Hồ Chí Minh TÓM TẮT Nhằm phản đối các lý thuyết khuếch tán văn hoá, lý thuyết tộc người là trung tâm và lý thuyết chủng tộc ưu việt, các nhà nhân học Bắc Mỹ đã đề xuất thuyết tương đối l
Trang 1CÁC LÝ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI LUẬN VĂN HOÁ,
ĐA DẠNG VĂN HOÁ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG
TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ
Lý Tùng Hiếu* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Nhằm phản đối các lý thuyết khuếch tán văn hoá, lý thuyết tộc người là trung tâm và lý thuyết chủng tộc ưu việt, các nhà nhân học Bắc Mỹ đã đề xuất thuyết tương đối luận văn hoá, phê phán quan điểm gắn kết các nền văn hoá vào các chủng tộc, khẳng định tính tương đối của văn minh, xác lập luận điểm cho rằng mọi nền văn hoá phải được hiểu tuỳ theo lối suy luận của riêng nó, và vì thế không thể sắp xếp các nền văn hoá trên cùng một bậc thang tiến hoá Nhằm mục tiêu tương tự, các nhà nhân học Tây Âu cũng xây dựng luận điểm về tính đa dạng của văn hoá, giải thích sự dị biệt văn hoá là do sự cô lập về địa lý và do những thuộc tính riêng của môi trường, đồng thời khẳng định sự tồn tại những mối liên hệ giữa các nền văn hoá làm nên tính thống nhất của loài người.
Vận dụng các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá vào việc nghiên cứu văn hoá, chúng tôi nhận thấy giá trị trước tiên của các lý thuyết này là giúp xác lập cái nhìn bình đẳng giữa các nền văn hoá Tiếp theo, chúng tôi vận dụng các lý thuyết ấy để xác định tính tương đối của các đặc trưng văn hoá: tính giá trị, tính biểu tượng, tính truyền thống và tính hệ thống Đó đều là những đặc trưng có tính phổ quát của văn hoá, những ở những nền văn hoá khác nhau, các đặc trưng ấy sẽ có những biểu hiện, nội dung khác nhau Bởi một lẽ đơn giản: Các nền văn hoá không được tạo ra một cách đồng loạt, đồng thời, mà là sản phẩm phục vụ cho lợi ích của những cộng đồng người khác nhau, tồn tại trong những không gian và thời gian khác nhau.
Từ khóa: tương đối luận văn hoá; tính tương đối của văn minh; tính đa dạng
của văn hoá; đặc trưng văn hoá.
ABSTRACT
Theories of cultural relativism and cultural diversity, and directions of application
in cultural research
In opposition to theories of trans-cultural diffusionism, ethnocentrism and racism, North American anthropologists have proposed the theory of cultural relativism, which criticizes the idea of integrating cultures into races, affirming the relativism of civilization, establishing the notion that all cultures must be understood according to its own inference, and therefore it is impossible to arrange cultures on the same evolutionary ladder Similarly, Western European anthropologists formulate
* * Nhà riêng: 392/8/110 Cao Thắng, P.12, Q.10, TP Hồ Chí Minh Cơ quan: Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 10-12 Đinh Tiên
Hoàng, quận 1, TP.HCM Email: lytunghieu@gmail.com Điện thoại: 0909.530.241.
Trang 2theory of cultural diversity, explaining that cultural differences are due to geographic isolation and to the particular characteristics of the environment It also affirms the existence of interrelationships between cultures that make up the unity of humanity.
Applying theories of cultural relativism and cultural diversity to cultural research, the author finds that the first value of these theories is to help establish a view of equality between cultures Next, the author uses these theories to determine the relativity of cultural characteristics: value, symbolism, traditionality, and systemativity These are all universal characteristics of culture, but in different cultures, these characteristics will have different manifestations and contents For one simple reason: Cultures are not created simultaneously, but at the same time, and they are products that serve the interests of different communities, exist in different places and times.
Keywords: cultural relativism; relativity of civilization; the diversity of culture;
cultural characteristics.
