1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tcvn 44 lý tùng hiếu (2020), các lý thuyết địa lý học văn hoá, sinh thái học văn hoá và việc vận dụng trong nghiên cứu văn hoá

13 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Lý Thuyết Địa Lý Học Văn Hố, Sinh Thái Học Văn Hố Và Việc Vận Dụng Trong Nghiên Cứu Văn Hố
Tác giả Lý Tùng Hiếu
Người hướng dẫn Tiến Sĩ, Giảng Viên Chính, Khoa Văn Hóa Học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 58,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC LÝ THUYẾT ĐỊA LÝ HỌC VĂN HOÁ, SINH THÁI HỌC VĂN HOÁ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ Lý Tùng Hiếu* Các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá được phát triển

Trang 1

CÁC LÝ THUYẾT ĐỊA LÝ HỌC VĂN HOÁ, SINH THÁI HỌC VĂN HOÁ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ

Lý Tùng Hiếu*

Các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá được phát triển ở phương Tây trong thế kỷ XX đã làm sáng tỏ vai trò của môi trường tự nhiên đối với sự hình thành, biến đổi của văn hoá, đồng thời xác định mối quan hệ giữa văn hoá với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người Vận dụng các

lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá trong nghiên cứu văn hoá, chúng tôi nhận thức rằng, điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá là hai tác nhân hợp thành một môi trường văn hoá mà trong đó, nền văn hoá của các cộng đồng người hình thành, vận động và biến đổi Do những tác động khác nhau của hai tác nhân ấy, các nền văn hoá có thể mang tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều Trước những tác động ấy, số phận của các nền văn hoá sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo và khả năng lựa chọn của các chủ thể văn hoá.

Từ khoá: địa lý học văn hoá; sinh thái học văn hoá; điều kiện địa lý tự nhiên;

điều kiện giao lưu văn hoá; môi trường văn hoá.

CONTRIBUTORY VALUES AND APPLIED DIRECTIONS OF THEORIES OF

CULTURAL GEOGRAPHY AND CULTURAL ECOLOGY

Theories of cultural geography and cultural ecology developed in the West in the twentieth century have shed light on the role of the natural environment for the formation and transformation of culture, the relationship between culture and the environment, adaptation of people to the natural environment, and the shaping of the landscape by agricultural production, technology and construction Applying theories

of cultural geography and cultural ecology in the study of culture, the author recognizes that physical geographic conditions and cultural interchange conditions are two components of a cultural environment, in which the cultures of human communities form, move and change Due to the varied effects of these two factors, cultures can be static or dynamic, slow or fast changing, more or less variable Faces these effects, the fate of cultures will depend on the creativity and the choice of the cultural subjects.

Keywords: cultural geography; cultural ecology; physical geographic

condition; cultural interchange condition; cultural environment.

-1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Các lý thuyết địa lý học văn hoá (cultural geography) và sinh thái học văn hoá (cultural ecology) được phát triển ở phương Tây trong thế kỷ XX với sự đóng góp của

* * Tiến sĩ, Giảng viên chính, Khoa Văn hoá học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM Email: lytunghieu@gmail.com

Trang 2

các nhà địa lý học, sinh thái học, và nhân học Thông qua việc nghiên cứu quan hệ giữa văn hoá với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và

sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người, các lý thuyết này đã làm sáng tỏ vai trò của môi trường địa lý tự nhiên đối với sự hình thành, biến đổi của văn hoá, đồng thời chỉ ra những tác động trở lại của văn hoá đối với môi trường sinh thái, từ đó đặt ra vấn đề trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái của con người

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá đã được giới thiệu và vận dụng ở Việt Nam trong một số công trình nghiên cứu địa lý học, sinh thái học, nhân học Trong ngành văn hoá học, tác giả cũng đã có dịp giới thiệu và vận dụng các lý thuyết này trong một số công trình nghiên cứu liên quan [Lý Tùng Hiếu, 2017: 36-40; 2019a: 33-40; 2019b: 36-47; 2019c: 18-31] Đáp ứng nhu cầu cập nhật tri thức lý thuyết văn hoá học, trong bài này tác giả sẽ

bổ sung tư liệu và vận dụng phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu và phương pháp

so sánh, để tóm lược giá trị đóng góp của các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá, và giới thiệu hướng vận dụng, phát triển những luận điểm phù hợp của các lý thuyết này vào việc nghiên cứu văn hoá và văn hoá Việt Nam

2 GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC LÝ THUYẾT ĐỊA LÝ HỌC VĂN HOÁ VÀ SINH THÁI HỌC VĂN HOÁ

2.1 Carl Ortwin Sauer với “hình thái học cảnh quan”

Người được xem là có công đặt nền móng cho các lý thuyết địa lý học văn hoá

và sinh thái học văn hoá là Carl Ortwin Sauer (1889-1975), nhà địa lý học người Mỹ

đã phát triển phân ngành địa lý học văn hoá Bài báo “The morphology of landscape”

(Hình thái học của cảnh quan, 1925) của ông đăng trên University of California

Publications in Geography 2 được xem là bài báo tiếng Anh có ảnh hưởng nhất trong

việc giới thiệu những ý tưởng về các cảnh quan văn hoá Theo C.O Sauer, “trong mỗi cảnh quan, có những hiện tượng không đơn giản có mặt ở đó nhưng chúng có liên đới với nhau hoặc độc lập với nhau” Do đó, theo ông, nhiệm vụ của nhà địa lý học là phát hiện mối liên kết cấp vùng giữa các hiện tượng: “Nhiệm vụ của địa lý học được quan niệm là thiết lập một hệ thống có tính cách quyết định bao gồm các hiện tượng cảnh quan, nhằm nắm bắt tất cả ý nghĩa của nó và tạo màu sắc cho quang cảnh đa dạng trên mặt đất”1 Đối với quyết định luận môi trường (environmental determinism), một lý thuyết phổ biến trong địa lý học khi C.O Sauer bắt đầu sự nghiệp, ông có thái độ phê bình quyết liệt Ông đề xuất một cách tiếp cận khác gọi là “hình thái học cảnh quan” (landscape morphology) hoặc “lịch sử văn hoá” (cultural history) Cách tiếp cận này liên quan đến việc thu thập quy nạp các dữ kiện thực tế về tác động của con người lên cảnh quan theo thời gian C.O Sauer tin rằng nông nghiệp, sự thuần hoá thực vật và động vật có ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên Trong Kết luận của bài báo trên, ông

