BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG DUY HOÀNG RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM LU[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG DUY HOÀNG
RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG DUY HOÀNG
RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS LÝ HOÀNG ÁNH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3Tôi tên là: Trương Duy Hoàng
Sinh ngày 05 tháng 03 năm 1989 – tại tỉnh Đồng Nai
Quê quán: Thanh Hóa
Hiện công tác tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Gia Định, địa chỉ: 127 Đinh Tiên Hoàng, Phường 3, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM
Là học viên cao học khóa XIV của Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh
Cam đoan đề tài: Rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS Lý Hoàng Ánh
Được thực hiện tại: Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong đề tài được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan danh dự của tôi
Tp.HCM, ngày tháng năm 2015
Trương Duy Hoàng
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 TỔNG QUAN TÍN DỤNG BÁN LẺ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1.1 Khái niệm tín dụng, tín dụng bán lẻ ngân hàng 1
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng 1
1.1.1.2 Tín dụng bán lẻ ngân hàng 1
1.1.2 Bản chất của tín dụng bán lẻ 2
1.1.3 Phân loại tín dụng bán lẻ 2
1.1.3.1 Căn cứ vào đối tượng khách hàng vay 2
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích vay 3
1.1.3.3 Căn cứ vào sản phẩm tín dụng 3
1.1.4 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ 3
1.1.5 Vai trò của tín dụng bán lẻ 4
1.1.5.1 Đối với khách hàng vay 4
1.1.5.2 Đối với ngân hàng 5
1.1.5.3 Đối với nền kinh tế 5
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ 6
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng bán lẻ 6
Trang 51.2.3 Bản chất của rủi ro tín dụng bán lẻ 6
1.2.4 Biểu hiện của rủi ro tín dụng bán lẻ 7
1.2.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bán lẻ 8
1.2.5.1 Nguyên nhân khách quan 8
1.2.5.2 Nguyên nhân chủ quan 9
1.2.6 Tác động của rủi ro tín dụng bán lẻ 10
1.2.6.1 Đối với Ngân hàng 11
1.2.6.2 Đối với khách hàng vay 11
1.2.6.3 Đối với nền kinh tế 11
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 12
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 12
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 12
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro 12
1.3.2.2 Đo lường rủi ro 13
1.3.2.3 Kiểm soát rủi ro 13
1.3.2.4 Tài trợ rủi ro 14
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng 14
1.3.4 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 18
1.3.4.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung 18
1.3.4.2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán 19
1.3.4.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ tổng thể 20
Trang 6QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 21
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại một số quốc gia trên thế giới 21
1.4.1.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Accion Microfinance Bank Limited (AMFB) – Nigeria trong kiểm soát rủi ro tín dụng bán lẻ 21
1.4.1.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ của ngân hàng Commonwealth Bank of Australia 22
1.4.1.3 Kinh nghiệm của Hong Kong trong quản trị rủi ro tín dụng đối với sản phẩm thẻ tín dụng 23
1.4.1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong hỗ trợ tín dụng cá nhân, hộ gia đình 23
1.4.2 Bài học cho Việt Nam 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 26
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2 Các sản phẩm tín dụng bán lẻ triển khai tại BIDV 27
2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA BIDV GIAI ĐOẠN 2010-2014 29
2.2.1 Hoạt động huy động vốn 29
2.2.2 Hoạt động tín dụng 31
2.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 35
Trang 7TMCP ÐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 39
2.3.1 Quy trình cấp tín dụng bán lẻ của BIDV 39
2.3.2 Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ BIDV 41
2.3.2.1 Cơ cấu tín dụng theo đối tƣợng khách hàng và kỳ hạn 41
2.3.2.2 Cơ cấu tín dụng theo mục đích vay vốn 41
2.3.2.3 Chất lƣợng tín dụng bán lẻ 42
2.3.2.4 Hiệu quả kinh doanh hoạt động tín dụng bán lẻ 44
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng bán lẻ BIDV 44
2.3.3.1 Ngân hàng thiếu thông tin khi thẩm định cho vay bán lẻ 45
2.3.3.2 Ngân hàng thiếu công cụ hỗ trợ đánh giá rủi ro tín dụng bán lẻ 46
2.3.3.3 Năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng đối với cho vay bán lẻ 46
2.3.3.4 Ngân hàng chƣa tách bạch giữa chức năng kinh doanh với thẩm định tín dụng 47
2.3.3.5 Cán bộ tín dụng kiêm nhiệm việc nhận, thẩm định, đánh giá TSĐB 48
2.3.3.6 Công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản tín dụng bán lẻ 49 2.3.3.7 Khách hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, suy giảm thu nhập trả nợ 50
2.3.3.8 Khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng 51
2.3.3.9 Cơ cấu tín dụng của ngân hàng chƣa hợp lý 51
Trang 8hưởng đến tín dụng bán lẻ của NHTM 52
2.4 ÐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 53
2.4.1 Những thành tựu đã đạt được 53
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 58
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA BIDV TRONG NHỮNG NĂM TỚI 58
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 60
3.2.1 Cải tiến quy trình cho vay bán lẻ 60
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện các công cụ hỗ trợ hoạt động tín dụng 61
3.2.3 Đa dạng hóa cơ cấu tín dụng bán lẻ 62
3.2.4 Xây dựng cơ chế cảnh báo sớm rủi ro tín dụng bán lẻ 64
3.2.5 Định kỳ đánh giá chính sách quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ của ngân hàng 64
3.2.6 Củng cố hệ thống thông tin tín dụng 65
3.2.7 Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay bán lẻ 66
3.2.8 Đẩy mạnh triển khai các sản phẩm tín dụng bán lẻ có bảo hiểm qua ngân hàng 67
3.2.9 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tín dụng 68
Trang 93.2.11 Xây dựng chính sách quản lý tín dụng bán lẻ phù hợp với từng đối
tượng khách hàng 71
3.2.12 Kiểm soát tốt trị giá tài sản đảm bảo 72
3.2.13 Xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa khách hàng và ngân hàng 73
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI CÁC BAN NGÀNH 74
3.3.1 Đối với Ngân hàng nhà nước 74
3.3.1.1 Xây dựng định hướng, chiến lược phát triển tín dụng hợp lý 74
3.3.1.2 Nâng cao năng lực trung tâm thông tin tín dụng CIC 75
3.3.1.3 Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ngân hàng trong hoạt động tín dụng 75
3.3.2 Đối với Chính phủ 76
