ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÂU: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: TT HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng VN, từ cách mạng d
Trang 1ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÂU: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH:
TT HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng VN, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dân đến cách mạng
xã hội chủ nghĩa; Là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo CN M_L vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm giải phóng dận tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Có hai yếu tố cơ bản cấu thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
Cơ sở khách quan: - Bối
cảnh lịch sử hình thành tư
tưởng HCM:
+ Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối TK19 đầu TK20: CT HCM
sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều
biến động
• Thực dân Pháp xâm lược Việt
Nam 1858
• Xã hội Việt Nam trở thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến
• Chính sách thống trị của Pháp trên tất cả các mặt: CT, KT-XH, lạc hậu, phụ thuộc, bóp nghẹt tự do dân chủ, chia rẻ, ngu dân
• Phân hoá giai cấp ngày càng gay gắt: Người Pháp – tư sản mại bản, người Việt – tư sản dân tộc Phân hoá thành các giai cấp: nông dân - địa chủ (hình thành từ thời phong kiến), tư sản – công nhân – tiểu tư sản (mới ra đời trong thời kì khai thác thuộc địa lần thứ I, 1897 – trước CTTGI) → 2 mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam từ cuối TK19 – TK20:
Dân tộc Việt Nam >< Thực dân Pháp và PK tay sai
(mau thuẫn dân tộc) Nhân dân Việt Nam >< Địa chủ
phong kiến (mâu thuẫn giai cấp)
• Phong trào đấu tranh chống Pháp theo hệ tư tưởng phong kiến: Đấu tranh vũ trang (Cần Vương) thất bại, dân chủ tư sản thất bại: các phong trào của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
• Phong trào yêu nước cuối TK19 – đầu TK20 đều thất bại, như sự thất bại của phong trào Cần Vương theo hệ tư tưởng phong kiến, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục theo hệ tư tưởng tư sản, đã giúp NAQ nhận ra chỗ hạn chế của phong trào đó chưa biết tổ chức, chưa có tổ chức Đòi hỏi phải có con đường mới, tổ chức cách mạng mới cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc với đường lối đúng đắn → Thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước
+ Bối
cảnh
thời đại:
• Chủ nghĩa đế quốc ra đời: ĐQTD >< các dân
tộc thuộc địa
Trang 2• CMT10 Nga (1917): mở ra thời kì mới trong lịch sử loài người, thức tỉnh các dân tộc Châu Á, mở ra thời đại CM chống đế quốc – giải phóng dân tộc
• QT Cộng sản (Quốc tế III) ra đời tháng 3/1919: phong trào công nhân trong các nước TBCN và phong trào GPDT ở các nước thuộc địa ngày càng xích lại gần nhau có tổ chức lãnh đạo
- Những tiền đề tư
tưởng lí luận:
+ Giá trị truyền
thống yêu nước:
• Chủ nghĩa yêu nước, văn hoá truyền thống Việt Nam được hun đúc qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước
• Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung trong nghĩa tình, đạo lý
• Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động tinh tế trong ứng xử, giản dị
trong lối sống
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý_USSH 1
+ Tinh
hoa nhân
loại:
• Tinh hoa văn hoá phương Đông: Người tiếp thu Đạo phật và Nho
giáo + HCM ra đời trong 1 gia đình Nho giáo nên Người đã tiếp thu những quan điểm tốt đẹp của Nho giáo Người đánh giá rất cao Khổng Tử Ngày 19/5/1966, Người đến thăm Khổng Tử, khắc chữ lên bia đá: "Khổng Tử là người thầy vĩ đại nhất của nhân loại"
+ Người dùng rất nhiều những khái niệm, phạm trù nho giáo như: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" (Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân)
+ Người đánh giá rất cao tư tưởng bình đẳng của nhà Phật: "Ta là Phật
đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành"
• Trong tinh hoa văn hóa phương Tây + HCM đã nghiên cứu tiếp
thu TT văn hoá dân chủ và CM của CM Pháp, CM Mỹ, trong đó có Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và Tuyên ngôn độc lập năm 1776
của Mỹ
+ Người đánh giá rất cao về chúa Jêsu Người tiếp thu những tư
tưởng của những nhà khai sáng Pháp
+ Chủ
nghĩa
M_L:
• Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất
tư tưởng Hồ Chí Minh
• Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
của TT HCM