1 Nguyên văn: “Within each landscape there are phenomena that are not simply there but are either associated or independent of each other” “The task of geography is conceived as the establishment of a critical system which embraces the phenomenology of landscape, in order

to grasp in all of its meaning and colour the varied terrestrial scene” [Sauer, Carl O.: 1925: 20]

Trang 3

đúc kết nhiệm vụ của nhà địa lý học là vượt thốt sự cầm tù của những lý thuyết lỗi thời, vận dụng cách tiếp cận hình thái học để xử lý mối quan hệ qua lại giữa con người với mơi trường, thể hiện trong các cảnh quan khác nhau trên thế giới:

“Trong hiện thực đầy màu sắc của cuộc sống, sự kiềm toả của những lý thuyết

‘giản dị thái quá’ đang bị thực tế tấn cơng liên tục Chúng ta quan tâm đến

“hoạt động cĩ chỉ huy, khơng phải là sự thực hành non nớt” và đây là cách tiếp cận hình thái học Bộ phận hiện thực được lựa chọn một cách thơ phác của chúng ta, tức là cảnh quan, đang trải qua sự thay đổi trên nhiều phương diện Sự tiếp xúc của con người với ngơi nhà khơng ngừng biến chuyển của mình, như được thể hiện qua cảnh quan văn hố, là địa hạt cơng việc của chúng ta Chúng

ta quan tâm đến tầm quan trọng của nơi chốn đối với con người, và cả với sự chuyển đổi nơi chốn của con người Nĩi chung, chúng ta xử lý mối quan hệ qua lại giữa nhĩm hoặc các nền văn hố với nơi chốn, như được thể hiện trong các cảnh quan khác nhau của thế giới” [Sauer, Carl O., 1925: 53]2

Trong bài báo “Recent developments in cultural geography” (Những phát triển gần đây trong địa lý học văn hố, 1927), C.O Sauer đã xem xét sự thành tạo các cảnh quan văn hố (cultural landscapes) từ “các dạng thức xếp chồng lên trên cảnh quan tự nhiên” (the forms superimposed on the physical landscape) [Sauer, Carl O., 1927: 154-212]

Đặc biệt, C.O Sauer tỏ ra quan tâm đến cách thức mà chủ nghĩa tư bản hiện đại

và các chính phủ trung ương tập quyền phá huỷ sự đa dạng văn hố và sức khoẻ mơi trường của thế giới Trong bài báo “Themes of plant and animal destruction in economic history” (Những đề tài về sự huỷ hoại thực vật và động vật trong lịch sử

kinh tế, 1938) đăng trên Journal of Farm Economics, 20, ơng đã chỉ trích ảnh hưởng

của các nền văn minh thương mại đối với các dạng sống hoang dã và thuần hố, vì những lợi ích ích tức thời và tương lai, làm kiệt quệ nghiêm trọng các kết quả của tiến hố sinh học [Sauer, Carl O., 1983: 150]3

Lý thuyết của C.O Sauer cĩ ảnh hưởng ở cả Bắc Mỹ và châu Âu Sau khi C.O Sauer nghỉ hưu, trường phái địa lý học con người - mơi trường của ơng đã phát triển thành sinh thái học văn hố (cultural ecology), sinh thái học chính trị (political ecology) và sinh thái học lịch sử (historical ecology)

2 Nguyên văn: “In the colorful reality of life there is a continuous resistance of fact to confinement within any ‘simpliste’ theory We are concerned with “directed activity, not premature realization” and this is the morphologic approach Our nạvely selected section of reality, the landscape, is undergoing manifold change This contact of man with his changeful home, as expressed through the cultural landscape, is our field of work We are concerned with the importance of the site to man, and also with his transformation of the site Altogether we deal with the interrelation of group, or cultures, and site, as expressed in the various landscapes of the world” [Sauer, Carl O., 1925: 53]

3 Nguyên văn: “Commercial production has caused and is causing a steady and great shrinkage of forms, because suddenly restricted standards of utility are introduced Unfortunately, immediate and prospective utility may be very different things This applies equally in criticism of the effect of our commercial civilization on wild and on domesticated forms of life: in both cases we have drastically impoverished the results of biologic evolution” [Sauer, Carl O., 1983: 150]

Trang 4

2.2 Julian Haynes Steward với “phương pháp luận tiến hoá đa tuyến”

Học giả kế tiếp là Julian Haynes Steward (1902-1972), nhà nhân học người Mỹ

đã góp phần phát triển các khái niệm và phương pháp của sinh thái học văn hoá, và lý thuyết khoa học về biến đổi văn hoá J.H Steward đã đặt ra thuật ngữ, hình dung về sinh thái học văn hoá như một phương pháp luận để hiểu con người thích ứng với các

môi trường đa dạng như thế nào Trong công trình Theory of Culture Change: The

Methodology of Multilinear Evolution (Lý thuyết về biến đổi văn hoá: Phương pháp luận tiến hoá đa tuyến, 1955), dựa trên nhận thức về vai trò quan trọng của địa bàn

