Họ cũng không biết hay làm ra vẻ không biết rằng các tri thức lý thuyết và phương pháp của các ngành khoa học tuyệt nhiên không phải từ trên trời rớt xuống, mà là những thành quả được 1
Trang 1CÂU HỎI 1: Xin Tiến sĩ cho biết quan điểm đóng góp, những suy tư, trăn trở trong
lĩnh vực công tác của mình Tiến sĩ có quan điểm như thế nào về việc đáp ứng chất lượng giáo dục, đào tạo, đội ngũ lao động trong hội nhập cách mạng 4.0 hiện nay? (Phỏng vấn của NXB Thanh Niên, 26/11/2020).
TRẢ LỜI: Kể từ khi Việt Nam đổi mới và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt ra cho tôi và
cho mọi nhà nghiên cứu là tìm kiếm, vận dụng các lý thuyết khoa học, các phươngpháp nghiên cứu phù hợp đã được cộng đồng khoa học công nhận Trong những nămnghiên cứu, giảng dạy trong và ngoài Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tôi đã tiếp thu những gợi ý về các lý thuyết khoahọc, các phương pháp nghiên cứu của nhiều nhà khoa học tiến bối và một số đồngnghiệp thông qua các sinh hoạt khoa học, các công trình nghiên cứu trong và ngoàinước mà tôi tiếp cận được Trong giảng dạy và nghiên cứu, tôi đã ưu tiên giới thiệucác thành quả khoa học đó cho người học và người đọc
Tuy nhiên, trong bối cảnh các đại học công đang tiến dần tới tự chủ tài chính, các đạihọc tư thì phải tự bơi, việc đào tạo đại học ở Việt Nam đang chuyển sang tình trạng bịthị trường điều khiển Để thu hút người học, các ngành khoa học xã hội và nhân vănđang thu hẹp phần tri thức khoa học cơ bản và tăng cường dạy các loại kỹ năng Họkhông biết hay không muốn biết rằng trường đại học khác với trường nghề, và cử nhân
đại học tuy không giỏi hơn người thợ về các thứ kỹ năng nhưng họ có thể tổ chức, chỉ
huy người thợ chính là nhờ các tri thức lý thuyết và phương pháp Họ cũng không biết
hay làm ra vẻ không biết rằng các tri thức lý thuyết và phương pháp của các ngành
khoa học tuyệt nhiên không phải từ trên trời rớt xuống, mà là những thành quả được
1 Dùng cho các môn học: Cơ sở văn hoá Việt Nam; Các vùng văn hoá Việt Nam; Văn hoá
Trường Sơn - Tây Nguyên; Văn hoá Việt Nam trong ngôn ngữ; Lịch sử văn hoá Việt Nam; Văn hoá Nam Bộ; Giao lưu tiếp biến văn hoá và sự biến đổi văn hoá Việt Nam; Ngôn ngữ
và văn hoá; Phức hợp văn hóa và tính tương đối của cái nhìn hệ thống; Nhập môn văn hoá
và văn hoá, tín ngưỡng Việt Nam.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
về lý thuyết, khái niệm và thực tiễn văn hoá Việt Nam
Trang 2Có những người tuyển dụng luôn lên giọng chê bai, đòi hỏi cử nhân, thạc sĩ ra trườngphải thành thạo các thứ kỹ năng, nghiệp vụ Họ không biết hay không muốn biết rằngmỗi ngành nghề được chuyên môn hoá hôm nay đều có rất nhiều kỹ năng, nghiệp vụ
riêng, không một cơ sở đào tạo nào có thể cung cấp đủ, nên cần phải đào tạo và cập
nhật kỹ năng, nghiệp vụ thường xuyên cho đội ngũ nhân viên Tương tự, đối với các
công nghệ và sản phẩm thì phải đầu tư cho nghiên cứu phát triển Không muốn tốn
tiền cho đào tạo và cho nghiên cứu phát triển thì sẽ mãi mãi lạc hậu, và sẽ bị đào thảitrong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt Không thể đổ lỗi cho việc đào tạo đại học và cho
cử nhân, thạc sĩ mới ra trường
CÂU HỎI 2: Vì sao theo lý thuyết tương đối luận văn hóa, như Franz Boas nhận định, “không thể có mối quan hệ giữa các nền văn hóa và các chủng tộc”? (Lớp Cử
nhân văn hoá học K13, 2020-2021; Trần Thị Huế Trân, lớp Cử nhân văn hoá học K14.2, 23/11/2021).
TRẢ LỜI: Tương đối luận văn hoá (cultural relativism) của Franz Boas khẳng định
không có mối liên hệ giữa các nền văn hoá và chủng tộc Bởi vì một kiểu văn hoá nào
đó có thể hiện diện ở những chủng tộc khác nhau Ngược lại, một chủng tộc nào đócũng có thể sáng tạo những kiểu văn hoá khác nhau Các nền văn hoá khác biệt nhaukhông phải vì chúng thuộc về những chủng tộc khác nhau Không có những nền vănhoá “thượng đẳng”, do những chủng tộc “thượng đẳng” tạo nên Cũng không có nềnvăn hoá nào là “hạ đẳng”, chỉ vì chúng do những chủng tộc “hạ đẳng” tạo ra
CÂU HỎI 3: Nếu không có mối quan hệ giữa các nền văn hoá giữa các tộc người thì
tại sao có sự giao thoa văn hoá? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Giữa những nền văn hoá khác nhau đôi khi vẫn có sự “giao thoa”
(interference), tức là tăng cường hay làm yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm
Đó là vì các nền văn hoá ấy đều là sản phẩm của con người Tức là, chủ nhân của cácnền văn hoá ấy đều đạt tới trình độ tiến hoá sinh học ngang nhau, có thể sáng tạo và sửdụng các tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật để thích nghi và khai thác môi trường tựnhiên phục vụ cho nhu cầu, mục đích, lợi ích của mình Nếu như các tri thức, kinhnghiệm, kỹ thuật và môi trường tự nhiên của các nền văn hoá ấy giống nhau, thì nhiềukhả năng văn hoá của họ sẽ có nhiều điểm giao thoa khi gặp nhau
Chẳng hạn, nếu một số cộng đồng tuy khác nhau nhưng đều chế tác được đồ đồng, vàđều sống trên đồng bằng châu thổ, thì nhiều khả năng họ sẽ cùng phát triển các nềnvăn hoá nông nghiệp phù hợp với môi trường đồng bằng châu thổ Nông nghiệp lúanước của người Việt-Mường đã từng giao thoa với nông nghiệp lúa nước của di dân
Trang 3người Hán trong thời Bắc thuộc Nông nghiệp lúa nước của người Việt cũng đã từnggiao thoa với nông nghiệp lúa nước của người Chăm trong thời tự chủ và Nam tiến
CÂU HỎI 4: Theo lý luận về đa dạng văn hóa, tính đa dạng của các nền văn hoá
hình thành “do sự cách xa về địa lý, do những thuộc tính riêng của môi trường và do không biết phần còn lại của loài người ở những đâu” Em thấy lý do “không biết phần còn lại của loài người ở những đâu” có vẻ như một nghịch lý Vì nếu mình biết về các tộc người khác nhau mình mới bổ sung vào bản danh sách tộc người làm cho nó có
tính phong phú và đa dạng (Trần Thị Huế Trân, lớp Cử nhân văn hoá học K14.2,
23/11/2021).
TRẢ LỜI: Trong lý luận về sự đa dạng văn hoá (cultural diversity), Claude
Lévi-Strauss chỉ ra nguyên nhân “không biết phần còn lại của loài người ở những đâu” là vìxưa cũng như nay, nhân loại bị phân tán thành những cộng đồng cư trú gần nhau hoặccách xa nhau, có thể giao lưu với nhau hoặc biệt lập hoàn toàn Khi cư trú cách xa vàbiệt lập với các cộng đồng lân cận, một cộng đồng sẽ thích nghi với tự nhiên và tự thântiến hoá theo những con đường và tiến độ của riêng mình Vì “không biết phần còn lạicủa loài người ở những đâu”, những cộng đồng như vậy sẽ không thể giao lưu và tiếpnhận những kinh nghiệm và phương tiện của các nền văn hoá khác để làm hình thànhhoặc gia tăng những yếu tố tương đồng Nên theo thời gian, văn hoá của họ sẽ trì trệhoặc biến đổi khác với “phần còn lại của loài người”
CÂU HỎI 5: Trong lý luận về đa dạng văn hóa, em không hiểu vì sao tính đa dạng
của các nền văn hoá còn “do sự gần gũi nhau: ý muốn đối lập nhau, phân biệt nhau, được là mình” Em hỏi như vậy vì em thấy trong thực tiễn, ví dụ tộc người Khmer và tộc người Kinh sống gần nhau nhưng họ một là sẽ bình đẳng với nhau, hai là giao lưu, tiếp nhận văn hóa của nhau (Trần Thị Huế Trân, lớp Cử nhân văn hoá học K14.2, 23/11/2021).
