bất lợi đến xã hội và môi trường Ngành ngân hàng được xem là thân thiện với môi trường vì các tác động bên trong từ việc sử dụng năng lượng điện, giấy, mực in, thường không đáng kể Các tác động đến môi trường của ngân hàng không trực tiếp liên quan đến hoạt động ngân hàng mà liên quan đến hoạt động bên ngoài được tạo ra từ chính khách hàng của ngân hàng Chính vì vậy việc tăng cường quản lý rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động cấp tín dụng là cần thiết giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro, bảo toàn được nguồn vốn cho vay, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao uy tín tổ chức, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, xã hội và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên Một trong những nỗ lực mà các ngân hàng hướng đến hiện
1
Kim Ngọc, Nguyễn Thị Kim Thu, Xu hướng phát triển kinh tế xanh trên thế giới, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5 (90)-2015, tr.9-10
Trang 15nay là việc thực hiện các hoạt động ngân hàng xanh Tại Việt Nam, khái niệm
“ngân hàng xanh” vẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ và chỉ được nhận thức bởi các
ngân hàng và xã hội gần đây Khá ít có ngân hàng hay tổ chức tài chính nào tiên phong thực hiện xây dựng ngân hàng xanh mặc dù họ tham gia với vai trò khá tích cực trong nền kinh tế
Quyết định số 1393/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã cho thấy mục tiêu của nền kinh tế hướng tới là phát triển bền vững Ngân hàng Nhà nước cũng đã có những chính sách về lĩnh vực này như Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường-
xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; và Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/8/2015 ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020 Đây có thể được xem như là bước khởi đầu trong việc tiếp cận và định hướng phát triển nền kinh tế theo xu hướng chung của thế giới Việc thực hiện ngân hàng xanh được xem như là một vấn
đề vô cùng cấp thiết, một nguồn lực quan trọng để thực hiện được các mục tiêu chiến lược của tăng trưởng xanh cho việc phát triển bền vững
Với vai trò vị thế của một ngân hàng hàng đầu Việt Nam, Ngân Hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã xác định sứ mệnh của mình là:
“Luôn đồng hành, chia sẻ và cung cấp dịch vụ tài chính – ngân hàng hiện đại, tốt nhất cho khách hàng; cam kết mang lại giá trị tốt nhất cho các cổ đông; tạo lập môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, cơ hội phát triển nghề nghiệp và lợi ích xứng đáng cho mọi nhân viên; và là ngân hàng tiên phong trong hoạt động phát triển cộng đồng” Việc hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan: cổ đông, người lao động, khách hàng và cộng đồng chính là vì sự tồn tại lâu dài của chính bản thân ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng một cách toàn diện, dài hạn và bền vững, mang lại lợi ích cho nền kinh tế đất nước và toàn xã hội Đây được xem là một trong những mục tiêu trọng tâm mà hoạt động ngân hàng xanh muốn hướng đến
Hiện tại các chính sách hoạt động nội bộ cũng như những chương trình xanh triển khai trong hoạt động ngân hàng tại BIDV chỉ mang tính chất ngắn hạn, phong trào, chưa mang tính chiến lược, hoạt động lâu dài Các NHTM tại Việt Nam nói chung và BIDV nói riêng vẫn chưa chú trọng được lợi ích mà hoạt động ngân
Trang 16hàng xanh mang lại trong khi họ phải đánh đổi lợi ích kinh tế từ những dự án cho vay ảnh hưởng đến môi trường Do đó, sự cần thiết nâng cao nhận thức về lợi ích
mà ngân hàng xanh mang lại cùng với việc triển khai áp dụng công nghệ trong hệ thống ngân hàng cho nhân viên ngân hàng bao gồm cả hoạt động nội bộ và các hoạt động kinh doanh của ngân hàng; đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh cung cấp cho khách hàng là nhu cầu cấp thiết, cần phải được thực hiện để hoạt động ngân hàng xanh đạt hiệu quả Nhận thức của nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh là điều quan trọng cần phải được hiểu rõ bởi lẽ nhân viên ngân hàng là những người đi đầu trong việc thực hiện các sáng kiến ngân hàng xanh trong lĩnh vực ngân hàng, việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh không được xem là thành công nếu nhân viên ngân hàng không có động cơ để sử dụng các loại hình dịch vụ đó và do đó sẽ không mang lại lợi ích cho ngân hàng (Al-Smadi, 2012) Nhân viên ngân hàng bình thường cũng có thể trở thành “nhân viên xanh”, chỉ khác nhau một vài điểm nhỏ là nhân viên ngân hàng xanh tiến bộ về mặt đạo đức nghề nghiệp Điều đó sẽ không gây trở ngại lớn và nhân viên ngân hàng xanh chấp nhận thay đổi theo xu hướng mới Nếu nhận thức của nhân viên về ngân hàng xanh là tích cực sẽ thúc đẩy việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại ngân hàng diễn ra nhanh chóng và đạt kết quả tốt
Vì vậy, việc tìm hiểu “Nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là vấn đề quan trọng được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu Kết quả của
luận văn này sẽ cung cấp những hiểu biết sâu hơn về việc xác định các nhân tố có thể ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ của nhân viên ngân hàng trong việc áp dụng
và sử dụng hoạt động ngân hàng xanh trong môi trường làm việc tại BIDV Nghiên cứu này có thể giúp BIDV hoàn thiện việc triển khai ngân hàng xanh để thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV
Trang 17 Đề xuất một số gợi ý để việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV được hiệu quả
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Việt Nam nói chung và BIDV nói riêng giai đoạn 2012 – 2017, đánh giá những kết quả đạt được, xem xét những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân
Thu thập các kết quả nghiên cứu, xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV
được hiệu quả trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả sẽ trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu được đặt ra để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu nêu trên nhằm lắp đầy khoảng trống nghiên cứu mà đề tài hướng đến:
Câu 1: Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV như thế nào?
Câu 2: Mô hình nào thích hợp để xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV? Mức độ tác động của các nhân tố đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV ra sao?