sinh thái trong việc định hình văn hoá của một vùng, J.H Steward cho rằng sinh thái học văn hoá là khoa học miêu tả những cách thức mà trong đó sự thích ứng với môi trường đã gây ra sự biến đổi văn hoá Và rằng bất kỳ sự thích nghi đặc biệt nào của con người cũng được thừa hưởng một phần từ lịch sử, bao gồm các công nghệ, thực hành và kiến thức cho phép con người sống trong một môi trường nào đó Điều đó có nghĩa là trong khi môi trường ảnh hưởng đến đặc điểm thích ứng của con người, nó cũng đồng thời chịu tác động của con người chứ không tự định đoạt được chính nó Bằng cách đó, J.H Steward đã khôn ngoan tách biệt tính cách hay thay đổi của môi trường khỏi những hoạt động bên trong của nền văn hoá chiếm chỗ môi trường ấy Xem xét về lâu dài, điều này có nghĩa là môi trường và văn hoá nằm trên những con đường tiến hoá riêng rẽ ít nhiều, và khả năng ảnh hưởng qua lại giữa môi trường và văn hoá phụ thuộc vào cấu trúc của mỗi bên [Steward, Julian H., 1972]

Phương pháp của J.H Steward là dẫn chứng các công nghệ và phương pháp được con người sử dụng để khai thác môi trường và kiếm sống, kế tiếp là quan sát các

mô hình hành vi / văn hoá của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường, cuối cùng là đánh giá các mô hình hành vi ấy có ảnh hưởng qua lại như thế nào đến các khía cạnh khác của văn hoá Chẳng hạn, ở một vùng dễ bị hạn hán, sự quan tâm lớn của cư dân đối với các mô hình lượng mưa có nghĩa là điều đó đã trở thành trung tâm của cuộc sống hàng ngày, và dẫn đến sự phát triển của một hệ thống niềm tin tôn giáo

mà trong đó, lượng mưa và nước nổi bật lên Hệ thống tín ngưỡng này có thể không xuất hiện trong một xã hội có lượng mưa tốt cho cây trồng, hoặc nơi đã được thực hiện thuỷ lợi [Steward, Julian H., 1972]

Cũng trong công trình này, J.H Steward đã kịch liệt phê phán tiến hoá luận đơn tuyến (unilinear evolutionism), một lý thuyết giải thích sự tiến hoá văn hoá thịnh hành trong thế kỷ XIX: “Tiến hoá văn hoá có thể được xem như là một loại tái dựng lịch sử đặc biệt hoặc như là một phương pháp luận hay cách tiếp cận đặc biệt Các công trình tái dựng lịch sử của các nhà tiến hoá luận đơn tuyến thế kỷ XIX độc đáo ở chỗ giả định rằng tất cả các nền văn hoá đều đi qua các trình tự song song và không liên quan về mặt di truyền Giả định này mâu thuẫn với những người theo tương đối luận văn hoá hoặc những người theo đặc thù luận lịch sử thế kỷ XX, những người coi sự phát triển văn hoá như là sự chia tách một cách cơ bản, trừ khi sự khuếch tán hướng tới những khác biệt đồng đều Sự bất đồng này, liên quan đến thực tế có tính lịch sử và cơ bản, được phản ánh trong sự phân loại văn hoá Các hạng mục chính của các nhà tiến hoá luận đơn tuyến chủ yếu là các giai đoạn phát triển có thể áp dụng cho tất cả các nền văn hoá; những cái mà với các nhà tương đối luận và đặc thù luận

là các vùng văn hoá hoặc các truyền thống văn hoá Sự khác biệt về quan điểm

Trang 5

cũng liên quan đến chính tính luận lý khoa học Các nhà tiến hoá luận đã suy diễn, tiên nghiệm, khái lược, và có tính triết học ở mức độ cao Các nhà tương đối luận thì mang tính chất hiện tượng học và mỹ học

“Các nghiên cứu của thế kỷ hai mươi đã tích lũy được một loạt bằng chứng ủng

hộ mạnh mẽ luận điểm cho rằng các nền văn hoá cụ thể chia tách đáng kể với nhau và không trải qua các giai đoạn như tiến hoá luận đơn tuyến hình dung Vì thực tế cơ bản này của lịch sử văn hoá không còn là vấn đề gây tranh cãi lớn, nên những người tìm cách lưu giữ truyền thống của thuyết tiến hoá thế kỷ XIX

đã buộc phải di chuyển cái khung tham khảo của họ từ cái riêng sang cái chung,

từ một sự sắp xếp có tính phổ quát sao cho vừa khớp với tất cả các nền văn hoá riêng lẻ sang một hệ thống khái quát hoá rộng rãi về bản chất của bất kỳ nền văn hoá nào Họ thừa nhận rằng các nền văn hoá cụ thể có những đặc điểm khác biệt gây ra bởi sự phát triển chia tách ở các khu vực khác nhau cũng như bởi giai đoạn phát triển, nhưng giờ đây họ tuyên bố quan tâm đến sự tiến hoá của văn hoá nói chung chứ không phải của các nền văn hoá Sự tái dựng lịch sử văn hoá thế giới của họ, thật tình mà nói, được thực hiện theo những thuật ngữ chung chung như vậy để mọi người đều chấp nhận” [Steward, Julian H., 1972: 27-28]4

Tuy nhiên, sự khẳng định của J.H Steward rằng môi trường tự nhiên và sinh học ảnh hưởng đến văn hoá đã gây tranh cãi, bởi nó có hơi hường của quyết định luận môi trường đối với hành động của con người Nhưng trong một công trình khác là tiểu luận “Evolutionary principles and social types” (Các nguyên tắc tiến hoá và các loại

hình xã hội) in trong Evolution and ecology: essays on social transformationm (Sự