TRẢ LỜI: Trong lý luận về sự đa dạng văn hoá, Claude Lévi-Strauss còn chỉ ra
nguyên nhân “do sự gần gũi nhau: ý muốn đối lập nhau, phân biệt nhau, được làmình”, là vì khi tiếp xúc với những nền văn hoá khác với mình, các cộng đồng sớmhay muộn đều nhận biết được những tương đồng và dị biệt về văn hoá Và họ sẽ cónhững phản ứng khác nhau, dẫn đến sự hình thành những dạng thức hay chiến lượctiếp biến văn hoá khác nhau Một trong những phản ứng đó là từ chối thậm chí đềkháng những tiêu chuẩn, giá trị khác với mình, để bảo tồn cái riêng biệt (distintivefeatures), cái bản sắc văn hoá (cultrural indentities) của mình, tránh bị tha hoá và bịđồng hoá Trong lịch sử nhân loại, sự xung đột giữa các bộ lạc, chiến tranh giữa cácquốc gia, chiến tranh xâm lược của các đế quốc, và cả những kế hoạch diệt tộc, đồnghoá và diệt chủng văn hoá, là những tác nhân dẫn đến phản ứng từ chối và đề khángvăn hoá của ngoại nhân Cho nên, không phải hễ cứ sống gần nhau thì người ta sẽ
“giao lưu, tiếp nhận văn hóa của nhau” Giữa tộc người Khmer và tộc người Kinh trênđịa bàn Nam Bộ đã từng có xung đột (người Việt gọi là “Thổ dậy”), chứ không phảihoà hợp ngay lập tức Nhưng cuối cùng họ đã hình thành được quan hệ hợp tác: cộng
Trang 4sinh và giao lưu văn hoá, tiếp thu của nhau những kinh nghiệm và phương tiện giúpmình thích nghi, ứng phó tốt hơn với những tác nhân của môi trường văn hoá Nam Bộ
CÂU HỎI 6: Bảo vệ sự đa dạng văn hoá là bảo vệ nguồn sống của các tộc người.
Vậy làm cách nào để bảo vệ sự đa dạng văn hoá? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Để bảo vệ sự đa dạng văn hoá, trước hết cần hiểu biết về tính tương đối
của các giá trị văn hoá Các cộng đồng tạo ra văn hoá là để phục vụ mục đích, nhu cầu,lợi ích của chính mình Cho nên, chừng nào mà văn hoá ấy vẫn còn thoả mãn đượcmục đích, nhu cầu, lợi ích của của họ, thì văn hoá ấy là tối thượng và thiết thân đối với
họ Nhưng điều đó không có nghĩa là văn hoá ấy cũng có giá trị tối cao đối với những
cộng đồng người khác Vậy, thay vì tự tôn và kỳ thị, cần hiểu biết, tôn trọng giá trị của
các nền văn hoá khác với mình
Kế đó là hành động thể hiện sự hiểu biết, tôn trọng của chúng ta: quảng bá tri thức về
các giá trị văn hoá và những lợi ích của sự đa dạng văn hoá; tác động vào chính sách
và pháp luật về văn hoá để bảo vệ sự đa dạng văn hoá, bảo đảm quyền chọn lựa vănhoá và quyền bình đẳng văn hoá của các tộc người; đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốcvăn hoá, sự đồng hoá văn hoá, sự diệt chủng văn hoá, v.v
CÂU HỎI 7: Trong lý thuyết về vùng văn hoá của C.D Wissler và A.L Kroeber có
câu: “Để nghiên cứu các vùng văn hóa, cần phải lựa chọn một tập hợp những yếu tố đặc trưng, tạo nên loại hình văn hoá vùng” Vậy những yếu tố đặc trưng đó là gì? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Đó là những nét riêng biệt và tiêu biểu của từng loại hình văn hoá vùng,
giúp phân biệt với những loại hình văn hoá khác Chẳng hạn, các bộ lạc sống trên thàonguyên và sa mạc sẽ hình thành những yếu tố đặc trưng của văn hoá săn bắn và dumục, khác với những bộ lạc sống trên đồng bằng châu thổ có các yếu tố đặc trưng củavăn hoá nông nghiệp và ngư nghiệp
CÂU HỎI 8: Đối với câu hỏi yêu cầu trình bày ảnh hưởng văn hóa của một tộc người
đối với vùng văn hóa, thì mình sẽ trình bày ảnh hưởng đến văn hóa vật thể và phi vật thể thôi phải không thầy? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021, 6/1/2021).
TRẢ LỜI: Phải Nhưng chỉ cần nêu những ảnh hưởng rõ rệt thôi Và thêm những ảnh
hưởng của tộc người đó đối với các tộc người khác trong vùng và trên phạm vi cảnước, nếu có
CÂU HỎI 9: Các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá có thể áp
dụng để lý giải điều gì trong văn hoá Việt - Hoa - Khmer - Chăm ở Nam Bộ hay không, khi phần lớn các tộc người duy trì văn hoá truyền thống của họ, và tìm kiếm
Trang 5nơi sinh sống, cư ngụ phù hợp với văn hoá của mình trên vùng đất mới Nam Bộ? (Lớp Cao học văn hoá học K20B Sài Gòn, 14/10/2020).
TRẢ LỜI: Trước hết, phải điều chỉnh chỗ nhận định mơ hồ trong câu em hỏi: “phần
lớn các tộc người duy trì văn hoá truyền thống của họ, và tìm kiếm nơi sinh sống, cưngụ phù hợp với văn hoá của mình trên vùng đất mới Nam Bộ” Điều đó có thể là ýchí chứ không phải là thực tế Thực tế là các cá nhân và các nhóm cộng đồng, khi di cưđến một vùng đất mới, thường tìm kiếm và xây dựng một môi sinh đáp ứng
được các nhu cầu văn hoá của mình: nhu cầu sinh tồn, nhu cầu bình an, nhu cầu hạnh
phúc, nhu cầu tôn giáo, v.v Do đó, việc họ sẽ từ bỏ, biến đổi hay duy trì văn hoá
truyền thống của mình, là tuỳ theo văn hoá truyền thống ấy còn hữu dụng đến mức
nào trong môi sinh mới Như vậy, không phải là “phần lớn các tộc người duy trì văn
hoá truyền thống của họ, và tìm kiếm nơi sinh sống, cư ngụ phù hợp với văn hoá củamình trên vùng đất mới Nam Bộ”
Các lý thuyết địa lý học văn hoá (cultural geography) và sinh thái học văn hoá(cultural ecology) có thể áp dụng để lý giải sự hình thành và biến đổi của văn hoá cáctộc người ở Nam Bộ
Các em hãy đọc lại phần “Các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn
hoá” trong sách Các vùng văn hoá Việt Nam của thầy: “Đối với quyết định luận môi
trường (environmental determinism), một lý thuyết phổ biến trong địa lý học khi C.O.Sauer bắt đầu sự nghiệp, ông có thái độ phê bình quyết liệt Ông đề xuất một cách tiếpcận khác gọi là ‘hình thái học cảnh quan’ (landscape morphology) hoặc ‘lịch sử vănhóa’ (cultural history) Cách tiếp cận này liên quan đến việc thu thập quy nạp các dữkiện thực tế về tác động của con người lên cảnh quan theo thời gian Sauer tin rằngnông nghiệp, sự thuần hóa thực vật và động vật có ảnh hưởng đến môi trường tựnhiên Ông cũng bày tỏ mối quan tâm về cách thức mà chủ nghĩa tư bản hiện đại vàcác chính phủ trung ương tập quyền phá huỷ sự đa dạng văn hoá và sức khoẻ môitrường của thế giới”
Vận dụng vào Nam Bộ, lý thuyết của C.O Sauer gợi ý rằng, môi trường tự nhiên củaNam Bộ là sản phẩm tác động của con người Và nó nhắc nhở rằng, nếu tiếp tục khaithác, biến đổi môi trường tự nhiên ấy một cách không bền vững, người ta sẽ phá huỷ
sự đa dạng văn hoá và sức khoẻ môi trường của vùng đất hứa này
Hãy tiếp tục với lý luận của Julian Haynes Steward nhé: “Trong công trình Theory of
Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution (Lý thuyết về biến đổi văn hoá: Phương pháp luận về tiến hóa đa tuyến, 1955), ông cho rằng sinh thái học văn
hoá là khoa học miêu tả những cách thức mà trong đó sự thích ứng với môi trường đãgây ra sự biến đổi văn hoá Trong nhận thức của sinh thái học văn hoá, địa bàn sinhthái đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa của một vùng Nhưngđồng thời, J.H Steward cũng cho rằng, bất kỳ sự thích nghi đặc biệt nào của con ngườicũng được thừa hưởng một phần từ lịch sử và bao gồm các công nghệ, thực hành vàkiến thức cho phép con người sống trong một môi trường nào đó Điều này có nghĩa làtrong khi môi trường ảnh hưởng đến đặc điểm thích ứng của con người, nó không tựđịnh đoạt được chính nó”