Câu 3: Một số gợi ý nào giúp việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV được hiệu quả?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những nhân tố ảnh hướng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Thời gian nghiên cứu
Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2012 – 2017;
số liệu khảo sát được thực hiện từ tháng 04/2018 – tháng 06/2018
1.4.2.2 Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại BIDV
Trang 181.5 Phương pháp nghiên cứu
Do công nghệ xanh tạo thành nền tảng của ngân hàng xanh – một sản phẩm dịch vụ tài chính mới nên cần hiểu rõ về sự chấp nhận và sử dụng của loại công nghệ này trong nghiên cứu hệ thống thông tin (Afrin Rifat and Nabila Nisha và cộng sự, 2016) Cuộc khảo sát các Ngân hàng ở Ấn Độ về vai trò của công nghệ đối với ngân hàng xanh đã cho thấy sự quan trọng của công nghệ đối với việc thực hiện ngân hàng xanh tại các ngân hàng (Munnu Prasad.V, 2011) – trong đó 69% nói rằng
họ đã áp dụng công nghệ cho ngân hàng xanh; 100% đồng ý với việc áp dụng công nghệ sẽ giúp tiết kiệm thời gian; phần lớn trả lời công nghệ đóng góp mức độ lớn đối với ngân hàng xanh; và những ý kiến đồng tình về lợi ích đóng góp của công nghệ Điều này đã chứng tỏ rằng công nghệ, kỹ thuật hiện đại đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện ngân hàng xanh Các ngân hàng chấp nhận thực hiện ngân hàng xanh cũng giống như việc chấp nhận áp dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào hệ thống ngân hàng
Một số mô hình lý thuyết chủ yếu phát triển từ các lý thuyết về tâm lý học
và xã hội học đã được sử dụng để giải thích sự chấp nhận và sử dụng công nghệ Ví
dụ, Davis (1989) và Davis et al (1989) tập trung vào việc kiểm tra các yếu tố quyết định chấp nhận công nghệ máy tính và việc sử dụng nó thông qua Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM) Trên cơ sở những nghiên cứu trước đó, Venkatesh và cộng
sự (2003) sau đó phát triển mô hình UTAUT Bốn yếu tố (hiệu quả kỳ vọng, nỗ lực
kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội và các điều kiện thuận lợi) được đưa vào mô hình, chủ yếu hướng đến dự đoán ý định hành vi sử dụng công nghệ và công nghệ sử dụng trong bối cảnh tổ chức, điều chỉnh bởi các biến thể khác nhau như tuổi, giới tính, kinh nghiệm và sự tự nguyện (Venkatesh và cộng sự, 2012)
UTAUT dựa trên một mô hình cơ sở để nghiên cứu nhiều công nghệ trong
cả hai hình thức tổ chức và phi tổ chức Venkatesh và các cộng sự (2012) sau đó tuyên bố rằng việc bổ sung các cấu trúc mới có thể góp phần mở rộng các chân trời
lý thuyết của UTAUT Trong bài luận văn này, tác giả đã chọn mô hình UTAUT ban đầu làm nền tảng lý thuyết để phát triển mô hình nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển
Trang 19Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng có liên quan để giải quyết các mục tiêu, cũng như để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Việc áp dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng sẽ cho phép tác giả
có cái nhìn toàn diện và phát hiện được nhiều bằng chứng khoa học đáng tin cậy hơn trong quá trình nghiên cứu Cùng với hai phương pháp định lượng và định tính, tác giả xây dựng quá trình nghiên cứu gồm hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Giai đoạn 1 : Nghiên cứu sơ bộ
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm xây dựng mô hình để đo lường các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh Đồng thời
sử dụng các nghiên cứu trước đây có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
để đánh giá và đưa ra mô hình phù hợp nhất Từ đó, điều chỉnh các nhân tố cho phù hợp với thực tế tại BIDV Thông qua các buổi thảo luận nhóm, đưa ra các ý kiến phản biện để giải quyết những câu hỏi về kinh nghiệm và nhận thức của nhân viên ngân hàng về việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê thông qua việc thu thập các số liệu có sẵn nhằm thấy rõ thực trạng thực hiện ngân hàng xanh tại BIDV và các NHTM ở Việt Nam
Giai đoạn 2: Nghiên cứu chính thức
Đề tài áp dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp, gửi mail đến các nhân viên của BIDV và đăng trên mạng xã hội BIDV workplace thông qua bảng câu hỏi Mục đích của nghiên cứu này là sàng lọc các biến quan sát, kiểm định mô hình thang đo
và xác định các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV Các số liệu thu được thông qua phương pháp thống kê mô tả để tổng hợp và phân tích ý nghĩa của chúng Công cụ hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory factors analysis) được sử dụng để sàng lọc các thang đo các khái niệm nghiên cứu Mô hình đo lường tới hạn được kiểm định thông qua phương pháp nhân tố khẳng định CFA (confirmatory factor analysis) và phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (structural equation modeling) được sử dụng để kiểm định mô hình lý thuyết
Trang 201.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học nhằm bổ sung, hoàn thiện khung lý thuyết để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện ngân hàng xanh tại BIDV, đồng thời xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến việc thực hiện ngân hàng xanh tại BIDV Tác giả đã lựa chọn mô hình hợp nhất về chấp nhận
và sử dụng công nghệ (Vankatesh & ctg, 2013) làm nền tảng lý thuyết và có điều chỉnh một số biến cho phù hợp để phát triển mô hình nghiên cứu cho đề tài, góp phần lấp đầy khoảng trống của các nghiên cứu trước đó
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã đóng góp về mặt thực tiễn thông qua việc phân tích thực trạng thực hiện ngân hàng xanh tại BIDV và các NHTM ở Việt Nam, sự cấp thiết và tầm quan trọng của việc thực hiện ngân hàng xanh tại BIDV nói chung và hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng Nghiên cứu này có ý nghĩa ứng dụng đối với nhà quản
lý của BIDV nói riêng va các NHTM nói chung trong việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh trong giai đoạn hiện nay
1.7 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Sarita Bahl (2012) nhấn mạnh các phương thức để tạo ra nhận thức trong
nội bộ cũng như trong toàn hệ thống ngân hàng, được thực hiện thông qua các nhóm mục tiêu đào tạo để đạt được sự phát triển bền vững thông qua ngân hàng xanh Ngoài ra, nghiên cứu còn liệt kê những phương pháp hiệu quả cho ngân hàng xanh
và phân tích các chiến lược trong việc thúc đẩy hoàn thiện ngân hàng xanh Nghiên cứu sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Nghiên cứu cho thấy những tin tức xanh hàng ngày được truy cập hoặc được xếp vào sự lựa chọn ưa thích là phương thức hiệu quả để tạo ra nhận thức cho các nhà quản lý và nhân viên để đạt được sự phát triển bền vững thông qua các ngân hàng xanh Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các
sự kiện và cuộc họp, phương tiện truyền thông và các trang web được đánh giá là phương tiện hiệu quả để tạo ra được mục tiêu phát triển bền vững thông qua các hoạt động ngân hàng xanh [41]
Nhóm nghiên cứu của bộ phận Green Banking & CSR Department
Bangladesh Bank (2011) nhận thấy rằng các dịch vụ ngân hàng xanh đang được sử