3.3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý xử lý tài sản đảm bảo trong cho vay bán lẻ 76
3.3.2.2 Xây dựng mối liên hệ phối kết hợp giúp ngân hàng thương mại xử lý thu hồi nợ cho vay 77
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10CIC : Trung tâm thông tin tín dụng
Trang 11Thứ tự Tên bảng, biểu, hình Trang
1 Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn của BIDV giai đoạn 2010 -
2014
29
2 Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn theo đối tƣợng khách hàng của
BIDV giai đoạn 2010 - 2014
5 Bảng 2.5: Chất lƣợng tín dụng của BIDV giai đoạn 2010 – 2014 33
6 Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu của BIDV giai đoạn 2010-2014 36
7 Bảng 2.7: Kết quả xếp hạng tín nhiệm BIDV năm 2013 - 2014 38
8 Bảng 3.1: Kế hoạch hoạt động tín dụng 2011-2015 của BIDV 58
9 Bảng 3.2 Kế hoạch kinh doanh mảng tín dụng bán lẻ của BIDV
Trang 121 Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng là yếu tố chủ đạo tác động đến sự phát triển của khu vực tài chính nói chung và của hoạt động ngân hàng nói riêng, trong đó, nổi bật là xu hướng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ của người dân ngày càng gia tăng Hoạt động ngân hàng bán lẻ nhanh chóng trở thành hoạt động quan trọng tạo nền tảng phát triển bền vững cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nhằm tăng cường sự hiện diện, gia tăng thị phần, đa dạng hoá loại hình sản phẩm dịch
vụ, góp phần không nhỏ vào việc tăng sức cạnh tranh, tăng lợi nhuận cho ngân hàng Trong tiến trình đó, các ngân hàng thương mại tại nước ta đã không ngừng đầu tư cơ sở
hạ tầng, công nghệ kỹ thuật, mở rộng mạng lưới, đưa ra thị trường hàng loạt sản phẩm, dịch vụ mới như Internet banking, Mobile banking, thẻ tín dụng quốc tế, thanh toán POS…
Cùng với xu thế phát triển đó, sau khi chuyển đổi toàn diện mô hình kinh doanh mới hướng tới khách hàng và quản trị rủi ro theo mô hình chuẩn của một ngân hàng thương mại bán lẻ hiện đại năm 2009 (dự án TA2), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức hội nghị chuyên đề về ngân hàng bán lẻ trong toàn hệ thống, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc thay đổi tư duy, nhận thức của toàn hệ thống về vị trí, vai trò của hoạt động ngân hàng bán lẻ trong kinh doanh, hướng đến mục tiêu đưa BIDV trở thành ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển của các sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình…
Cùng với sự phát triển của tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng thì nợ xấu trong ngành ngân hàng cũng gia tăng tương ứng và đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế Trước thực trạng đó, Chính phủ đã triển khai đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong những năm qua, mà trọng tâm là xử lý vấn đề nợ xấu nhằm phát triển một hệ thống các tổ chức tín dụng có quy mô lớn hơn,
Trang 13đầu tại Việt Nam hiện nay với những cơ chế, quy trình kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ đã duy trì tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu bán lẻ đạt chuẩn an toàn trong suốt những năm vừa qua
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, tồn tại những hạn chế cũng như các rủi ro tiềm ẩn, do đó, việc lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam” nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị để kiểm soát rủi ro tín
dụng bán lẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2 Tổng quan công trình nghiên cứu
Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tín dụng, mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại, một số đề tài đã khái quát khá đầy
đủ về cơ sở lý thuyết và thực tiễn tại các ngân hàng, tuy nhiên lại ít đi sâu vào hoạt động cấp tín dụng bán lẻ và rủi ro của loại hình tín dụng này, bao gồm các đề tài sau:
Lê Thị Xuân Nguyên 2013, Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Quảng Nam, Luận
văn thạc sĩ, Trường Đại học Đà Nẵng: luận văn đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng và phân tích, đánh giá hoạt động cho vay này tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2010-2012, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong cho vay tiêu dùng do đó chưa khái quát hết được việc phân tích và đề ra giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng bán lẻ nói chung
Phạm Thị Hoàng Dung 2012, Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng
tại Ngân hàng TMCP Nam Á Chi nhánh Bình Định, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
Đà Nẵng: luận văn đã đi vào phân tích thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Nam Á Chi nhánh Bình Định giai đoạn 2009-2011, tuy nhiên luận văn chưa đi sâu vào phân tích rủi ro tín dụng tiêu dùng tại
Trang 14dụng bán lẻ
Nguyễn Anh Dũng 2012, Quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Bình Định, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng: luận văn đã đi
vào phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bình Định trong giai đoạn 2009-2011, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn tại BIDV Chi nhánh Bình Định đồng thời luận văn nghiên cứu về rủi ro tín dụng nói chung bao gồm
cả tín dụng doanh nghiệp và tín dụng cá nhân nên chưa đi sâu vào phân tích về rủi ro tín dụng bán lẻ
Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011), “Các nhân tố ảnh hưởng đến
rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Chi nhánh thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Ngân hàng, số 5: đã sử dụng mô hình Probit phân tích cho thấy các
nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm: khả năng tài chính của khách hàng, việc sử dụng vốn, việc kiểm tra, giám sát khoản vay, việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của người vay vốn và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng bán lẻ tại ngân hàng
- Phân tích, đánh giá thực trạng, mặt được, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong thời gian tới
4 Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, suy luận, tổng hợp số liệu để so sánh, phân tích hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng BIDV
Trang 15Tín dụng bán lẻ bao gồm các hoạt động cho vay, bảo lãnh, phát hành thẻ tín dụng… tuy nhiên hiện nay sản phẩm bảo lãnh với khách hàng bán lẻ gần như không phát sinh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam; ngoài ra, sản phẩm cho vay dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng có tính chất khác với nhóm các sản phẩm tín dụng bán lẻ còn lại vì nó còn mang tính chất là một công cụ thanh toán, có cách thức – công nghệ quản lý đặc thù riêng nên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xem tín dụng bán lẻ chỉ bao gồm hoạt động cho vay đối với khách hàng bán lẻ