Vận dụng vào Nam Bộ, lý thuyết của J.H Steward gợi ý rằng, trong quá trình định cư
ở Nam Bộ, văn hoá của các tộc người đã biến đổi để thích ứng với môi trường tự nhiên
Trang 6(đồng bằng châu thổ và bình sơn nguyên, có biển) và văn hoá (đa tộc người, có ngoạixâm) Theo đó, địa bàn sinh thái đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình vănhóa của Nam Bộ và các tộc người nơi đây Tuy nhiên, môi trường tự nhiên của Nam
Bộ không tự định đoạt được chính nó Trước viễn cảnh biến đổi khí hậu, số phận củamôi trường tự nhiên Nam Bộ phụ thuộc vào sự đối phó, thích nghi, khắc phục của cáctộc người và các nhà nước hữu quan
Sau cùng, các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá còn có thể vậndụng để lý giải sự biến đổi văn hoá, sự đồng hoá văn hoá của Việt - Hoa - Khmer -Chăm và các tộc người khác ở Nam Bộ ngày nay
Trong mục “Vận dụng các lý thuyết địa lý học văn hoá và sinh thái học văn hoá”, thầy
đã viết: “Hai tác nhân địa lý tự nhiên và giao lưu văn hoá là tiền đề của văn hoá tộcngười và văn hoá vùng, nên khi chúng biến đổi, văn hoá tộc người và văn hoá vùng sẽtất yếu biến đổi Trong thực tiễn, hai tác nhân ấy không đồng nhất giữa các vùng miền,
và không bất biến trong lịch sử Do đó, các nguyên liệu, phương tiện, cách thức thíchnghi, ứng phó với tự nhiên và xã hội mà hai tác nhân ấy cung cấp cho con người ở cácvùng miền khác nhau và ở những giai đoạn khác nhau, tất yếu phải khác nhau Điều đógiải thích vì sao, cho dù cùng một tộc người, nhưng cư trú trên những vùng địa lý khácnhau, có quá trình giao lưu văn hoá khác nhau, cũng có thể làm hình thành nhữngnhóm địa phương có đặc trưng văn hoá khác nhau Ngược lại, cho dù khác tộc người,nhưng cư trú trên cùng một địa bàn, có quá trình giao lưu văn hoá mật thiết với nhau,cũng có thể làm hình thành những nhóm trung gian có những đặc trưng văn hoá chung,biến đổi từ văn hoá truyền thống của các tộc người tổ tiên”
Đó là nguyên nhân khiến cho, văn hoá Việt ở Nam Bộ không thật giống với văn hoáViệt ở Bắc Bộ, Trung Bộ; văn hoá Hoa Nam Bộ không thật giống với văn hoá Hoa ởTrung Quốc, Đài Loan, Singapore; văn hoá Khmer Nam Bộ không thật giống với vănhoá Khmer Campuchia; văn hoá Nùng ở Nam Bộ cũng đã khác với văn hoá Nùng BắcBộ; v.v Và do tiếp biến văn hoá, tiếp xúc ngôn ngữ, hôn nhân ngoại tộc, rất nhiều cánhân và nhóm người lai đã ra đời, mà đặc điểm chung là tự nhận mình là Việt do ảnhhưởng áp đảo của văn hoá Việt Tổng hợp lại, văn hoá Nam Bộ vì vậy cũng không thậtgiống với văn hoá của các vùng miền khác
CÂU HỎI 10: Hiện tại em đang tìm hiểu lại những vấn đề như: “lý thuyết hệ thống”
và “tôn giáo học” Quả thực, em còn rất mơ hồ về những lý thuyết này, cũng như chưa từng có kinh nghiệm áp dụng những lý thuyết ấy Em hy vọng thầy có thể cho em vài gợi ý sách tham khảo (Lớp Triết I, Trung tâm Học vấn Đa Minh, 16/8/2019).
TRẢ LỜI: Thầy giới thiệu em tìm đọc các sách dưới đây.
Về “lý thuyết hệ thống” và hướng vận dụng:
- During, Simon (2005), Cultural Studies: a Critical Introduction, London and New
York: Routledge, ISBN 0.415.24656.3 (hbk), ISBN 0.415.24657.1 (pbk), 252 pages
- Lý Tùng Hiếu (2019), Văn hoá Việt Nam: tiếp cận hệ thống - liên ngành, TP Hồ
Chí Minh: NXB Văn hoá - Văn nghệ, ISBN 978-604-68-5395-4, 480 trang
- Lý Tùng Hiếu (2019), Các vùng văn hoá Việt Nam, sách chuyên khảo, NXB Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh, ISBN 978-604-73-7408-3, 390 trang
Trang 7- Morin, Edgar (2005), Introduction à la pensée complexe, Seuil, ISBN 2020668378,
ISBN13: 9782020668378, 158 pages; bản dịch tiếng Việt của Chu Tiến Ánh & Chu
Trung Can Nhập môn tư duy phức hợp, NXB Tri thức, 2009, ISBN 8936039720300,
194 trang
- Nhiều tác giả (2019), Các lý thuyết văn hoá, Đỗ Lai Thuý tuyển chọn và giới thiệu,
NXB Hồng Đức, ISBN 978-604-89-6335-4, 448 trang
Về “tôn giáo học” và hướng vận dụng:
- Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo tại Việt Nam, Hà
Nội: NXB Chính trị Quốc gia
- Đỗ Quang Hưng chủ biên (2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, Hà Nội:
NXB Khoa học Xã hội
- Ngô Đức Thịnh chủ biên (2016), Tín ngưỡng của các dân tộc Việt Nam, NXB Khoa
học Xã hội
KHUNG KHÁI NIỆM
CÂU HỎI 11: Quan điểm “không một nền văn hoá nào tốt hơn nền văn hoá nào” đòi
hỏi chúng ta phải nhận thức được tính tương đối của các giá trị văn hoá, và tôn trọng
sự đa dạng văn hoá Nhưng có phải tất cả các nền văn hoá đều tốt hay không? Văn hoá có phân cấp bậc cao thấp hay không? (Lớp Triết I, Trung tâm Học vấn Đa Minh, 14/1/2021).
TRẢ LỜI: Sự tiến hoá và sự biến đổi của văn hoá không chỉ tạo ra sự đa dạng văn
hoá mà còn tạo ra sự chênh lệch về tốc độ và mức độ phát triển giữa các nền văn hoá.Cho nên, trong khi thừa nhận tính đa dạng của văn hoá nhân loại, chúng ta cũng đồngthời nhận thức rằng các nền văn hoá có tốc độ và mức độ phát triển khác nhau Tuy
nhiên, nhận thức ấy không phải là nguyên cớ chính đáng để chúng ta có thái độ kỳ thị,
khinh miệt một nền văn hoá nào đó được cho là “không tốt” hay “thấp kém”, và càng
không phải là nguyên cớ chính đáng để dẫn tới hành động phê phán, hay chinh phục,
hay đồng hoá cưỡng bức những nền văn hoá bị đánh giá là “không tốt” hay “thấpkém”
Theo quan niệm về “culture” được các chính phủ tham gia UNESCO cổ xuý trong nửathế kỷ qua, một nền văn hoá dù có tốc độ và mức độ phát triển như thế nào, cũng baogồm những đặc điểm riêng biệt về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của cộng đồng
đã sáng tạo và sống trong văn hoá ấy Đây là một nhận thức mới về văn hoá Nhận thức này là tiền đề dẫn tới thái độ tôn trọng các nền văn hoá, các giá trị văn hoá khác biệt với ta, và là tiền đề dẫn tới hành động bảo vệ tính đa dạng văn hoá, bảo vệ quyền
văn hoá của các dân tộc
CÂU HỎI 12: Một nền văn hoá như thế nào là cũ? Nếu cũ hay không phù hợp với
hiện đại nữa thì nó có còn là văn hoá nữa không? Dần dần những tập quán xưa cũ như ăn trầu, nhuộm răng không phù hợp với hiện đại nữa Vậy có phải theo thời gian
Trang 8những văn hoá cũ sẽ dần được thay thế bằng những cái mới hay không? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Không có nền văn hoá nào thật sự là “nền văn hoá cũ” Bởi vì có thể một
nền văn hoá bị xem là “cũ” trong con mắt của người này, nhưng vẫn được xem là
“không cũ” trong con mắt của người kia Cho dù một nền văn hoá nào đó bị xem là
“cũ hay không phù hợp với hiện đại nữa” thì nó vẫn là “văn hoá” đối với cộng đồngchủ thể của nó Nhưng có những nền văn hoá cổ, là những nền văn hoá đã biến mấthoàn toàn, và các nền văn hoá khảo cổ học do khảo cổ học phát hiện