-1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hình thành trong ngành nhân học Mỹ, tương đối luận văn hoá (cultural relativism) là một lý luận cho rằng các niềm tin, giá trị và hành động của một cá nhân, một cộng đồng người phải được hiểu dựa trên văn hoá của chính cá nhân hoặc chính cộng đồng người đó, chứ không phải được xét đoán dựa theo tiêu chuẩn của cá nhân khác hoặc cộng đồng người khác Ngay sau đó, trong ngành nhân học Tây Âu, lý luận
về tính đa dạng của các nền văn hoá (cultural diversity) cũng hình thành, giải thích sự
đa dạng văn hoá là do sự ngăn cách địa lý, những thuộc tính riêng của môi trường và
do ý thức tự phân biệt, giữ gìn cái riêng của các cộng đồng người Cả hai lý thuyết này đều nhằm mục tiêu chống lại các lý thuyết khuếch tán văn hoá, lý thuyết tộc người là trung tâm và lý thuyết chủng tộc ưu việt, là những nền tảng lý luận của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá hôm nay, người nghiên cứu văn hoá Việt Nam không thể quay lưng với các lý thuyết khoa học mà giá trị đã được thừa nhận trong nghiên cứu văn hoá Trong bài này, vận dụng phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu và phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ tóm lược nội dung kèm theo nhận định về giá trị đóng góp của các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá,
để từ đó chọn lọc, đúc kết những luận điểm phù hợp, có thể vận dụng vào việc nghiên cứu văn hoá và văn hoá Việt Nam
2 GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC LÝ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI LUẬN VĂN HOÁ VÀ ĐA DẠNG VĂN HOÁ
2.1 Franz Boas với luận điểm về “tính tương đối” của văn minh
Vào cuối thế kỷ XIX, một số nhà khoa học châu Âu như F Ratzel, F Grebner (Đức), G Elliot Smith, W Rivers (Anh)… đã đề xuất lý thuyết khuếch tán văn hoá (trans-cultural diffusionism), giải thích sự tương đồng văn hoá ở các khu vực khác
Trang 3nhau trên thế giới là do sự khuếch tán, lan toả của một vùng văn hoá trung tâm Châu
Âu được cho là trung tâm văn hoá của nhân loại, từ nơi đây văn hoá đã phát tán ra các khu vực khác trên thế giới Song hành với lý thuyết khuếch tán văn hoá là các lý thuyết tộc người là trung tâm (ethnocentrism), lý thuyết chủng tộc ưu việt (racism), cũng phổ biến ở châu Âu đương thời Lý thuyết tộc người là trung tâm sử dụng các giá trị và các tiêu chuẩn của văn hóa riêng của một tộc người để đánh giá các nền văn hóa khác, dẫn đến hệ quả là có những nhóm người tin rằng họ luôn luôn chiếm vị trí cao nhất không chỉ trong số các dân tộc và quốc gia đương thời mà cả trong quan hệ với tất cả các dân tộc trong quá khứ Còn lý thuyết chủng tộc ưu việt (còn gọi là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc) đặt niềm tin vào tính ưu việt của một chủng tộc so với chủng tộc khác, nên thường dẫn đến hậu quả là sự kỳ thị và định kiến đối với con người dựa trên chủng tộc hoặc tộc người của họ Chẳng hạn, theo lập luận của nhà địa lý học, dân tộc học Friedrich Ratzel (1844-1904), những dân tộc có nền văn hoá vĩ đại có “động lực không gian” (Raum-motiv) là một sức mạnh lịch sử mãnh liệt, thúc đẩy họ bành trướng về mặt tự nhiên Đối với Ratzel, không gian (Raum) là một khái niệm mơ hồ, không giới hạn trên lý thuyết, và được định nghĩa là nơi mà dân tộc Đức sống, và các nhà nước yếu hơn có thể phục vụ cho nền kinh tế của dân tộc Đức, và văn hoá Đức có thể làm phong phú cho các nền văn hoá khác Ratzel giả thuyết rằng các nhà nước mạnh sẽ bành trướng tự nhiên vào các khu vực thuộc vòng kiểm soát của các nhà nước yếu hơn
Các lý thuyết khuếch tán văn hoá, lý thuyết tộc người là trung tâm, lý thuyết chủng tộc ưu việt chính là nền tảng lý luận của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít Và để phản đối các lý thuyết ấy, các nhà nhân học ở Tây Bán cầu đã đề xuất thuyết tương đối luận văn hóa (cultural relativism)
Người đặt nền móng cho sự hình thành tương đối luận văn hoá là nhà nhân học
Mỹ Franz Boas (1858-1942) Trong bài “Museums of Ethnology and their classification” (“Các bảo tàng dân tộc học và sự phân loại của chúng”, 1887) đăng trên
Tạp chí Science, ông viết: “văn minh không phải là cái gì tuyệt đối, nhưng là tương
đối, và những ý tưởng và khái niệm của chúng ta chỉ đúng trong khuôn khổ nền văn minh của chúng ta thôi”1 Kể từ đó, tương đối luận văn hoá đã trở thành một tiên đề hiển nhiên (axiomatic) trong các nghiên cứu nhân học của Franz Boas trong những thập niên đầu thế kỷ XX Đến năm 1924, thuật ngữ “cultural relativism” đã được nhà
triết học Alain Locke đặt ra và ghi vào từ điển Oxford English Dictionary để mô tả
“tương đối luận văn hoá cực đoan” (extreme cultural relativism) của Robert Lowie
trong cuốn Culture and Ethnology (Văn hoá và dân tộc học, 1917).
