1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kyhtvn 30 lý tùng hiếu (2018), các lý thuyết hệ thống và phương hướng vận dụng trong nghiên cứu văn hoá

26 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các lý thuyết hệ thống và phương hướng vận dụng trong nghiên cứu văn hoá
Tác giả Lý Tùng Hiếu
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 86,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu thế kỷ XX, các lý thuyết hệ thống systemic theory liên quan đến văn hoá mới ra đời, bắtđầu từ các công trình nghiên cứu của nhiều học giả phương Tây như Ferdinand deSaussure, Claude

Trang 1

CÁC LÝ THUYẾT HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG

VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ

hệ tương tác giữa hệ thống văn hoá với môi trường Mối quan hệ tương tác giữa các thành tố văn hoá hợp thành cấu trúc văn hoá và hệ thống văn hoá Cấu trúc thể hiện mối quan hệ hợp lý giữa các thành tố vốn chi phối và ràng buộc lẫn nhau Còn hệ thống thể hiện tính nhất quán giữa các thành tố Tuy nhiên, việc xác định các thành tố

cụ thể hợp thành các hệ thống văn hoá thường gặp khó khăn vì chúng luôn đan cài, hoà quyện vào nhau, tạo thành những phức hợp bao gồm khối lượng khổng lồ những tương tác giữa các thành tố gắn bó hữu cơ với nhau.

Tiếp thu, vận dụng các lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu văn hoá, chúng tôi

đề nghị phối hợp các lý thuyết hệ thống với lý luận về tính phức hợp và tư duy phức hợp để khảo sát các hệ thống văn hoá Chúng tôi cũng đề xuất xây dựng các tiêu chí

để xác định tính hệ thống Cuối cùng, dựa trên các lý thuyết hệ thống và các mô hình cấu trúc văn hoá do các học giả phương Tây và Việt Nam xây dựng, chúng tôi đề xuất một cách thức xây dựng mô hình cấu trúc văn hoá phù hợp với bối cảnh đổi mới, hội nhập của Việt Nam và bối cảnh biến đổi toàn cầu của thế giới hôm nay.

Từ khóa: lý thuyết hệ thống; lý luận về tính phức hợp; cách tiếp cận hệ thống;

hệ thống văn hoá; cấu trúc văn hoá.

ABSTRACT

Systemic theories and directions of application in cultural research

Systemic theories formed in the West in the twentieth century have provided an approach that suits most cultural practices, pointing out that the agents making culture work and change are the interaction between cultural components and the interaction between the cultural system and the environment The interaction between cultural components constitutes cultural structure and cultural system The structure demonstrates the rational relationship between the components that govern and bind each other The system demonstrates consistency among components However, the identification of specific components that constitute cultural systems is often difficult because they are always intertwined, forming complexes consisting of enormous interactions between components bonding together.

* * Nhà riêng: 392/8/110 Cao Thắng, P.12, Q.10, TP Hồ Chí Minh Cơ quan: Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 10-12 Đinh Tiên

Hoàng, quận 1, TP.HCM Email: lytunghieu@gmail.com Điện thoại: 0909.530.241.

Trang 2

To acquire and apply systemic theories in cultural research, the author proposes to combine systemic theories with the theory of complexity and complex thought to examine cultural systems The author also proposes to develop criteria for systemic identification Finally, based on the systemic theories and models of cultural structure developed by Western and Vietnamese scholars, the author proposes a way

of constructing models of cultural structures that are relevant to the context of innovation, integration of Vietnam and the changing global context of the world today.

Keywords: systemic theory; theory of complexity; systemic approach; cultural

system; cultural structure.

-1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiên nhiên bao quanh cuộc sống của con người thường tự lập thành hệ thống.Điều đó không khó nhận biết, nên các lý thuyết về tính hệ thống của giới tự nhiên đãhình thành rất sớm trong lịch sử khoa học, mà tiên phong là các ngành thiên văn học,vật lý học và sinh học Nhưng đối với văn hoá là sản phẩm của con người thì tình hìnhkhác hẳn Trong lãnh vực nghiên cứu văn hoá, các lý thuyết hệ thống được khai sinhhoặc được vận dụng tương đối muộn Vào cuối thế kỷ XIX, khi khái niệm “culture”(văn hoá) đã trở thành thuật ngữ khoa học ở phương Tây và là một khái niệm trungtâm trong dân tộc học và nhân học, vẫn chưa có nhà khoa học nào đề cập đến tính hệthống của “culture” và định nghĩa về “culture” như một hệ thống hay cấu trúc Đầu thế

kỷ XX, các lý thuyết hệ thống (systemic theory) liên quan đến văn hoá mới ra đời, bắtđầu từ các công trình nghiên cứu của nhiều học giả phương Tây như Ferdinand deSaussure, Claude Lévi-Strauss, Bronisław Kasper Malinowski, Alfred ReginaldRadcliffe-Brown, Leslie Alvin White, Karl Ludwig von Bertalanffy, Edgar Morin…

Từ sự phát triển và sự vận dụng các lý thuyết hệ thống, đã hình thành cách tiếp cận hệthống (systemic approach) trong nghiên cứu văn hoá

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá hôm nay, người nghiên cứu văn hoáViệt Nam không thể quay lưng với các lý thuyết khoa học mà giá trị đã được thừanhận trong nghiên cứu văn hoá Trong bài này, vận dụng phương pháp phân tích - tổnghợp tư liệu và phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ tóm lược nội dung kèm theo nhậnđịnh về giá trị đóng góp của các lý thuyết hệ thống, để từ đó chọn lọc, đúc kết nhữngluận điểm phù hợp, có thể vận dụng vào việc nghiên cứu văn hoá và văn hoá ViệtNam

2 GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC LÝ THUYẾT HỆ THỐNG

2.1 Ferdinand de Saussure với “hệ thống tín hiệu”

Ferdinand de Saussure (1857-1913) là nhà ngôn ngữ học kiệt xuất người Thuỵ

Sĩ Khi nghiên cứu các ngôn ngữ, ông nhận thấy mỗi ngôn ngữ đều tự lập thành một hệthống các tín hiệu khép kín (tiếng Pháp: un système clos de signes, tiếng Anh: a closedsystem of signs) Mỗi tín hiệu ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt: khái niệm

và hình ảnh âm thanh Khái niệm tức “cái được biểu đạt” (tiếng Pháp: signifié, tiếng

Trang 3

Anh: signified) là phần nội dung trừu tượng, chỉ có thể nhận biết bằng tư duy, tâm lý.Còn hình ảnh âm thanh tức “cái biểu đạt” (tiếng Pháp: signifiant, tiếng Anh: signifier)thì có tính vật chất, có thể nhận biết bằng giác quan của con người Cả “cái biểu đạt”

và “cái được biểu đạt” của tín hiệu ngôn ngữ đều không tồn tại riêng rẽ mà tồn tại vàhành chức trong hệ thống của chúng Trong một đơn vị ngôn ngữ, “cái biểu đạt” và