Còn các nền văn hoá đương đại đang tồn tại cùng với các thế hệ hôm nay, thì thườngbao gồm hai thành phần cũ và mới đan xen Trong quá trình biến đổi, các yếu tố vănhoá mới, nội sinh và ngoại sinh, sẽ thay thế các yếu tố văn hoá cũ, và các yếu tố vănhoá cũ sẽ được điều chỉnh để thích ứng những nhu cầu mới Các thế hệ trưởng thành
có thể tán thành hoặc không tán thành sự thay thế và điều chỉnh đó Còn thế hệ trẻ thìthường ủng hộ Do đó trong những xã hội biến đổi nhanh, hay trong những lúc giaothời, thường xuyên diễn ra “xung đột thế hệ”, do các thế hệ phải “chọn đường”: “thủcựu bài tân”, hay “tống cựu nghinh tân” Ở Việt Nam trong thế kỷ XX, chủ yếu do tiếpbiến văn hoá phương Tây, một số tập quán lâu đời như để tóc, nhuộm răng, ăn trầu đãdần dần biến mất trong thế hệ trẻ, chỉ còn lưu hành trong một số người trưởng thành ởnông thôn
Vậy có phải theo thời gian, những yếu tố văn hoá cũ sẽ dần dần được thay thế bằngnhững cái mới hay không? Có thể, chứ không nhất thiết Các nguyên nhân làm chovăn hoá biến đổi là sự biến đổi xã hội, sự thích nghi sinh học, và tiếp biến văn hoá Cómột số cộng đồng mà xã hội, sự thích nghi sinh học và tiếp biến văn hoá không cóchuyển biến gì trong suốt một thời gian dài, nên trong văn hoá của họ hầu như không
có “những cái mới”
CÂU HỎI 13: Văn hoá của những dân tộc, tộc người kém phát triển về kinh tế - chính
trị có phải là cái cớ để họ luôn “tự phụ” và không chịu phát triển? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Không phải Nếu có những dân tộc, tộc người “kém phát triển” mà vẫn
“không chịu phát triển”, thì thường là do nhu cầu tự vệ và bảo vệ cái riêng, bao gồmkhông gian sinh tồn gắn với những quyền lợi sống còn của họ Trong quá khứ, rấtnhiều bộ lạc, tộc người, quốc gia từng là nạn nhân của các cuộc xâm lăng, tàn sát, dồnđuổi, đồng hoá Đó là nguyên nhân dẫn đến thái độ thù địch hoặc nghi kỵ ngoại nhâncủa họ Chứ không phải là vì họ luôn “tự phụ” vào nền văn hoá “kém phát triển” để
“không chịu phát triển”
CÂU HỎI 14: Các văn hoá của những dân tộc, quốc gia chưa được phát triển có
phải là cái tôi của họ và kéo lùi sự phát triển về các mặt khác? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
Trang 9TRẢ LỜI: Phải và không phải Văn hoá là bản sắc, là cái riêng biệt của một cộng
đồng Còn “cái tôi” là ý thức tự thị, tự tôn về bản thân mình, vượt lên người khác Cónhững cộng đồng quá tự thị, tự tôn về văn hoá của mình, đến mức chống lại tất cảnhững gì khác biệt, những gì ngoại lai, và từ chối mọi thay đổi Đương nhiên là họ sẽtụt hậu khi thế giới tiến lên Những cộng đồng như vậy thường là các tầng lớp thống trịtrong một xã hội, quốc gia Họ chống lại sự thay đổi, vì sự thay đổi đe doạ địa vị vàquyền lợi của họ Thí dụ giai cấp phong kiến ở Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam trongthế kỷ XIX
Nhưng cũng có những cộng đồng có ý thức về sự bất cập, bất túc trong văn hoá củamình, nên nỗ lực tìm kiếm sự đổi mới, kể cả từ bên ngoài, để có thể phát triển, bìnhđẳng với các nền văn hoá khác Thí dụ các trí thức khởi xướng phong trào Duy Tân ởNhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
CÂU HỎI 15: Văn hoá của dân tộc nào đó nếu là sự kéo lùi, tụt hậu thì có nên loại
trừ không? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Nên hay không nên là tuỳ theo ý thức của dân tộc chủ thể của nền văn hoá
đó Nếu như trong con mắt của bạn nền văn hoá đó là “sự kéo lùi, tụt hậu”, nhưng dântộc đó lại thấy hài lòng, hạnh phúc với văn hoá của mình, thì có nhiều khả năng họ sẽkhông tự “loại trừ” văn hoá của mình để đi theo nền văn hoá mà bạn cho là văn minhtiến bộ
CÂU HỎI 16: Chúng ta không kỳ thị văn hoá, chúng ta tôn trọng văn hoá của dân tộc
khác Nhưng nếu văn hoá của họ lạc hậu, không phù hợp khi xem xét theo các giá trị chuẩn mực chung ngày nay, thì chúng ta có cần phải đấu tranh để thay đổi hay loại
bỏ không? Nếu khuyên một nhóm người, một cộng đồng dân tộc phải bỏ đi một nét văn hoá lạc hậu là giá trị tinh thần của họ, thì có gọi là phản văn hoá hay không? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Câu trả lời tuỳ theo hàm ý của động từ “đấu tranh” của bạn Nếu “đấu
tranh” là dùng “các giá trị chuẩn mực chung” của bạn để đánh giá rằng “văn hoá của
họ lạc hậu, không phù hợp”, tức là bạn đã kỳ thị và miệt thị văn hoá của họ Bạn đanglặp lại, đang tiếp nối thái độ ứng xử của chủ nghĩa đế quốc văn hoá trước đây (culturalimperialism) Còn nếu “đấu tranh” được hiểu là “khuyên”, là giới thiệu, thuyết phục vàgiúp đỡ vô điều kiện để dân tộc ấy tự ý thức được những gì “lạc hậu, không phù hợp”trong văn hoá của họ, và tự chọn đường đi, thì kiểu “đấu tranh” ấy sẽ dễ được các dântộc nhược tiểu chấp nhận hơn Trong trường hợp này, hành động “đấu tranh” hay hànhđộng “khuyên” của bạn có bị “gọi là phản văn hoá” hay không là tuỳ theo phản ứngcủa cộng đồng dân tộc tiếp nhận lời “khuyên”
CÂU HỎI 17: Trong một số nền văn hoá, có những hủ tục bị phê phán vì xâm phạm
đến nhân phẩm, sự sống, những quyền căn bản của con người, ví dụ như ở các vùng dân tộc tộc thiểu số Vậy chúng ta nên có thái độ gì? (Lớp Triết I, Trung tâm Học vấn
Đa Minh, 14/1/2021).
Trang 10TRẢ LỜI: Mỗi nền văn hoá có một hệ giá trị riêng biệt, có thể tương đồng hay khác
biệt với hệ giá trị của những nền văn hoá khác Cho nên, có những phong tục “tốt” đốivới nền văn hoá này lại được xem là “không tốt”, là “hủ tục” có hại đối với nền vănhoá khác Trong trường hợp đó, nếu dựa trên các chuẩn mực văn hoá của mình đểđánh giá các nền văn hoá khác là “tốt” hay “không tốt”, thì chúng ta sẽ làm hồi sinhquan điểm và thái độ của chủ nghĩa đế quốc văn hoá
Cho nên, chúng ta nên cố gắng để có một cách ứng xử khách quan: tìm hiểu tại saonền văn hoá ấy lại tạo ra và bảo tồn những “hủ tục” ấy, tức là nó có giá trị, có lợi ích gì
và cho ai trong nền văn hoá ấy Kế tiếp mới xem xét: liệu những giá trị, lợi ích đó cóthể được đáp ứng bằng những phong tục “tốt hơn” không Thí dụ, nhiều tộc người vẫncòn phong tục chữa bệnh bằng ma thuật, cúng khấn và bùa chú Một cách khách quan,chúng ta sẽ thấy phong tục ấy có giá trị tăng cường niềm tin, ý chí cho người bệnh,trong tình trạng chưa có tri thức, phương pháp chữa bệnh hữu hiệu hơn Tuy nhiên,phong tục ấy đôi khi lại gây tác hại, hoặc bị thầy cúng lợi dụng để thủ lợi riêng Tiếptheo, nếu muốn giúp đỡ, chúng ta mới xem xét khả năng cải thiện tình trạng đó bằngcách giới thiệu những tri thức, phương pháp chữa bệnh “tốt hơn” cho họ Khi họ đãnhận thức được rằng, những tri thức, phương pháp mới cũng giúp họ đạt được mụcđích mà lại hữu hiệu hơn, ít tác hại hơn, họ sẽ vui lòng đón nhận
CÂU HỎI 18: Trong các thành tố của các vùng văn hóa, có văn hóa mưu sinh là
thành tố quan trọng nhất của văn hóa vật thể Theo em nghĩ thì văn hóa cư trú mới là thành tố quan trọng nhất của văn hóa vật thể, vì ông bà ta có câu “An cư lạc nghiệp” (Trần Thị Huế Trân, lớp Cử nhân văn hoá học K14.2, 23/11/2021).