Trang 3• Đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm vững cái cốt lõi, linh hồn sống của nó, là phương pháp biện chứng duy vật, học tập, lập trường quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạngViệt Nam
• Các tác phẩm, bài viêt của Hồ Chí Minh phản ánh bản chất tư tưởng cách mạng của Người theo thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin → Bấy giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất chắc chắn là học thuyết Mác – Lênin
Nhân tố chủ quan: khả năng tư duy và trí tuệ Hồ Chí Minh: - Khám phá
các quy luật vận động xã hội, đời sống văn hoá và cuộc đấu tranh của dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành lí luận, đem lí luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn và kiểm nghiệm trong thực tiễn mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học - Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn - Lòng nhân ái,
mở rộng, yêu thương đồng cảm với những người cùng khổ - Tinh thần ham học hỏi, khiêm tốn trước mọi người, giản dị trong đời sống, kiên cường, bất khuất trước mọi thử thách, mềm dẻo
⇨ Tóm lại: TTHCM là sản phẩm tổng hoà của những điều kiện khách quan
và chủ quan của truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại Cùng với thực tiễn, dân tộc và thời đại được Hồ Chí Minh tổng kết, chuyển hoá sâu sắc, tinh tế với một phương pháp khoa học, biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng Việt Nam hiện đại
TTHCM là hệ thống mở cần tiếp tục vận dụng, sáng tạo và phát triển trong thực tiễn sự nghiệp đổi mới, tiêu biểu là “Sống và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
Nguyễn Văn Toàn – Khoa Địa lý_USSH 2
CÂU: LUẬN ĐIỂM CỦA HCM VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC – NỘI DUNG CỐ LỖI CỦA VẤN ĐỀ DÂN TỘC THUỘC ĐỊA:
Tư tưởng Hồ Chí Minh không đề cập đến các vấn đề dân tộc nói chung mà
là vấn đề dân tộc thuộc địa • Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là:
- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh giành
sự quan tâm đến đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nước ngoài; giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập
Nếu Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống CNTB, Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống CNĐQ, thì Hồ Chí Minh tập trung bàn về cuộc đấu tranh chống CN Thực dân Mác và Lênin bàn nhiều về cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước TBCN, thì Hồ Chí Minh bàn nhiều về đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
Trang 4- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Từ thực tiễn của phong trào cứu
nước của dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh mới của thời đại là CNXH
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một việc làm hết sức mới mẻ: từ nước thuộc địa lên CNXCH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau
Thực chất là con đường ĐLDT gắn liền với CNXH Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt với các nước đã phát triển đi lên CNXH ở phương Tây Đây là nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
• Độc lập, tự do – nội dung cốt lỗi của vấm đề dân tộc thuộc địa - Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người Trên con
đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu và tiếp nhận những
nhân tố có giá trị trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người
sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
Từ quyền con người ấy, Người đã khái quát nên chân lý về quyền cơ bản
của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng,
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
- Nội dung của độc lập dân tộc Là người dân mất nước, nhiều lần được chứng
kiến tội ác dã man của chủ nghĩa thực dân đối với đồng bào mình và nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Hồ Chí Minh thấy rõ một dân tộc không có quyền bình đẳng chủ yếu là do dân tộc đó mất độc lập Vì vậy, theo Người, các dân tộc thuộc địa muốn có quyền bình đẳng thực sự phải tự đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn cho dân tộc mình
Nền độc lập hoàn toàn, độc lập thật sự của một dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện đầy đủ ở những nội dung cơ bản sau đây:
+ Độc lập tự do là quyền tự nhiên, thiêng liêng, vô cùng quý giá và bất khả xâm phạm của dân tộc Độc lập của Tổ Quốc, tự do của nhân dân là
thiêng liêng nhất
Nội dung cốt lõi trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 là: độc lập,
tự do cho dân tộc tạo tiền đề xây dựng CNXH ở Việt Nam