“cái được biểu đạt” được thể hiện đồng thời Nhiều đơn vị như thế phối hợp với nhautạo thành một hệ thống Và nhiều hệ thống như vậy phối hợp với nhau tạo thành một

hệ thống lớn hơn Mỗi ngôn ngữ đều là một hệ thống, bao gồm nhiều tiểu hệ thốngtheo cấp độ từ thấp lên cao: âm vị - hình vị, từ, ngữ cố định - câu - văn bản, ngôn bản.Mỗi cấp độ là một tiểu hệ thống: hệ thống âm vị, hệ thống từ vựng, hệ thống ngữpháp… Mỗi đơn vị, yếu tố trong một tiểu hệ thống vừa có quan hệ với các yếu tố kháctrong cùng tiểu hệ thống với nó (chẳng hạn, liên kết và đối lập với các đơn vị ngang:chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trong một câu…, liên kết và đối lập với các đơn vị dọc: từ ngữđồng nghĩa, trái nghĩa…), vừa có quan hệ với các yếu tố ở tiểu hệ thống khác Chỉtrong những hệ thống ấy, hình thức và nội dung của “cái biểu đạt” và “cái được biểuđạt” mới được xác định cụ thể và có thể tri nhận được Do đó, mỗi tín hiệu được địnhnghĩa trong quan hệ với những cái khác, chứ không phải theo đặc điểm của nó

Như vậy, ngôn ngữ chính là kết quả phối hợp của những dấu hiệu vật chất đượcquy ước, hoàn toàn thoát khỏi hình ảnh thực của hiện tượng, nhằm truyền đi một thông

báo nào đó có nội dung khác với bản thân dấu hiệu Do đó mà trong công trình Cours

de linguistique générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, 1916), Saussure đã đưa

ra định nghĩa: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu biểu đạt các ý tưởng” Tính hệthống ấy giúp cho ngôn ngữ tồn tại như một chỉnh thể, và người ta có thể nghiên cứucác hệ thống ngôn ngữ một cách độc lập, tách khỏi môi trường văn hoá của ngôn ngữ

ấy Từ nhận thức đó, Saussure khẳng định: “Đối tượng duy nhất và chân thực của ngônngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó” Và ông yêu cầu “gạt rangoài ngôn ngữ tất cả những gì xa lạ đối với cơ chế của nó, đối với hệ thống của nó,tóm lại là tất cả những gì mà người ta gọi là ‘ngôn ngữ học ngoại tại’ ” [Saussure,Ferdinand de, 1973]

Với những phát hiện và những luận điểm ấy, Ferdinand de Saussure được xem

là người có công đem lại cho ngôn ngữ học tư cách một khoa học độc lập, và được đờisau gọi là “cha đẻ của cấu trúc luận” (tiếng Pháp: père du structuralisme) mặc dù ôngluôn nói về “hệ thống” chứ không phải là “cấu trúc” “Saussure là một nhà ngôn ngữ

Thuỵ Sĩ mà tác phẩm Giáo trình ngôn ngữ học đại cương được xuất bản sau khi ông

qua đời (trong đó các chú giải của ông được các sinh viên tái dựng) đã đặt nền móngcho ngôn ngữ học cấu trúc hoặc ký hiệu học, ‘khoa học’ về các tín hiệu” [Barker,Chris, 2004: 180]1

Ảnh hưởng của Saussure về sau đã lan sang cả nhân học và văn hoá học TheoChris Barker [2004: 180], “Saussure có ảnh hưởng gián tiếp đối với văn hoá học thông

qua công trình của những nhà lý luận chịu ảnh hưởng của ông Có lẽ cuốn Mythologies (Thần thoại) vào năm 1972 của Roland Barthes thể hiện rõ nhất sự liên quan của ký

hiệu học với văn hoá học và báo trước sự quan tâm của lĩnh vực này đối với ngôn ngữ,

1 Nguyên văn: “Saussure was a Swiss linguist whose posthumously published book Course inGeneral Linguistics (reconstructed from his notes by students) laid the basis for whatbecame structural linguistics or semiotics, the ‘science’ of signs” [Barker, Chris, 2004: 180]

Trang 4

tín hiệu và văn hoá thông qua nhịp cầu tư tưởng của Saussure Nguyên lý trung tâmcủa lập luận của Saussure là ngôn ngữ được hiểu như là một hệ thống tín hiệu được tạothành bởi sự liên kết các từ mà giá trị không xác thực (tức là, nghĩa của từ chỉ do quan

hệ mà có)”1 Theo Tim Ingold [2006: 23], “công trình của ông về cấu trúc của ngônngữ đã truyền cảm hứng cho một trong những dự án nhân học tuyệt vời nhất trong thế

kỷ này là cấu trúc luận của Claude Lévi-Strauss”

2.2 Claude Lévi-Strauss với “cấu trúc luận”

Claude Lévi-Strauss (1908-2009) là nhà nhân học xuất sắc người Pháp, người

đã sưu tầm, phân tích và khái quát các tư liệu nhân học theo một phương pháp luận

mới gắn liền với tên tuổi của mình: cấu trúc luận (structuralism) Công trình Les structures élémentaires de la parenté (Các cấu trúc sơ đẳng của thân tộc) công bố

năm 1949 của ông được đánh giá như một cuộc cách mạng về nhân học Tiếp tục sửdụng phương pháp luận ấy, ông đã viết nhiều công trình vừa có giá trị khoa học vừa có

giá trị văn chương, như Race et histoire (Chủng tộc và Lịch sử, 1952), Tristes tropiques (Nhiệt đới buồn, 1955, 1977), Anthropologie Structurale (Nhân học cấu trúc, 1958, bản tiếng Anh Structural anthropology, 1963), Totemism (Vật tổ giáo, 1963), Le triangle culinaire (Tam giác bếp núc, 1965), The savage mind (Tinh thần hoang dã, 1966), The raw and the cooked (Sống và chín, 1969), Myth and meaning (Huyền thoại và ý nghĩa, 1978) Đối với ông, các nền văn minh và văn hoá đều có

những giá trị lớn, ngang nhau, nói lên tính thống nhất của loài người, trong khi mỗi tộcngười vẫn mang sâu đậm những bản sắc của mình

Chịu ảnh hưởng của các nhà khoa học tiền bối như Émile Durkheim 1917), Marcel Mauss (1872-1950), Ferdinand de Saussure (1857-1913), RomanJakobson (1896-1982), Claude Lévi-Strauss đã xây dựng một lý thuyết mới về cấu trúc

(1858-để nghiên cứu văn hoá của các tộc người Theo Đinh Hồng Phúc [2013], “vào nhữngnăm 1940, Lévi-Strauss đề xuất ý kiến rằng lĩnh vực nghiên cứu riêng của các nhànhân loại học không phải ở việc tìm hiểu xem các cộng đồng dân tộc đã đưa thế giớicủa họ vào phạm trù ra sao, mà ở việc xét xem những khuôn mẫu nền tảng của tư duynhân loại tạo ra những phạm trù về thế giới như thế nào” Từ đó, Claude Lévi-Strauss

đã dành cả quảng đời còn lại để nghiên cứu xuyên văn hoá về quan hệ họ hàng, cáchuyền thoại và tôn giáo để hiểu cho được “cái cấu trúc nền tảng của nhận thức conngười”, và “những quá trình logic làm cơ sở cho việc cấu trúc toàn bộ tư duy conngười vận hành trong những ngữ cảnh văn hoá khác nhau” Cuối cùng, ông đưa ra kháiniệm “các cặp đối lập nhị phân” như là khái niệm nền tảng trong quá trình ông xâydựng lý thuyết về cấu trúc Theo lý thuyết này, nói đến hệ thống là nói đến cấu trúc,đến nguyên lý tổ chức hàm ẩn dưới bề mặt của các hiện tượng Hệ thống thể hiện tínhnhất quán giữa các yếu tố Còn cấu trúc thể hiện mối quan hệ hợp lý giữa các yếu tốvốn chi phối và ràng buộc, tương hỗ lẫn nhau