TRẢ LỜI: Khái niệm “văn hóa mưu sinh” trong sách chuyên khảo Các vùng văn hoá
Việt Nam của thầy (NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2019) là khái niệm được
hiểu theo định nghĩa trong sách Văn hoá Việt Nam: Tiếp cận hệ thống - liên ngành mà
thầy đã cho xuất bản trước đó (NXB Văn hoá - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2019):
“Văn hoá mưu sinh là thành tố quan trọng nhất của văn hoá vật thể, bảo đảm sự tồn tại
và phát triển của một cộng đồng người Nó bao gồm các nghề nghiệp, người lao động,đối tượng lao động, các tri thức, kỹ năng, phương tiện, cách thức sử dụng các phươngtiện và cách thức phối hợp với đồng loại nhằm khai thác tự nhiên để tạo ra lương thực,thực phẩm cùng những vật phẩm tiêu dùng khác cần thiết cho cuộc sống Văn hoá mưusinh có tương quan rất mật thiết với văn hoá ẩm thực, văn hoá tín ngưỡng và các thành
tố khác của văn hoá tộc người”
Cơ sở để xác định “văn hoá mưu sinh là thành tố quan trọng nhất của văn hoá vật thể”chính là thực tiễn: văn hoá mưu sinh “bảo đảm sự tồn tại và phát triển của một cộngđồng người” Một cộng đồng không có hoặc không thể hoạt động mưu sinh thì khôngthể tồn tại được Đây cũng là quan điểm của ngành dân tộc học và nhân học, khi cácngành ấy xác định cơ sở kinh tế của một dân tộc, tộc người là hoạt động quan trọngnhất cần khảo tả Cho nên, nếu không biết đến hay không nói đến văn hoá mưu sinh
mà chi nói về “ăn, mặc, ở, đi lại”, thì chỉ mô tả được phần hệ quả chứ không giải thíchđược nguyên nhân Giống như mô tả một con người mà chỉ nói đến thức ăn, quần áo,chỗ ở, xe cộ, mà không nói đến nguồn gốc của chúng là trình độ học vấn, nghề nghiệp,
Trang 11“nghiệp” là ngành nghề, thì người ta cần phải ưu tiên lo nghề nghiệp trước, vì nghềnghiệp có thành thì mới có thể “an cư” Như câu ca dao giáo huấn xưa: “Tậu trâu(phương tiện làm ăn), cưới vợ (bạn đồng hành), làm nhà (nơi cư trú) / Xong ba việc ấymới là đàn ông” Hiểu theo nghĩa “nghiệp” là công nghiệp, sự nghiệp, thì người tacàng phải ưu tiên lo nghề mưu sinh trước đã, vì có nghề nghiệp thì sự nghiệp mớithành Như câu ca dao giáo huấn xưa: “Ruộng đất bề bề không bằng một nghề trongtay”; “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trên thực tế, dù chưa “an cư”, người ta vẫn cóthể “lạc nghiệp”; và dù chưa “lạc nghiệp”, người ta vẫn có thể “an cư” Nhưng tốt nhất
là có cả hai, hoặc đạt được cả hai
CÂU HỎI 19: Em muốn tìm khái niệm về vòng đời người thì có khái niệm ở sách nào
không ạ Nếu thầy có định nghĩa thì cho em xin với ạ (Lớp Cao học văn hoá học K20B Sài Gòn, 14/10/2020).
TRẢ LỜI: Khái niệm về phong tục vòng đời người được sử dụng trong ngành dân tộc
học, nhân học Việt Nam từ lâu Nhưng các em sẽ khó tìm được định nghĩa, vì họ mặc
nhiên xem như người đọc biết rồi Cho nên, trong sách Văn hoá Việt Nam: Tiếp cận hệ
thống - liên ngành, 2019, thầy đã đưa ra định nghĩa để giúp những người học văn hoá
học: “Văn hoá phong tục là thành tố cơ bản trong văn hoá phi vật thể của một cộngđồng người, đáp ứng nhu cầu điều hoà quan hệ nội bộ của cộng đồng và điều hoà quan
hệ giữa con người với thiên nhiên, giúp con người chung sống hoà bình với cộng đồng
và với thiên nhiên Nó bao gồm các quy tắc ứng xử với cộng đồng, với tự nhiên, vớithần linh đã được cộng đồng quy ước và tuân thủ, và có thể chia thành năm nhóm:phong tục vòng đời người, phong tục vòng đời cây trồng, phong tục bảo vệ đạo đức vàtrật tự cộng đồng, phong tục bảo vệ môi trường sinh thái, các tập quán kiêng cữ
“Các phong tục vòng đời người là những phong tục đánh dấu những chặng đường sinhtrưởng của mỗi thành viên của cộng đồng, đồng thời là thủ tục mà mỗi thành viên phảitrải qua để được thần linh và cộng đồng công nhận hoàn tất một chặng đường đểchuyển lên một chặng đường mới trong vòng đời của mình
“Các phong tục vòng đời cây trồng là những phong tục đánh dấu những chặng đườngsinh trưởng của cây trồng mà chủ yếu là lúa nước hay lúa rẫy, đồng thời là thủ tục màcác gia đình và cộng đồng phải thực hiện để cầu xin và tạ ơn thần linh, và được thầnlinh bảo vệ trong suốt một chu kỳ canh tác
“Các phong tục bảo vệ đạo đức và trật tự cộng đồng là những phong tục ngăn ngừa và
xử lý những hành vi xâm hại đến đạo đức và trật tự cộng đồng, buộc những người cóhành vi xâm hại chịu phạt và tạ tội với thần linh và cộng đồng tuỳ theo mức độ viphạm
“Các phong tục bảo vệ môi trường sinh thái là những phong tục bảo vệ môi sinh, ngănngừa và xử lý những hành vi xâm hại đến không gian sinh tồn bao gồm nguồn nước,
Trang 12“Văn hoá phong tục có tương quan rất mật thiết với văn hoá mưu sinh, văn hoá tínngưỡng và các thành tố khác của văn hoá tộc người Người Việt từ lâu đã tích hợp một
số phong tục vào luật pháp nhà nước Một số tộc người thiểu số đã đúc kết phong tụccủa mình thành luật tục, với những quy định cụ thể về cách xử lý các hành vi sai trái"
ĐỊNH VỊ VĂN HOÁ VIỆT NAM
CÂU HỎI 20: Làm thế nào để vừa có thể học hỏi, tiếp cận giao lưu các nền văn hoá
khác mà vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2021) Bài học kinh nghiệm, câu nói tâm đắc và những chia sẻ và những nhắn nhủ của chú với thế hệ tri thức trẻ nói chung và trên lĩnh vực công tác? (Phỏng vấn của NXB Thanh Niên, 26/11/2020).
2020-TRẢ LỜI: Tôi hình dung mỗi người Việt Nam như một sinh thể sống, đôi chân là gốc
rễ, thân thể là cành lá Trong bối cảnh Việt Nam đang mở cửa và hội nhập về kinh tế,khoa học và kỹ thuật với thế giới, chúng ta phải mở lòng đón nhận các thành tựu vănminh, kỹ thuật hiện đại của thế giới, giống như cành lá phải vươn ra đón nhận nắng gió
để quang hợp và thụ phấn Nhưng trong lúc đó, giống như cành lá phải dựa vào gốc rễ
để hút lấy dưỡng chất từ đất đai và khỏi bị giông gió cuốn bay đi mất, chúng ta cũngphải đồng thời đứng vững trên đôi chân của mình, trên mảnh đất của mình Đôi chân
ấy chính là văn hoá của mỗi cá nhân, và mảnh đất ấy chính là văn hoá Việt Nam Vậymỗi người đều cần phải học hỏi để nâng cao văn hoá cá nhân, và để biết văn hoá ViệtNam là gì, cái gì còn hữu ích trong văn hoá ấy cần được giữ gìn, cái gì đã lỗi thờitrong văn hoá ấy cần đào thải để dành chỗ cho các thành tựu văn minh, kỹ thuật hiệnđại hơn
CÂU HỎI 21: Điều kiện địa lý tự nhiên ảnh hưởng như thế nào đến văn hóa Việt
Nam? (Trương Thị Hồng Trâm, Khoa Nhật Bản học).
TRẢ LỜI: Điều kiện địa lý tự nhiên bao gồm địa hình, địa mạo, địa chất, thổ nhưỡng,
khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, tài nguyên, những vận động, biến đổi theo quy luật hoặc
do tác động của con người Trong quan hệ văn hóa, môi trường thiên nhiên cung cấpcác phương tiện sinh tồn mà các nền văn hóa có thể tận dụng, đồng thời đặt ra nhữnghiểm hoạ, thách thức mà các nền văn hóa phải thích nghi và đối phó Quá trình nhậnthức, định danh, tận dụng, thích nghi, đối phó, khai thác, tác động của con người biến
tự nhiên thành văn hóa, biến không gian tự nhiên thành không gian văn hóa Cho nên,văn hóa luôn bao hàm các yếu tố nền tảng của điều kiện địa lý tự nhiên Dấu ấn củađiều kiện địa lý tự nhiên trong văn hoá thể hiện đậm nét nhất ở văn hoá mưu sinh, làthành tố văn hoá cơ bản nhất của mỗi tộc người và phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn
Trang 13cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu lấy từ tự nhiên Thông qua văn hoá mưu sinh, điềukiện địa lý tự nhiên tiếp tục ảnh hưởng đến các thành tố khác của hệ thống văn hoá tộcngười: ẩm thực, phục sức, cư trú, giao thông, tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng tôn giáo,phong tục, lễ hội, v.v
Việt Nam có những đặc điểm địa lý tự nhiên cơ bản là thuộc vùng nhiệt đới ẩm giómùa, nóng, ẩm, mưa nhiều, động thực vật rất đa dạng, nhiều thung lũng và đồng bằngchâu thổ phì nhiêu, có biển Do đó, cư dân nơi đây đã tiến hành canh tác nông nghiệp,khai thác ngư nghiệp từ rất sớm Phương thức mưu sinh đó là tiền đề hình thành cáchình thức quần cư làng bản, các hình thức vật linh giáo thờ cúng các nhiên thần bảo trợcho nông ngư nghiệp, các phong tục và các lễ hội truyền thống gắn với nông ngưnghiệp và các bản làng, v.v
Hơn nữa, điều kiện địa lý tự nhiên khác biệt giữa các vùng còn làm hình thành nhiềuvùng văn hoá và tiểu vùng văn hoá khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam Vì mỗi vùng địa
lý tự nhiên cung cấp những nguyên vật liệu khác nhau, một trong những nhân tố chínhdẫn đến sự khu biệt 6 vùng văn hóa của Việt Nam chính là điều kiện địa lý tự nhiênkhác biệt giữa các vùng
Tuy vậy, điều kiện địa lý tự nhiên không quyết định tất cả các đặc trưng của văn hóaViệt Nam Vì với một điều kiện thiên nhiên giống nhau, các cộng đồng người có thể
có những lựa chọn ứng xử khác nhau Tuỳ theo tri thức, kinh nghiệm, kỹ thuật và nhucầu, mục đích, lợi ích của mình, mỗi cộng đồng người sẽ thích nghi, đối phó, khai thác
tự nhiên theo những cách khác nhau, và tạo ra những văn hoá khác nhau
Theo thời gian, ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên đến văn hóa cũng đã giảmdần Do năng lực thích nghi, đối phó của các tộc người Việt Nam ngày càng tiến bộ vàtiếp biến văn hóa ngày càng nhiều, họ đã tác động lại tự nhiên, gia tăng khai thác, tậndụng triệt để các điều kiện địa lý tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của mình Quá trìnhđảo ngược này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tự nhiên, hủy hoại tự nhiên Nạn phárừng và săn bắt động vật hoang dã quá mức là một minh chứng
CÂU HỎI 22: Giao lưu tiếp biến văn hóa có tác dụng như thế nào đối với văn hóa
Việt Nam trong lịch sử? (Trương Thị Hồng Trâm, Khoa Nhật Bản học).