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề có liên quan đến rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có vai trò quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn khi qua đó đề tài củng cố các cơ sở lý thuyết nền tảng về tín dụng bán lẻ và quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại Đồng thời, đề tài cũng chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu còn hạn chế của hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam qua đó giúp ngân hàng rút ra những kinh nghiệm cần thiết để củng cố hơn nữa hiệu quả hoạt động của mảng sản phẩm kinh doanh này, tạo cơ sở phát triển mạnh mẽ cho ngân hàng trong thời gian tiếp theo
Trang 16Đề tài gồm phần mở đầu, nội dung gồm 3 chương và kết luận:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ÐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN TÍN DỤNG BÁN LẺ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm tín dụng, tín dụng bán lẻ ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng
Phạm trù tín dụng hiện nay được định nghĩa theo nhiều cách thức khác nhau nhưng nhìn chung tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới dạng hình thái tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng (từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu) để sau một thời gian nhất định sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu (Nguyễn Minh Kiều 1998)
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó Ngân hàng giao quyền sử dụng tiền cho các tổ chức, cá nhân đó với những điều kiện thoả thuận nhất định (về thời gian, lãi suất, khối lượng, điều kiện đảm bảo…) Khác với các hình thức tín dụng khác, tín dụng ngân hàng không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng
Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm 2010 thì “Cấp tín
dụng” là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho
phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
1.1.1.2 Tín dụng bán lẻ ngân hàng
Tín dụng bán lẻ ngân hàng là một bộ phận trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (bao gồm tín dụng bán lẻ và tín dụng bán buôn) Tín dụng bán lẻ cũng bao
Trang 18gồm các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác mà đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu dùng phục vụ đời sống cũng như đầu tư, sản xuất kinh doanh
Đối tượng khách hàng trong tín dụng bán lẻ có sự khác biệt trong cách tiếp cận, phân nhóm của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay vì có thể bao gồm hoặc không bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể các ngân hàng như SCB, Sacombank, ACB… gộp doanh nghiệp nhỏ và vừa vào mảng ngân hàng bán lẻ nhưng các ngân hàng khác như BIDV, MB, Maritime Bank … tách riêng đối tượng này ra khỏi ngân hàng bán lẻ (riêng ngân hàng BIDV từ đầu năm 2014 bắt đầu thí điểm gộp doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ vào khối ngân hàng bán lẻ)
1.1.2 Bản chất của tín dụng bán lẻ
Tín dụng bán lẻ mặc dù được biểu hiện dưới các hình thức khá đa dạng, phong phú nhưng nó vẫn mang những bản chất đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế, cụ thể:
Nền tảng của quan hệ tín dụng vẫn là sự tín nhiệm mà trong đó Ngân hàng tin tưởng người đi vay trả được nợ và lãi vay đầy đủ, đúng hạn
Không làm thay đổi quyền sở hữu vốn mà chỉ làm thay đổi quyền sử dụng giá trị vốn từ Ngân hàng sang các chủ thể khác trong xã hội (cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh…)
Thời hạn tín dụng được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tham gia quan hệ tín dụng
Ngân hàng được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng
Trang 19 Tín dụng hộ gia đình, hộ kinh doanh
Tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích vay
Tín dụng tiêu dùng
Tín dụng sản xuất kinh doanh, đầu tư
1.1.3.3 Căn cứ vào sản phẩm tín dụng
Cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở, đất ở
Cho vay mua ôtô
Cho vay chi phí du học
Cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá
Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng
Cho vay tiêu dùng tín chấp hoặc có tài sản đảm bảo
Cho vay kinh doanh chứng khoán
Cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh…
1.1.4 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ
Tín dụng bán lẻ là một loại hình của tín dụng, do đó, ngoài việc mang những đặc điểm chung của tín dụng nó còn có những đặc điểm riêng, các đặc điểm này được Lê Thẩm Dương (2004) nêu lên cụ thể:
Đối tượng khách hàng của hoạt động tín dụng bán lẻ rất đa dạng và chủ yếu là khách hàng cá nhân vay phục vụ mục đích tiêu dùng, đời sống, kinh doanh nhỏ lẻ nên số lượng các khoản vay nhiều đối với một ngân hàng và các khoản vay này đa phần có quy
Trang 20hơn cho ngân hàng Tuy nhiên cũng nhờ yếu tố này mà rủi ro tín dụng bán lẻ về tổng thể được phân tán tốt hơn so với tín dụng bán buôn
Chất lượng thông tin (pháp lý, tài chính…) mà khách hàng vay cung cấp thường không cao đặc biệt là đối với các hộ sản xuất kinh doanh (do thường thực hiện theo dõi doanh thu, chi phí thủ công, không có đơn vị kiểm toán) do đó tư cách, năng lực người vay khi xét duyệt rất khó xác định nên rủi ro với một khoản vay bán lẻ thường cao hơn trong tín dụng bán buôn
Khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của khách hàng vay chịu biến động bởi các yếu
tố khó đo lường, kiểm soát được: yếu tố nghề nghiệp, kỹ năng, sức khỏe, tâm sinh lý…
Thủ tục, hồ sơ xét duyệt cho vay tương đối nhanh chóng và đơn giản hơn so với các loại hình tín dụng khác
Hoạt động tín dụng bán lẻ chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế: khi nền kinh tế mở rộng, thu nhập người dân tăng cao, hoạt động đầu tư, buôn bán mang lại nhiều cơ hội sinh lời thì người dân sẽ có xu hướng tăng vay nợ ngân hàng để mua sắm hoặc đầu tư và sẽ có diễn biến ngược lại khi nền kinh tế trở nên khó khăn, suy thoái
1.1.5 Vai trò của tín dụng bán lẻ
1.1.5.1 Đối với khách hàng vay
Tín dụng bán lẻ của các ngân hàng thương mại đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần cho người dân thông qua việc kết hợp nhu cầu hiện tại với khả năng thanh toán, chi trả trong tương lai từ đó tạo tiền đề để nâng cao dân trí, phát huy tối đa tiềm năng con người để phục vụ trở lại cho việc phát triển đất nước
Tín dụng bán lẻ tạo đòn bẩy tài chính để phát huy nguồn lực sẵn có của khách hàng vay, giúp khách hàng vay chủ động đạt được các mục tiêu đã đề ra, đảm bảo an toàn tài chính cũng như các lợi ích khác mang lại từ việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại
Trang 211.1.5.2 Đối với ngân hàng