Sau khi Franz Boas qua đời, các nhà nhân học đã dùng thuật ngữ “cultural relativism” để tổng hợp một số ý tưởng mà Boas đã phát triển Theo đó, Boas tin rằng tầm vóc của các nền văn hoá quá rộng lớn và lan toả khắp, đến mức không thể có mối liên hệ giữa các nền văn hoá và các chủng tộc
Nhận định về Franz Boas, Tim Ingold [2006: 19] viết: “Ông có ảnh hưởng rất sâu sắc đến nhiều lãnh vực, nhưng sự đóng góp quan trọng duy nhất của ông có lẽ là
1
Nguyên văn: “civilization is not something absolute, but is relative, and our ideas and conceptions are true only so far as our civilization goes” [Boas, Franz, 1887: 589]
Trang 4học thuyết về tính tương đối văn hoá, là ý tưởng cho rằng mọi nền văn hoá phải được hiểu tuỳ theo lối suy luận của riêng nó và vì thế về mặt phân tích thật là sai lầm khi cố gắng sắp xếp các nền văn hoá trên cùng một bậc thang tiến hoá Thuyết tương đối văn hoá vẫn rất cần thiết như là một công cụ phương pháp luận”
Ngày nay, tương đối luận văn hoá được hiểu như là sự mở rộng của tương đối luận về nhận thức (epistemological relativism) đối với các nền văn hoá khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh các nền văn hoá khác nhau, những người ủng hộ tương đối luận văn hoá đi đến lập luận rằng trong văn hoá chỉ có cái tương đối chứ không có cái tuyệt đối, bởi vì “những niềm tin tỏ ra không hợp lệ trong bối cảnh của một nền văn hoá thì không hẳn bất hợp lệ ở một nền văn hoá khác Theo đó, một tuyên bố như
‘X là một hành vi yêu thuật’ sẽ không thuộc về địa hạt của khoa học phương Tây nhưng có thể được cho là hợp lệ trong một nền văn hoá mà yêu thuật là một hành động đúng” [Barker, Chris, 2004: 175-177]2
2.2 Claude Lévi-Strauss với luận điểm về “tính đa dạng của các nền văn hoá”
Claude Lévi-Strauss (1908-2009) là nhà nhân học xuất sắc người Pháp, người
đã sưu tầm, phân tích và khái quát các tư liệu nhân học theo một phương pháp luận
mới gắn liền với tên tuổi của mình là cấu trúc luận (structuralism) Công trình Les structures élémentaires de la parenté (Các cấu trúc sơ đẳng của thân tộc) công bố
năm 1949 của ông được đánh giá như một cuộc cách mạng trong nhân học Năm 1952, trong bối cảnh đấu tranh chống các tàn dư của lý thuyết tộc người là trung tâm, lý thuyết chủng tộc ưu việt sau Thế chiến thứ II, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công bố một loạt tiểu luận trong đó có tiểu
luận Race et histoire (Chủng tộc và Lịch sử, 1952) của Claude Lévi-Strauss Tập tiểu
luận đã trình bày những quan điểm xem các nền văn minh và văn hoá đều có những giá trị lớn, ngang nhau, nói lên tính thống nhất của loài người, trong khi mỗi tộc người vẫn mang sâu đậm những bản sắc của mình
Đối với thuyết tộc người là trung tâm, Claude Lévi-Strauss đã lên án một cách quyết liệt: “ ‘Những thói quen của người dã man’, ‘điều đó không có ở chúng ta’,
‘không được cho phép điều đó’ v.v…, bấy nhiêu phản ứng thô thiển thể hiện một sự run sợ, một sự ghê tởm đối với những lối sống, lối tin và lối nghĩ xa lạ của chúng ta
Vì thế, thời cổ đại đã đặt tất cả những gì không có trong nền văn hoá Hy Lạp (rồi Hy Lạp - La Mã) vào tên gọi dã man; về sau nền văn minh phương Tây đã dùng từ dã man cũng theo nghĩa này”; “Thái độ tư duy ấy, mà nhân danh nó người ta vất những người
‘dã man’ (hoặc tất cả những ai bị coi là như thế) ra khỏi loài người; đúng là thái độ rõ rệt nhất và nổi bật nhất của chính những người dã man ấy” [Lévi-Strauss, Claude, 1996: 20, 21] Đối với lý thuyết chủng tộc ưu việt, Claude Lévi-Strauss cũng không khoan nhượng Khi bàn luận về mối tương quan giữa chủng tộc và văn hoá, ông viết:
“Có nhiều nền văn hoá con người hơn là những chủng tộc người, vì văn hoá con người
2 Nguyên văn: “Cultural relativism is the extension of that argument to different cultures leading to the suggestion that beliefs that appear to be invalid in the context of one culture are not so in another Thus, the claim that ‘X is an act of witchcraft’ will not hold up within the confines of Western science but can be said to be valid within a culture for which witchcraft is a truthful practice” [Barker, Chris, 2004: 175-177]