1 Nguyên văn: “Saussure’s influence on cultural studies comes indirectly through the work ofother thinkers who were influenced by him It was perhaps Roland Barthes’ 1972 bookMythologies that most clearly demonstrated the relevance of semiotics to cultural studiesand heralded the field’s interest in language, signs and culture mediated through Saussure’sthinking The central tenet of Saussure’s argument is that language is to be understood as asign system constituted by interrelated terms without positive values (that is, meaning isrelational)” [Barker, Chris, 2004: 180]

Trang 5

Theo Trần Ngọc Khánh [2011], “Claude LÉVI-STRAUSS (1908-2009), nhànhân học người Pháp, người được James Frazer xưng tụng là ‘cha đẻ ngành nhân họchiện đại’, đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá: Mọi văn hoá đều có thể xem là toànthể các hệ thống biểu trưng được đặt lên hàng đầu gồm ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân,quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo Tất cả các hệ thống này đều nhằm diễn

tả một số phương diện hiện thực của tự nhiên và xã hội, đặc biệt là các quan hệ mà hailoại hiện thực này trao đổi lẫn nhau và các hệ thống biểu trưng của từng loại trao đổivới nhau [1950] Lévi-Strauss chịu ảnh hưởng của nhân học văn hoá Mỹ về tính toànthể của văn hoá, đặc biệt là của Boas, Kroeber và Benedict do ông ở Mỹ một thời gian

khá lâu (1941-1947) Trong công trình Tristes tropiques [Nhiệt đới buồn, 1955], ông mượn của Ruth Benedict bốn ý tưởng chủ yếu: một, các nền văn hoá khác biệt do một

mô thức nào đó; hai, các kiểu văn hoá khả dĩ tồn tại với số lượng giới hạn; ba, nghiên

cứu các xã hội ‘nguyên thuỷ’ là phương pháp tốt nhất để xác định sự kết hợp giữa các

yếu tố văn hoá; bốn, sự kết hợp này có thể được nghiên cứu tự bản thân chúng, độc lập

với các cá thể trong nhóm và họ không có ý thức gì về sự kết hợp này Ngoài việcnghiên cứu các biến đổi văn hoá, Lévi-Strauss còn phân tích tính không thể biến đổicủa một nền văn hoá đặc thù mà ông coi là ‘vốn chung’ của nhân loại Tham vọng vềnhân học cấu trúc của Lévi-Strauss là nhận biết và tiếp thu các sự kiện bất biến, tức làcác ‘tư liệu’ văn hoá giữa các nền văn hoá luôn luôn giống nhau do tính thống nhất vềđời sống tâm lý của con người, tất nhiên là với số lượng có giới hạn Tổ chức đời sống

xã hội phụ thuộc vào một nền văn hoá và đòi hỏi thực hiện các quy ước xã hội Trongcác điều kiện chung về chức năng của đời sống xã hội, có thể tìm gặp các quy ước phổbiến vốn là các nguyên tắc cần thiết của mọi đời sống xã hội Chẳng hạn, việc cấmloạn luân là cơ sở cần thiết cho các trao đổi của xã hội”

Sau Claude Lévi-Strauss, cấu trúc luận đã tiếp tục phát triển, trở thành một môhình lý thuyết được các ngành xã hội học, nhân học, ngôn ngữ học, ngữ nghĩa học, vănhoá học vận dụng để nghiên cứu các yếu tố nền tảng cho tất cả những điều mà conngười suy nghĩ, cảm thụ, nhận định Theo Alison Assiter [2014], cấu trúc luận hiện cóbốn ý tưởng rất phổ biến với các hình thức khác nhau: (1) một cấu trúc xác định vị trícủa từng thành phần trong một tổng thể; (2) mọi hệ thống đều có cấu trúc; (3) quy luậtcấu trúc đối phó với sự đồng tồn tại chứ không phải là thay đổi; (4) cấu trúc là “nhữngđiều thực sự” nằm bên dưới bề mặt hay vẻ bên ngoài của ý nghĩa

2.3 Bronisław Kasper Malinowski với “chức năng luận tâm lý học”

Bên cạnh cấu trúc luận, lý thuyết hệ thống còn được phát triển với những thànhtựu của chức năng luận (functionalism), một lý thuyết phổ biến trong nghiên cứu vănhoá, gắn với tên tuổi của Bronislaw Kasper Malinowski và Arthur Reginald Radcliffe-Brown Hai nhà khoa học này đề xuất nghiên cứu theo hướng chức năng luận với cácchiều kích khác nhau, từ đó hình thành hai nhánh chính: chức năng luận tâm lý học(psychological functionalism) với đại biểu là Bronislaw Kasper Malinowski; và chứcnăng luận cấu trúc (structural functionalism) với đại biểu là Alfred Reginald Radcliffe-Brown

Bronisław Kasper Malinowski (1884-1942) là nhà nhân học Anh gốc Ba Lan,thường được xem là một trong những nhà nhân học quan trọng nhất trong thế kỷ XX.Ông là người đã mở đầu trường phái chức năng luận trong nhân học xã hội, với mộtluận điểm then chốt: Văn hoá thực hiện chức năng để đáp ứng các nhu cầu của các cá

Trang 6

nhân hơn là của toàn thể xã hội Ông lập luận rằng khi các nhu cầu của các cá nhântrong xã hội được đáp ứng thì các nhu cầu của xã hội cũng được đáp ứng Đối vớiMalinowski, các cảm xúc của người dân và các động cơ của họ là những kiến thứcquan trọng để hiểu được cách xã hội của họ vận hành Hay nói cách khác, thực tiễn xãhội có thể được giải thích trực tiếp bởi khả năng của họ để thoả mãn các nhu cầu sinhhọc cơ bản.

Theo C Wright Mills [2006: 35]: “Malinowski xem tất cả các thể chế của một

xã hội như là có liên quan lẫn nhau về nội tại, và ông nhấn mạnh ý là mọi hiện tượng

xã hội hoặc văn hoá phải được nghiên cứu trong toàn bộ văn cảnh của nó Ông cũngcho rằng các nhu cầu bẩm sinh của con người là động lực trong sự phát triển các thểchế xã hội”

Theo Trần Ngọc Khánh [2011], “Bronislaw MALINOWSKI (1884-1942), nhànhân học Anh gốc Ba Lan, mang quốc tịch Áo, là người đưa ra thuyết chức năng tậptrung ở hiện tại, để chống lại thuyết tiến hoá hướng đến tương lai và thuyết truyền báhướng về quá khứ Theo ông, chỉ có quãng thời gian ở giữa là nơi mà nhà nhân học cóthể nghiên cứu các xã hội loài người một cách khách quan; cần quan sát trực tiếp cácnền văn hoá trong tình trạng hiện tại, không cần truy ngược về nguồn gốc vì hão huyền

và không có chứng cứ khoa học; mỗi nền văn hoá hình thành một hệ thống cân bằngtheo chức năng, trong đó các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, nên cần loại trừ việc nghiêncứu riêng rẽ; văn hoá biến đổi chủ yếu đến từ bên ngoài, do sự giao tiếp văn hoá Để

giải thích các nền văn hoá có chức năng khác nhau, trong công trình Une théorie scientifique de la culture [Lý thuyết khoa học về văn hoá, 1944], Malinowski xây dựng

học thuyết về các ‘nhu cầu’ gây nhiều tranh cãi Các yếu tố cấu thành một nền văn hoá

có chức năng thoả mãn các nhu cầu chủ yếu của con người Đối tượng của ngành nhânhọc không phải là nghiên cứu các đặc trưng văn hoá vô nghĩa, cũng không phải các sựkiện văn hoá riêng rẽ, mà là các thiết chế (kinh tế, chính trị, pháp luật, giáo dục ) vàquan hệ giữa các thiết chế trong tương quan của một hệ thống văn hoá Hạn chế củahọc thuyết chức năng là ít có khả năng giải quyết các mâu thuẫn nội tại, các rối loạnchức năng và các hiện tượng bệnh lý của văn hoá Tuy vậy, công lao của Malinowski

là chứng minh không thể nghiên cứu văn hoá từ bên ngoài và quá lâu về thời gian.Ông không bằng lòng với phương pháp quan sát trực tiếp tại chỗ, mà đã hệ thống hoáviệc sử dụng phương pháp dân tộc học miêu tả, thường gọi là phương pháp ‘quan sáttham dự’ ”