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia + Dân tộc độc lập trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao
Mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia do dân tộc đó tự quyết định Người khẳng định: Nước Việt Nam là của người
Việt Nam, do dân tộc Việt Nam quyết định, nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài
+ Trong nền độc lập đó, mọi người dân đều ấm no, tự do, hạnh phúc, nếu không độc lập chẳng có nghĩa gì Nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn liền với
hạnh phúc, cơm no, áo ấm của nhân dân
Trang 5Suốt đời Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước
ta được hoàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
Chủ nghĩa dân tộc chân chính - một động lực lớn của đất nước -
Cùng với sự kết án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh, Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông,
“chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”
- Sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào
- Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc chân chính (có cơ sở nền tảng là CNQTVSTS, có nội dung cốt lõi là CNYNTTVN) Muốn cách mạng thành công thì người cộng sản phải biết nắm lấy
và phát huy
Tóm lại, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là lý tưởng mà còn là lẽ
sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc không theo một khuôn mẫu giáo điều, mà được hình thành và phát triển gắn liền với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, trong đó có phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam, nhằm xoá
bỏ ách trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, hình thành nên nhà nước dân tộc độc lập và tiếp tục phát triển theo sự lựa chọn của mỗi quốc gia dân tộc, phản ánh chân lý lớn nhất của thời đại là “không có gì quý hơn độc lập tự do” Riêng với dân tộc Việt Nam, thì sự phát triển đó theo phương hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chí Minh là: “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
CÂU: QUAN ĐIỂM HCM VỀ ĐỘNG LỰC CỦA CNXH Ở VIỆT NAM HCM đã tiếp
thu, vận dụng sáng tạo lý luận M – L về sự phát triển tất yếu của xã hội loài người theo các hình thái kinh tế - xã hội HCM đưa ra quan điểm: Tiến lên CNXH là bước phát triển tất yếu ở VN sau khi nước nhà đã giành được độc lập theo con đường cách mạng vô sản
HCM tiếp thu quan điểm của những nhà sáng lập CNXH đồng thời bổ sung cách tiếp cận mới về CNXH:
+ Khát vọng GP dân tộc: theo HCM chỉ có CNXH mới thật sự đem lại độc
lập, tự do và bình đẳng dân tộc
+ Phương tiện đạo đức: theo Bác, CNXH đối lập với CN cá nhân, nó đem
lại đạo đức cao cả cho con người, vì cộng đồng, đạo đức CM giải phóng dân tộc
+ Phương tiện văn hóa: xây dựng một nền văn hóa mới, 1 nền văn hóa đậm đà
bản sắc dân tộc HCM ý thức được rõ ràng giá trị của CNXH về mặt lý luận là quan trọng, nhưng vấn đế quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực hiện những giá trị này Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của HCM là đề ra
Trang 6các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể xây dựng CNXH trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau ở nước ta
Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của CNXH và mục tiêu phấn đấu của
Người là một, đó là độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Mục tiêu cao nhất của CNXH là nâng cao đời sống nhân dân
Những mục tiêu cụ thể: + Mục tiêu chính trị: xây dựng Nhà nước là
của dân, do dân và vì dân Nhà nước có hai chức năng cơ bản là dân chủ với nhân dân và chuyên chính với kẻ thù của nhân dân
Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng xác định: đã là người chủ phải biết làm chủ Mọi công dân trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng
và chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đồng thời có nghĩa vụ học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng vai trò làm chủ
+ Mục tiêu kinh tế: Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp
hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, bóc lột bị xoá bỏ dần, cải thiện đời sống Người coi công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà Chú trọng xây dựng nền kinh tế mới, cải tạo nền kinh tế cũ, nhưng xây dựng là trọng tâm
Kết hợp các lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm
Người đặc biệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế
+ Mục tiêu văn hoá - xã hội: Chủ trương xây dựng nền văn hoá mới,