Trang 5có tới hàng nghìn, còn chủng tộc người thì chỉ có vài đơn vị: hai nền văn hoá do những người thuộc cùng một chủng tộc xây dựng có thể khác nhau như hai nền văn hoá của các nhóm cách xa nhau về chủng tộc, hoặc thậm chí còn khác nhau nhiều hơn” [Lévi-Strauss, Claude, 1996: 11]
Tuy nhiên, trước thực tế là sự tồn tại hiển nhiên của các chủng tộc, Claude Lévi-Strauss cho rằng tương đối luận văn hoá chưa phải là giải pháp giải quyết được vấn đề Bởi vì: “chỉ riêng việc tuyên bố về sự bình đẳng tự nhiên giữa tất cả mọi người
và tình hữu ái cần có để đoàn kết nhau lại, không phân biệt về chùng tộc và văn hoá,
đã có một cái gì đó gây thất vọng cho người ta, vì nó coi nhẹ tính đa dạng trong thực tế
mà sự quan sát phải thừa nhận, và điều đó cũng không đủ để đụng tới cơ sở của vấn đề khiến người ta có thể coi là không có tính đa dạng ấy về lý thuyết cũng như về thực tiễn” [Lévi-Strauss, Claude, 1996: 23]
Thay cho việc sử dụng tương đối luận văn hoá để chống lại các lý thuyết tộc người là trung tâm, lý thuyết chủng tộc ưu việt, Claude Lévi-Strauss đề xuất một giải pháp trung dung là thừa nhận “tính đa dạng của các nền văn hoá” Bởi vì, “tính đa dạng của các nền văn hoá con người, có thật trong hiện tại và cũng có thật trong quá khứ, là lớn hơn và phong phú hơn nhiều so với những gì mà chúng ta đã biết tới” Theo ông: “Có lẽ người ta đã tạo dựng nên những nền văn hoá khác nhau do sự cách
xa về địa lý, do những thuộc tính riêng của môi trường và do không biết phần còn lại của loài người ở những đâu”; “và bên cạnh những sự khác nhau do sự cô lập tạo ra ấy,
có những sự khác nhau cũng hết sức quan trọng do sự gần gũi nhau: ý muốn đối lập nhau, phân biệt nhau, được là mình” Tuy nhiên, theo Claude Lévi-Strauss, bên cạnh
sự cô lập làm cho các nền văn hoá khác nhau, trong diễn trình văn hoá của loài người, vẫn có những mối liên hệ thống nhất giữa các nền văn hoá, vì vậy không nên hiểu khái niệm tính đa dạng của các nền văn hoá theo lối tĩnh: “Tính đa dạng của các nền văn hoá con người không cho phép chúng ta quan sát một cách manh mún Tính đa dạng
ấy tuỳ thuộc vào sự cô lập của các nhóm ít hơn vào những mối liên hệ thống nhất chúng lại” [Lévi-Strauss, Claude, 1996: 14, 17, 18]
3 VẬN DỤNG CÁC LÝ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI LUẬN VĂN HOÁ VÀ ĐA DẠNG VĂN HOÁ
3.1 Xác lập cái nhìn bình đẳng giữa các nền văn hoá
Ngày nay, tương đối luận văn hoá đã có một vị thế vững chắc trong giới nghiên cứu văn hoá trên thế giới Như mô tả của Chris Barker [2004: 175-177]: “Chủ nghĩa hậu cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa thực dụng, các dòng tư tưởng triết học đang lưu chảy mạnh mẽ trong văn hoá học, đều bị ‘cáo buộc’ về tương đối luận Sở dĩ như vậy là vì tất cả các lý thuyết ấy đều bác bỏ tính hợp lệ của các tuyên bố chân lý phổ quát Họ tranh luận rằng có thể không tồn tại một thứ nhận thức luận phổ quát bởi
vì tất cả các tuyên bố chân lý đều được hình thành trong thuyết giảng hoặc các trò chơi ngôn ngữ cho nên tất cả chân lý đều bị giới hạn trong văn hoá”3
3 Nguyên văn: “Poststructuralism, postmodernism and pragmatism, streams of philosophical thought that are strong within cultural studies, have all been ‘accused’ of relativism This is
so because they all reject the validity of universal truth-claims They argue that no universalizing epistemology is possible because all truth-claims are formed within discourse
Trang 6Bên cạnh đó, luận điểm về tính đa dạng văn hoá của Claude Lévi-Strauss cũng
đã được thừa nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu văn hoá và quản lý văn hoá Năm
2001, UNESCO đã ban hành “Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hoá” (Universal Declaration on Cultural Diversity), lấy đó làm công cụ pháp lý để nhìn nhận đa dạng văn hoá như là “di sản chung của nhân loại” (“common heritage of humanity”), và xem việc bảo vệ đa dạng văn hoá là một yêu cầu cụ thể và có tính đạo đức không thể tách rời khỏi sự tôn trọng phẩm giá của con người [UNESCO, 2001]