2.4 Alfred Reginald Radcliffe-Brown với “chức năng luận cấu trúc”

Alfred Reginald Radcliffe-Brown (1881-1955) là nhà nhân học người Anh,được xem là người đã phát triển lý thuyết về chức năng luận cấu trúc (structuralfunctionalism) và sự đồng thích nghi (coadaptation) Radcliffe-Brown đã quyết liệtphản đối luận điểm của Malinowski: “Malinowski đã giải thích rằng ông là nhà phátminh ra chức năng luận, lý thuyết mà ông đã đặt tên cho nó Định nghĩa của ông về nó

rõ ràng, đó là lý thuyết hay học thuyết cho rằng mọi đặc trưng văn hoá của bất kỳngười nào trong quá khứ hoặc hiện tại đều phải được giải thích bằng cách tham khảobảy nhu cầu sinh học của con người cá nhân Tôi không thể nhân danh các tác giả khácđược dán nhãn nhà chức năng luận, mặc dù tôi rất nghi ngờ liệu Redfield hoặc Linton

có chấp nhận học thuyết này hay không Đối với bản thân tôi thì tôi từ chối nó hoàntoàn, xem nó như cái gì vô dụng và tồi tệ Là một đối thủ kiên định đối với chức năng

Trang 7

luận của Malinowski, tôi có thể được gọi lă một nhă phản chức năng luận functionalist)” [Radcliffe-Brown, A.R., 1949: 320-321].

(anti-Radcliffe-Brown tuyín bố rằng câc đơn vị cơ bản của nhđn học lă câc quâ trìnhcủa đời sống con người vă sự tương tâc Bởi vì đời sống con người vă sự tương tâc lănhững dòng chảy liín tục, nín câi cần phải giải thích lă sự ổn định xuất hiện trín dòngchảy ấy Ông níu cđu hỏi, tại sao một số mô hình thực tiễn xê hội đê tự lặp lại vă thậmchí dường như đê trở nín bất động? Ông lập luận rằng điều năy ít nhất sẽ đòi hỏi thựctiễn xê hội ấy không được xung đột với câc thực tiễn khâc quâ nhiều; vă trong một sốtrường hợp, có thể lă câc thực tiễn ấy phât triển để hỗ trợ lẫn nhau, một khâi niệm mẵng gọi lă “coadaptation” (đồng thích nghi), bắt nguồn từ thuật ngữ sinh học Vậy,phđn tích chức năng (functional analysis) chỉ lă nỗ lực để giải thích sự ổn định bằngcâch khâm phâ lăm thế năo câc thực tiễn phù hợp với nhau để duy trì sự ổn định đó;

“chức năng” của một thực tiễn năo đó chỉ lă vai trò của nó trong việc duy trì cấu trúc

xê hội tổng thể, ngõ hầu đạt đến một cấu trúc xê hội ổn định [Radcliffe-Brown A.R.,1957]

Chính vì lập luận trín đđy mă đời sau đê xem Radcliffe-Brown lă người khaisinh ra “chức năng luận cấu trúc”, vì giới nghiín cứu tìm thấy những nĩt tương đồngcủa nó với “chức năng luận tđm lý học” của Malinowski mă Radcliffe-Brown phảnđối Những điểm tương đồng ấy hợp thănh lý thuyết “chức năng luận” trong nghiíncứu văn hoâ Nó giúp người nghiín cứu giải thích mối quan hệ tương tâc giữa câcthănh tố văn hoâ, giải thích vai trò của câc thănh tố văn hoâ cũng như quan hệ tươngtâc của chúng trong việc đâp ứng câc nhu cầu xê hội vă duy trì sự ổn định của cấu trúc

xê hội

Theo Robert Layton [2007: 51-52, 213], giữa Malinowski với Radcliffe-Brown

có sự khâc nhau về quan niệm đối với khâi niệm “chức năng”: “Câc lý thuyết gia Chứcnăng dùng ba định nghĩa khâc nhau về khâi niệm chức năng: 1 Định nghĩa thứ nhấthiểu “chức năng” theo một nghĩa có vẻ toân học Mọi tập tục đếu có tương quan với tất

cả những tập tục khâc trong cộng đồng, vì vậy mỗi tập tục quy định tình trạng củanhững tập tục kia 2 Định nghĩa thứ hai, đặc biệt do Malinowski sử dụng, được rút ra

từ sinh lý học Chức năng của câc tập tục lă để thoả mên những nhu cầu sinh học chủyếu của câ nhđn thông qua phương tiện văn hoâ 3 Định nghĩa thứ ba do Radcliffe-Brown lấy từ những lý thuyết của Durkheim Chức năng của mỗi tập tục lă vai trò mă

nó nắm giữ trong việc duy trì sự toăn vẹn của hệ thống xê hội”

Nhưng giữa “chức năng luận tđm lý học” với “chức năng luận cấu trúc” vẫn cónhững điểm tương đồng Theo Bùi Thế Cường [2006: 74-85], tư tưởng cơ bản củachức năng luận có thể tóm lược như sau: “Bất kỳ một hệ thống ổn định năo cũng baogồm những bộ phận khâc nhau nhưng liín hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hănh đểtạo nín câi toăn bộ, tạo nín sự ổn định hệ thống Có thể xem lă hiểu được một bộ phậntrong hệ thống khi hiểu được câi câch mă nó đóng góp văo sự vận hănh của hệ thống

Sự đóng góp văo việc vận hănh ổn định của hệ thống được gọi lă chức năng Câc bộphận có tầm quan trọng chức năng khâc nhau đối với hệ thống” Nói câch khâc, khâiniệm “chức năng” vừa biểu thị vai trò mă yếu tố văn hoâ cụ thể năo đó thực hiện trongmối quan hệ với chỉnh thể, vừa diễn đạt tính phụ thuộc giữa câc thănh tố của văn hoâ.Nghiín cứu chức năng của một thiết chế, một thănh tố văn hoâ có nghĩa lă tìm kiếmvai trò của nó trong tương quan với những thiết chế, những thănh tố văn hoâ khâc

Trang 8

Chức năng của một thiết chế, một thành tố văn hoá là ở sự đóng góp của nó đối với sựliên tục và sống còn của toàn hệ thống.