Trang 21dụng với tần suất ngày càng tăng ở hầu hết các nước đang phát triển, bao gồm Bangladesh Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã xác định tầm quan trọng và lợi ích của các dịch vụ này đối với cả ngân hàng và khách hàng, nhưng mức độ chấp nhận thực hiện ngân hàng xanh ở Bangladesh vẫn còn thấp Nghiên cứu đã tìm hiểu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ ngân hàng xanh của các ngân hàng Nghiên cứu này kết hợp mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), cam kết và hỗ trợ của cấp quản lý, áp lực của khách hàng và đối thủ cạnh tranh để đưa ra mô hình lý thuyết Dữ liệu chính được thu thập từ 120 bảng câu hỏi hợp lệ được phân phát cho nhân viên của Bangladesh Bank và các sinh viên của North South University Phân tích số liệu đã được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận phần tử nhỏ nhất (PLS) Khung lý thuyết TAM đã được sử dụng để phân tích ý định hành vi Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng (1) nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng đến thái độ sử dụng và từ mô hình cũng chỉ ra rằng cả cam kết – hỗ trợ của cấp quản lý và áp lực của khách hàng có thể có tác động đáng kể đến kế hoạch áp dụng ngân hàng xanh, và (2) cam kết quản lý – hỗ trợ và áp lực của khách hàng được coi là một nhân tố dự báo quan trọng trong việc thông qua ngân hàng xanh Nghiên cứu này giúp các nhà quản lý tìm ra các yếu tố liên quan để áp dụng ngân hàng xanh Lãnh đạo của một ngân hàng có thể xem xét các kết luận của bài nghiên cứu trong việc đánh giá các điều kiện để các ngân hàng chấp nhận ngân hàng xanh và giá trị ngân hàng của họ [42]
Nghiên cứu của Afrin Rifat and Nabila Nisha và cộng sự (2016) bàn về vai
trò của các ngân hàng thương mại trong việc chấp nhận ngân hàng xanh: trường hợp của Bangladesh Bài nghiên cứu cho rằng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Bangladesh liên tục tăng, kết quả là nhiều ngân hàng đang cố gắng giữ chân khách hàng của họ bằng nhiều chiến lược khác nhau Đề cập đến vấn đề này, hiện nay ngân hàng xanh đã và đang trở thành một chiến lược quan trọng đối với các ngân hàng, ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường, trách nhiệm xã hội và cân bằng sinh thái Thực tế là ngân hàng xanh đã tạo ra những thay đổi lớn trong môi trường làm việc và làm thay đổi việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra thái độ của nhà quản lý và nhân viên của họ đối với việc áp dụng các sáng kiến ngân hàng xanh ở Bangladesh bằng cách sử dụng lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng mô hình công
Trang 22nghệ (UTAUT) trong các ngân hàng thương mại Nghiên cứu cho thấy nỗ lực kỳ vọng, mối quan tâm về môi trường và các quy định của ngân hàng trung ương có ảnh hưởng mạnh đến ý định và nhận thức của các nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện ngân hàng xanh ở Bangladesh Kết quả chung cho thấy nhà quản lý của các ngân hàng đã có cái nhìn tích cực trong việc áp dụng các hoạt động ngân hàng xanh như là một phần trong hoạch định chiến lược phát triển ngân hàng [43]
1.7.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thân Hoài My (2016) đã giúp xây dựng thang đo
về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thực hiện ngân hàng xanh tại hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam Xem xét các nhân tố có tác động đến ý định chấp nhận thực hiện ngân hàng xanh thông qua khảo sát gần 200 nhân viên ngân hàng làm việc tại các ngân hàng TMCP ở TP.HCM có hiểu biết về hoạt động ngân hàng xanh bằng việc sử dụng phương pháp độ tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố khám phá; phương pháp phân tích nhân tố CFA Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đóng góp về mặt thực tiễn thông qua việc phân tích các nhân tố tác động sẽ đưa ra những cơ hội và thách thức mà hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đối mặt, sự cấp thiết và tầm quan trọng của việc thực hiện ngân hàng xanh tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam để từ đó có những kiến nghị giải pháp cho quá trình thực hiện ngân hàng xanh có hiệu quả và đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh cùng với phát triển bền vững, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường [9]
Trần Thị Thanh Tú & Nguyễn Thị Phương Dung (2017) chỉ ra các yếu tố
ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh của các NHTM ở Việt Nam và vai trò của ngân hàng xanh đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam Một cuộc khảo sát quy mô lớn tiến hành với 32 ngân hàng và tổ chức tài chính ở Việt Nam để có được 329 mẫu phiếu trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016 cung cấp bằng chứng cho nghiên cứu Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy, bài viết cho thấy việc hiểu các định nghĩa về ngân hàng xanh, hoạt động ngân hàng xanh hiện nay, lợi thế trong phát triển ngân hàng xanh và các ngành trọng điểm có mối tác động tích cực đối với
sự sẵn lòng chấp nhận thực hiện ngân hàng xanh; trong khi các rào cản có mối quan
hệ tiêu cực với sự sẵn sàng sử dụng dịch vụ ngân hàng xanh của các ngân hàng Việt Nam Từ những kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số giải pháp để không chỉ
Trang 23nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của ngân hàng xanh trong phát triển kinh tế
mà còn cải thiện sự sẵn lòng thực hiện các hoạt động ngân hàng xanh tại các NHTM của Việt Nam [44]
Nhìn chung, tại Việt Nam, các khái niệm như “tăng trưởng xanh, ngân hàng
xanh hay tín dụng xanh” dường như vẫn chưa được phổ biến và chú trọng đúng mức Một số bài báo chỉ dừng lại ở mức khai thác thông tin, đánh giá vai trò, chưa phân tích được đúng, đủ thực tế triển khai tại Việt Nam Đã có các công trình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng xanh ở Việt Nam, nhưng vì lý do khách quan nên việc thu thập các số liệu liên quan đến hoạt động ngân hàng xanh còn khó khăn, chưa đi sâu cụ thể vào từng NHTM để phân tích và nắm rõ đặc điểm, thế mạnh cũng như hạn chế của mỗi NHTM Hiện tại, cũng chưa
có công trình nghiên cứu khoa học nào liên quan đến vấn đề về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV Kế thừa các nghiên cứu đã có trước đó, luận văn tiến hành nghiên cứu về các yếu tố có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của nhân viên ngân hàng đối với việc thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển Đó là vấn đề
có cơ sở và mang tính thiết thực, góp phần lấp đầy một phần khoảng trống còn thiếu của các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây, đó cũng chính là hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn
1.8 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1 : Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2 : Tổng quan về ngân hàng xanh và thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV
Chương 3 : Lý thuyết nghiên cứu về hành vi chấp nhận công nghệ và mô hình nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
Chương 5 : Kết luận
Trang 24TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại BIDV là vấn đề cần thiết mang ý nghĩa thực tiễn Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu hướng đến để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu còn thiếu, đồng thời tác giả đã trình bày tổng quan về tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, giới thiệu về đối tượng, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, – đây là nền tảng bắt đầu cho các chương tiếp theo
Trang 25CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG XANH VÀ THỰC TRẠNG
THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG XANH TẠI BIDV
2.1 Tổng quan về ngân hàng xanh
2.1.1 Khái niệm
Tại nhiều nước trên thế giới, ngân hàng xanh là một khái niệm mới được