Xem xét việc vận dụng các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá vào việc nghiên cứu văn hoá, chúng tôi nhận thấy, bởi vì văn hoá do các cộng đồng người tạo ra để tự đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của chính mình, cho nên các giá trị, truyền thống, biểu tượng… của các nền văn hoá chỉ có ý nghĩa tương đối, nghĩa là chỉ có giá trị “chân lý” trong khuôn khổ của nền văn hoá đó Nhìn từ quan điểm của các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá, các nền văn hoá vốn dĩ khác nhau, các tiêu chuẩn và thực tiễn của mỗi nền văn hoá chỉ nên được đánh giá theo quan điểm của chính nền văn hoá đó chứ không phải theo tiêu chuẩn của một nền văn hoá khác Người bên ngoài nên có khả năng nhìn nhận văn hoá từ góc độ trung lập và không đánh giá một nền văn hoá trước khi hiểu nó Mỗi nền văn hoá nên được xem xét với sự tôn trọng và bình đẳng, bởi vì không một nền văn hoá nào tốt hơn bất kỳ một nền văn hoá nào khác Do đó, vận dụng các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá vào việc nghiên cứu văn hoá là cần thiết và phù hợp
3.2 Xác định tính tương đối của các đặc trưng văn hoá
Đặc trưng là “nét riêng biệt và tiêu biểu, được xem là dấu hiệu để phân biệt với những sự vật khác” [Hoàng Phê cb, 1998: 283] Vậy văn hoá có những đặc trưng gì? Một nhà nghiên cứu là Trần Ngọc Thêm [1999: 11-14; 2004: 20-25] đã cho rằng văn hoá có bốn đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử Nhưng vấn đề là với quan niệm xem văn hoá là những hoạt động, sản phẩm, thành tựu mang dấu ấn của các dân tộc, các tộc người, thì các đặc trưng văn hoá cũng sẽ khác nhau giữa các nền văn hoá dân tộc, văn hoá tộc người Tức là, cho dù văn hoá có những đặc trưng gì thì những đặc trưng ấy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi Các đặc trưng
ấy không thể có nội dung, biểu hiện và mức độ giống như nhau ở các nền văn hoá khác nhau Do đó, vận dụng các lý thuyết tương đối luận văn hoá và đa dạng văn hoá, chúng tôi muốn giới thiệu một cách luận giải khác về các đặc trưng của văn hoá: các đặc trưng của văn hoá đều có tính tương đối, tức là có một giới hạn khả dụng nhất định tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá
3.2.1 Tính giá trị và tính tương đối của giá trị văn hoá
Ở Việt Nam, trong thập niên 1990, khi ngành văn hoá học hình thành, giới nghiên cứu đã đưa khái niệm “giá trị” vào quan niệm về văn hoá Tiêu biểu là quan niệm của Trần Quốc Vượng [cb, 1998: 24]: “Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra”; của Trần Ngọc Thêm [1999: 10, 16-18; 2004: 25, 28-29]: “VĂN HOÁ là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”; của Chu Xuân
or language-games so that all truth is culture-bound” [Barker, Chris, 2004: 175-177]
Trang 7Diên [2008: 12]: “văn hoá là một khái niệm bao trùm (chứa cả các giá trị vật chất và giá trị tinh thần)”
Trong đó, đáng chú ý là lý luận của Trần Ngọc Thêm [1999: 11-14; 2004: 20-25] về đặc trưng tính giá trị của văn hoá Theo ông, văn hoá có tính giá trị vì phục vụ cho đời sống con người Phân loại các giá trị văn hoá theo mục đích, ta có giá trị vật chất và giá trị tinh thần; phân loại theo ý nghĩa, ta có giá trị sử dụng, giá trị đạo đức; giá trị thẩm mỹ; phân loại theo thời gian, ta có giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Để đánh giá một hiện tượng văn hoá có giá trị hay không, cần phải xem xét về mặt đồng đại: mức độ giá trị tuỳ theo góc nhìn và bình diện được xem xét, mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó; và về mặt lịch đại: một hiện tượng có giá trị hay không là tuỳ thuộc vào chuẩn mực văn hoá của từng giai đoạn lịch sử
Và lý luận của Phạm Đức Dương [2013: 191-210] về vị trí và vai trò của các giá trị văn hoá Theo ông, giá trị văn hoá bao gồm giá trị vật chất (giá trị sử dụng) và giá trị tinh thần (giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ) Các loại giá trị này hợp thành các hệ thống giá trị Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống, nếp sống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn, sẽ tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Các hệ thống giá trị cùng với bản sắc văn hoá dân tộc sẽ hợp thành cấu trúc chiều sâu