TRẢ LỜI: Trong lịch sử, với vị trí ngã tư đường của các nền văn minh, người Việt
Nam đã tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa của nhân loại Từ xa xưa, cư dân trên mảnh đấtViệt Nam đã sớm có những tiếp xúc và tiếp xúc lâu dài với các nền văn hóa lớn Điềunày đã mang lại nhiều tác động cả tích cực và tiêu cực cho nền văn hóa Việt Nam
Trước hết là những tác động tích cực của giao lưu tiếp biến văn hóa Khi thiên cư từ
trung tâm Đông Dương đến vùng Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ Việt Nam, nhómTiền Việt-Mường đã tiếp biến văn hóa của người Tày cổ để phát triển nền nông nghiệplúa nước trong thung lũng và đồng bằng châu thổ Trong thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc,văn hóa Việt-Mường đã đạt tới những đỉnh cao về phát triển nông nghiệp lúa nước trênđồng bằng châu thổ, về luyện kim đồng-sắt, về tổ chức cộng đồng làng - nước, về tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, về ý thức tộc người Những thành tựu này của văn hóa Việt-Mường đã làm nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam về sau.Tiếp đó, quá trình tiếp biến văn hoá Hán và văn hoá Chăm đã đem lại cho văn hóa Việtnhững tri thức, kỹ thuật canh tác, sản xuất mới, tôn giáo, thần linh mới, v.v Xưa kia,
Trang 14người Việt độc canh cây lúa nước, nhưng sau khi tiếp biến với văn hóa ngoại lai, họbiết được trên vùng đất mình sinh sống có thể trồng thêm cây công nghiệp Ngày xưa,
họ cho biết đánh bắt tôm cá, nhưng ngày nay nhờ tiếp biến với các nền văn hóa mới,
họ học được các kỹ thuật nuôi trồng Giao lưu tiếp biến văn hóa còn góp phần tạo ranhu cầu mới Ví dụ như từ khi điện thoại ra đời, con người không cần gặp mặt nhaunữa mà họ có thể tiếp xúc gián tiếp với nhau thông qua điện thoại Như vậy, quá trìnhtiếp biến văn hoá trong lịch sử đã làm cho văn hoá Việt trải qua những biến đổi sâusắc, tách rất xa cội nguồn Nhưng nhờ quá trình ấy, sức mạnh vật chất và tinh thần củavăn hoá Việt Nam đã được đổi mới và vun bồi để cho nó có thể thích ứng với nhữngbối cảnh và thách thức mới
Tuy nhiên, sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng có mặt tiêu cực Vì có tác dụng làm
biến đổi văn hóa tộc người, nên ở mức độ cao nhất, tiếp biến văn hóa cũng có thể dẫntới đồng hóa văn hóa, làm tiêu vong cả tộc người, hình thành tộc người mới Nguy cơnày đặc biệt rõ khi những yếu tố văn hóa mới du nhập đi cùng với chủ nhân của chúng
là một số lượng di dân áp đảo có tiềm lực kinh tế, văn hóa và quân sự mạnh, dẫn tới sựđồng hoá cưỡng bức hoặc đồng hoá tự nhiên đối với các tộc người bản địa Sau hơn
1000 năm Bắc thuộc, các tộc người Bách Việt ở Giang Nam đã bị đồng hóa vào vănhóa Hán Cũng trong thời kỳ ấy, người Việt-Mường đã đồng hóa được văn hóa củangười Hán di cư, đồng thời biến đổi văn hoá của mình Nhưng đến thời phong kiến,người Việt đã tiếp thu văn hóa Hán và hệ tư tưởng Nho giáo, dẫn đến việc hình thànhcác tư tưởng tiêu cực như trọng nam khinh nữ, tạo ra hệ thống khoa cử lạc hậu, kiềmhãm sự phát triển thương mại và công nghệ Trong thời nhà Nguyễn, trong khi ViệtNam và Nhật Bản đều gặp phải những khó khăn về kinh tế, xã hội giống nhau, thìThiên Hoàng Minh Trị đã tiến hành chính sách duy tân, mở cửa giao lưu với bênngoài, còn Việt Nam do chịu ảnh hưởng quá nặng của Nho giáo lại thực hiện chínhsách trọng nông ức thương, bế quan tỏa cảng, làm cho tình hình đất nước ngày càng trìtrệ Có thể nói, sở dĩ Nhật Bản duy tân thành công là nhờ ít chịu ảnh hưởng văn hóaHán hơn Việt Nam Đó là một thí dụ về tác động tiêu cực của giao lưu tiếp biến vănhóa đối với nước ta trong lịch sử
Kết quả hợp thành của hai tác dụng nêu trên là giao lưu tiếp biến văn hóa đã góp phần
quan trọng làm cho văn hóa Việt Nam biến đổi theo thời gian, tạo thành bốn giai đoạn
văn hoá trong lịch sử: giai đoạn tiếp biến văn hoá Tày cổ và sự hình thành văn hoá
Việt-Mường; giai đoạn tiếp biến văn hoá Hán và sự phân ly văn hoá Việt-Mường; giaiđoạn tiếp biến Nho giáo và sự phân tầng văn hoá Việt; giai đoạn tiếp biến văn hoáChăm, văn hoá Hoa và sự nhuận sắc văn hoá Việt; giai đoạn tiếp biến văn hoá phươngTây và sự cách tân văn hoá Việt Nam Từ cội nguồn đầu tiên là văn hóa Mon-Khmerchuyên về nương rẫy và săn câu lượm hái, cư dân Tiền Việt-Mường đã tiếp biến vănhóa của người Tày cổ để phát triển nền nông nghiệp lúa nước trong thung lũng vàđồng bằng châu thổ và chuyển biến thành người Việt-Mường Trong thời Bắc thuộc,ảnh hưởng của văn hoá Hán, văn hoá Tày và văn hoá Thái đã dần dần làm biến đổi vănhoá và ngôn ngữ Việt-Mường, khiến cho tiếng Việt-Mường chung phân ly thành tiếngViệt, tiếng Mường, và Việt-Mường chia tách thành hai tộc người riêng Trong thời tựchủ, văn hoá Hán và Nho giáo đã làm cho văn hoá Việt bị phân tầng và gây ra nhiềutác hại Nhưng đồng thời, văn hóa Việt cũng được tiếp nhận những nguồn sinh lực mớikhi nó mở rộng vào Nam, tiếp biến với văn hóa Chăm, Hoa, Khmer Từ đầu thế kỷ XXcho đến ngày nay, Việt Nam bắt đầu quá trình tiếp biến văn hoá phương Tây và hộinhập văn hoá thế giới
Trang 15thức mới Để có thêm chi tiết, các em cần tìm đọc các sách Văn hoá Việt Nam: Tiếp
cận hệ thống - liên ngành (2019) và Giao lưu tiếp biến văn hoá và sự biến đổi văn hoá Việt Nam (2019) của thầy.
CÂU HỎI 23: Em xin hỏi thầy là có tồn tại khái niệm học thuật “nền văn hoá vững
chắc” hay không? Và nền văn hoá Việt Nam có phải là một nền văn hoá vững chắc hay không? Em thấy có một số người dùng khái niệm này Nhưng mà một số người phản đối, cho rằng văn hoá Việt Nam thiếu (hoặc không) vững chắc (Lớp Cử nhân văn hóa học K11, 3/1/2021).