Theo Nguyễn Văn Tiệp [2008: 25], quan niệm phổ quát của chức năng luận làmỗi thành tố văn hoá đều có một chức năng nhất định trong hệ thống văn hoá Như

phát biểu của Bronislaw Malinowski: “Bất kỳ văn hoá nào trong tiến trình phát triển

của nó đều tạo ra một giá trị ổn định, trong đó mỗi bộ phận của chỉnh thể đều thực hiệnchức năng của nó”

Tuy nhiên, bên cạnh sự đóng góp vào lý thuyết hệ thống, các nhà chức năngluận cũng có phần cực đoan khi hoàn toàn bác bỏ cách tiếp cận lịch đại (diachronicapproach) trong nghiên cứu văn hoá Theo A.A Belik [2000: 104], đối với các nhàchức năng luận, những tập tục hiện có của các xã hội đều có chức năng nhất định chứkhông đơn giản chỉ là tàn dư của thời kỳ trước đó Trên thực tế, các nhà chức năngluận không hứng thú với những biến đổi lịch sử của văn hoá Cái làm họ quan tâm làvăn hoá hoạt động tại đây và hiện nay như thế nào, nó giải quyết các nhiệm vụ gì, làmthế nào thì tái tạo được Do đó, như nhận định của Robert Layton [2007: 213]: “Nhữngngười đề xướng học thuyết chức năng bác bỏ việc nghiên cứu lịch sử, xem lịch sửkhông liên quan đến sự vận hành chức năng hiện tại của một hệ thống xã hội, và nhưthế họ coi nhẹ những suy đoán về tiến hoá xã hội cũng như việc tách rời các tập tục rakhỏi bối cảnh xã hội của chúng như các nhà lý thuyết Khuếch tán đã làm”

2.5 Leslie Alvin White với “hệ thống văn hoá”

Bất kể những tranh luận kéo dài, lý thuyết hệ thống vẫn tiếp tục phát triển và từgiữa thế kỷ XX đã được các nhà nhân học xem là một cách tiếp cận tất yếu trongnghiên cứu văn hoá Tiêu biểu là quan điểm của nhà nhân học Mỹ Leslie Alvin White

(1900-1975) Trong các công trình The Evolution of Culture: The Development of Civilization to the Fall of Rome (Sự tiến hoá của văn hoá: Sự phát triển của văn minh dẫn đến sự sụp đổ của La Mã, 1959) và The Concept of Cultural Systems: A Key to Understanding Tribes and Nations (Khái niệm về các hệ thống văn hoá: Chìa khoá để nhận thức về các bộ lạc và các quốc gia, 1975), Leslie Alvin White đã xác định văn

hoá học như một lãnh vực khoa học nghiên cứu văn hoá với tư cách là những hệ thốngvăn hoá Theo ông, văn hoá là một hệ thống bao gồm ba thành tố có quan hệ tương tácvới nhau: thành tố công nghệ, thành tố xã hội, thành tố tư tưởng Trong đó, thành tốcông nghệ đóng vai trò chính hoặc là yếu tố quyết định chính chịu trách nhiệm cho sựtiến hoá của văn hoá

Cách tiếp cận duy vật của Leslie Alvin White thể hiện rõ trong phát biểu: “Conngười là một loài động vật, và do đó nền văn hoá như một toàn thể, phụ thuộc vào cácphương tiện vật chất, cơ khí trong việc điều chỉnh môi trường tự nhiên” [White, LeslieAlvin, 1959]1

2.6 Karl Ludwig von Bertalanffy với “lý thuyết hệ thống chung”

Ngoài các nhà nhân học, việc phát triển và vận dụng lý thuyết hệ thống trongnghiên cứu văn hoá còn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác Tiêu biểu

1 Nguyên văn: “Man as an animal species, and consequently culture as a whole, is dependentupon the material, mechanical means of adjustment to the natural environment” [White,Leslie Alvin, 1959]

Trang 9

là Karl Ludwig von Bertalanffy (1901-1972), nhà sinh học người Áo, cùng thời vớiLeslie Alvin White Bertalanffy được biết đến như một trong những người sáng lập “lýthuyết hệ thống chung” (General Systems Theory) Cơ sở của lý thuyết này là mốiquan hệ qua lại giữa các yếu tố gắn kết với nhau tạo thành toàn thể Trong các công

trình An Outline of General System Theory (Phác thảo lý thuyết hệ thống chung, 1950), General system theory – A new approach to unity of science (Symposium) (Lý thuyết hệ thống chung – một cách tiếp cận mới để thống nhất khoa học (Tiểu luận), 1951), General System Theory (Lý thuyết hệ thống chung, 1969), ông giải thích lý

thuyết hệ thống chung như một lý thuyết liên ngành, nó mô tả các hệ thống với cácthành tố có quan hệ tương tác với nhau, có thể áp dụng cho sinh học, điều khiển họcđiện tử và các lãnh vực khác Thay thế cho các mô hình tổ chức theo tập quán, lýthuyết hệ thống chung cố gắng cung cấp các lựa chọn khác, nó nhấn mạnh tính chỉnhthể (holism) để khắc phục giản hoá luận (reductionism), và tính tổ chức (organism) đểkhắc phục cơ giới luận (mechanism)

Trong khoa học xã hội, Bertalanffy tin rằng các khái niệm hệ thống chung đãđược áp dụng, chẳng hạn các lý thuyết được đưa vào lãnh vực xã hội học từ cách tiếpcận hệ thống hiện đại, bao gồm “khái niệm về hệ thống chung, thông tin phản hồi,thông tin, truyền thông, v.v.” [Bertalanffy, L von, 1969: 196] Nhưng Bertalanffycũng nhận thấy rằng có những khó khăn khi áp dụng một lý thuyết chung mới mẻ chokhoa học xã hội, do sự giao thoa phức tạp giữa các khoa học tự nhiên và các hệ thống

xã hội của con người Mặc dù vậy, ngày nay lý thuyết hệ thống chung của Bertalanffyvẫn được xem là cầu nối cho việc nghiên cứu liên ngành về các hệ thống trong cáckhoa học xã hội

2.7 Edgar Morin với “tính phức hợp” và “tư duy phức hợp”

Edgar Morin (sinh năm 1921) là nhà triết học và xã hội học người Pháp, đượcquốc tế công nhận vì những công trình nghiên cứu về tính phức hợp (tiếng Pháp:complexité, tiếng Anh: complexity), tư duy phức hợp (tiếng Pháp: pensée complexe,tiếng Anh: complex thought), và vì những đóng góp học thuật của ông cho nhiều lĩnhvực đa dạng như nghiên cứu truyền thông, chính trị, xã hội học, nhân học hình ảnh,sinh thái học, giáo dục và sinh học hệ thống Công trình đỉnh cao về cách tiếp cận tính

phức hợp của ông là bộ sách La Méthode (Phương pháp) gồm 6 cuốn: La Nature de la nature (Bản chất của tự nhiên, 1977), La Vie de la vie (Đời sống của sự sống, 1980), La Connaissance de la connaissance (Tri thức về nhận thức, 1986), Les Idées (Tư tưởng, 1991), L’Humanité de l’humanité (Nhân tính của nhân loại, 2001), L’Éthique complexe (Đạo đức phức hợp, 2004).

Edgar Morin cũng là người nắm vững lý thuyết hệ thống Trong bài giới thiệu

“Một phương thức tư duy mới” đăng trên Tạp chí Người đưa tin UNESCO (1996), ông

đã nhấn mạnh một số định luật quy định cách thức các hệ thống vận hành Theo đó,các thành tố của một hệ thống thường xuyên chế ước lẫn nhau, giới hạn lẫn nhau, vàcùng bị giới hạn bởi toàn hệ thống Tức là trong hệ thống, “các phần có thể có nhữngphẩm chất bị cấu trúc toàn phần ức chế” Ngược lại, vì cùng hoạt động trong một hệthống, các thành tố cũng thường xuyên phối hợp, bổ sung cho nhau để từ đó tạo ra chotoàn hệ thống một giá trị mới, khác với tổng giá trị của các thành tố ấy Tức là, “toàn

bộ một hệ thống vẫn hơn tổng số các phần” [Morin, Edgar, 1996: 12]

Trang 10

Tuy nhiên, là một triết gia, mối quan tâm của Edgar Morin là việc nhận biết conngười, nên ông đã lấy việc đó làm mục tiêu trung tâm cho lý luận về tư duy phức hợp.