là bộ phận chìm nằm trong tâm thức của con người, là hằng số, là yếu tố tĩnh của văn hoá, đóng vai trò định hướng và điều chỉnh những biến đổi trên cấu trúc bề mặt của văn hoá
Điều cần thảo luận ở đây là các giá trị văn hoá được tạo ra như thế nào, tại sao chúng mang giá trị, và chúng có hiệu lực trong phạm vi nào
Hoạt động văn hoá (cultural activities) của con người bao gồm các hoạt động thực hành văn hoá, sáng tạo văn hoá, tiếp biến văn hoá, tích luỹ văn hoá…, giúp con người sinh tồn và phát triển Để tiến hành các hoạt động này, con người sẽ vận dụng các kinh nghiệm, tri thức, giá trị, di sản, vật liệu, công cụ, phương tiện, kỹ thuật… đã được họ thụ đắc, kế thừa, để tạo ra các sản phẩm văn hoá (cultural products) Nếu các hoạt động và sản phẩm ấy đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của con người, cá nhân hoặc cộng đồng, thì sẽ được cá nhân hoặc cộng đồng ấy chấp nhận, phổ biến, truyền lưu, để từ đó tạo ra các giá trị văn hoá (cultural values) và truyền thống văn hoá (cultural traditions) Ngược lại, nếu các hoạt động và sản phẩm ấy không đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của cá nhân hoặc cộng đồng, thì sẽ bị cá nhân hoặc cộng đồng ấy
xem là vô giá trị và sẽ bị lãng quên Vậy, giá trị văn hoá là những lợi ích mà các hoạt động văn hoá, sản phẩm văn hoá đem lại cho con người, cá nhân hoặc cộng đồng, đáp ứng được mục đích, nhu cầu, lợi ích của cá nhân hoặc cộng đồng ấy
Vậy có phải chăng các giá trị văn hoá chỉ đơn thuần là kết quả thẩm định của các cá nhân và các cộng đồng người xuất phát những mục đích, nhu cầu, lợi ích của riêng mình? Có phải chăng các giá trị văn hoá chỉ có tính chất tương đối, chủ quan? Chúng tôi không nghĩ vậy Trong tự nhiên và trong xã hội, mỗi sự vật hiện tượng đều tiềm tàng một giá trị tự thân, là cơ sở để chúng thiết lập quan hệ với các sự vật hiện tượng khác, hình thành các công dụng, chức năng của chúng Nếu các giá trị tự thân của sự vật hiện tượng được con người nhận biết, đánh giá, sử dụng, chúng sẽ tạo nên giá trị văn hoá Nếu chúng không được con người nhận biết, thì chỉ là giá trị tiềm năng, giá trị tiềm tàng
Trang 8Điều vừa nói chẳng phải là kiến thức gì mới mẻ mà đã được khoa học thế giới nhận thức từ lâu Từ hàng trăm năm trước, nhà triết học, kinh tế học Karl Marx đã
phân biệt hai loại giá trị: giá trị sử dụng tiềm tàng trong những tư liệu sản xuất do thiên nhiên cung cấp sẵn, và giá trị trao đổi hình thành do lao động của con người Trong tác phẩm Tư bản Phê phán khoa kinh tế chính trị, tập thứ nhất, Q.1 (1867), ông
viết: “Một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã mất đi trong quá trình lao động do giá trị sử dụng của bản thân nó bị huỷ hoại đi Nếu tư liệu sản xuất đó không có một giá trị nào để mất đi cả, nghĩa là bản thân nó không phải là sản phẩm lao động của con người, thì nó sẽ không thể chuyển một giá trị nào vào sản phẩm cả Tư liệu sản xuất đó sẽ chỉ dùng để hình thành giá trị
sử dụng mà không tham dự vào việc hình thành giá trị trao đổi Đó là trường hợp của tất cả những tư liệu sản xuất do thiên nhiên cung cấp sẵn, không có sự tác động của con người: đất đai, gió, nước, sắt ở trong vỉa quặng, gỗ trong rừng nguyên thuỷ, v.v.” [Marx, Karl H., 1982]
Nói cách khác, các tài nguyên thiên nhiên đều có giá trị tự thân của chúng, nhưng từ đó có làm ra giá trị văn hoá hay không và như thế nào, là tuỳ vào mục đích, nhu cầu, lợi ích cũng như tri thức, phương tiện, kỹ thuật, truyền thống của mỗi nền văn hoá Hãy lấy một thí dụ: trong các tài nguyên thiên nhiên, có không khí, một yếu tố chắc chắn là có giá trị quyết định, giá trị tuyệt đối đối với sự sống Thế nhưng, nhiều nền văn hoá trước đây đã không biết đến sự tồn tại của không khí mà chỉ nhận biết một biểu hiện của nó là gió mà thôi Và chúng ta không thể dựa vào quan điểm của các nền
văn hoá đó để nói rằng không khí không tồn tại, hay không khí vô giá trị Vậy, giá trị văn hoá trước hết là giá trị tự thân, tồn tại khách quan, tiềm ẩn trong các sự vật hiện tượng tự nhiên và trong các hoạt động văn hoá của con người.