4 Nguyên văn: “Cultural evolution may be rergarded either as a special type of historical reconstruction or as a particular methodology or approach The historical reconstructions of the nineteenth-century unilinear evolutionists are distinctive for the assumption that all cultures pass through parallel and genetically unrelated sequences This assumptiom is in conflict with the twentieth-century cultural relativists or historical particularists, who regard cultural development as essentially divergent, except as diffusion tends to level differences This disagreement concerning fundamental historical fact is reflected in cultural taxonomy The major categories of the unilinear evolutionists are primarily developmental stages applicable to all cultures; those of the relativists and particularists are culture areas or traditions The difference in point of view also involves the very logic of science The evolutionists were deductive, a priori, schematic, and largely philosophical The relativists are phenomenological and esthetic

“The twentieth-century research has accumulated a mass of evidence which overwhelmingly supports the contention that particular cultures diverge significantly from one another and do not pass through unilinear stages Since this basic fact of cultural history is no longer a matter of major controversy, those who have sought to keep the tradition of nineteenth-century evolution alive have been forced to shift their frame of reference from the particular

to the general, from a universal scheme into which all individual cultures may be fitted to a system of broad generalizations about the nature of any culture They concede that particular cultures have distinguishing features caused by divergent development in different areas as well as by the stage of development, but they now profess to be interested in the evolution of culture generically considered and not of cultures Their reconstruction of world culture history is, as a matter of fact, made in such general terms as to be quite acceptable to everyone” [Steward, Julian H., 1972: 27-28]

Trang 6

tiến hố và sinh thái học: các tiểu luận về biến đổi xã hội, 1977), J.H Steward đã thừa

nhận rằng các nguồn tài nguyên cĩ thể được tạo ra thơng qua mơi trường xã hội So sánh người Shoshoni với người Indian Carrier ở British Columbia, Steward nhận thấy rằng sự du nhập việc buơn bán lơng thú đã tạo ra một thặng dư vật chất đủ cho người Carrier chuyển hệ thống dịng họ đơn giản của họ thành một hệ thống xây dựng trên địa vị, được duy trì bởi tập tục potlatch (người chủ tiệc sẽ tặng quà cho khách tuỳ theo theo địa vị và cấp bậc trong bộ lạc), cho dù mơi trường tự nhiên của họ khơng thay đổi [Steward, Julian H., 1977: 68-86; Layton, Robert: 2007: 299-300]

Lý thuyết sinh thái học văn hố và lý thuyết về biến đổi văn hố của J.H Steward cĩ ảnh hưởng trong các nhà nhân học và khảo cổ học từ giữa thế kỷ XX cho đến tận ngày nay Bàn về những đĩng gĩp của J.H Steward, Ngơ Thị Phương Lan [2016: 57-71] đúc kết rằng quan điểm tiến hố văn hố của J.H Steward là văn hố ở các vùng mơi trường giống nhau sẽ đi theo các trình tự phát triển giống nhau và hình thành nên các đáp ứng tương tự với các thách thức của mơi trường Văn hố sẽ tiến hố theo các hướng khác nhau tuỳ vào mơi trường mà chúng thích nghi Sự đa dạng của mơi trường sẽ tạo nên sự đa dạng hay sự đa tuyến của các con đường tiến hố Trong khi nghiên cứu văn hố, cần chú ý những yếu tố văn hố gần với thực hành sinh tồn J.H Steward gọi là lõi văn hố hay hạt nhân văn hố (cultural core), bao gồm các dạng thức chính trị, xã hội và tơn giáo mà thực tế chứng minh cĩ mối quan hệ chặt chẽ với các sắp xếp kinh tế Theo thuyết sinh thái truyền thống, mơi trường là yếu tố biến đổi khá chậm, nên hạt nhân văn hố sẽ ổn định, tạo sự cân bằng cho xã hội

2.3 Joël Bonnemaison với “địa lý học văn hố mới”

Gĩp phần quan trọng phát triển lý thuyết địa lý học văn hố là nhà địa lý học văn hố người Pháp Joël Bonnemaison (1940-1997) Với lập luận cho rằng các nền văn hố đều được xây dựng và định vị trong một khơng gian nhất định, và cĩ một mối quan hệ biện chứng giữa văn hố với khơng gian của nĩ, Joël Bonnemaison đã kế thừa các quan điểm địa lý học văn hố trước đĩ và gĩp phần xây dựng một trường phái mà ơng gọi là “địa lý học văn hố mới” (new cultural geography) Trong cơng trình

Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography (Văn hố và khơng gian:

Sự hình thành địa lý học văn hố mới, 2005), Joël Bonnemaison giải thích lý thuyết

của mình như sau:

“Thuật ngữ địa văn hố là mới, nhưng ý niệm về nĩ lại khơng mới Ý niệm về địa văn hố xuất hiện lần đầu tại Đức, nơi các nhà địa lý học ít ‘tự nhiên chủ nghĩa’ hơn ở Pháp: vào thế kỷ 19, Friedrich Ratzel đã đề cập đến địa lý nhân học, sau đĩ quan niệm về địa văn hố đến Pháp thơng qua ảnh hưởng của nhân học Mỹ với những đĩng gĩp quan trọng về địa văn hố của Carl Sauer - một học trị của Ratzel và là người sáng lập trường phái Berkeley Đối với Pháp, đây

là một sự trở lại hơn là một sự xuất hiện mới Với sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn hố, các nhà địa lý học nĩi tiếng của Pháp ở Quebec đã cĩ ảnh hưởng lớn đến sự phục hưng của cách tiếp cận địa văn hố vào những năm

1980 Sự trở lại của cách tiếp cận địa văn hố gắn với trường phái địa lý học của Pháp qua cách tiếp cận khá đặc trưng của trường phái này đối với địa văn hố Cĩ thể nêu một số dữ kiện nhằm làm sáng tỏ sự tái khám phá này

“Thứ nhất, sự phục hưng của địa văn hố gắn liền với sự mở rộng của thuật ngữ

‘văn hố’ Ở thế hệ của tơi người ta thường nĩi rằng ‘mọi thứ đều là chính trị’;