biết đến trong những năm gần đây, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, bởi lẽ các quốc gia đều đang phải đối mặt với những tác động nặng nề ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và các yêu cầu về bảo vệ môi trường đang bị đánh đổi để đạt được mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải nhìn nhận lại cách thức tổ chức và các mô hình hoạt động trong hệ thống tài chính của mình, bao gồm các ngân hàng Các vấn đề về phát triển bền vững, trách nhiệm kinh doanh và trách nhiệm xã hội, đạo đức, môi trường đều được xem xét lại dưới một tầm quan trọng cao hơn Tại đây, ngân hàng xanh nổi lên như một hình mẫu cho ngân hàng trong tương lai, là nền tảng cho việc hướng đến một nền kinh tế xanh phát triển bền vững
Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) và 9 ngân hàng quốc tế họp ở London bàn
về trách nhiệm của các ngân hàng đối với tài chính phát triển và quyết định xây dựng một bộ tiêu chuẩn thực hiện trách nhiệm đối với môi trường, xã hội dựa trên các bộ tiêu chuẩn đã có của IFC Nguyên tắc xích đạo (EPFIs) về tài trợ dự án được chính thức ra đời năm 2003 dựa trên Bộ tiêu chuẩn hoạt động về Môi trường – Xã hội và Hướng dẫn môi trường, Sức khỏe và An toàn (EHS) đã thu hút 77 tổ chức tài chính tham gia cam kết Bộ tiêu chuẩn này đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại và xếp hạng các ngân hàng xanh hiện nay Trong đó, một ngân hàng được coi là ngân hàng xanh khi thỏa mãn đầy đủ 23 tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội và 47 tiêu chuẩn về trách nhiệm môi trường
Khái niệm về ngân hàng xanh đã được phát triển đầu tiên ở các nước
phương Tây vào năm 2003 với mục đích nhằm bảo vệ môi trường (Lalon, 2015)
Ngân hàng xanh có thể được hiểu trên hai khía cạnh: thứ nhất, hoạt động
ngân hàng xanh trong nội bộ ngân hàng (thông qua những hoạt động giảm thiểu tác động trực tiếp bên trong khu vực ngân hàng đến môi trường như sử dụng năng
lượng, giấy, nước, ); thứ hai, hoạt động ngân hàng xanh đối với bên ngoài thông
Trang 26qua các hành động gián tiếp nhằm tác động, ảnh hưởng đến môi trường do chính khách hàng của ngân hàng gây ra
Cũng có quan điểm cho rằng, ngân hàng xanh là ngân hàng hoạt động như một ngân hàng truyền thống, trong đó cung cấp các sản phẩm dịch vụ vượt trội cho khách hàng và triển khai các chương trình giúp ích cho môi trường, cho cộng đồng
Theo nghĩa hẹp, có thể hiểu rằng, ngân hàng xanh đề cập đến các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải cacbon Hiểu theo nghĩa rộng hơn, có thể nói ngân hàng xanh là ngân hàng bền vững (Imeson M., và Sim A., 2010), ngân hàng phát triển bền vững nếu đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với lợi ích của môi trường, xã hội
Tại hội thảo “Tài chính và ngân hàng xanh” tổ chức vào ngày 25/06/2013 dưới sự chủ trì của Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) phối hợp với Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính, bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng – đại diện Viện Nghiên cứu
quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) giải thích “ngân hàng xanh là các hoạt động,
nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng nhằm khuyến khích các hoạt động vì môi trường
và giảm phát thải carbon” Từ khái niệm này, chúng ta có thể hiểu một ngân hàng
được gọi là xanh sẽ phải tích cực thực hiện các hoạt động như khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ xanh; áp dụng các tiêu chuẩn môi trường khi cấp duyệt vốn vay, cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm phát thải carbon, dự án
về năng lượng tái tạo,
Theo Biswas (2016), định nghĩa ngân hàng xanh là tương đối dễ dàng với
sự kết hợp và thúc đẩy các hoạt động môi trường thân thiện và giảm lượng khí thải carbon (carbon footprint) (hay còn được gọi là dấu chân carbon) từ hoạt động ngân hàng Ngân hàng xanh đề cập đến các hoạt động kinh doanh ngân hàng tiến hành trong các lĩnh vực và theo cách thức giúp giảm khí thải carbon bên ngoài và dấu chân carbon nội bộ ngân hàng Để hỗ trợ cho việc giảm phát thải carbon bên ngoài, các ngân hàng nên tài trợ cho các dự án công nghệ xanh và các dự án ô nhiễm Về giảm thải dấu chân carbon nội bộ bên trong ngân hàng, mặc dù ngân hàng không bao giờ được coi là một ngành công nghiệp gây ô nhiễm, nhưng quy mô hoạt động hiện tại của ngân hàng làm tăng đáng kể lượng khí thải carbon của ngân hàng do sự
sử dụng khổng lồ của họ (VD: Chiếu sáng, điều hòa không khí, điện tử, thiết bị điện, CNTT, v.v ), nhiều rác thải giấy, thiếu các tòa nhà xanh, v.v Vì vậy, các
Trang 27ngân hàng nên áp dụng công nghệ, quy trình và sản phẩm mà kết quả làm giảm đáng kể lượng khí thải carbon cũng như phát triển kinh doanh bền vững
Kaeufer (2010) và González (2008) đã chỉ ra xu thế tất yếu của việc phát triển mô hình ngân hàng xanh và trách nhiệm xã hội với việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng xanh và tác động của việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng xanh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như góp phần bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng xanh và bền vững Trong đó, ngân hàng xanh được chia ra làm 5 cấp độ phát triển, từ thấp đến cao, cụ thể là:
Cấp độ 1: Thực hiện các hoạt động phụ, bằng cách tài trợ cho các sự kiện xanh và tham gia các hoạt động công cộng (hầu hết các ngân hàng đều đang ở cấp
độ này)
Cấp độ 2: Tách bạch phát triển dự án và hoạt động kinh doanh, trong đó ngân hàng phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ xanh riêng biệt (chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ) bổ sung vào danh mục các sản phẩm ngân hàng truyền thống
Cấp độ 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống, trong đó hầu hết các quy trình, sản phẩm của ngân hàng đều tuân thủ nguyên tắc xanh, cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết kế để hỗ trợ tác động xanh ở trên 4 giác độ: con người, quy trình, nguyên tắc và mục đích
Cấp độ 4: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái tầm chiến lược, hoạt động ngân hàng xanh không chỉ giới hạn ở phạm vi các nghiệp vụ đơn lẻ mà được mở rộng thành mạng lưới, liên minh, đối thoại cộng đồng, hay toàn hệ sinh thái nhằm đạt được tính bền vững của các yếu tố xã hội – môi trường và tài chính
Cấp độ 5: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái chủ động, trong đó các hoạt động ngân hàng xanh tương tự như cấp độ 4, song được thực hiện một cách chủ động, có mục đích chứ không phải là hoạt động ứng phó sự thay đổi bên ngoài như sáng kiến tầm chiến lược ở cấp độ 4
Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng “ngân hàng xanh” là ngân hàng
hoạt động trên nền tảng có trách nhiệm với môi trường tự nhiên và xã hội thông qua (1) cung cấp dịch vụ ngân hàng ưu tiên cho việc bảo vệ sự phát triển bền vững của
tự nhiên và xã hội; (2) sự vận hành nội bộ như tiết kiệm điện, nước, giấy, v.v hoặc giảm xả thải, tái sử dụng các rác thải trong quá trình hoạt động
Trang 28Ở nghiên cứu này, tác giả đề cập khái niệm ngân hàng xanh để chỉ các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng khuyến khích các hoạt động vì môi trường, giảm phát thải carbon, bảo đảm có sự gia tăng về lợi nhuận và tác động gìn giữ, bảo vệ môi trường Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt lợi ích của ngân hàng
gắn liền với các lợi ích của môi trường và xã hội
2.1.2 Đặc điểm ngân hàng xanh
Theo Hồ Ngọc Tú & Nguyễn Mai Hảo (2016), Ngân hàng xanh có những đặc điểm chính như:
(i) Triển khai các dịch vụ điện tử và tự động hóa: Thông qua việc áp dụng