Tuy nhiên, con người sáng tạo và tích luỹ các giá trị văn hoá là để thoả mãn các mục đích, nhu cầu, lợi ích của chính mình Cho nên, các giá trị văn hoá chỉ có ý nghĩa thật sự và đầy đủ đối với chính những chủ thể sáng tạo và tích luỹ chúng, trong một không gian và thời gian nhất định Trong trường hợp đó, giá trị văn hoá là những hoạt động và sản phẩm văn hoá được chủ thể xem là có ích Đối với những chủ thể khác, không gian khác, thời gian khác, các giá trị văn hoá ấy có thể được xem là có ích hoặc
vô ích, có giá trị hoặc vô giá trị Nói cách khác, sự tồn tại đồng thời hai mặt giá trị và
vô giá trị trong cùng một hoạt động và sản phẩm văn hoá là do những tác dụng, công dụng khác nhau của chúng đối với những chủ thể khác nhau, trong những không gian,
thời gian khác nhau Như vậy, giá trị văn hoá cũng đồng thời là một khái niệm có tính tương đối, vì nó phụ thuộc vào chủ thể, không gian, thời gian, và vì nó được lượng giá thông qua các thước đo khác nhau của các cá nhân và cộng đồng người khác nhau Vì
mục đích, nhu cầu, lợi ích của cá nhân hoặc cộng đồng người có thể giống nhau mà cũng có thể khác nhau, nên những gì được họ xem là có ích hoặc có giá trị có thể được đánh giá khác hẳn trong quan niệm của cá nhân khác hoặc cộng đồng người khác Như vậy, quan niệm về giá trị văn hoá vừa kết nối con người vì những mục đích, nhu cầu, lợi ích giống nhau, vừa tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân và các cộng đồng người vì những mục đích, nhu cầu, lợi ích khác nhau Một cộng đồng người có chung mục đích, nhu cầu, lợi ích sẽ có chung một tập hợp các giá trị văn hoá, và có thể tự phân biệt với các cộng đồng người khác nhờ tập hợp các giá trị văn hoá ấy
Trang 9Do đó, như một nhận định của Mikhail Epstein [2007]: “Văn hoá (culture) với
tư cách là một chỉnh thể của những lĩnh vực hoạt động, bao hàm tính đa dạng của các nền văn hoá (cultures) với tư cách là đa dân tộc và đa kiểu loại lịch sử, mỗi kiểu loại
có nguyên tắc hình thành riêng, không thể giản hoá Trong khi văn hoá học quan tâm đến văn hoá với tư cách là cái toàn thể (a whole), nó cũng đồng thời thừa nhận tính đa dạng của ‘những cái toàn thể’ (wholes) và tạm phân biệt giữa chúng bằng thuật ngữ giá trị”
Tính tương đối của giá trị văn hoá đòi hỏi một quan điểm lịch sử - cụ thể về các giá trị văn hoá và cách tiếp cận khách quan (objective approach) trong nghiên cứu văn hoá Theo đó, muốn xác định được giá trị của một hoạt động hoặc sản phẩm văn hoá thì phải xem xét nó trong từng bối cảnh chủ thể, không gian, thời gian cụ thể Và trong khi nhận thức, ứng xử với một nền văn hoá, một truyền thống văn hoá khác biệt, người nghiên cứu cần có tinh thần tôn trọng sự khác biệt, không được có cái nhìn kỳ thị, không được lấy một nền văn hoá, một truyền thống văn hoá nào đó để làm tiêu chuẩn đánh giá Cách tiếp cận này hoàn toàn tương hợp với quan niệm bình đẳng về các giá trị văn hoá giữa các tộc người do tổ chức UNESCO xác lập từ cuối thế kỷ XX [Mayor, Federico, 1989: 4-9]
Hiện nay, một số người làm công tác quản lý văn hoá vẫn còn thiếu cái nhìn khách quan khoa học đối với văn hoá các tộc người thiểu số Họ có một định kiến cho rằng văn hoá Việt là hình mẫu, là văn minh; văn hoá các tộc người thiểu số là lạc hậu, mọi rợ Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là công khai hoặc ngấm ngầm khinh miệt, kỳ thị văn hoá các tộc người thiểu số, vận động xoá bỏ hoặc ngăn cấm việc thực hành các hoạt động văn hoá truyền thống của các tộc người này [Lý Tùng Hiếu, 2014: 174-186] Do đó, theo chúng tôi, cán bộ viên chức ngành văn hoá cần được trang bị và tự trang bị cái nhìn khách quan khoa học và những cách ứng xử tôn trọng
sự khác biệt, tôn trọng văn hoá các tộc người thiểu số
3.2.2 Tính biểu tượng và tính tương đối của biểu tượng văn hoá
Văn hoá là sản phẩm của con người Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá Nói chung, tất cả những sự vật hiện tượng do con người tác tạo, tác động hoặc được nhìn nhận theo quan điểm của con người, đều thuộc về văn hoá Do đó, theo Đặng Nghiêm Vạn [2010: 18], “văn hoá là tất cả những gì không phải của tự nhiên Văn hoá
là cái phân biệt được con người với các sinh vật khác, là cái phần của môi trường do con người sáng tạo ra” Và theo Trần Ngọc Thêm [1999: 11-14; 2004: 20-25], văn hoá
có tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên Văn hoá là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Và sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên…)
Điều cần thảo luận ở đây là cách thức con người “nhân hoá” giới tự nhiên: có phải con người chỉ đơn giản tác động vào tự nhiên bằng phương tiện vật chất hoặc tinh thần?