Phát triển tín dụng bán lẻ là xu thế phát triển chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, góp phần đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng mà thông qua đó vừa nâng cao thu nhập, vừa phân tán rủi ro cho ngân hàng
Phát triển tín dụng bán lẻ trở thành động lực để các ngân hàng không ngừng hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng vật chất – kỹ thuật, mở rộng quy mô địa bàn, cải tiến quy trình tín dụng nhanh gọn hợp lý cũng như đầu tư hơn nữa cho nguồn lực nhân sự
Tín dụng bán lẻ tạo nền tảng cơ sở để xây dựng mối quan hệ, gia tăng niềm tin, sự thân thiết, gắn bó giữa ngân hàng với khách hàng, mở rộng phân khúc khách hàng tiềm năng, từ đó giúp ngân hàng có thể thâm nhập sâu hơn, bền chặt hơn tới khách hàng để tiếp thị, bán chéo các sản phẩm khác có liên quan, đặc biệt là các sản phẩm huy động tiền gửi dân cư, thẻ thanh toán, sản phẩm ngân hàng hiện đại khác
Mở rộng tín dụng bán lẻ giúp ngân hàng tăng dư nợ, tăng thu nhập, mở rộng thị trường mà không quá phụ thuộc vào các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn, là các đơn vị mà hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn khó khăn, tăng trưởng thiếu bền vững
1.1.5.3 Đối với nền kinh tế
Tín dụng bán lẻ góp phần đáng kể vào chính sách kích cầu của nhà nước, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế Ngoài ra, nhờ có sự mở rộng của tín dụng bán lẻ mà sức cầu của thị trường trở nên lớn hơn, thúc đẩy các nhà sản xuất cạnh tranh và đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất
Tín dụng bán lẻ giúp các cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, giải quyết việc làm trong
xã hội, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế cũng như tăng cường vai trò của các thành phần kinh tế này trong xã hội
Trang 22Bên cạnh đó, tín dụng bán lẻ còn góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội thông qua việc đẩy lùi vấn nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi…
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng bán lẻ
Theo định nghĩa của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thông tư
02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 thì “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng” là tổn thất có
khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Như vậy, rủi ro tín dụng bán lẻ chính là rủi ro tín dụng ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng bán lẻ
Ngày nay, mặc dù các ngân hàng trong nước đều đã rất đa dạng các loại hình dịch
vụ kinh doanh, nhưng tín dụng mà đặc biệt là tín dụng bán lẻ vẫn chiếm một vai trò cực
kỳ quan trọng và vì thế rủi ro tín dụng bán lẻ luôn được các ngân hàng hết sức quan tâm
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng bán lẻ
Rủi ro tín dụng bán lẻ có thể phân chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục (Nguyễn Đức Tú 2012), theo đó:
Rủi ro giao dịch: là rủi ro tín dụng bán lẻ phát sinh trong quá trình đánh giá phân tích thẩm định hồ sơ tín dụng, đánh giá lựa chọn tài sản đảm bảo cũng như công tác quản lý khoản vay Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng bán lẻ phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
1.2.3 Bản chất của rủi ro tín dụng bán lẻ
Rủi ro tín dụng bán lẻ nói riêng hay rủi ro tín dụng nói chung là loại rủi ro thường xuyên nhất trong hoạt động của ngân hàng Rủi ro này xảy ra khi khách hàng không thực
Trang 23hiện trả nợ theo các điều kiện, điều khoản đã quy định trong hợp đồng tín dụng bắt nguồn
từ việc khả năng trả nợ / thiện chí trả nợ không hình thành đầy đủ
Trong hai yếu tố trên thì yếu tố thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, không thể đo lường được còn yếu tố khả năng trả nợ lại chịu nhiều ảnh hưởng bởi các nhân tố không thể kiểm soát hết như sự thay đổi điều kiện kinh tế, xã hội, thu nhập, công ăn việc làm…
do đó bản chất của rủi ro tín dụng bán lẻ là không thể triệt tiêu được và sẽ gắn liền xuyên suốt với hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng
Tuy rủi ro tín dụng bán lẻ là không thể triệt tiêu, loại bỏ được nhưng nếu như ngân hàng có những biện pháp, cách thức kiểm soát rủi ro chặt chẽ, hiệu quả thì hoàn toàn có thể kiểm soát rủi ro tín dụng này ở một giới hạn cho phép cũng như giảm thiểu tối đa thiệt hại mà rủi ro gây ra
1.2.4 Biểu hiện của rủi ro tín dụng bán lẻ
Khi tiến hành cấp tín dụng, ngân hàng luôn tiến hành nhiều biện pháp, quy trình để giám sát chặt chẽ khoản vay nhưng rủi ro tín dụng bán lẻ luôn tồn tại ở nhiều hình thái, cung bậc khác nhau trong suốt tiến trình trước, trong và sau khi giải ngân Trong đó, các biểu hiện thông thường bên ngoài của rủi ro bao gồm:
Khách hàng vay chậm, không thể cung cấp được các hồ sơ pháp lý, tài chính theo yêu cầu của ngân hàng hoặc các hồ sơ này có dấu hiệu can thiệp nhằm mục đích vay vốn
Khách hàng thiếu thiện chí hợp tác với cán bộ ngân hàng trong thẩm định, đánh giá hồ sơ vay cũng như không thể giải trình một cách hợp lý các nguồn thu nhập trả nợ của mình
Tình hình chuyển doanh thu, tiền gửi của khách hàng đột ngột giảm sút
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích
Khách hàng thay đổi công việc, thay đổi lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Khách hàng chuyển nơi sinh sống, đi khỏi địa phương, mất liên lạc
Trang 24 Hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp các tác động bất lợi do thiên tai, bão lụt, hỏa hoạn, ngành nghề kinh tế suy thoái, trộm cắp tài sản…
Khách hàng đề nghị hoãn trả nợ, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ… Các biểu hiện trên là dấu hiệu cảnh báo cho ngân hàng biết được khoản vay có nguy cơ không thu hồi được nợ, nợ quá hạn, có khả năng mất vốn từ đó để ngân hàng có những biện pháp can thiệp thích hợp để tránh xảy ra rủi ro tín dụng
1.2.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bán lẻ
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng bán lẻ có thể phân chia thành 2 nhóm chính là nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan
1.2.5.1 Nguyên nhân khách quan
Môi trường kinh tế: rất nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã cho thấy các
biến số kinh tế đều có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, người dân và từ đó ảnh hưởng đến xác suất dẫn đến rủi ro tín dụng bán lẻ
Trước tiên, quá trình tự do hóa, hội nhập kinh tế thế giới khiến cho việc cạnh tranh trở nên gay gắt, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh sẽ gia tăng nguy cơ thua lỗ dưới tác động của sự chọn lọc tự nhiên Bên cạnh đó, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái hoặc lạm phát tăng cao cũng sẽ khiến kinh tế quốc gia trở nên trì trệ, kinh doanh trở nên khó khăn, tổng cầu suy giảm dẫn đến người vay vốn kinh doanh mất khả năng trả nợ ngân hàng