Trong công trình Introduction à la pensée complexe (Nhập môn tư duy phức hợp,

2005), Edgar Morin cho biết, vào cuối thập niên 1960, từ việc tìm hiểu lý thuyết thôngtin, điều khiển học, lý thuyết hệ thống, khái niệm “tự tổ chức” đã xuất hiện trong suynghĩ của ông Từ đó, “khái niệm phức hợp đã được hình thành, lớn lên, phát triển vàđâm chổi nảy lộc, nó đã chuyển hẳn từ vùng ngoài lề vào trung tâm những suy tư củatôi, nó đã trở thành một khái niệm vĩ mô, một vị trí tham vấn then chốt, từ nay sẽ luôn

là mấu chốt của vấn đề tưởng chừng như nan giải về mối quan hệ giữa cái kinhnghiệm, cái logic và cái duy lý” [Morin, Edgar, 2009: 5-6]

Theo Phạm Khiêm Ích, trong quan niệm của Edgar Morin, “tính phức hợp, hay cái phức hợp (la complexité, le complexus) được hiểu như là những gì liên kết lại với

nhau, đan dệt cùng nhau Tính phức hợp liên quan đến khối lượng khổng lồ những

tương tác giữa các bộ phận cấu thành dị biệt, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên ‘tấm dệt chung’ (tissue commun) không thể phân cách và quy giản được Bộ não người là một

siêu phức hợp, gồm hơn 10 tỷ tế bào Mọi hệ thống tự-tổ chức, kể cả những tổ chứcđơn giản nhất cũng đều được kết hợp bởi một số lượng rất lớn các đơn vị và tương táccủa chúng, lớn đến mức thách đố khả năng tính toán của chúng ta” Trong quan niệmcủa Edgar Morin, tính phức hợp không loại bỏ tính đơn giản hoá, và không đồng nhấtvới tính toàn vẹn “Tư duy phức hợp mong muốn đạt đến một tri thức đa chiều, chú

trọng liên kết tri thức, kết nối cái một với cái nhiều, thống nhất trong đa dạng (unitas

multiplex)” [Morin, Edgar, 2009: X-XI]

Sau khi ra đời, lý luận về tính phức hợp và tư duy phức hợp của Edgar Morin đãđược các nhà nghiên cứu văn hoá quan tâm Theo Phạm Đức Dương [2011]: “Thế giớiđang chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh hậu công nghiệp, từ tư duyphân tích sang tư duy phức hợp Sản phẩm của văn minh nông nghiệp là sản phẩm tựnhiên, làm cho con người gắn bó với tự nhiên, và có tư duy tổng hợp, nguyên sơ Sảnphẩm của văn minh công nghiệp là máy móc, tư duy cơ giới, phân tích, giúp loài ngườisáng tạo những cỗ máy thần kỳ Chủ nghĩa cấu trúc ra đời từ tư duy phân tích ấy, chiathế giới thành nhiều yếu tố, phối hợp với nhau thành một cỗ máy Tuy nhiên, conngười là một cỗ máy có thể tự điều chỉnh, tự sửa chữa, do đó không thể áp dụng cơ chếphân tích ấy để nghiên cứu con người Hoạt động thần kinh cao cấp khác hoạt động ýthức của con người Để hiểu đúng con người, cần nhìn nhận bằng tư duy phức hợp.Một người phụ nữ đẹp, có duyên là được nhìn từ tổng thể chứ không thể chứng minhbằng từng yếu tố”

Do đó, theo Phạm Đức Dương [2011], “nghiên cứu văn hoá học đòi hỏi quan

điểm tổng thể và toàn cục Khung lý thuyết là tiền đề được đưa ra về một vấn đề khoa học Khung phân tích có 2 quan hệ là không gian nói lên yếu tố tĩnh, và thời gian nói

lên yếu tố động Lịch đại là lát cắt động, bổ dọc thân cây; đồng đại là lát cắt tĩnh, cắt

ngang thân cây Nhưng theo tư duy phức hợp, có quan hệ giữa lịch đại và đồng đại.

Thí dụ trong tiếng Việt là quan hệ giữa phương ngữ và ngôn ngữ cơ sở Phương ngữbảo lưu tàn dư ngôn ngữ tốt hơn: tiếng Quảng Bình: klơn klu, klắng klẻo; tiếng Nghệ

An: trơn tru, trắng trẻo; tiếng Hà Nội: chơn chu, chắng chẻo Quan niệm nhị nguyên và tất định là hệ quả của tư duy phân tích Tư duy phức hợp không phân chia thế giới

Trang 11

thành hai yếu tố một cách cơ giới như vậy Ngôn ngữ nhìn từ tư duy phân tích là cótuyến tính, nhưng thực tế nó được cảm nhận theo cách phi tuyến tính”.

có thể giúp giải thích cách thức các hệ thống văn hoá vận hành và mối quan hệ tươngtác đa chiều phức tạp của các thành tố văn hoá

Trong thực tiễn, chính vì mối quan hệ tương tác đa chiều phức tạp của cácthành tố văn hoá mà văn hoá luôn luôn tồn tại như một phức hợp (complex) hoặc hệthống phức hợp (complex system) Do đó, sẽ hoàn toàn hợp lý khi khảo sát văn hoábằng cách vận dụng phối hợp các lý thuyết hệ thống với lý luận về tính phức hợp và tư

duy phức hợp Phối hợp các lý thuyết hệ thống với lý luận tư duy phức hợp, có thể khảo sát văn hoá như một phức hợp hoặc hệ thống phức hợp do nhiều bộ phận hoặc thành tố liên hệ chặt chẽ với nhau hợp thành.

Trong bài “Văn hoá, phát triển và văn hoá học” đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội, sau khi đối chiếu hai khuynh hướng đối lập nhau của hai nhà triết học, kinh tế học

Karl Marx (1818-1883) và Maximilian Karl Emil “Max” Weber (1864-1920) về vị trícủa văn hoá, Nguyễn Phúc [2001: 30-35] đã đưa ra nhận định: “Cho đến nay, ít racũng đã có một sự đồng ý rộng rãi giữa các nhà nghiên cứu của hai khuynh hướng đó

về hai điểm chính: Thứ nhất, văn hoá là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội và thứ hai, văn hoá bản thân nó là một tập hợp rộng lớn bao trùm lên nhiều (nếu không phải là tất cả) lĩnh vực đời sống xã hội Nói cách khác, phải xem xét văn hoá (culture) với tư cách hệ thống, đó là hệ thống phức hợp (système syncrétique), bao

gồm các cơ cấu (structures), các kỹ thuật, các thể chế, các chuẩn mực, các giá trị, các

hệ tư tưởng và các tín ngưỡng, huyền thoại…” Chúng tôi tán thành cách tiếp cận nàycủa Nguyễn Phúc như một kết quả của sự phối hợp cái nhìn hệ thống với cái nhìn phứchợp

Việc vận dụng phối hợp các lý thuyết hệ thống với lý luận về tính phức hợp và

tư duy phức hợp có thể giúp khắc phục các quan điểm cơ giới luận (mechanism) và nhịnguyên luận (dualism) trong nghiên cứu văn hoá Các quan điểm này tách rời lịch đạivới đồng đại, tách rời văn hoá dân gian và văn hoá bác học, đồng quy tất cả các hiệntượng văn hoá vào hai nguồn gốc khởi nguyên đối lập nhau, v.v., do đó không phù hợpvới thực tiễn văn hoá muôn hình vạn trạng Như một nhận định của Phạm Đức Dương