Trang 7

cịn bây giờ thì ‘mọi thứ đều là văn hố’ Cĩ thể thấy rằng nĩi về văn hố đang

như một cái mốt (fashion) Hiện nay chúng ta thường hay nĩi về văn hố cơng

ty, văn hố đảng phái chính trị v.v Mỗi hoạt động, từng nhĩm người đều cĩ văn hố của riêng họ Thậm chí chúng ta thấy cĩ cả Bộ Văn hố trong Chính phủ Pháp Cùng với địa lý học, văn hố xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực khoa học

xã hội Thực tế là trước đây các nhà khoa học xã hội thường xác định những nhân tố thuộc về văn hố là những nhân tố cĩ tính định tính, khơng thể định lượng và kiểu xác định này làm hạn chế ít nhiều đến việc nghiên cứu thấu đáo nhiều sự vật, hiện tượng

“Ba chiều kích của khơng gian cảnh quan trong địa văn hố gồm:

“- Lãnh thổ: liên qua đến các cột mốc và đường biên giới lãnh thổ; đến cơ cấu

chính trị với những vùng trọng điểm, trung tâm và vùng ngoại vi

“- Mơi trường địa lý: một cấu trúc địa lý và sinh thái - đất trồng, thực vật, nước,

khí hậu, mật độ dân cư, hệ thống thơng tin liên lạc Con người hồn tồn phụ thuộc vào hệ thống sinh thái này bởi vì tồn bộ mơi trường địa lý được nhân hố thành một quy mơ nhỏ hơn hoặc lớn hơn

“- Biểu tượng địa lý: cấu trúc biểu trưng một mơi trường địa lý và ý nghĩa của

nĩ Khái niệm này tương tự như khái niệm ‘médiance’ đã từng được Augustin Berque đưa ra từ năm 1990 để chỉ những tác động và những giá trị con người đem lại cho cảnh quan Những biểu tượng địa lý cĩ ý nghĩa đều liên quan đến đạo đức học và siêu hình học Chúng đại diện cho giá trị tinh thần của xứ sở mà chúng ta gọi là linh hồn của xứ sở” [Bonnemaison, Joël, 2009]

Theo Bonnemaison, các nền văn hố đều được xây dựng và định vị trong một khơng gian tương ứng, do đĩ các hệ thống văn hố đều bao hàm yếu tố khơng gian

Trong cơng trình La géographie culturelle (Địa lý học văn hố, 2004), ơng cho rằng

hệ thống văn hố bao gồm bốn yếu tố, được xem là bốn cực hay bốn trụ cột: (1) Di sản

kiến thức: Văn hố trước hết là di sản kiến thức Đĩ là sự hiểu biết về thế giới, làm cho

văn hố mang tính “khoa học” Bên cạnh khoa học phương Tây cĩ tính phổ quát, cịn

cĩ các “khoa học” trong mỗi nền văn minh khác nhau, ở mỗi tộc người ngoại lai, gọi là các khoa học tộc người (ethnosciences) ngồi phương Tây, được coi là các khoa học hoặc kiến thức tiền hiện đại Ngày nay, văn hố bản địa được đánh giá cao, khơng bị

coi là thấp kém như đầu những năm 1950 (2) Di sản kỹ thuật: gồm các kỹ năng và

cơng cụ Theo cách nĩi của nhà địa lý người Pháp Vidal de la Blache (1845-1918), đĩ

là các lối sống, dựa vào các kỹ thuật cơ bản, đáp ứng các nhu cầu đầu tiên của đời

sống để sinh tồn, để phân biệt con người với lồi vật Đĩ cịn là nghệ thuật sống, một

lý lẽ để sống (3) Tín ngưỡng: kiến thức và kỹ thuật ngồi phương Tây cịn dựa trên tín

ngưỡng tơn giáo, thể hiện một cách nhìn về thế giới, thường được coi là tầng cao của

văn hố, biểu hiện mối liên hệ cơ bản giữa các giá trị và kỹ thuật (4) Khơng gian: Các

nền văn hố được xây dựng và định vị trong một khơng gian Fernand Braudel (1902-1985), nhà sử học người Pháp nổi tiếng với Lý thuyết hệ thống kinh tế - xã hội trên phạm vi thế giới, cũng cho rằng văn hố cĩ một chỗ dựa địa lý Khác với quyết định luận địa lý, nĩ cĩ quan hệ biện chứng giữa mơi trường và văn hố [Bonnemaison, Joël, 2004; Trần Ngọc Khánh, 2012: 51-54]

Trang 8

3 VẬN DỤNG CÁC LÝ THUYẾT ĐỊA LÝ HỌC VĂN HOÁ VÀ SINH THÁI HỌC VĂN HOÁ

3.1 Xác định các tác nhân của môi trường làm hình thành và biến đổi văn hoá

Các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá nhằm nghiên cứu quan hệ giữa văn hoá với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người, có giá trị đóng góp rất quan trọng trong việc nghiên cứu văn hoá, đặc biệt là nghiên cứu các vùng văn hoá và phân vùng văn hoá Như một nhận định của Ngô Thị Phương Lan [2016: 57]: “Thuyết sinh thái văn hoá phát triền mạnh mẽ ở Mỹ vào giữa thế kỷ XX nhằm lý giải các sắp xếp của con người dựa trên sự thích nghi với môi trường sinh thái Mặc dù lý thuyết này thường bị phê phán là không quan tâm đến sự tác động của các yếu tố ngoại sinh trong quá trình hình thành nền văn hoá và không chú ý đến sự biến đổi văn hoá nhưng lý thuyết có giá trị nhất định khi lý giải cho sự thích nghi của con người với các vùng sinh thái cụ thể từ góc nhìn yếu tố nội sinh”