Môi trường chính trị, xã hội: một quốc gia có tình hình an ninh, chính trị ổn định
sẽ là tiền đề tiên quyết để các thành phần kinh tế trong nó có điều kiện tiến hành sản xuất, kinh doanh, đầu tư Ngược lại, khi tình hình chính trị, xã hội có nhiều biến động (chiến tranh, bạo động, khủng bố…) sẽ làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hóa ngưng trệ, đời sống người dân bị đảo lộn và từ đó gây ra những tác động rất xấu đến các khoản vay ngân hàng
Môi trường pháp lý: môi trường pháp lý, đặc biệt là pháp lý kinh tế tạo ra hành
lang đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành phần kinh tế Môi trường pháp lý thiếu đi tính minh bạch, đồng bộ thống nhất cũng như tính linh hoạt cần thiết sẽ gia tăng
Trang 25rủi ro sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của người dân và từ đó tác động ngược trở lại đến lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ
Môi trường điều kiện tự nhiên: thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt… là các tác nhân gần
như ngoài tầm kiểm soát, ngăn chặn của con người, nó phá hủy cơ sở hạ tầng đời sống vật chất của nhân dân, gây ra thiệt hại nặng nề cho khách hàng vay Mặc dù là yếu tố không thể ngăn chặn nhưng thiệt hại tín dụng bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên hoàn toàn có thể được khắc phục nhờ chính sách hỗ trợ của Chính phủ, sử dụng các sản phẩm bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm con người…
1.2.5.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn: cụ thể:
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo chiếm đoạt vốn ngân hàng
Khách hàng thay đổi công ăn, việc làm, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh gây thua lỗ
Khách hàng sử dụng vốn vay kém hiệu quả, không kiểm soát được dòng tiền trả nợ
Khách hàng có những biến động trong gia đình, trong nội bộ ban lãnh đạo đơn vị quản lý
Khách hàng không có thiện chí trả nợ
Tài sản đảm bảo của khách hàng suy giảm giá trị, không đủ hoàn trả cho khoản vay, hoặc tài sản khó có khả năng phát mãi, chi phí xử lý tài sản cao…
Nguyên nhân từ Ngân hàng cho vay:
+ Quy trình cấp tín dụng, kiểm soát khoản vay của ngân hàng không chặt chẽ, còn những kẻ hở dẫn đến bị khai thác bởi khách hàng vay hoặc thậm chí là chính cán bộ tín dụng của ngân hàng Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cũng là một phần nguyên nhân dẫn
Trang 26đến rủi ro trong tín dụng bán lẻ khi ngân hàng hướng dòng vốn cho vay vào các đối tượng khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức của cán bộ tín dụng không đảm bảo từ
đó dẫn đến các hệ quả như việc thẩm định, đánh giá hồ sơ vay vốn của khách hàng sai thực tế, không đánh giá được tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, nguồn trả
nợ, năng lực tài chính của khách hàng vay… hoặc cán bộ tín dụng liên kết với khách hàng lập hồ sơ khống, không tuân theo quy trình tín dụng để chiếm đoạt vốn ngân hàng hưởng hoa hồng, chênh lệch
+ Công tác giám sát quản lý trước, trong và sau khi giải ngân vốn vay chưa chặt chẽ, đặc biệt là công tác kiểm tra, theo dõi tình hình khách hàng vay sau giải ngân, kiểm tra tình hình biến động công việc, kinh doanh của khách hàng những năm tiếp theo
+ Việc xác định thời hạn vay, kỳ hạn trả nợ không hợp lý với dòng tiền của khách hàng, lãi suất mà ngân hàng điều chỉnh vượt quá năng lực chi trả của khách hàng hoặc ngân hàng đề ra các mức thu phí dịch vụ, sản phẩm kèm theo gói tín dụng quá cao
+ Thông tin tín dụng mà ngân hàng khai thác từ CIC, các cơ quan ban ngành địa phương… không đảm bảo độ tin cậy, chính xác, kịp thời
+ Yếu tố cạnh tranh: việc các ngân hàng đồng loạt mở rộng thị phần, cạnh tranh gay gắt trên mảng tín dụng bán lẻ với các chỉ tiêu tăng trưởng luôn được nâng cao qua các năm vừa là động lực để ngân hàng cải tiến quy trình nghiệp vụ, tuyển dụng nhân sự chuyên môn tốt vừa cũng chính là nguyên nhân khiến ngân hàng bỏ qua các quy định tín dụng cần thiết, hạ thấp chuẩn cho vay để giữ, lôi kéo khách hàng
1.2.6 Tác động của rủi ro tín dụng bán lẻ
Rủi ro tín dụng bán lẻ cũng như rủi ro tín dụng nói chung khi xuất hiện đều để lại những tác động hậu quả to lớn, nặng nề đối với cả ngân hàng, khách hàng vay lẫn nền kinh tế
Trang 271.2.6.1 Đối với Ngân hàng
Rủi ro tín dụng bán lẻ xuất hiện sẽ khiến cho ngân hàng không thu hồi đầy đủ gốc, lãi vay của nguồn vốn đầu ra theo dự định trong khi vẫn phải tốn chi phí cho nguồn vốn đầu vào, từ đó làm thiệt hại tới lợi nhuận kinh doanh, suy yếu thanh khoản, gián đoạn vòng quay vốn của ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ khiến ngân hàng chịu thêm các biện pháp kiểm soát đặc biệt từ NHNN, giảm tính linh hoạt trong kinh doanh, giảm niềm tin của người dân vào ngân hàng
Do ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc thù nên nếu một ngân hàng do tác động của nợ xấu dẫn đến mất khả năng thanh toán, thua lỗ, phá sản đều uy hiếp đến sự an toàn chung của toàn hệ thống ngân hàng Cán bộ ngân hàng có liên quan đến các khoản nợ xấu đều chịu ảnh hưởng về tâm lý, thu nhập, phương hướng phát triển về sau
1.2.6.2 Đối với khách hàng vay
Ở một mức độ nhất định, khi xảy ra rủi ro tín dụng hoặc dấu hiệu của rủi ro tín dụng, hầu hết các ngân hàng đều áp dụng các chế tài cần thiết để buộc khách hàng phải trả
nợ, trả nợ trước hạn hoặc bán thanh lý tài sản đảm bảo thu hồi nợ mà qua đó có thể làm đảo lộn kế hoạch tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng, khiến cho việc phục hồi năng lực tài chính của khách hàng vay thêm khó khăn, thậm chí thua lỗ phá sản hoàn toàn
1.2.6.3 Đối với nền kinh tế
Rủi ro tín dụng làm gia tăng các chi phí xã hội (chi phí nhân lực, chi phí vốn, chi phí xử lý tài sản…), làm tác động xấu đến lợi ích hợp pháp của người gửi tiền vào ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp, cá nhân, hộ kinh doanh có năng lực tốt khác trong nền kinh tế
Ở phạm vi lớn hơn, rủi ro tín dụng mất kiểm soát có thể gây tác động lan truyền trong toàn hệ thống ngân hàng, làm xáo trộn tình hình tài chính của quốc gia, kéo theo sự
Trang 28phá sản của các ngân hàng, các doanh nghiệp, ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất và đời sống nhân dân
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Chấp nhận rủi ro và quản trị rủi ro là hai nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng hiện cũng được các trường phái kinh
tế định nghĩa theo các cách khác nhau nhưng tựu chung lại: quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng xây dựng, thực thi các chính sách quản lý tác động đến hoạt động tín dụng để nhận dạng, cảnh báo, đo lường, kiểm soát rủi ro, hạn chế đến mức tối đa hậu quả của rủi ro tín dụng (Lê Thị Huyền Diệu 2010)