[2011]: “Quan niệm nhị nguyên và tất định là hệ quả của tư duy phân tích Tư duy

phức hợp không phân chia thế giới thành hai yếu tố một cách cơ giới như vậy”1

1 Lịch đại: tức cách tiếp cận lịch đại (diachronic approach), được ví như một lát cắt động, bổ

dọc một thân cây, làm hiện rõ quan hệ nguồn gốc, quan hệ nhân quả giữa các cấu trúc ở từng

Trang 12

3.2 Xây dựng tiêu chí xác định tính hệ thống

Sự phát triển của các lý thuyết hệ thống trong thế kỷ XX đã làm hình thànhcách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu văn hoá Và kể từ Leslie Alvin White, cáchtiếp cận hệ thống đã trở thành một thứ lăng kính bắt buộc phải dùng đối với nhữngngười nghiên cứu văn hoá, đặc biệt là đối với ngành văn hoá học (cultural studies,culturology) Điển hình là quan niệm của Mario Augusto Bunge, nhà triết học Canada

gốc Argentine (sinh năm 1919) Trong công trình Social Science under Debate: A Philosophical Perspective (Tranh luận trong khoa học xã hội: Cái nhìn triết học,

1998), ông đã xác định rằng văn hoá học là việc nghiên cứu các hệ thống văn hoá cụthể trên các mặt xã hội học, kinh tế, chính trị và lịch sử

Ở Nga, khi văn hoá học hình thành vào cuối thế kỷ XX, cách tiếp cận hệ thốngcũng đã lên ngôi, khắc phục những quan điểm sai lầm của lý luận Marxist TheoMikhail Epstein [2007]: “Khái niệm văn hoá trở thành khái niệm trung tâm đối vớinhiều nhà tư tưởng ở nước Nga thời hậu Stalin như một sự lựa chọn để thay thế kháiniệm xã hội nổi trội trong lý luận Marxist Khi xã hội bị phân ra thành những giai cấp

và những đảng phái, mỗi thế lực chiến đấu vì sức mạnh và uy quyền, văn hoá có tiềmlực để liên kết con người và giúp vượt qua những phân chia xã hội, quốc gia và lịch

sử Từ quan điểm văn hoá học, văn hoá có thể được xác định như một sự cộng cảm cótính biểu trưng: Một công trình nghệ thuật hoặc một triết thuyết mới nào được đưa vào

hệ thống văn hoá đều làm thay đổi nghĩa của tất cả các thành tố khác, và bằng conđường này, không chỉ quá khứ tác động đến hiện tại mà hiện tại còn có ảnh hưởng lớnđối với quá khứ Mô hình lịch sử với tư cách là một vectơ theo một hướng duy nhất(unidirectional vector) thống trị lâu dài trong trạng thái tinh thần Soviet, đã được thửthách bởi khái niệm văn hoá với tư cách là một thể liên tục đa chiều kích(multidimensional continuum), trên đó những thời đại không phải là những bước kếtiếp (successive steps) trong tiến trình của nhân loại mà là cùng tồn tại ngang bằng và

có ý nghĩa đối với nhau”

Gần đây, Tạp chí Quốc tế Văn hoá học, cơ quan đại diện cho mạng lưới trựctuyến của các học giả văn hoá học trên thế giới, cũng cho biết chỉ cho đăng những tiểuluận chấp nhận cách tiếp cận hệ thống và duy vật (systemic and materialist approach)đối với việc phân tích văn hoá, trong khi khuyến khích các lý thuyết khoa học và thửnghiệm Theo lời phi lộ của Tạp chí này: “Các nhà văn hoá học ở đây hiểu văn hoá

khúc đoạn Trong nghiên cứu văn hoá, cách tiếp cận lịch đại cho phép mô tả và giải thíchcác nguyên nhân, tiến trình văn hoá và truyền thống văn hoá của một nền văn hoá

Đồng đại: tức cách tiếp cận đồng đại (synchronic approach), được ví như những lát cắt tĩnh,

cắt ngang thân cây, làm lộ rõ cấu trúc của thân cây ở từng khúc đoạn Trong nghiên cứu vănhoá, cách tiếp cận đồng đại cho phép xem xét văn hoá như một hệ thống hình thành và hoạtđộng do quan hệ tương tác giữa các thành tố trong hệ thống và giữa hệ thống với môitrường

Nhị nguyên: tức nhị nguyên luận (dualism), một lý thuyết chia các sự vật và thế giới thành

hai phần riêng biệt, và quy tất cả các hiện tượng văn hoá vào hai nguồn gốc khởi nguyên đốilập nhau

Tất định: tức tất định luận (necessarianism), một lý thuyết cho rằng mọi sự trên đời đều là hệ

quả tất yếu của những nguyên nhân trước đó, và tất cả mọi thứ trong vũ trụ đều hoàn toànphụ thuộc vào luật nhân quả

Trang 13

không đơn giản như một tập hợp các ý tưởng kỳ quái, mà như các hệ thống xã hội cụthể bao gồm những con người sinh động có khả năng tư tưởng và gắn bó với các hoạtđộng văn hoá và xã hội đa dạng Họ nghiên cứu các hệ thống tín ngưỡng, các hoạtđộng văn hoá và các quan hệ xã hội trong các bối cảnh văn hoá, kinh tế, chính trị, xãhội học, nhân học, địa lý và lịch sử của chúng - ở các cấp độ phân tích địa phươnghoặc toàn cầu Mục đích của họ là thúc đẩy sự phân tích cặn kẽ hơn đối với các hệthống văn hoá bằng cách khuyến khích các học giả mở rộng nghiên cứu của họ sangnhững địa hạt mới mẻ và chưa được khám phá” [International Journal of Culturology,2011].

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, lý thuyết hệ thống và cách tiếp cận hệ thống có phải

là công cụ vạn năng để người nghiên cứu soi nhìn vào văn hoá? Theo chúng tôi, lý thuyết hệ thống và cách tiếp cận hệ thống chỉ có một giá trị sử dụng tương đối Bởi

một lẽ: thực tiễn văn hoá không phải luôn luôn là hệ thống, buộc người nghiên cứuphải nhất thiết áp dụng lý thuyết hệ thống và cách tiếp cận hệ thống mọi lúc mọi nơi.Xin hãy xem xét một thí dụ: một khu mỏ vàng mới mở ra ở miền Viễn Tây của Mỹhay của Úc vào giữa thế kỷ XIX, hay ở vùng núi Quảng Nam của Việt Nam vào đầuthế kỷ XXI Trên những vùng đất đó, các nhóm lưu dân đồng hương tập hợp nhau dướiquyền chỉ huy của những tay anh chị dữ dằn, chiếm cứ một góc núi rừng, đào đãi ngàyđêm, ra sức tranh đoạt của thiên nhiên và tranh đoạt của các nhóm đào đãi khác Xungquanh các lán trại dã chiến của các nhóm là một mạng lưới dịch vụ mau chóng hìnhthành, để thu mua vàng thành phẩm, cung ứng hậu cần, cung cấp thêm nhân lực Nhưvậy, trên vùng đất đó, một xã hội đã ra đời, và khi luật pháp chưa có mặt thì luật rừng

là công cụ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm.Câu hỏi đặt ra là cái hỗn hợp văn hoá mạnh được yếu thua của họ đã có tính hệ thống,