nền tảng công nghệ hiện đại, các ngân hàng triển khai dịch vụ điện tử với đầy đủ các loại hình dịch vụ cơ bản như gửi tiền, rút tiền, đổi ngoại tệ, truy vấn, giao dịch trực tuyến, nộp thuế và dịch vụ khách hàng… giúp khách hàng linh hoạt và chủ động hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, xóa bỏ hạn chế về thời gian Đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hình thành hệ thống giao dịch tự động, tích hợp nhiều dịch vụ, tạo sự thuận tiện cho khách hàng
(ii) Ưu tiên cho vay hoặc đầu tư vào dự án có đánh giá các rủi ro liên quan đến môi trường: Các ngân hàng quan tâm đến tín dụng xanh là những khoản cấp tín
dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án ít gây rủi ro đối với môi trường hoặc nhằm bảo vệ môi trường Các ngân hàng tuân thủ quy định về pháp luật môi trường, thực thi công cụ đánh giá tác động môi trường và xã hội để triển khai việc đánh giá, thẩm định dự án trước khi cho vay, hướng tới tăng trưởng bền vững và phát triển xanh, khuyến khích doanh nghiệp bảo vệ môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội
(iii) Quan tâm đến các mục tiêu xã hội, mục tiêu phát triển bền vững và phát triển xanh
(iv) Giám sát, hướng dẫn các dự án của khách hàng để giảm thiểu ô nhiễm
môi trường: Các ngân hàng tăng cường hoạt động ngân hàng xanh trong việc ban
hành tiêu chuẩn báo cáo chung, có các biện pháp quản lý đối với dự án Tác động
và ảnh hưởng của dự án đến môi trường, xã hội càng cao thì biện pháp quản lý, giám sát càng chặt chẽ và yêu cầu khách hàng phải có biện pháp xử lý, khắc phục các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường - xã hội
(v) Thay đổi năng lực đánh giá của cán bộ ngân hàng và khách hàng về các hoạt động thân thiện với môi trường: Ngân hàng chủ động tổ chức đào tạo, tuyên
Trang 29truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân viên trong thực hiện ngân hàng xanh cũng như tuyên truyền cho khách hàng thấy được lợi ích cũng như tầm quan trọng hoạt động ngân hàng xanh mang lại
(vi) Thực hiện xanh hóa trong nội bộ ngân hàng: Việc triển khai hoạt động
ngân hàng xanh bao gồm các hoạt động từ xây dựng chính sách, chiến lược xanh đến xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở vật chất xanh giúp ngân hàng tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu sự lãng phí về tài nguyên điện, nước, giấy, năng lượng
2.1.3 Phân biệt ngân hàng xanh và ngân hàng truyền thống
Theo SOGESID (2012), ngân hàng xanh là ngân hàng hoạt động như một ngân hàng truyền thống và cung cấp các dịch vụ vượt trội cho nhà đầu tư và khách hàng, đồng thời thực thi các chương trình giúp ích cho cộng đồng và môi trường Những ngân hàng xanh không phải là một doanh nghiệp hoạt động thuần túy vì trách nhiệm xã hội (CSR), cũng không hoàn toàn là doanh nghiệp thuần túy vì lợi nhuận; chúng là sự kết hợp mới đảm bảo sự hài hòa và bền vững về cả kinh tế - môi trường – xã hội
Theo Báo cáo nghiên cứu Ngân hàng xanh, tín dụng xanh tại Việt Nam (2015) của nhóm tác giả thuộc Viện Chiến lược Ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam, ngân hàng xanh được xác định rất rõ, đó phải là ngân hàng đảm bảo mục tiêu
xã hội và môi trường song song với mục tiêu kinh tế So với các mô hình ngân hàng truyền thống, ngân hàng xanh cũng theo đuổi chiến lược hoạt động ở cấp bang, có cấu trúc đa dạng, tận dụng đa dạng các nguồn tài chính khác nhau để tạo ra một danh mục sản phẩm dịch vụ khá đa dạng Các ngân hàng tận dụng công cụ tài chính như các khoản vay lãi suất thấp, thời gian dài, vốn quay vòng, sản phẩm bảo hiểm (như bảo lãnh vốn vay, dự trữ rủi ro tín dụng) và các khoản đầu tư công chi phí thấp/hoặc những sản phẩm tài chính sáng tạo, dự trữ sản phẩm
Các ngân hàng xanh sẽ tìm kiếm những mục tiêu đặc biệt hơn ngân hàng truyền thống và sẽ khai thác thế mạnh của mình khi thu hút vốn trên thị trường tài chính Theo Nguyễn Phú Hà (2016), có thể nhận thấy những nét đặc trưng của ngân hàng xanh như sau:
Thứ nhất, ngân hàng xanh có thể tổ chức theo 3 hình thức: (i) hoạt động độc
lập như một pháp nhân độc lập – mô hình này cho phép ngân hàng được tự chủ và thích ứng linh hoạt; (ii) ngân hàng xanh có thể được phát triển từ cơ quan của nhà
Trang 30nước đã tồn tại sẵn; (iii) ngân hàng xanh là một chi nhánh, hoặc một bộ phận của một tổ hợp ngân hàng và hoạt động theo quy chế công ty con
Thứ hai, điểm đặc biệt trong cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng xanh là bên
cạnh việc huy động vốn trên thị trường tài chính, ngân hàng xanh thường nhận được tiền góp vốn đầu tư từ các quỹ Ngoài ra, vốn của ngân hàng xanh còn được huy động bằng việc tổ chức các cuộc đấu giá thương mại và từ các quỹ phát triển tư nhân, phụ thuộc vào hình thức tổ chức hoạt động theo đặc thù của mỗi ngân hàng xanh
Thứ ba, ngân hàng xanh theo đuổi tôn chỉ và mục tiêu hành động là tạo ra
tác động xanh một cách tích cực, thông qua các giải pháp cho vay và đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp (vào các quỹ phát triển xanh) bên cạnh mục tiêu kinh doanh để tồn tại, phát triển bền vững Hiểu một cách chung nhất, mô hình ngân hàng xanh là
sự kết hợp hài hòa giữa 4 nhân tố cốt lõi: thiên nhiên, con người, cộng đồng và lợi ích của các cổ đông
Thứ tư, xét trên khía cạnh cho vay và đầu tư nói chung, các ngân hàng xanh
đảm bảo rằng tổng thể các quy định và chính sách về cho vay và đầu tư đều bám sát định hướng, văn bản hướng dẫn chi phối ngân hàng trong mọi quyết định đầu tư, cho vay Ví dụ, để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ cho dự án xanh hóa môi trường, các ngân hàng ban hành sổ tay tín dụng xanh, hoặc bộ tiêu chí xét duyệt cho vay, Vì vậy, đặc điểm cấu thành hệ thống quản trị, điều hành hoạt động cho vay
và đầu tư của ngân hàng xanh được cụ thể hóa thành định hướng, tư tưởng chỉ đạo tới từng phân cấp thẩm quyền Mặt khác, chính sách của ngân hàng xanh cũng linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, có thể điều chỉnh thu hẹp hoặc tái cơ cấu trong điều kiện nền kinh tế rơi vào thời kỳ khó khăn và các kênh tài trợ thay thế cuối cùng nhằm đảm bảo dự án xanh được tiếp tục triển khai
Thứ năm, quy trình thẩm định và quản lý rủi ro của ngân hàng xanh so với
các ngân hàng truyền thống luôn cân nhắc đến việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa 4 trụ cột nòng cốt là ngân hàng, khách hàng, cổ đông và cộng đồng Việc đảm bảo an toàn của tài sản cho vay và đầu tư thông qua quản lý khả năng thu lãi và gốc, mức
độ rủi ro của dự án kinh doanh dưới các điều kiện thị trường về tỷ giá, lãi suất, lạm phát, thanh khoản và khả năng tài chính của khách hàng được ngân hàng cân nhắc
để dự kiến doanh thu và chi phí hợp lý Chính vì vậy, các dự án xanh do ngân hàng
Trang 31tài trợ cho cá nhân và tổ chức có tính chất chọn lọc rất cao và trong trường hợp đã xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của ngân hàng xanh với sự thành công của dự án thì khẩu vị rủi ro và giá trị chịu đựng rủi ro sẽ có những điểm khác biệt hơn so với ngân hàng truyền thống
Đối với các ngân hàng xanh theo đuổi mô hình ngân hàng đầu tư, họ sẽ đối diện với các rủi ro về: (i) rủi ro pháp lý, bao gồm những kẽ hở về luật pháp hoặc thiếu chế tài để hỗ trợ dự án xanh cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với các dự án khác; (ii) rủi ro kinh tế vĩ mô, bao gồm các biến động về thị trường liên quan đến tỷ giá, lãi suất, lạm phát và các điều kiện kinh tế bất ổn của ngành được đầu tư; (iii) rủi
ro chính sách, bao gồm những thay đổi về chính sách, văn bản quy phạm pháp luật