Trên cơ sở đó, mục tiêu chính của quản trị rủi ro tín dụng chính là đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng ngân hàng Quản trị rủi ro tín dụng tốt còn góp phần gia tăng lợi nhuận, giúp ngân hàng đi đúng định hướng hoạt động đã đề ra và xây dựng các chiến lược kinh doanh mới tốt hơn
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm các nội dung chính: nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro
Nhận dạng rủi ro tín dụng là một quá trình mang tính hệ thống, toàn diện để theo dõi, nghiên cứu, thống kê rủi ro, phát hiện, cảnh báo các dấu hiệu rủi ro tín dụng từ đó giúp ngân hàng có giải pháp xử lý vấn đề một cách hiệu quả nhất, giảm đến mức thấp nhất những tổn thất có khả năng xảy ra
Nhận dạng rủi ro là bước đầu tiên trong công tác quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng, tập trung trên 2 giác độ chính là phân tích danh mục cấp tín dụng của ngân hàng và phân tích khách hàng
Trang 29Các phương pháp nhận dạng rủi ro chính thường được sử dụng hiện nay như: sử dụng bảng câu hỏi, phân tích báo cáo tài chính, sử dụng lưu đồ, nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ, thanh tra/nghiên cứu hiện trường tại chỗ…
1.3.2.2 Đo lường rủi ro
Đo lường rủi ro tín dụng hay lượng hóa rủi ro tín dụng là việc tính toán, xác định mức độ, quy mô, xác suất xảy ra rủi ro cũng như mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang phải đối mặt, từ đó xác định tác động ngắn hạn và dài hạn của rủi ro đó đối với vốn và lợi nhuận của ngân hàng Đo lường rủi ro tín dụng là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quản trị kinh doanh của ngân hàng hiện đại cũng như quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng
Đo lường rủi ro được thực hiện bằng các phương pháp, mô hình khác nhau về định lượng lẫn định tính như mô hình 6C, mô hình 5P, mô hình điểm số Z, mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình xếp hạng tín dụng của Standard and Poor‟s hoặc của Moody‟s,
mô hình CreditMetrics, mô hình KMV…
1.3.2.3 Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, chương trình hành động… để đánh giá, quản lý hoạt động tín dụng nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi từ hoạt động tín dụng
có thể đến với ngân hàng
Các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng cụ thể mà các ngân hàng hiện nay đang áp dụng phổ biến như: thực hiện phân tán danh mục lĩnh vực cấp tín dụng, cho vay đồng tài trợ, thẩm định tốt khách hàng và năng lực trả nợ, xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, tham gia bảo hiểm tiền vay, người vay, kiểm soát và xem xét định kỳ tất cả các loại hình cho vay, các nhóm đối tượng vay vốn, theo dõi thường xuyên đối với những khoản cho vay có vấn đề…
Trang 301.3.2.4 Tài trợ rủi ro
Tài trợ rủi ro là công việc mà các ngân hàng xây dựng, phát triển các quỹ, nguồn vốn, phương tiện để khắc phục rủi ro khi xảy ra, giảm thiểu các tổn thất hoặc để gia tăng các giá trị tích cực Việc tài trợ rủi ro tín dụng được các ngân hàng tại Việt Nam thực hiện bằng các biện pháp phổ biến như: trích lập các quỹ dự phòng rủi ro (dự phòng chung, dự phòng cụ thể), mua bảo hiểm cho các khoản vay (bảo hiểm tài sản đảm bảo, bảo hiểm người vay vốn), sử dụng các công cụ phái sinh tín dụng (hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap - CDS), hợp đồng quyền chọn tín dụng (Credit Default Option), hợp đồng trao đổi tổng số thu nhập (Total Return Swap), trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng (Credit Linked Note))
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng
Tỷ lệ Nợ quá hạn/Tổng dư nợ và tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ
Nợ quá hạn và nợ xấu là 2 chỉ số cơ bản và mang tính truyền thống để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của một ngân hàng Theo đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay đã không thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo các cam kết trên hợp đồng tín dụng với ngân hàng khi đến hạn trả nợ
Nợ xấu: theo quy định tại thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và thông
tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 của NHNN thì nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phân loại theo phương pháp định lượng và định tính như sau:
Phương pháp định lượng:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn
Trang 31Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc
đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
bị phong tỏa vốn và tài sản;
Phương pháp định tính:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết
Trang 32Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá
là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết
Trong đó, nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3,4,5 Tỷ lệ Nợ quá hạn/Tổng dư nợ và tỷ
lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp và ngược lại
Việc sử dụng các chỉ tiêu này trong quản lý tín dụng có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán tuy nhiên các chỉ tiêu này sử dụng bộ dữ liệu trong quá khứ và do đó khó có khả năng dự tính mức độ rủi ro xảy ra trong tương lai đối với ngân hàng
Tỷ lệ Nợ có khả năng tổn thất/Tổng nợ xấu
Đây chính là tỷ lệ nợ nhóm 5/Tổng dư nợ nhóm 3,4,5 Đây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp nhất tình trạng rủi ro tín dụng của ngân hàng vì với nợ nhóm 5 thì khả năng mất vốn của ngân hàng gần như là chắc chắn và ngân hàng buộc phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro 100%
Tỷ lệ Quỹ DPRR/Nợ có khả năng mất vốn
Tỷ lệ này phản ánh khả năng chống đỡ rủi ro tín dụng từ quỹ dự phòng Thông thường tỷ lệ này lớn hơn 100% và chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy sự an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 33 Tỷ lệ Nợ không có tài sản đảm bảo/Tổng dư nợ
Tài sản đảm bảo về mặt lý thuyết thuộc nhóm điều kiện đủ khi ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng Mặc dù vậy, trong bối cảnh hiện nay của nước ta môi trường pháp lý về kế toán, kiểm toán tài chính chưa hoàn thiện, tính minh bạch, trung thực của báo cáo tài chính, các thông tin của khách hàng cung cấp chưa đủ tin cậy vì thế tài sản đảm bảo vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong cho vay Do đó, những khoản nợ không có tài sản đảm bảo luôn được xem là tiềm ẩn rủi ro cao
Hệ số rủi ro tín dụng
Đây là chỉ tiêu phản ánh có bao nhiêu đơn vị dư nợ vay trên 1 đơn vị tài sản có của ngân hàng Trong đó, tài sản có ở đây bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bao thanh toán, tiền gửi, các khoản đầu tư, hiện vật của ngân hàng…