Vận dụng các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá vào việc nghiên cứu văn hoá, chúng tôi nhận thấy rằng, sự hình thành và biến đổi của văn hoá các tộc người và văn hoá các vùng miền trước hết bắt nguồn từ hai tác nhân then chốt: điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá

- Điều kiện địa lý tự nhiên (physical geography): bao gồm các yếu tố địa lý tự

nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, tài nguyên, những biến đổi của môi trường, v.v trong không gian sinh tồn của một cộng đồng người Các điều kiện địa lý tự nhiên ấy cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, phương tiện mà các tộc người

có thể thích nghi, tận dụng để sinh tồn và phát triển, đồng thời đặt ra những hiểm hoạ, thách thức mà các tộc người phải tìm cách ứng phó và chế ngự Cách thức thích nghi, tận dụng, ứng phó, chế ngự môi trường tự nhiên của con người, của các tộc người, chính là văn hoá Vì vậy, điều kiện địa lý tự nhiên vừa là nguyên liệu vừa là tác nhân làm hình thành văn hoá

Những yếu tố tự nhiên của một vùng đất là nguyên liệu và tác nhân làm hình

thành văn hoá của một cộng đồng người sẽ hợp thành không gian văn hoá (cultural

space) của cộng đồng người đó, góp phần làm hình thành đặc trưng của văn hoá tộc

người và văn hoá vùng Điều đó có nghĩa là giữa điều kiện địa lý tự nhiên với không gian văn hoá có một sự khác biệt nhất định: điều kiện địa lý tự nhiên là tác nhân khách quan, còn không gian văn hoá là sản phẩm nhân hoá giới tự nhiên của con người “Đối với các nhà địa lý với tư duy thực nghiệm ở Mỹ, văn hoá bao gồm các thứ không thuộc

về tự nhiên Họ phân biệt văn hoá là cái nhìn thấy được trong cảnh quan địa lý, do con người tạo lập nên và có khả năng làm thay đổi môi trường tự nhiên Đó là cảnh quan được nhân hoá” [Trần Ngọc Khánh, 2011] Sự khác biệt ấy là do môi trường tự nhiên chỉ cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, phương tiện, còn cách thức con người tận dụng, thích nghi, chế ngự môi trường tự nhiên ấy thì phụ thuộc vào kinh nghiệm, tri thức, kỹ thuật cũng như nhu cầu, lợi ích, mục đích của từng cộng đồng người Với tư duy phát triển và tính xã hội cao, con người không phản ứng một cách đồng loạt giống như nhau trước những tác nhân của môi trường tự nhiên, như các loài động vật Ngược lại, con người có khả năng lựa chọn và thường xuyên lựa chọn những cách thức phản ứng phù hợp với kinh nghiệm, tri thức, kỹ thuật cũng như nhu cầu, lợi ích, mục đích của mình

Trang 9

Do đó, mặc dù không gian văn hoá của một vùng văn hoá thường có điều kiện địa lý tự nhiên tương đối đồng nhất, nhưng những cộng đồng người cư trú trên đó có thể tạo ra những không gian văn hoá riêng, khác biệt với nhau, vì họ chỉ chú trọng khai thác một

số yếu tố tự nhiên nào đó chứ không phải là toàn bộ điều kiện địa lý tự nhiên tiềm tàng của vùng văn hoá Nói cách khác, không phải tất cả yếu tố của địa lý tự nhiên mà chỉ những yếu tố của tự nhiên trong một không gian nào đó đã được một cộng đồng người nhận thức, thích nghi, định danh, khai thác, cải biến hay huỷ hoại, mới hợp thành không gian văn hoá của họ

- Điều kiện giao lưu văn hoá (cultural interchange): bao gồm những yếu tố địa

lý tự nhiên như vị trí địa lý và địa hình của vùng cư trú, tạo thuận lợi hay gây bất lợi cho việc giao lưu văn hoá của một cộng đồng người Những vùng đất có điều kiện địa

lý tự nhiên thoáng mở như vị trí tiếp giáp các tuyến đường giao thương, địa hình thảo nguyên hoặc đồng bằng châu thổ không bị biển rộng núi cao chia cắt, cơ hội giao lưu văn hoá nội vùng và giao lưu văn hoá với bên ngoài sẽ gia tăng Ngược lại, những vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên biệt lập như vị trí địa lý tách biệt khỏi các tuyến đường giao thương, địa hình đồi núi hoặc hải đảo bị biển rộng núi cao chia cắt, cơ hội giao lưu văn hoá nội vùng và giao lưu văn hoá với bên ngoài sẽ giảm đi Thông thường, giao lưu văn hoá sẽ được khởi đầu bằng trao đổi thương mại và tôn giáo Qua

đó, nó cung cấp cho cộng đồng người những nguyên liệu, phương tiện, cách thức thích nghi, chế ngự mới đối với môi trường tự nhiên, làm mới hành trang văn hoá của họ trên những chặng đường cải biến tự nhiên và xã hội để sinh tồn và phát triển

Giao lưu văn hoá là tiền đề của tiếp biến văn hoá (acculturation), tức là tiếp

thu, biến đổi những yếu tố văn hoá ngoại sinh thành những yếu tố văn hoá tộc người, đồng thời biến đổi văn hoá tộc người để thích ứng với những yếu tố văn hoá mới Nếu giao lưu văn hoá chỉ là trao đổi để tăng cường hiểu biết và thoả mãn nhu cầu của con người, thì tiếp biến văn hoá sẽ làm biến đổi văn hoá tộc người