đã trở thành hệ thống hay chưa Rõ ràng là cho dù rất “rừng rú”, những lề thói của hỗnhợp cư dân ấy vẫn là văn hoá, nhưng là một tập hợp văn hoá rời rạc chưa thẩm thấuvào nhau, chưa dung hợp với nhau; mỗi người, mỗi nhóm vẫn giữ lấy và sử dụng cáiphần vốn văn hoá hình thành từ văn hoá quê hương và từ quá khứ học hành, mưu sinhcủa bản thân Để cho cái tập hợp văn hoá của họ trở thành hệ thống, cần phải có thờigian, luật lệ và nhiều thứ khác

Trong thực tiễn văn hoá, có không ít những thí dụ tương tự như vậy Điều đócho thấy rằng văn hoá của các cộng đồng người không phải bao giờ cũng tự lập thành

hệ thống mà đôi khi còn dừng lại ở dạng tập hợp nhiều bộ phận Và đó có thể là lý dokhiến nhiều nhà khoa học và nhà hoạt động văn hoá rất uyên bác không đề cập đếntính hệ thống của văn hoá, chứ không phải là do họ có hay không có cái nhìn hệ thống.Cái nhìn hệ thống là cái nhìn có hiệu năng chứ không phải vạn năng Phải tuỳ theothực tiễn văn hoá mà vận dụng nó chứ không nên lạm dụng, nhìn vào bất cứ nơi đâucũng thấy hiện lên hệ thống

Thật ra, để cho một tập hợp trở thành hệ thống, nó phải hội đủ một số điều kiện

Đó cũng chính là những tiêu chí cho phép chúng ta có thể nhận diện tính hệ thống của một tập hợp bất kỳ Theo chúng tôi, có bốn tiêu chí nhận diện sau đây:

- Quan hệ tương tác giữa các thành tố (interactive relations between components): Các thành tố trong hệ thống có quan hệ tương tác lẫn nhau, chứ không

tồn tại riêng lẻ Có hai quan hệ tương tác chủ yếu, được thực hiện đồng thời: quan hệtương sinh - phối hợp - bổ sung, và quan hệ tương khắc - kềm chế - loại trừ

Ngày đăng: 31/10/2023, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Assiter, Alison (2014), “Structuralism”, http://en.wikipedia.org, 06/10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structuralism
Tác giả: Assiter, Alison
Năm: 2014
2. Barker, Chris (2004), The Sage Dictionary of Cultural Studies (Từ điển Sage về văn hoá học), First published, SAGE Publications, London - Thousand Oaks - New Delhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Sage Dictionary of Cultural Studies
Tác giả: Chris Barker
Nhà XB: SAGE Publications
Năm: 2004
3. Belik, A.A. (2000), Văn hoá học - những lý thuyết nhân học văn hoá, Đỗ Lai Thuý &Hoàng Vinh & Huyền Giang dịch, Hà Nội: NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học - những lý thuyết nhân học văn hoá
Tác giả: Belik, A.A
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 2000
5. Bertalanffy, L. von (1951), “General system theory - A new approach to unity of science (Symposium)”, Human Biology, Dec. 1951, Vol. 23, pp. 303-361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: General system theory - A new approach to unity of science (Symposium)
Tác giả: L. von Bertalanffy
Nhà XB: Human Biology
Năm: 1951
6. Bertalanffy, L. von (1969), General System Theory, New York: George Braziller Sách, tạp chí
Tiêu đề: General System Theory
Tác giả: L. von Bertalanffy
Nhà XB: George Braziller
Năm: 1969
7. Bonnemaison, Joởl (2004), La gộographie culturelle, ộtabli par Maud Lasseur et Christel Thibault, Paris, C.T.H.S., 152 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: La gộographie culturelle
Tác giả: Joởl Bonnemaison
Nhà XB: C.T.H.S.
Năm: 2004
8. Bonnemaison, Joởl (2009), “Sự hồi sinh của một cỏch tiếp cận văn hố”, Nguyễn Thanh Tùng dịch, Nguyễn Văn Hiệu hiệu đính, từ nguyên bản tiếng Anh Culture and Space:Conceiving a New Cultural Geography, New York, 2005; www.vanhoahoc.edu.vn, 23/05/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography
Tác giả: Joøl Bonnemaison
Nhà XB: New York
Năm: 2005
11. Đặng Nghiêm Vạn (2010), Văn hoá Việt Nam đa tộc người, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam đa tộc người
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2010
12. Đặng Thị Tuyết (2015), “Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 4 (89)-2015, trang 97-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Thị Tuyết
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2015
13. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương, xuất bản lần đầu năm 1938, NXB Đồng Tháp tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
Năm: 1998
14. Đinh Hồng Phúc (2013), “Vài nét về Claude Lévi-Strauss và lý thuyết nhân loại học của ông”, http://triethoc.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về Claude Lévi-Strauss và lý thuyết nhân loại học của ông
Tác giả: Đinh Hồng Phúc
Năm: 2013
15. Epstein, Mikhail (2007), “Văn hoá học: culturology và cultural studies”, Nguyễn Văn Hiệu dịch từ nguyên tác tiếng Anh Transcultural Experiments: Russian and American Models of Creative Communication, New York: St. Martin’s Press, 1999, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 9-2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transcultural Experiments: Russian and American Models of Creative Communication
Tác giả: Epstein, Mikhail
Nhà XB: St. Martin’s Press
Năm: 1999
17. Ingold, Tim (2006), “Nhân học là triết lý về con người”, Một số vấn đế lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học, Vũ Thị Phương Anh & Phan Ngọc Chiến & Hoàng Trọng dịch, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trang 9-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học là triết lý về con người
Tác giả: Ingold, Tim
Nhà XB: Nhãn hàng NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2006
18. International Journal of Culturology (2011), www.culturology.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Culturology
Năm: 2011
19. Layton, Robert (2007), Nhập môn lý thuyết nhân học, Phan Ngọc Chiến dịch, Lương Văn Hy hiệu đính, từ nguyên tác tiếng Anh An introduction to the theory in anthropology, Pubished by the press syndicate of the University of Cambridge, 1997, 1998, 2000, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lý thuyết nhân học
Tác giả: Layton, Robert
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
20. Lévi-Strauss, Claude (1963), Structural Anthropology, trans. Claire Jacobson and Brooke Grundfest Schoepf, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structural Anthropology
Tác giả: Claude Lévi-Strauss
Nhà XB: London
Năm: 1963
21. Lévi-Strauss, Claude (1996), Chủng tộc và Lịch sử, nguyên tác Race et histoire, UNESCO xuất bản năm 1952, NXB Denoel tái bản năm 1987, bản dịch của Huyền Giang, Hà Nội:Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủng tộc và Lịch sử
Tác giả: Claude Lévi-Strauss
Nhà XB: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Năm: 1996
23. Lý Tùng Hiếu (2015), “Văn hoá và cấu trúc của văn hoá trong bối cảnh đương đại”, báo cáo khoa học, Hội nghị Thông báo văn hoá năm 2015, Viện Nghiên cứu Văn hoá, Hà Nội, 26/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và cấu trúc của văn hoá trong bối cảnh đương đại
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Văn hoá
Năm: 2015
10. “Claude Lévi-Strauss”, http://www.britannica.com, truy cập ngày 06/10/2014 Link
22. Lý Tùng Hiếu (2012), “Văn hoá và hệ thống văn hoá”, Tạp chí Khoa học Văn hoá và Du lịch, số 7 (61), tháng 11/2012, trang 19-28; http://tapsan.hcmussh.edu.vn, 12/12/2012 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w