Thật ra, cách thức con người nhận thức, định danh, khai thác, bảo tồn, huỷ hoại
tự nhiên chẳng những khác với các loài động vật mà còn khác nhau giữa các cá nhân
và giữa các cộng đồng người Cho nên, kết quả của các quá trình nhận thức, tác động
Trang 10vào tự nhiên cũng khác nhau giữa các cá nhân và các cộng đồng người Trong quan hệ với con người, tự nhiên vừa tồn tại dưới dạng khách quan như nó vốn có, vừa tồn tại dưới những hình ảnh chủ quan là kết quả nhận thức, tác động khác nhau của các cá nhân và các cộng đồng người Trong không gian tự nhiên của một thảo nguyên ở vùng
Trung Tây chẳng hạn, đối với các bộ lạc Indian Bắc Mỹ thì điều có ý nghĩa nhất là các đồng cỏ và rừng nơi họ có thể chăn nuôi và săn bắt thú Nhưng đối với các nhà tư bản
Mỹ vào giữa thế kỷ XIX thì điều quan trọng nhất là trong không gian tự nhiên ấy có các mỏ dầu dưới lòng đất Và sự nhin nhận khác nhau đó đã dẫn tới hai cách ứng xử
khác nhau đối với cùng một điều kiện không gian tự nhiên Vì vậy, có thể nói cách thức con người nhận thức, tác động vào tự nhiên có tính biểu tượng (symbolic) Biểu
tượng (symbol) là “hình ảnh tượng trưng”, là “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [Hoàng Phê cb, 1998: 64]
Theo Phạm Đức Dương [2011]: “Con người không chỉ khác động vật ở năng lực sáng tạo công cụ lao động, tư duy và ngôn ngữ, mà còn ở khả năng biểu trưng hoá Thế giới thực tại đi vào thế giới ý niệm trong trí óc con người thông qua phương thức biểu trưng, thông qua những khái niệm phản ánh hiện thực theo cách biểu trưng hoá Thế giới ý niệm khác thế giới thực tại ở chỗ nó vô hình, vô hạn, vô khả tri Để cho người khác hiểu được thế giới ý niệm của mình, con người sáng tạo thế giới biểu tượng, gồm hai mặt: cái cảm nhận được, và cái ý nghĩa nằm trong thế giới ý niệm vô hình vô hạn vô khả tri của mình Thí dụ tượng nhà mồ ‘sinh thành’ ở Tây Nguyên Biểu tượng bao giờ cũng có 2 mặt, giống như tín hiệu Tín hiệu có 2 loại: tín hiệu biểu thị, biểu thị trực tiếp, hiển ngôn (như ngôn ngữ); và tín hịệu hàm nghĩa là các biểu tượng, biểu trưng, có tính hàm ngôn, đại diện (như nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán…)”
Tuỳ theo mục đích, nhu cầu, lợi ích của mình và tuỳ theo tri thức, phương tiện,
kỹ thuật, truyền thống sẵn có, mỗi cá nhân và cộng đồng người sẽ tự tạo cho mình các biểu tượng về thế giới xung quanh Vì việc hình thành biểu tượng vừa phụ thuộc vào thế giới thực tại vừa phụ thuộc vào mục đích, nhu cầu, lợi ích và tri thức, phương tiện,
kỹ thuật, truyền thống của các cá nhân và cộng đồng người, nên các biểu tượng được tạo ra có thể giống nhau mà cũng có thể khác nhau giữa các cá nhân và giữa các cộng
đồng người Do đó, các biểu tượng văn hoá chỉ có tính tương đối: chúng là những bản chụp lại thế giới thực tại chứ không phải bản thân thực tại, và chúng chỉ có ý nghĩa tượng trưng đối với cá nhân và cộng đồng người sáng tạo và sử dụng chúng Một
dòng sông, một trái núi ở một miền quê nào đó chỉ có ý nghĩa biểu tượng đối với cư dân ở đó và những người từ đó ra đi Đối với những khách qua đường, dòng sông trái núi ấy chỉ là những sự vật tự nhiên
3.2.3 Tính truyền thống và tính tương đối của truyền thống văn hoá
Tự nhiên được biến thành văn hoá là nhờ có hoạt động xã hội - sáng tạo của con người Nhờ có hoạt động này mà các giá trị được tích luỹ và tạo thành văn hoá Do đó, theo Trần Ngọc Thêm [1999: 11-14; 2004: 20-25], văn hoá có tính lịch sử Tính lịch
sử cho phép phân biệt văn hoá như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Và tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hoá là những giá trị tương đối ổn định được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và