và hệ thống văn bản dưới luật có liên quan đến giảm bớt ưu đãi cho dự án xanh về thuế quan, trợ cấp xăng dầu, năng lượng có thể làm thay đổi khả năng sinh lợi và tính cạnh tranh của dự án; (iv) rủi ro liên quan đến thiên tai và công nghệ có thể làm công năng hoạt động và kết quả thu về của dự án xanh bị giảm đi do doanh thu thực
tế của dự án thấp hơn mức dự kiến, hoặc có thể là những nguyên nhân do thiếu cơ
sở hạ tầng hỗ trợ cho sự phát triển xanh như thiếu điện, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước hoặc chuỗi cung ứng xanh còn thiếu nhiều mắt xích; (v) rủi ro từ phía nhà đồng tài trợ xảy ra trong trường hợp các đồng tài trợ, đầu tư của
dự án, vì những lý do khách quan không thể tiếp tục đầu tư cho dự án đúng tiến độ
và công suất như dự kiến
2.2 Hoạt động ngân hàng xanh
The United Nations Enviroment Programme Finance Initiative (UNEP-FI,
2007) cho rằng hoạt động ngân hàng xanh là quá trình các ngân hàng cân nhắc sự
ảnh hưởng của các hoạt động cũng như các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp đối với việc đáp ứng các nhu cầu của con người ở hiện tại và tương lai
Ngân hàng xanh đòi hỏi mỗi bộ phận chức năng và hoạt động của nó phải được “xanh” – nghĩa là thân thiện với môi trường và giúp đỡ để cải thiện môi trường bền vững Hay nói cách khác, tiến trình tiến tới hoạt động xanh của ngân hàng có liên quan đến các bộ phận quản lý ngân hàng, các phòng ban, sản phẩm dịch vụ, trách nhiệm xã hội và cả khách hàng của ngân hàng
Trang 322.2.1 Hoạt động ngân hàng xanh trong nội bộ của ngân hàng
Hoạt động ngân hàng xanh trong nội bộ của ngân hàng là các hoạt động vận hành bên trong ngân hàng, liên quan đến việc mở rộng mạng lưới, tự động hóa các công việc và những hoạt động hàng ngày khác Ngân hàng cần có những quy định
cụ thể hướng tới quản lý việc tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường trong hoạt động nội bộ của ngân hàng, cụ thể như :
Các ngân hàng thực hiện mở rộng mạng lưới ngân hàng xanh sẽ sử dụng các tòa nhà, văn phòng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên ví dụ như những tòa nhà tận dụng ánh sáng tự nhiên, sử dụng ánh sáng trong ngày thay vì ánh sáng từ các bóng đèn điện, đảm bảo thông gió thích hợp để thay thế sử dụng quạt điện, điều hòa Điện cung cấp cho tòa nhà có thể thay thế bằng việc sử dụng năng lượng mặt trời hoặc năng lượng tái tạo khác Việc tiết kiệm nước, nhiên liệu và sử dụng năng lượng tái tạo không chỉ giúp tiết kiệm chi phí cho ngân hàng mà còn giúp bảo vệ môi trường thông qua việc tiết kiệm tài nguyên
Sử dụng tiết kiệm giấy, hạn chế các giao dịch trực tiếp bằng giấy Ngân hàng sử dụng việc lưu trữ các thông tin cần thiết trên hệ thống dữ liệu điện tử hoặc intranet nhằm hạn chế khối lượng lớn văn bản in ấn Các thông báo trong nội bộ ngân hàng cần được thực hiện theo hệ thống điện tử như đăng tin trên trang web nội
bộ, gửi email đến từng nhân viên, tin nhắn di động, Mọi giao dịch với khách hàng thông qua các giấy tờ, ấn chỉ liên quan cần được in ấn với chất liệu thân thiện với môi trường, dễ phân hủy Giới thiệu hình thức sao kê tài khoản điện tử cho khách hàng thay vì các bản sao kê giấy như hiện tại Bên cạnh đó, ngân hàng có thể mua các sản phẩm giấy tái chế sử dụng trong hoạt động nội bộ của ngân hàng như các báo cáo hàng ngày, biên nhận ATM, phong bì, Việc in ấn cần thực hiện trên cả hai mặt của một tờ giấy và sử dụng phông chữ sinh thái (eco-font) Áp dụng các cuộc họp qua video, cuộc họp trực tuyến để tiết kiệm chi phí, hạn chế soạn thảo các giấy tờ như các cuộc họp truyền thống Hệ thống thông tin khách hàng trong mỗi ngân hàng là rất lớn và khó kiểm soát, việc quản lý thông tin khách hàng bằng hệ thống công nghệ giúp dễ dàng tìm kiếm, tra cứu, tiết kiệm thời gian, bảo mật thông tin khách hàng Ngân hàng cũng nên áp dụng việc tuyển dụng nhân sự thông qua hệ thống nộp và lọc hồ sơ trực tuyến, điều này giúp giảm các chi phí về tổ chức xét
Trang 33tuyển, tiết kiệm thời gian và đạt năng suất cao hơn so với cách tuyển dụng truyền thống
2.2.2 Hoạt động ngân hàng xanh trong quá trình kinh doanh
2.2.2.1 Hoạt động tiền gửi
Khuyến khích khách hàng mở tài khoản thanh toán xanh giúp bảo vệ môi trường bằng cách sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng trực tuyến hơn, như thanh toán hóa đơn, thẻ tín dụng, sao kê tài khoản, sử dụng ATM miễn phí, bảo mật bằng tin nhắn, Các tài khoản xanh này cần được hưởng lãi suất cao và linh hoạt hơn nếu đáp ứng yêu cầu nhất định hàng tháng, bởi các ngân hàng có thể giảm thiểu các chi phí của mình từ việc khách hàng sử dụng dịch vụ xanh
Hoạt động tiền gửi được thực hiện trên hệ thống ngân hàng trực tuyến như chuyển tiền, kiểm tra số dư, gửi tiết kiệm online, chỉ với một cú nhấp chuột, hạn chế các giao dịch trực tiếp tại quầy, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí Lãi suất tiền gửi online có thể được điều chỉnh linh động hơn lãi suất niêm yết tại quầy để tăng lượng tiền gửi huy động Bên cạnh đó, những kênh thanh toán xanh có thể giúp khách hàng trực tiếp nộp vào tài khoản tiền gửi tại ATM mà không cần đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng Các ngân hàng cần đầu tư nhiều hơn trong việc tạo ra các phương thức giao dịch thuận tiện nhất cho khách hàng cùng với việc giảm thiểu lượng giấy, năng lượng tiêu thụ, khí thải cacbon cũng như chi phí in ấn Đây là những ưu thế vượt trội của một ngân hàng xanh
2.2.2.2 Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng xanh, theo báo cáo “Green Financial Products and Services” của United Nations Environment Progamme Finance Initiative (2007) bao gồm các hoạt động cho vay thế chấp xanh, cho vay thiết bị gia đình xanh, cho vay xây dựng tòa nhà thương mại xanh, cho vay mua xe xanh, thẻ tín dụng xanh và tài trợ dự án xanh Cho vay thế chấp xanh là những khoản vay với lãi suất thấp hơn hẳn
so với thị trường được áp dụng cho những khách hàng mua những ngôi nhà dùng năng lượng xanh Đối với các dự án xây tòa nhà thương mại có mức tiêu thụ năng lượng thấp hơn (khoảng 15% - 25%), giảm chất thải và ít ô nhiễm hơn so với các tòa nhà truyền thống, ngân hàng sẽ thiết kế và đưa ra các thỏa thuận vay hấp dẫn với sản phẩm cho vay xây dựng tòa nhà thương mại xanh Tương tự, ngân hàng sẽ
áp dụng lãi suất ưu đãi khi cho vay mua thiết bị gia đình xanh (thiết bị công nghệ
Trang 34năng lượng tái tạo điện hoặc nhiệt) hoặc cho vay mua xe xanh – những chiếc xe có cường độ khí nhà kính thấp hoặc được tiết kiệm cao về nhiên liệu Hoạt động tài trợ
dự án xanh dành cho khách hàng doanh nghiệp, được ngân hàng thực hiện bằng cách tạo ra các nhóm dành riêng cho việc xem xét tài trợ các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch quy mô lớn, lập danh mục nợ cam kết tài trợ hoàn toàn hoặc một phần dự án Ngoài ra, rủi ro liên quan đến môi trường, xã hội như lao động trẻ
em, biến đổi khí hậu… sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để các ngân hàng xét đến khi thực hiện các khoản cho vay, tài trợ dự án của mình Đối với các khách hàng cá nhân, các ngân hàng xanh có những hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất ưu đãi
để mua những dự án nhà đạt tiêu chuẩn công trình xanh, tiết kiệm nhiên liệu, các khoản vay mua xe sử dụng năng lượng tái tạo, giảm khí thải carbon ra ngoài môi trường
2.2.2.3 Hoạt động cung cấp dịch vụ khác