Hai tác nhân địa lý tự nhiên và giao lưu văn hoá là tiền đề của văn hoá tộc người và văn hoá vùng, nên khi chúng biến đổi, văn hoá tộc người và văn hoá vùng sẽ tất yếu biến đổi Trong thực tiễn, hai tác nhân ấy không đồng nhất giữa các vùng miền,

và không bất biến trong lịch sử Do đó, các nguyên liệu, phương tiện, cách thức thích nghi, ứng phó với tự nhiên và xã hội mà hai tác nhân ấy cung cấp cho con người ở các vùng miền khác nhau và ở những giai đoạn khác nhau, tất yếu phải khác nhau Điều đó giải thích vì sao, cho dù cùng một tộc người, nhưng cư trú trên những vùng địa lý khác

nhau, có quá trình giao lưu văn hoá khác nhau, cũng có thể làm hình thành những

nhóm địa phương có đặc trưng văn hoá khác nhau Ngược lại, cho dù khác tộc người,

nhưng cư trú trên cùng một địa bàn, có quá trình giao lưu văn hoá mật thiết với nhau,

cũng có thể làm hình thành những nhóm trung gian có những đặc trưng văn hoá

chung, biến đổi từ văn hoá truyền thống của các tộc người tổ tiên

Có thể diễn giải dây chuyền tác động của hai tác nhân địa lý tự nhiên và giao lưu văn hoá trong sự hình thành và biến đổi văn hoá tộc người và văn hoá vùng theo sơ đồ:

- Điều kiện địa lý tự nhiên => không gian văn hoá => hình thành, biến đổi văn hoá tộc người => hình thành, biến đổi đặc trưng văn hoá vùng

Trang 10

- Điều kiện giao lưu văn hoá => tiếp biến văn hoá => biến đổi văn hoá tộc người => biến đổi đặc trưng văn hoá vùng

3.2 Phê phán quan điểm của quyết định luận môi trường

Tuy nhiên, điều kiện địa lý tự nhiên không quyết định số phận của các nền văn hoá như quan điểm của quyết định luận môi trường (environmental determinism) Theo Ngô Thị Phương Lan [2016: 58], quyết định luận môi trường đã xuất hiện từ thời

Hy Lạp cổ đại Trong thế kỷ XX, quan điểm này đã bị Carl Ortwin Sauer phê phán, và các nhà địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá ở phương Tây đã từ bỏ nó Nhưng

ở Việt Nam, cho đến nay nó vẫn còn rơi rớt trong một số công trình nghiên cứu văn hoá, thậm chí nó còn được vận dụng để phân loại các nền văn hoá và truy tìm nguồn gốc các ưu khuyết điểm của văn hoá ở môi trường địa lý tự nhiên

Chẳng hạn trong công trình Việt Nam văn hoá sử cương, xuất bản lần đầu vào

năm 1938 và vẫn đang được nhiều nơi in lại, học giả Đào Duy Anh viết: “Điều kiện thiên nhiên đối với sự sinh hoạt của loài người vốn có ảnh hưởng quyết định, vì sinh hoạt chẳng qua là dùng sức thể chất và tinh thần mà thích dụng hay lợi dụng tự nhiên để mưu sự sống còn Thế thì cách sinh hoạt của người, tức là văn hoá, có quan hệ rất mật thiết với điều kiện tự nhiên” [Đào Duy Anh, 1998: 14-15]

Hoặc trong công trình Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam Cái nhìn hệ thống

-loại hình, xuất bản lần đầu vào năm 1996 và tái bản có sửa chữa bổ sung nhiều

lần, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế), trên thế giới đã hình thành hai loại hình văn hoá ứng với hai loại hình kinh tế: văn hoá kiểu nông nghiệp mang tính chất trọng tĩnh, và văn hoá kiểu du mục mang tính chất trọng động “Các nền văn hoá hiện đại dù đang thuộc giai đoạn văn minh nào (nông nghiệp, công nghiệp, hay thậm chí hậu công nghiệp) cũng đều không thoát ra ngoài hai loại hình cơ bản là TRỌNG TĨNH và TRỌNG ĐỘNG mà căn cứ theo nguồn gốc thì

có thể gọi chúng là các loại hình văn hoá GỐC NÔNG NGHIỆP và GỐC DU MỤC” Do đó, theo tác giả này, các thành tố của các hệ thống văn hoá “đều bị quy định bởi một gốc chung là loại hình văn hoá” [Trần Ngọc Thêm, 2001: 30, 36-38]

Hiện nay, dựa vào những thành tựu của địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá, không khó để mọi người nhận ra tính chất quyết định luận môi trường và tiên nghiệm (a priori) của những cách giải thích văn hoá như vậy Không khó, bởi vì các ngành địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá trong thế kỷ XX đã cung cấp vô số bằng chứng nói lên sức mạnh biến đổi môi trường tự nhiên của con người, và cung cấp bằng chứng cho thấy sự biến đổi môi trường tự nhiên như thế nào là tuỳ thuộc vào các nền văn hoá tồn tại và vận động trong môi trường tự nhiên ấy Và nếu như chưa tiếp cận được những tri thức ấy thì người ta vẫn có thể dễ dàng nhận thấy, trong quan hệ với môi trường tự nhiên, con người rất khác với con vật ở chỗ họ không chỉ đơn thuần khai thác môi trường tự nhiên và mãi mãi lệ thuộc tự nhiên Ngược lại, trong quá trình khai thác môi trường tự nhiên, con người có khả năng sáng tạo và khả năng tiếp nhận kinh nghiệm, tri thức của các nền văn hoá khác để từ đó, họ giảm dần sự lệ thuộc vào giới tự nhiên, thậm chí có thể tác động trở lại môi trường tự nhiên, vươn lên kiểm soát giới tự nhiên Chính từ thực tế đó, các nhà nghiên cứu văn hoá ngày nay cho rằng, môi