TRẢ LỜI: Không có khái niệm “nền văn hoá vững chắc” như một thuật ngữ khoa học
(scientific term) Đó chỉ có thể là một cách nói, một cụm từ được ai đó tạm thời tạo ra
để diễn đạt ý tưởng của họ Có thể họ muốn nói đến một nền văn hoá phát triển bềnvững “Phát triển bền vững” (sustainable development) là một nhóm lý thuyết mớiđang được nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn quan tâmnghiên cứu Do đó, thầy đang tập hợp tài liệu, để chọn lọc, giới thiệu và vận dụng vàonghiên cứu văn hoá Việt Nam Em cũng nên quan tâm đến nhóm lý thuyết này, nếumuốn tiến xa trong nghiên cứu văn hoá học
Với câu hỏi “nền văn hoá Việt Nam có phải là một nền văn hoá vững chắc haykhông”, sẽ có những câu trả lời khác nhau, tuỳ theo họ quan niệm như thế nào về “vănhoá” và về “vững chắc” hay “bền vững” Thật ra, để tồn tại mà không suy thoái, tiêuvong, văn hoá Việt Nam không thể bất động, bất biến, mà nó phải biến đổi, tức là đàothải cái không hữu dụng, sáng tạo hoặc tiếp thu cái mới hữu dụng cho con người, chocác chủ thể của văn hoá Việt Nam Nếu văn hoá Việt Nam chậm biến đổi hoặc khôngbiến đổi thì không phải là nó “vững chắc” hay “bền vững” mà ngược lại, nó sẽ hạn chếkhả năng thích nghi, đối phó của các chủ thể văn hoá khi xảy ra những biến cố bất ngờ
về điều kiện địa lý tự nhiên hay điều kiện giao lưu văn hoá Nói cách khác, để pháttriển bền vững, văn hoá Việt Nam chẳng những phải có trình độ phát triển cao mà cònphải có tính thích nghi cao, cả về khả năng tận dụng và tái tạo thiên nhiên lẫn khả năng
đề kháng và tiếp biến các nền văn hoá phát triển hơn mình
CÂU HỎI 24: Nếu như nền văn hoá Việt Nam không (hoặc thiếu) vững chắc, vậy điều
gì, yếu tố nào để sau 1000 năm Bắc thuộc, văn hoá Việt Nam vẫn là Việt Nam, người Việt vẫn không bị đồng hoá trước cường quốc? (Lớp Cử nhân văn hóa học K11, 3/1/2021).
TRẢ LỜI: Câu hỏi của em bao gồm một tiền đề giả định: “nếu như nền văn hoá Việt
Nam không (hoặc thiếu) vững chắc” Phần câu hỏi chính cũng bao hàm một giả địnhngầm: “sau 1000 năm Bắc thuộc, văn hoá Việt Nam vẫn là Việt Nam, người Việt vẫnkhông bị đồng hoá” Cả hai giả định đó đều không ổn, nên thầy sẽ giải đáp câu hỏibằng cách giải quyết hai điều giả định của em
Trang 16Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, tiếp biến văn hoá Hán từ cả hai nguồn đồng hoá cưỡngbức và đồng hoá tự nhiên, văn hoá Việt-Mường (không phải văn hoá Việt hay ViệtNam), nhất là bộ phận ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đã bị Hán hoá rất sâusắc Đến mức vào cuối thời Bắc thuộc, đầu thời tự chủ (TK VIII-XII), cộng đồng Việt-Mường đã bị chia tách thành hai tộc người, hai nền văn hoá Việt và Mường Việt vàMường còn bị chia tách khỏi cộng đồng Tày ở phía bắc Như vậy, kết thúc thời Bắcthuộc, một nền văn hoá đã tiêu vong là văn hoá Việt-Mường, và hai nền văn hoá đã
ra đời là văn hoá Việt và văn hoá Mường Văn hoá Việt-Mường không bị đồng hoáhoàn toàn, nhưng đã biến đổi sâu xa
Vậy điều gì, yếu tố nào giúp cho văn hoá Việt-Mường không bị đồng hoá hoàn toàn?Trước hết, đó là sức mạnh nội tại, do trình độ phát triển rất cao của văn hoá ViệtMường vào thời đại Đông Sơn, với văn hoá mưu sinh nông nghiệp lúa nước trongthung lũng và đồng bằng châu thổ, kỹ thuật kim khí đồng - sắt, tổ chức cộng đồng làng
- nước, và vật linh giáo đồng bộ với văn hoá mưu sinh và tổ chức cộng đồng Kế tiếp,
là quá trình tiếp xúc giữa Việt-Mường với người Hán di cư, và quá trình Việt-Mườnghoá của di dân người Hán Hai quá trình này đã đem lại cho văn hoá Việt-Mường rấtnhiều yếu tố mới, tái tạo sức mạnh cho họ sau những năm bị giặc ngoại xâm thảm sát
và huỷ diệt Để có thêm chi tiết, em nên đọc lại các chương nói về các giai đoạn hìnhthành văn hoá Việt-Mường và giai đoạn Hán hoá trong các sách của thầy
CÂU HỎI 25: Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, vậy vì sao người Việt đã trở
thành chủ thể chính của văn hóa Việt Nam? (Trương Thị Hồng Trâm, Khoa Nhật Bản học).
TRẢ LỜI: Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, bao gồm 54 tộc người được phân
loại theo ngôn ngữ thành 5 ngữ hệ Trong số đó, nhờ vào các ưu thế như chiếm tuyệtđại đa số dân cư, cư trú khắp các vùng miền và có trình độ phát triển kinh tế - xã hộicao, tộc Việt đã trở thành chủ thể văn hoá chính của văn hoá Việt Nam Những ưu thế
ấy không phải ngẫu nhiên mà có Có ba nguyên nhân lịch sử đã tạo nên các ưu thế ấycủa văn hoá Việt và khiến cho người Việt trở thành chủ thể chính của văn hoá ViệtNam: quá trình chiếm lĩnh và tác tạo một không gian văn hoá thuận lợi; quá trình tíchhợp văn hoá các tộc người cộng cư để tạo ra nội lực văn hoá mạnh; và quá trình tiếpthu, cải biến các yếu tố văn hoá ngoại sinh để đổi mới và làm giàu vốn văn hoá nộisinh
Thứ nhất là về không gian văn hóa Tộc Việt có tổ tiên là là một cộng đồng cư dân bảnđịa, được hợp nhất từ nhiều bộ phận cư dân khác nhau Có mặt từ thời dựng nước, địabàn cư trú của tổ tiên người Việt đã phát triển dần từ vùng núi và trung du xuống đồngbằng châu thổ và ven biển Các đồng bằng châu thổ và ven biển trù phú này là tiền đề
tự nhiên giúp cho tộc Việt có điều kiện phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp cho năngsuất vượt xa so với miền núi, tạo điều kiện cho sự gia tăng dân số Mặt khác, địa bànđồng bằng rộng lớn còn đòi hỏi tổ tiên người Việt phải phát triển các hình thức tổ chứccộng đồng lớn mạnh để tổ chức trị thuỷ, khai hoang, lấn biển, canh tác và tự vệ hữuhiệu Từ đó, đã hình thành tổ chức nhà nước sớm nhất trong lịch sử Đông Nam Á
Trang 17Thứ hai là về tích hợp các văn hóa nội sinh Vì địa bàn sinh sống rộng lớn nên tổ tiênngười Việt có điều kiện thuận lợi để tích hợp và tiếp thu các giá trị văn hóa khác nhaucủa các tộc người trên khắp đất nước: Mon-Khmer, Tày-Thái, Chăm, v.v
Thứ ba là về tiếp biến văn hóa ngoại sinh Các vùng đồng bằng châu thổ và duyên hảiluôn tập trung của cải dồi dào và cận kề các tuyến giao thương quốc tế, vừa thu hútngoại xâm, vừa hấp dẫn các thương đoàn, thương nhân hải ngoại Vì vậy mà tộc Việt
có điều kiện giao lưu tiếp biến văn hóa ngoại lai để phát triển nền văn hóa của mình.Quá trình tiếp biến văn hóa ngoại sinh (Trung Hoa, phương Tây, v.v.) làm văn hóaViệt phong phú, đa dạng, gia tăng khả năng thích nghi, đối phó Cư dân người Việttiếp xúc thường xuyên với các nền văn hóa khác nên có nhiều năng lực và khả năngtiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Người Việt luôn đónđầu được các đợt sóng văn hóa ngoại lai để tiếp thu và đồng hóa chúng, làm văn hóaViệt Nam ngày càng đa dạng hơn
Tóm lại, người Việt đã trở thành chủ thể văn hóa chính của Việt Nam vì họ không chỉchiếm lĩnh được không gian văn hóa mà còn có điều kiện giao lưu tiếp biến văn hóathuận lợi Chính vì vậy mà người Việt đã trở thành một lực lượng quan trọng để gópphần gìn giữ và phát huy tính đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam Nhờthích nghi, sáng tạo và tiếp biến văn hoá, tộc Việt đã làm giàu nội lực văn hoá củamình và trở thành chỗ dựa cho việc hình thành và phát triển quốc gia dân tộc ViệtNam
CÁC VÙNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
CÂU HỎI 26: Tại sao việc phân vùng văn hoá Việt Nam chỉ theo hai tiêu chí về phân
vùng địa lý tự nhiên và về phân bố tộc người mà không còn bất cứ tiêu chí nào khác? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
TRẢ LỜI: Các vùng văn hoá được nhận biết, phân biệt là do chúng có những đặc
trưng riêng biệt Các đặc trưng ấy là kết quả tương tác của hai nhóm nhân tố: tự nhiên
và văn hoá, chứ không có nhân tố nào khác nữa Nhân tố tự nhiên chính là môi trườngđịa lý tự nhiên đặc thù của từng vùng Còn nhân tố văn hoá chính là trình độ, cách thứcnhận thức, khai thác, bảo tồn, huỷ hoại môi trường địa lý tự nhiên đó của các tộcngười Cần đọc lại tiến hoá luận đa tuyến của J.H Steward để thấy sự biến đổi của môitrường địa lý tự nhiên phụ thuộc vào cấu trúc văn hoá của các cộng đồng người nhưthế nào Cho nên, cùng một điều kiện địa lý tự nhiên hay cùng một vùng địa lý tựnhiên, có thể hình thành những không gian văn hoá hay những vùng văn hoá khácnhau Chẳng hạn, không cứ gặp đồng bằng châu thổ thì đương nhiên người ta sẽ làmnông nghiệp Cũng không hẳn hễ gặp thảo nguyên thì người ta sẽ săn bắn, chăn nuôi
CÂU HỎI 27: Trong quá trình ôn tập, em gặp khó khăn ở câu hỏi ôn tập “Hãy trình
bày những nét đặc thù của vùng văn hóa Nam Bộ và giải thích nguyên nhân” Mong thầy giải đáp giúp em là khi gặp câu hỏi này thì mình cần trình bày như thế nào để đáp ứng được đầy đủ tiêu chí ạ? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 19/12/2020) Em không biết phải trả lời câu hỏi về “đặc thù của vùng văn hóa, và giải thích nguyên
Trang 18nhân” như thế nào ạ? Theo em hiểu thì “vùng văn hóa” thì sẽ nói về “không gian văn hóa”, nhưng để giải thích nguyên nhân thì em không hiểu ạ (Lớp Cử nhân văn hóa học K13, 5/1/2021) Một câu hỏi yêu cầu trình bày những nét đặc thù của một vùng văn hóa thì có khác gì với câu hỏi yêu cầu trình bày những đặc trưng văn hóa của vùng không thầy? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021, 6/1/2021, 7/1/2021).