Việc ứng dụng công nghệ vào các sản phẩm, phương tiện thanh toán, như tích hợp tiện ích vào thẻ ATM, thẻ tín dụng đồng thương hiệu với tổ chức bảo vệ môi trường các chức năng thẻ bảo hiểm, thẻ sinh viên, thẻ ưu đãi xem phim, mua hàng, du lịch, giúp hạn chế phải cung cấp nhiều loại thẻ, tái sử dụng các loại thẻ được làm từ các nguyên liệu tái tạo Bên cạnh đó, ngân hàng có thể giới thiệu những quỹ “xanh” tới khách hàng, những người thích đầu tư vào những dự án môi trường thân thiện
2.2.3 Hoạt động ngân hàng xanh trong quản trị và định hướng xã hội
Theo Nguyễn Thân Hoài My (2016), ngân hàng xanh có những đóng góp
cho xã hội vô cùng to lớn, bên cạnh việc giảm khí thải ra ngoài môi trường, những thay đổi trong chính sách quản lý đầu tư của ngân hàng, để thực hiện ngân hàng xanh còn có những hoạt động ưu tiên tài trợ cho những dự án vì môi trường và những khoản đầu tư cho các lĩnh vực tác động tích cực đến môi trường, dự án lắp đặt nhà máy năng lượng mặt trời, khí sinh học, và các nhà máy tái tạo năng lượng khác, các nhà máy phân bón sinh học, nhà máy xử lý nước thải, dự án quản lý chất thải
Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu ngân hàng xanh, các ngân hàng cũng cần quan tâm và xây dựng bộ phận trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội (CSR) Đây là trách nhiệm của một tổ chức đối với xã hội mà khi tổ chức đó được
Trang 35thành lập nhằm thực hiện các hoạt động hỗ trợ giúp cho việc thực hiện ngân hàng xanh đạt được mục tiêu Ngân hàng còn nỗ lực xây dựng các quỹ đặc biệt để chống lại thay đổi khí hậu và đảm bảo sử dụng thích hợp các quỹ hỗ trợ các vấn đề môi trường cho cộng đồng và xã hội
Ngân hàng xanh có xu hướng cung cấp các khoản vay cho các dự án tiết kiệm năng lượng, nó không chỉ hoạt động vì mục đích lợi nhuận mà còn hoạt động
vì sự phát triển bền vững trong tương lai, vì vậy, ngân hàng xanh luôn quan tâm đến các dự án mang lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng
Một ngân hàng địa phương có tính xanh sẽ là nguồn hỗ trợ lớn cho các sáng kiến xanh tại địa phương về xã hội, giáo dục, nhà ở, tạo ra lợi ích trực tiếp cho cộng đồng ở chính địa phương đó Ngân hàng gắn với địa phương là một mô hình tốt cho nhiều vùng miền, nhất là những nơi kinh tế kém sôi động hơn các khu vực khác
2.3 Lợi ích và ý nghĩa khi thực hiện ngân hàng xanh
Đối với khách hàng, việc thực hiện ngân hàng xanh đem lại khá nhiều lợi
ích Hệ thống tài chính ngân hàng, với vai trò cung ứng vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế, có thể sẽ tạo ra những tác động gián tiếp đến môi trường Việc tăng cường quản lý rủi ro môi trường – xã hội trong hoạt động cho vay sẽ tạo động lực giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất theo hướng sạch và bền vững hơn, nâng cao nhận thức về vấn đề môi trường, xã hội; khuyến khích đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thân thiện với môi trường, hỗ trợ cộng đồng Bên cạnh đó, việc giới thiệu các công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng như internet banking, sms banking, giúp khách hàng có thể sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mọi lúc mọi nơi một cách thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí, hạn chế được các rủi ro trong quá trình sử dụng tiền mặt Thông qua dịch vụ thanh toán hóa đơn tự động, khách hàng có thể hạn chế trường hợp quên thanh toán các hóa đơn dịch vụ giá trị gia tăng như tiền điện, nước, internet, Một lợi ích không thể không
kể đến đối với khách hàng chính là các dự án có tác động tích cực đối với môi trường sẽ được ngân hàng xem xét và cung cấp những khoản tín dụng với lãi suất
ưu đãi trong thời gian được tài trợ vốn
Đối với ngân hàng, việc xem xét đến tiêu chí môi trường trong các quyết
định cho vay sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế được rủi ro tín dụng Giảm cho vay các
Trang 36dự án gây hại đến môi trường, kiểm tra các yếu tố cần thiết có thể ảnh hưởng đến môi trường trước và sau khi vay giúp hạn chế các khoản vay mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng, không làm ảnh hương đến danh tiếng cũng như thương hiệu của ngân hàng Omid Sharifi, Bentolhoda Karbalaei Hossein (2015) cho rằngviệc thực hiện ngân hàng xanh sẽ giúp gia tăng uy tín, nâng cao hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng, tạo được lợi thế cạnh tranh Thông qua việc đổi mới và phát triển không ngừng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng điện tử không chỉ góp phần hạn chế nguồn tài nguyên, giảm bớt các thủ tục giấy tờ rườm rà, không cần thiết mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, từ đó làm tăng khả năng thu hút khách hàng Thêm vào đó, việc giới thiệu các công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng còn giúp tăng năng suất làm việc của nhân viên một cách đáng kể
Theo đánh giá của Vụ Tín dụng NHNN các ngành kinh tế chia sẻ lợi ích của các ngân hàng khi thực hiện ngân hàng xanh:
Thứ nhất, mở rộng thị phần nhờ sản phẩm/dịch vụ mới thân thiện với môi
trường, củng cố mạng lưới khách hàng hiện có và thu hút khách hàng mới
Thứ hai, cải thiện chất lượng danh mục tín dụng nhờ xác định và quản lý
hiệu quả rủi ro môi trường và xã hội, kiểm soát tốt hơn rủi ro tín dụng và rủi ro tài sản đảm bảo của từng khoản vay do các vấn đề về môi trường và xã hội tạo nên
Thứ ba, nâng cao danh tiếng và giá trị thương hiệu của tổ chức tín dụng
Thứ tư, mở ra cơ hội hợp tác, thu hút nguồn lực và hỗ trợ từ các tổ chức tài
chính quốc tế
Đối với môi trường và xã hội, khi ngân hàng xanh trở thành mô hình phổ
biến, các chuẩn mực trong kinh doanh cũng như trách nhiệm cộng đồng của các ngân hàng, các tổ chức và doanh nghiệp sẽ cao hơn và phát huy được hiệu quả Cộng đồng sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn từ những hoạt động kinh doanh có đạo đức
Một khi thực hiện hoạt động ngân hàng xanh, các ngân hàng sẽ có những cam kết về bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực, đồng thời sẽ là kênh tài trợ vốn thân thiện với các dự án liên quan đến môi trường, giảm phát thải carbon
Việc áp dụng mô hình ngân hàng xanh cũng góp phần tạo ra nhận thức giữa các bên liên quan về trách nhiệm cộng đồng, xây dựng văn hóa trong việc sử dụng
Trang 37dịch vụ ngân hàng của khách hàng Khi việc sử dụng dịch vụ ngân hàng trở nên thuận tiện hơn, nhanh chóng, đỡ tốn kém và nhiều ưu đãi hơn (thông qua ngân hàng trực tuyến, các tài khoản xanh và thẻ tín dụng xanh…) thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng nhiều Điều này sẽ tạo ra ý thức xã hội trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng và trong tương lai sẽ tạo ra một xã hội nơi mà các dịch vụ tài chính - ngân hàng trở thành một phần quen thuộc của cuộc sống thường nhật
Thông qua việc thẩm định dự án và cấp tín dụng một cách hiệu quả, các ngân hàng xanh sẽ tác động đến các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau, gián tiếp tác động đến tình hình chung của lĩnh vực đó
dữ liệu đáng tin cậy về đánh giá mức độ tác động ô nhiễm thay thế Điều này cũng cần có sự đánh giá chuyên môn bởi các kiểm toán viên độc lập về môi trường
(Zhang và cộng sự, 2011)
Thời gian khởi nghiệp dài, số lượng khách hàng thấp: Các hoạt động ngân hàng xanh thường mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị và thực hiện Các ngân hàng đánh giá các dự án của khách hàng dựa trên các tiêu chuẩn môi trường cụ thể Các
tiêu chuẩn này có thể hạn chế số lượng khách hàng (Biswas, 2011)