trong đó phải biết kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu
những tinh hoa của nhân loại để làm giàu nền văn hoá dân tộc, phải đưa văn hoá vào đời sống nhân dân.Văn hoá phải góp phần sửa sang chính thể Văn hoá phải chống tham ô, lười biếng
Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, xây dựng
con người xã hội chủ nghĩa Người nói: Muốn có CNXH trước hết phải có con
người XHCN Đó là những con người có trí tuệ, đạo đức cách mạng, có tác
phong, đạo đức làm chủ tập thể xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đâm đà bản sắc dân tộc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xây dựng con người
xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện những mục tiêu đó, cần phát hiện những động lực và những điều kiện bao đảm cho động lực đó thực sự trở thành sức mạnh thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH Theo HCM, động lực được biểu hiện ở các phương
diện: vật chất và tinh thần; nội lực và ngoại lực - Người khẳng định: động lực
quan trọng và quyết định nhất là con người, là nhân dân lao động, nòng cốt là công – nông – trí thức Người nhận thấy được ở động lực này có sự kết hợp giữa
cá nhân với xã hội
- Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, phát triển kinh tế, sản xuất, kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất, làm cho mọi người, mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc, lợi dân gắn kinh tế với kỹ thuật, kinh tế với xã hội
- Văn hóa, khoa học, giáo dục là một động lực tinh thần không thể thiếu của
CNXH - Hồ Chí Minh nhận thấy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết
Trang 7định đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Đây là hạt nhân trong hệ động lực của chủ nghĩa xã hội
- Theo Hồ Chí Minh, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, phải sử dụng tốt những thành quả KH – KT thế giới
- Bên cạnh các động lực phát triển, cần phải khắc phục những trở lực kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Để làm được điều này Người yêu
cầu:
+ Thường xuyên đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân + Phải thường xuyên đấu tranh chống tham ô, lãng phí quan liêu + Phải thường xuyên đấu tranh chống chia
rẽ, bè phái, mất đoàn kết, vô kỷ luật + Phải thường xuyên đấu tranh chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lười biếng, không chịu học tập - Giữa nội lực và ngoại lực, Hồ Chí Minh xác định rất rõ nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quan trọng
Quan điểm của HCM về CNXH là cơ sở lý luận, tài sản vô giá trong việc tiến lên CNXH phù hợp với những đặc điểm dân tộc và xu hướng vận động Vì vây, cần phải giải quyết những vấn đề quan trọng nhất: Kiên trì mục tiêu của CNXH; Phát huy quyền làm chủ của nhân dân khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực; Kết hợp sực mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh đấu tranh chống quan lieu, tham nhũng, lãng phí; Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư để xây dựng CNXH
CÂU: QUAN NIỆM CỦA HCM VỀ VAI TRÒ VÀ BẢN CHẤT CỦA ĐCS VN:
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào
công nhân
Vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định: Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của
sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đây chính là quy luật hình thành và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là sự bổ sung sáng tạo vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
Một mặt, Hồ Chí Minh làm rõ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam; đối với quá trình hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam
và đối với việc đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam
Quy luật hình thành đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở kết hợp vấn đề dân tộc với giai cấp, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành Đảng ở một nước thuộc địa Đảng định hướng đúng đắn và thúc đẩy phong trào cách mạng
Cách mạng Việt Nam đi từ tự phát đến tự giác, có tổ chức, có đường lối được giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin giành được thắng lợi to lớn đó là nhờ có Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 8Vai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản là nhân tố
quyết định hàng đầu đưa cách mạng VN đến thắng lợi Thứ nhất: Con