Hệ số này càng cao cho thấy khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có của ngân hàng chiếm tỷ trọng càng lớn và qua đó lợi nhuận mang lại (về lý thuyết) càng lớn nhưng
đi kèm là rủi ro tín dụng sẽ tăng cao
Hệ số thu nợ
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà ngân hàng thu hồi được từ các khoản đã cho vay; Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã giải ngân trong 1 thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả của hoạt động thu hồi nợ vay của ngân hàng
Tỷ lệ Lãi treo/Tổng dư nợ
Trang 34Lãi treo hay còn gọi là lãi quá hạn là tiền lãi vay phát sinh theo hợp đồng tín dụng
mà khách hàng vay đã không thanh toán được cho ngân hàng khi đến hạn Chỉ số lãi treo càng cao cho thấy nguy cơ xuất hiện rủi ro tín dụng càng gia tăng đối với ngân hàng
Cơ cấu nợ theo ngành nghề
Dư nợ tập trung quá nhiều vào 1 khách hàng, 1 lĩnh vực, ngành nghề kinh tế sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó, sự đa dạng trong danh mục cấp tín dụng cộng với việc đặt ra các chỉ số giới hạn cần thiết theo lĩnh vực kinh doanh, đối tượng khách hàng… cũng là yếu tố quan trọng để kiểm soát chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.3.4 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Theo Lê Thị Huyền Diệu (2010): Mô hình quản trị rủi ro tín dụng là hệ thống tổ chức quản lý, đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng một cách đầy đủ, toàn diện trong hoạt động ngân hàng Mô hình quản trị rủi ro tín dụng có nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mức độ phức tạp, quy mô tổ chức hoạt động, khả năng chấp nhận rủi ro lẫn định hướng phát triển tổng thể của từng ngân hàng
Việc xây dựng mô hình quản trị rủi ro đòi hỏi các ngân hàng phải giải quyết các vấn đề cơ bản về phương thức hoạt động (tập trung hay phân tán), cách thức đo lường rủi
ro (định tính hay định lượng), hệ thống kiểm soát rủi ro (kiểm soát đơn hay kiểm soát kép) Về phương thức hoạt động tồn tại 2 mô hình phổ biến là mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
1.3.4.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp, cụ thể:
Tại Hội sở chính: thực hiện tách bạch chức năng ra quyết định tín dụng với chức năng quản lý tín dụng Tại chi nhánh: tiến hành tách các bộ phận, chức năng bán hàng, chức năng phân tích tín dụng và chức năng tác nghiệp Sự tách biệt này nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được kỹ năng chuyên môn hóa của cán bộ tín dụng
Trang 35Điểm mạnh:
Quản lý rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng
Thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro
Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống
Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn
Điểm yếu:
Việc triển khai mô hình cần nhiều công sức và thời gian
Cần phải đào tạo, bồi dưỡng thêm cho cán bộ tín dụng với từng vị trí chuyên môn cụ thể
1.3.4.2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán
Ngược lại với mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung, mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp, quyền quyết định tín dụng dàn đều ở cấp cơ sở
Điểm mạnh:
Gọn nhẹ
Cơ cấu tổ chức đơn giản
Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ hoặc ngân hàng có nhiều chi nhánh phụ thuộc
Điểm yếu:
Thiếu sự chuyên sâu dẫn đến chất lượng tác nghiệp không cao
Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng nên chiến lược của nhà quản trị không thể bám sát với tình hình thực tiễn
Trang 361.3.4.3 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ tổng thể
Trên cơ sở phương thức tổ chức hoạt động tập trung hoặc phân tán như trên, các dạng mô hình tổng thể mà ngân hàng đang áp dụng bao gồm:
Mô hình quản trị rủi ro dạng kết hợp 1:
Ngân hàng sử dụng phương thức hoạt động quản trị rủi ro tập trung, cách thức đo lường rủi ro định lượng và hình thức kiểm soát kép Đây là mô hình được áp dụng tại các nước phát triển với nền kinh tế lành mạnh, chế độ thông tin kế toán, kiểm toán công khai, minh bạch và nền tảng công nghệ ngân hàng hiện đại
Mô hình quản trị rủi ro dạng kết hợp 2:
Ngân hàng sử dụng phương thức hoạt động quản trị rủi ro phân tán, cách thức đo lường rủi ro định tính và hình thức kiểm soát đơn Đây là mô hình hoạt động sơ khai nhất của quản trị rủi ro tín dụng và thường được sử dụng tại các quốc gia đang phát triển
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng dạng chuyển đổi:
Là mô hình kết hợp các cấu phần của mô hình dạng 1 và dạng 2, thường được áp dụng tại các quốc gia đang phát triển mà trong đó các ngân hàng đang có những nỗ lực mạnh mẽ để cải tiến mô hình quản trị rủi ro tiến lên áp dụng hoàn toàn mô hình dạng 1
Tại Việt Nam, các ngân hàng được đánh giá là áp dụng mô hình quản trị rủi ro dạng kết hợp 1 là các ngân hàng thương mại cổ phần lớn, hoạt động kinh doanh hiệu quả như ACB, VCB, Vietinbank, BIDV, Sacombank… Tại các ngân hàng này, việc đo lường rủi ro tín dụng được thực hiện bằng cả phương pháp định tính lẫn định lượng thông qua
hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được NHNN chấp thuận, tổ chức quản lý rủi ro tín dụng tập trung và kiểm soát rủi ro kép với sự tham gia của kiểm toán nội bộ, NHNH…,
và cơ chế kiểm soát của thị trường
Đối với mô hình quản trị rủi ro dạng kết hợp 2 và mô hình quản trị rủi ro tín dụng dạng chuyển đổi thì việc áp dụng lại phổ biến ở các ngân hàng quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp, tiềm lực tài chính, công nghệ quản lý còn yếu kém, đang trong quá trình tái cơ cấu theo chủ trương của NHNN
Trang 371.4 KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại một số quốc gia trên thế giới
1.4.1.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Accion Microfinance Bank Limited (AMFB) – Nigeria trong kiểm soát rủi ro tín dụng bán lẻ
Nigeria là một quốc gia châu Phi với dân số vào khoảng 150 triệu người, trong đó
có hơn 70% dân số sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập không tới 1,25 $/ngày Nigeria được đánh giá là một quốc gia thiếu sự phổ cập của ngân hàng vì có đến 46,3% người dân không thể tiếp cận được tới các dịch vụ tài chính Trong bối cảnh đó, ngân hàng Accion Microfinance được thành lập vào năm 2007 với mục tiêu hoạt động chính là cung cấp các sản phẩm tín dụng vi mô tới người dân của quốc gia này (chủ yếu là phát triển nông nghiệp nông thôn) mà trong đó phần lớn khách hàng vay trên cơ sở tín chấp không có tài sản đảm bảo Hoạt động của ngân hàng Accion Microfinance không đạt được như mong đợi trong 2 năm đầu thành lập tuy nhiên lại có bước khởi sắc vào năm thứ 3 và dần trở nên ổn định vào các năm tiếp theo Sự thành công của Accion Microfinance được ghi nhận nhờ cách tiếp cận quản trị rủi ro phù hợp với đặc điểm của hoạt động tín dụng cá nhân và tình hình của đất nước Nigeria, cụ thể:
Xây dựng mối quan hệ gắn bó với người vay: cán bộ ngân hàng cần phải đề cao việc xây dựng và duy trì mối quan hệ gần gũi, gắn kết với người vay vốn Việc này không chỉ để thực hiện công việc nhắc nợ hoặc thu tiền trả nợ mà còn để theo sát những khó khăn mà người vay gặp phải và đưa ra các tư vấn tài chính cần thiết cho họ
Cho vay theo nhóm: khi cho vay theo nhóm, nếu một cá nhân chậm thanh toán nợ vay ngân hàng thì sẽ ảnh hưởng đến tín nhiệm tín dụng của cả nhóm và các thành viên trong nhóm sẽ tạo áp lực để buộc cá nhân đó trả nợ đầy đủ, đúng hạn
Đề cao xác minh năng lực người vay vốn: cán bộ tín dụng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng thông tin của khách hàng vay bao gồm cả uy tín cá nhân của họ trong cộng đồng dân
cư
Trang 38Tiêu chuẩn hóa sản phẩm, dịch vụ: ngân hàng cần đảm bảo tính đồng nhất về sản phẩm, dịch vụ của mình để phục vụ cho việc đo lường, quản trị và theo dõi
Thực hiện báo cáo thường xuyên: hoạt động của từng danh mục cấp tín dụng cần phải được theo dõi, đánh giá và gửi về hội sở chính một cách thường xuyên và những báo cáo này sẽ được phân tích để theo dõi diễn biến vay mượn của khách hàng theo thời gian
1.4.1.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ của ngân hàng Commonwealth Bank of Australia
Commonwealth Bank of Australia là một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đầu tại Australia với mạng lưới hoạt động, đầu tư không chỉ tại Australia mà còn mở rộng tại các quốc gia khác như New ealand, Indonesia và Việt Nam Commonwealth Bank tổ chức mô hình quản lý rủi ro bao gồm 3 tuyến phòng thủ:
Tuyến thứ 1: Quản trị doanh nghiệp – rủi ro được quản lý một cách tốt nhất ngay tại nơi nó phát sinh và do đó, các đơn vị kinh doanh, các bộ phận trực thuộc có trách nhiệm cao nhất trong việc quản trị rủi ro ngay tại đơn vị mình
Tuyến thứ 2: Quản trị rủi ro – là khối quản trị rủi ro sẽ cung cấp, đề xuất các
ý kiến tư vấn chuyên môn, các phân tích về hoạt động rủi ro đang vận hành tại ngân hàng cũng như xây dựng các chính sách quản trị rủi ro ngân hàng
Tuyến thứ 3: Kiểm toán độc lập – là khối cung cấp các báo cáo độc lập, đánh giá về sự tuân thủ cũng như tính hiệu quả của hệ thống quản lý nội bộ, quy trình quản lý rủi ro và thực thi các quy định pháp luật của tổ chức Bên cạnh đó, Commonwealth Bank áp dụng các nhân tố sau của quản trị rủi ro tín dụng vào hoạt động kinh doanh hàng ngày:
Thứ nhất là bộ các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng và tiêu chuẩn danh mục đầu tư
Trang 39 Thứ hai là hệ thống đo lường đánh giá rủi ro tín dụng (dựa vào các công cụ phân tích để tính toán 3 nhân tố chính là PD - Probability of Default, EAD, - Exposure at Default và LGD - Loss Given Default)
1.4.1.3 Kinh nghiệm của Hong Kong trong quản trị rủi ro tín dụng đối với sản phẩm thẻ tín dụng
Theo thống kê của Ủy ban quản lý tiền tệ Hong Kong (HKMA) năm 2003, tổng dư
nợ đối với nhóm khách hàng cá nhân của hệ thống ngân hàng Hong Kong chiếm 36,5% quy mô, trong đó dư nợ đối với sản phẩm thẻ tín dụng chỉ chiếm 6% nhưng tỷ lệ nợ xấu chiếm đến 8,19%
Trước thực trạng trên, HKMA đã ban hành cẩm nang quản lý nghiệp vụ thẻ tín dụng trong đó quy định về các chính sách, quy trình quản lý, tiếp thị, quy trình thẩm định, quản lý rủi ro đối với sản phẩm dịch vụ này Cẩm nang này tiếp tục được HKMA cập nhật thêm các quy định mới vào các phiên bản ở các năm sau này
Cùng với việc làm trên, Hong Kong còn tiến hành cải cách việc chia sẻ thông tin tín dụng: mặc dù từ năm 1998 các ngân hàng Hong Kong đã có thể tiếp cận với thông tin tín dụng của người tiêu dùng nhưng những thông tin này bị giới hạn ở những dữ liệu thông tin xấu như việc khách hàng không trả nợ Đến năm 2003, những thông tin khác của người vay cũng đã được báo cáo bao gồm quy mô dư nợ, lịch sử thanh toán nợ…
Bên cạnh đó, HKMA còn phối hợp ban hành cẩm nang (không mang tính bắt buộc) về cách thức tiếp cận với khó khăn của người vay (Hong Kong Approach to Consumer Debt Difficulties) đối với các tổ chức tín dụng như định hướng tiếp cận, cách thức giải quyết những khó khăn của người vay theo hướng đảm bảo lợi ích của khách hàng
1.4.1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong hỗ trợ tín dụng cá nhân, hộ gia đình
Từ cuối năm 2012, tổng dư nợ tín dụng đối với cá nhân và hộ gia đình tại Hàn Quốc đạt ngưỡng 853,7 tỷ USD, tỷ lệ nợ của bộ phận dân cư so với thu nhập khả dụng
Trang 40thời điểm này lên đến 136%, mức cao nhất kể từ năm 2003, dư nợ có tài sản bảo đảm tại các ngân hàng Hàn Quốc cũng tăng 19,9% so với năm 2009
Quy mô dư nợ bộ phân dân cư tăng quá cao so với thu nhập khả dụng của người dân được nhìn nhận là một mối nguy hiểm đối với nền kinh tế Hàn Quốc, trước hết ở hai góc độ: thứ nhất, nó làm suy giảm tỷ lệ tiết kiệm của dân cư, làm ảnh hưởng đến vốn đầu
tư và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và thứ hai nó làm tăng nguy cơ nợ xấu ngân hàng, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính
Để đối phó với nguy cơ rủi ro cao này, từ tháng 3/2013 chính phủ Hàn Quốc đã thành lập quỹ National Happiness Fund (NHF) – một hình thức của gói hỗ trợ tín dụng với quy mô ban đầu 17 tỷ USD để hỗ trợ cho những người có mức thu nhập thấp trả nợ (ước tính vào khoảng 3,2 triệu người không có khả năng chi trả cho các khoản vay nợ của họ), các hình thức cụ thể bao gồm tái cơ cấu nợ các khoản vay hiện hữu, hỗ trợ tín dụng sinh viên thông qua việc hoãn nợ cho đến khi họ ra trường và có việc làm, chuyển đổi các khoản vay với mức lãi suất cao thành các khoản vay có mức lãi suất thấp…
Đến cuối năm 2013, các báo cáo cho thấy đã có ít nhất 230 nghìn người dân Hàn Quốc giảm được gánh nặng nợ nần của mình nhờ sự hỗ trợ của quỹ NHF
1.4.2 Bài học cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm quốc tế có thể nhận thấy, để kiểm soát tốt rủi ro tín dụng bán lẻ cần có sự phối hợp một cách đồng bộ cả về phía ngân hàng lẫn sự can thiệp, hỗ trợ từ chính phủ, cụ thể:
Các ngân hàng thương mại phải hoàn thiện quy trình kiển soát rủi ro tín dụng, thực hiện tách bạch vai trò, chức năng của từng bộ phận trong quy trình cho vay, xem hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng là một hoạt động ưu tiên hàng đầu trong kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt không chỉ giới hạn trong các khâu phân tích, thẩm định tín dụng mà cần phải áp dụng ngay từ khâu kinh doanh, tiếp thị sản phẩm dịch vụ tới khách hàng
Ngân hàng cần ưu tiên đầu tư công nghệ, kỹ thuật để xây dựng các công cụ đánh giá, kiểm soát rủi ro tín dụng một cách tiên tiến, tránh các yếu tố nhận định cảm quan