Lợi nhuận thấp, giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong ngắn hạn: Mục tiêu chính của ngân hàng xanh là hỗ trợ cho các khoản đầu tư và dự án xanh với trọng tâm là thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Những khoản đầu tư và dự án này có thể không tập trung về việc tìm kiếm lợi nhuận, điều này sẽ dẫn đến làm giảm lợi nhuận cho các ngân hàng Bên cạnh đó, nguồn lực về tài chính và nhân lực trong toàn hệ thống ngân hàng luôn có sự phát triển không đều nhau, những ngân hàng lớn có sức mạnh về tài chính, nhân sự sẽ dễ dàng tiếp cận
Trang 38hơn trong những xu hướng thay đổi lớn như chuyển đổi cơ cấu hoạt động truyền thống sang mô hình ngân hàng xanh Do đó, các ngân hàng nếu không bắt kịp được
xu hướng thay đổi thì có thể sẽ dễ bị loại bỏ Đồng thời, khi các ngân hàng lớn chuyển đổi sang mô hình ngân hàng xanh thì buộc phải có sự đánh đổi từ thực hiện một mục tiêu lợi nhuận sang thực hiện cả mục tiêu lợi nhuận và trách nhiệm đối với
xã hội – môi trường (Trần Thị Thanh Tú, 2017)
Chi phí hoạt động cao: Việc thực hiện ngân hàng xanh đòi hỏi nhân viên ngân hàng cần phải có kiến thức tốt để có thể tư vấn và cung cấp các sản phẩm, dịch
vụ xanh thích hợp cho khách hàng Những cán bộ tín dụng cần phải được trang bị các kỹ năng và kinh nghiệm về ngân hàng xanh trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đối với khách hàng và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xanh Thêm vào
đó, các ngân hàng đôi khi cũng cần phải đầu tư vào trang thiết bị, công nghệ hiện đại để đánh giá tác động môi trường của các khoản đầu tư và dự án xanh Để làm được điều này, các ngân hàng phải dành ra một khoản ngân sách của mình để tăng cường cập nhật và đào tạo các kiến thức chuyên ngành về ngân hàng xanh cho nhân
viên của mình (Rahman et Brahua, 2016)
Rủi ro về mặt thương hiệu: do nhận thức ngày càng tăng về môi trường, các ngân hàng dễ bị mất danh tiếng nếu tham gia các dự án bị cho là gây thiệt hại về môi trường Việc áp dụng các chiến lược ngân hàng xanh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc một ngân hàng được phân loại, xếp hạng như thế nào trên bản đồ về ngân hàng xanh của quốc gia Và từ đó định hướng đến khối khách hàng của chính ngân hàng
đó và tác động rất lớn đến vùng hoạt động chuyên môn của ngân hàng cũng như
lĩnh vực mà ngân hàng hướng đến (Biswas, 2011)
Rủi ro tín dụng: rủi ro này có thể gia tăng gián tiếp khi hoạt động kinh doanh của các khách hàng mà ngân hàng cho vay, bị ảnh hưởng bởi chi phí khắc phục ô nhiễm hoặc do sự thay đổi trong các quy định về quản lý môi trường Chi phí để đáp ứng các yêu cầu mới về mức phát thải có thể đủ lớn khiến cho một công ty ngừng hoạt động Rủi ro tín dụng có thể cao hơn do xác suất vỡ nợ của khách hàng xuất hiện khi chi phí không thể dự tính được cho vốn đầu tư vào cơ sở sản xuất Hoặc rủi ro tín dụng cũng phát sinh khi giá trị bất động sản giảm do các vấn đề về môi trường Điều này đòi hỏi các ngân hàng nhanh chóng nghiên cứu, áp dụng các
Trang 39tiêu chuẩn trong xét duyệt các khoản vay gián tiếp hoặc trực tiếp liên quan đến các
vấn đề môi trường trong hiện tại hoặc tương lai (Nguyễn Hữu Huân, 2016)
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng xanh thấp, khách hàng chưa hiểu rõ các dịch vụ ngân hàng xanh,
2.5 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam
2.5.1 Thực trạng triển khai thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại Việt Nam của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước giai đoạn 2012 – 2015
Ngay từ năm 1992, tại Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về phát triển bền vững, Việt Nam đã khẳng định phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược quan trọng mà nước ta quyết tâm thực hiện Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đang tác động tiêu cực đến môi trường và tài nguyên nước ta trong thời gian qua Báo cáo của Bộ Tài nguyên môi trường năm 2014 cho thấy kể từ năm
2010 cho đến nay lượng khí thải có xu hướng tăng mạnh và dự tính sẽ ở mức gần
800 triệu tấn CO2 khi đến năm 2030, tức gấp khoảng 3.7 lần so với năm 2010 Theo xếp hạng chỉ số EPI (Environment Performance Index) năm 2014, Việt Nam đứng thứ 136/178 quốc gia về hiệu quả môi trường Những kết quả trên cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta ngày càng nghiêm trọng, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển lâu dài của nước ta Trước tình hình đó, vào tháng 4/2012, “Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Theo đó, Chính phủ định hướng phát triển bền vững giai đoạn này là duy trì tăng trưởng kinh tế, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đảm bảo phát triển kinh
tế theo hướng cacbon thấp, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Đến tháng 9/2012, Thủ tướng tiếp tục phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” với mục tiêu góp phần cải thiện đời sống nhân dân thông qua tạo việc làm trong các ngành công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, dịch vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên
và phát triển cơ sở hạ tầng xanh Ngày 20/3/2014, “Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 – 2020” được ban hành với nội dung gồm 12 nhóm hoạt động với 66 hoạt động cụ thể theo 4 chủ đề chính Mục tiêu của chiến lược này
là đến năm 2020, lượng phát thải cacbon giảm từ 8 – 10% so với năm 2010 và là 20% với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, đồng thời khuyến khích phát triển công
Trang 40nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, dựa trên công trình, công nghệ và thiết bị thân thiện với môi trường, lối sống xanh và tiêu dùng bền vững Luật bảo vệ môi trường được ban hành năm 2014 cũng cho thấy sự quan tâm của Đảng và Chính phủ về việc bảo vệ môi trường nhằm phát triển kinh tế bền vững (Nguyễn Thị Minh Châu, 2016)
Để thực hiện tăng trưởng xanh, bên cạnh nguồn ngân sách của Nhà nước và nguồn đầu tư nước ngoài, rất cần có sự tham gia của các ngân hàng thương mại để đáp ứng nguồn vốn hoạt động cho các chủ thể trong nền kinh tế Ở góc độ là cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng thương mại, NHNN Việt Nam cũng đã có những bước đầu trong việc xây dựng chính sách triển khai ngân hàng xanh Thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoan 2014 – 2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chú trọng việc áp dụng hệ thống ngân hàng xanh, ban hành Chỉ thị 03/CT-NHNN năm 2015 về việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của ngành ngân hàng với mục tiêu đặt ra ngày từ năm 2015, hoạt động cấp tín dụng của ngành ngân hàng cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, đồng thời, cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, bảo đảm sự phát triển bền vững Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh đã và đang thúc đẩy các ngân hàng thương mại thực hiện một số hoạt động về ngân hàng xanh Một văn bản khác do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành là Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/08/2015 về kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020, trong đó có nêu rõ mục tiêu của ngành ngân hàng là thực hiện
có hiệu quả Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng xanh hướng tới một nền kinh tế cacbon thấp, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng xanh
2.5.2 Thực trạng thực hiện hoạt động ngân hàng xanh tại các Ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam, đến nay chưa có một ngân hàng nào được coi là ngân hàng xanh thực sự, chủ yếu mới triển khai một số chương trình hoặc cung cấp sản phẩm