TRẢ LỜI: “Đặc thù” là những nét riêng biệt của một sự vật, làm cho khác với những
sự vật khác cùng loại Thí dụ ghế có công dụng đặc thù là dùng để ngồi, làm cho nó
khác với bàn là một đồ vật cùng loại “Đặc trưng” là những nét riêng biệt và tiêu biểu
của một sự vật, là dấu hiệu để phân biệt với những sự vật khác Thí dụ ghế có những
nét riêng biệt và tiêu biểu là có chân và có mặt phẳng, và có công dụng đặc thù là dùng
để ngồi, là những dấu hiệu giúp phân biệt ghế với những đồ vật khác “Đặc thù” khôngphải là toàn bộ các “đặc trưng”, và không thể lấy các “đặc trưng” để giải đáp câu hỏi
về các “đặc thù”
Vậy, để trả lời câu hỏi yêu cầu trình bày những nét đặc thù của một vùng văn hóa, thìtrước hết phải xem xét các “đặc trưng” để tìm chọn những nét “đặc thù”, tức là phát
hiện những nét riêng biệt của một vùng văn hoá làm cho nó khác với các vùng văn hoá
còn lại Nhưng mỗi vùng văn hoá thường có rất nhiều nét đặc thù Nếu mô tả hết thì sẽ
làm không xuể, hoặc sẽ tạo ra một bức tranh tản mạn Vậy cách thông minh là chỉ nêunhững nét đặc thù trong những yếu tố văn hoá quan trọng nhất: văn hoá mưu sinh, vănhoá cư trú, văn hoá tổ chức cộng đồng, và văn hoá tín ngưỡng tôn giáo
Kế tiếp, hãy giải thích nguyên nhân bằng cách vận dụng các lý thuyết liên quan, và bằng các tiền đề thực tiễn là ba tác nhân của mỗi vùng văn hoá: không gian văn hoá,
giao lưu tiếp biến văn hoá, và các chủ thể văn hoá Các vùng văn hoá khác biệt nhau
chính là do ba tác nhân ấy khác nhau
CÂU HỎI 28: Thầy Trần Ngọc Thêm chia Việt Nam thành 6 vùng văn hoá Vậy có
mâu thuẫn với thầy Lý Tùng Hiếu hay không? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2021).
2020-TRẢ LỜI: Tác giả Trần Ngọc Thêm không phải là người “chia Việt Nam thành 6
vùng văn hoá” Trong sách Cơ sở văn hoá Việt Nam của mình (các bản in năm 1998,
1999), Trần Ngọc Thêm đã chép lại phương án chia Việt Nam thành 6 vùng văn hoá
và chép nội dung tóm lược của 6 vùng văn hoá Việt Nam từ sách Cơ sở văn hoá Việt
Nam do Trần Quốc Vượng chủ biên (bản in năm 1998) Và trong sách Cơ sở văn hoá Việt Nam (bản in năm 2022), Trần Ngọc Thêm đưa ra phương án chia Việt Nam thành
8 vùng văn hoá Nên, “thầy Trần Ngọc Thêm” không “mâu thuẫn với thầy Lý TùngHiếu”
CÂU HỎI 29: Các vùng văn hoá ở một số nơi vẫn còn tồn tại những phong tục lối
sống lạc hậu, cổ hủ Vậy có thể xem đấy là các vùng văn hoá kém phát triển, thấp kém hay không? (Lớp Cử nhân văn hoá học K13, 2020-2021).
Trang 19TRẢ LỜI: Không Các lý thuyết tương đối luận văn hoá, đa dạng văn hoá và quan
niệm hiện đại về văn hoá đã đào thải quan điểm của chủ nghĩa đế quốc văn hoá chorằng có những nền văn hoá “kém phát triển, thấp kém”, cần được họ “khai sáng” màthực tế là xâm lược, đô hộ, bóc lột và đồng hoá Theo đó, cũng không có “các vùngvăn hoá kém phát triển, thấp kém” Nếu trong một vùng văn hoá nào đó có “nhữngphong tục lối sống lạc hậu, cổ hủ”, thì cần phải xem xét là chúng “lạc hậu, cổ hủ”trong con mắt của ai Nếu không phải là đế quốc, không phải là thực dân, thì bạnkhông nên dùng con mắt của mình hay phong tục, lối sống của mình để cáo buộc, lên
án phong tục, lối sống của các tộc người khác
CÂU HỎI 30: Thưa thầy, em muốn tiếp tục đào sâu hơn về đề tài “Nghệ thuật hát
Then đàn Tính” nhưng chưa biết phải bắt đầu như thế nào, triển khai ra sao Em muốn xin thầy cho em vài gợi ý được không ạ? (Lớp Triết I Học viện Đa Minh 24/7/2019).
TRẢ LỜI: Hát then thường đi đôi với đàn tính, nhưng đó là hai nghệ thuật khác nhau.
Hát then gắn liền với tôn giáo tín ngưỡng dân gian của người Tày, người Nùng Đàntính chỉ là nhạc cụ Ngày nay, người ta thường tổ chức các “liên hoan” hát then, đàntính, tách rời loại hình nghệ thuật này khỏi cái nôi không gian lễ hội tôn giáo của nó.Vậy nghiên cứu đề tài này, cần chú ý hai bình diện:
- Bình diện lịch đại: trình bày cội nguồn, cái nôi không gian lễ hội tôn giáo của loạihình nghệ thuật này Dùng các lý thuyết hệ thống (chức năng luận) và tôn giáo học đểluận giải
- Bình diện đồng đại: trình bày sự mở rộng chủ thể biểu diễn và khách thể công chúng(người Tày, người Nùng, người Thái, người Việt, ở các vùng văn hoá Việt Bắc và TâyBắc), sự thông tục hoá (biến thành nghệ thuật dân gian phi tôn giáo), và sự sân khấuhoá, thương mại hoá (tổ chức liên hoan, làm sản phẩm du lịch) Dùng các lý thuyết hệthống (chức năng luận) và tiếp biến văn hoá để luận giải
CÂU HỎI 31: Em đang tìm hiểu các tài liệu liên quan đến lễ hội của người Chăm.
Em viết thư này muốn ngỏ ý xin thêm một số tài liệu về vấn đề này từ thầy (Lớp Cử nhân văn hóa học K11, 25/6/2019).
TRẢ LỜI: Em hãy mượn Thư viện các tài liệu liên quan:
- Đàng Năng Hoà chủ biên (2019), Âm nhạc dân gian Chăm: Bảo tồn & phát triển,
NXB Tri Thức
- Lý Tùng Hiếu & Đổng Lấn (1994), “Lễ hội Katê truyền thống của người
Chăm”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 21 - quý III/1994, tr 78-80.
- Phan Quốc Anh & Phú Văn Hẳn & Bùi Đức Hùng & Võ Công Nguyện chủ biên
(2016), 40 năm nghiên cứu văn hoá Chăm, NXB Văn hoá Dân tộc.
- Phú Văn Hẳn chủ biên & Lý Tùng Hiếu hiệu đính (2005), Đời sống văn hoá và xã
hội người Chăm Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá Dân tộc.