Ngày đăng: 31/10/2023, 19:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bonnemaison, Joởl (2004), La gộographie culturelle: Cours de l’universitộ Paris IV - Sorbonne 1994-1997, Christel Thibault réd., Paris: C.T.H.S Sách, tạp chí
Tiêu đề: La gộographie culturelle: Cours de l’universitộ ParisIV - Sorbonne 1994-1997
Tác giả: Bonnemaison, Joởl
Năm: 2004
[2]. Bonnemaison, Joel (2005), Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography, Chantal Blanc-Pamard, Maud Lasseur, Christel Thibault ed., Josée Pénot-Demetry trans., New York: I.B. Tauris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture and Space: Conceiving a New CulturalGeography
Tác giả: Bonnemaison, Joel
Năm: 2005
[3]. Bonnemaison, Joởl (2009), “Sự hồi sinh của một cỏch tiếp cận văn hố”, Nguyễn Thanh Tùng dịch, Nguyễn Văn Hiệu hiệu đính, từ nguyên bản tiếng Anh Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography, New York, 2005;www.vanhoahoc.edu.vn, 23/05/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hồi sinh của một cỏch tiếp cận văn hố”, NguyễnThanh Tùng dịch, Nguyễn Văn Hiệu hiệu đính, từ nguyên bản tiếng Anh "Cultureand Space: Conceiving a New Cultural Geography", New York, 2005;"www.vanhoahoc.edu.vn
Tác giả: Bonnemaison, Joởl
Năm: 2009
[4]. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương, xuất bản lần đầu năm 1938, NXB Đồng Tháp tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Đồng Tháp tái bản
Năm: 1998
[5]. During, Simon (2005), Cultural Studies: a Critical Introduction, London and New York: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural Studies: a Critical Introduction
Tác giả: During, Simon
Năm: 2005
[6]. Layton, Robert (2007), Nhập môn lý thuyết nhân học, Phan Ngọc Chiến dịch, Lương Văn Hy hiệu đính, từ nguyên tác tiếng Anh An introduction to the theory in anthropology, the Press Syndicate of the University of Cambridge, 1997, 1998, 2000, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lý thuyết nhân học", Phan Ngọc Chiến dịch,Lương Văn Hy hiệu đính, từ nguyên tác tiếng Anh "An introduction to the theoryin anthropology
Tác giả: Layton, Robert
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
[7]. Lý Tùng Hiếu (2017), Trường Sơn - Tây Nguyên: Tiếp cận văn hoá học, sách chuyên khảo, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Sơn - Tây Nguyên: Tiếp cận văn hoá học
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2017
[8]. Lý Tùng Hiếu (2019a), “Các lý thuyết địa lý học văn hoá, sinh thái học văn hoá và việc vận dụng trong nghiên cứu văn hoá”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá, số 28, tháng 6-2019, tr. 33-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết địa lý học văn hoá, sinh thái học văn hoávà việc vận dụng trong nghiên cứu văn hoá”, "Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá
[9]. Lý Tùng Hiếu (2019b), Văn hoá Việt Nam: Tiếp cận hệ thống - liên ngành, NXB Văn hoá - Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam: Tiếp cận hệ thống - liên ngành
Nhà XB: NXBVăn hoá - Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
[10]. Lý Tùng Hiếu (2019c), Giao lưu tiếp biến văn hoá và sự biến đổi văn hoá Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu tiếp biến văn hoá và sự biến đổi văn hoá ViệtNam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
[11]. Ngô Thị Phương Lan (2016), “Thuyết sinh thái văn hoá và nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 6 (214) 2016, tr. 57-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết sinh thái văn hoá và nghiên cứu văn hoá ởViệt Nam”, "Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Ngô Thị Phương Lan
Năm: 2016
[13]. Sauer, Carl O. (1925), “The morphology of landscape”, University of California Publications in Geography, V. 2, N. 2, pp. 19-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The morphology of landscape”, "University of CaliforniaPublications in Geography, V. 2, N. 2
Tác giả: Sauer, Carl O
Năm: 1925
[14]. Sauer, Carl O. (1927), “Recent developments in cultural geography”, Recent Developments in the Social Sciences, New York: Lippincott, pp. 154-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recent developments in cultural geography”," RecentDevelopments in the Social Sciences
Tác giả: Sauer, Carl O
Năm: 1927
[15]. Sauer, Carl O. (1983), Land and Life. A Selection from the Writings of Carl Ortwin Sauer. Edited, with an introduction, by John Leighly. Berkeley, Los Angeles, London: University of California Press, 1963; California Library Reprint Series Edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land and Life. A Selection from the Writings of Carl Ortwin Sauer
Tác giả: Carl O. Sauer
Nhà XB: University of California Press
Năm: 1983
[16]. Steward, Julian H. (1972), Theory of Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution, first edition 1955, Urbana and Chicago: University of Illinois Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of Culture Change: The Methodology ofMultilinear Evolution
Tác giả: Steward, Julian H
Năm: 1972
[17]. Steward, Julian H. (1977), “Evolutionary principles and social types”, Evolution and Ecology: Essays on Social Transformation, ed. J.C. Steward and R.P Murphy, Urbana: University of Illinois Press, pp. 68-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evolutionary principles and social types”, "Evolutionand Ecology: Essays on Social Transformation
Tác giả: Steward, Julian H
Năm: 1977
[18]. Trần Ngọc Khánh (2011), “Mấy cơ sở tiếp cận lý thuyết nghiên cứu văn hoá”, www.vanhoahoc.edu.vn, 04/09/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy cơ sở tiếp cận lý thuyết nghiên cứu văn hoá”,"www.vanhoahoc.edu.vn
Tác giả: Trần Ngọc Khánh
Năm: 2011
[19]. Trần Ngọc Khánh (2012), Văn hoá đô thị giản yếu, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá đô thị giản yếu
Tác giả: Trần Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. Hồ ChíMinh
Năm: 2012
[20]. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cái nhìn hệ thống - loại hình, in lần thứ 3 có sửa chữa bổ sung, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cái nhìn hệ thống -loại hình
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w