đường cách mạng của nhân dân VN mà HCM và ĐCSVN lựa chọn đó là con đường cách mạng vô sản Đây là con đường cách mạng triệt để nhất, vẻ vang nhất nhưng cũng khó khăn, gian khổ và nặng nề nhất Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó, theo HCM phải có một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản
Thứ hai: Trước khi ĐCSVN ra đời, ở VN đã có nhiều chính đảng,
nhiều tổ chức yêu nước xuất hiện để lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh GPDT nhưng cuối cùng đều bị thất bại Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại mà HCM đã chứng kiến là do: không có đường lối đúng, không tập hợp được sức mạnh của nhân dân, không liên kết được với cách mạng thế giới Do vậy, cách mạng VN muốn giành được thắng lợi thì phải có một đảng thật sự cách mạng lãnh đạo – đó là đảng cộng sản Thứ ba: Bản thân ĐCSVN ra đời từ trong phong trào cách mạng của nhân dân, là người đại
biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc VN, ngoài ra ĐCSVN không có lợi ích nào khác Chính
vì vậy, ĐCSVN có đủ uy tín và khả năng để đoàn kết, tập hợp và lôi kéo các tầng lớp nhân dân đứng lên làm cách mạng
Thứ tư: Bản thân ĐCSVN được vũ trang (hay còn sử dụng một
từ khác là được trang bị) bằng học thuyết M – LN – một học thuyết cách mạng và khoa học Do đó, Đảng có đủ năng lực và phẩm chất (phẩm chất chính trị và đạo đức) để đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Đồng thời, Đảng có khả năng liên hệ đoàn kết với các lực lượng cách mạng trên thế giới để tiến hành cách mạng đến thắng lợi cuối cùng
Thứ năm: Sức mạnh của nhân dân là vơ cùng to lớn, nhưng chỉ được
phát huy khi được giác ngộ, tập hợp, đồn kết, lãnh đạo của một tổ chức cách mạng Người nĩi: “Lực lượng của giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động là rất
to lớn, vơ cùng vơ tận Nhưng lực lượng ấy cần cĩ Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi”[1]
Thứ sáu: Muốn làm cách mạng, trước hết phải cĩ Đảng để “trong thì
vận động và tổ chức dân chúng, ngồi thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vơ sản ở mọi nơi Đảng cĩ vững cách mệnh mới thành cơng, cũng như người cầm lái cĩ vững thuyền mới chạy”2
Thứ bảy: Hồ Chí Minh cịn khẳng định: cách mạng muốn thắng lợi phải cĩ
Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối, và định phương châm cho đúng,
để khỏi lạc đường Làm cách mạng là rất gian khổ, phải cĩ chí khí kiên quyết, phải được tổ chức chặt chẽ Vì vậy phải cĩ Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân
thành một đội quân thật mạnh, để giành lấy chính quyền
Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam vì sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và Đảng khơng cĩ mục đích tự thân Vai trị
Trang 9lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam đã được thực tế lịch sử chứng minh
Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng cách mạng mang bản chất của giai cấp cơng nhân Việt Nam, là đội tiền phong của giai cấp cơng nhân, cĩ khả năng đồn kết tập hợp các tầng lớp nhân dân khác làm cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam tận tâm, tận lực phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trung
thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng khơng
cĩ lợi ích nào khác ngồi lợi ích của nhân dân và của dân tộc Đảng là đội tiền phong dũng cảm và là đội tham mưu sáng suốt Mục tiêu phấn đấu của Đảng là độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mọi người
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Đảng Cộng sản Việt
Nam là người lãnh đạo, tổ chức, thực hiện và quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp cơng
nhân, đội tiên phong của giai cấp cơng nhân, mang bản chất giai cấp cơng nhân
(tức đảng mang bản chất giai cấp CN – bản chất cách mạng và khoa học) Bản chất giai cấp của Đảng không chỉ căn cứ vào thành
phần xuất thân mà phải dựa vào các yếu tố sau: + Dựa vào nền tảng tư tưởng của Đảng Đảng phải lấy CN M – LN làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng thì đó mới là đảng mang bản chất GCCN
+ Dựa vào nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối cách mạng của
Đảng Đảng phải thực sự vì ĐLDT và CNXH, vì sự nghiệp GPDT, GP giai cấp và giải phóng con người
+ Đảng phải nghiêm túc tuân thủ các nguyên tắc đảng kiểu mới của GCCN như: tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất, kỷ luật nghiêm minh và tự giác
- Từ việc xác định quy luật hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Người nhiều lần khẳng định Đảng cịn là đảng của dân tộc Việt Nam
+ Năm 1961, Bác viết: “Đảng ta là đảng của giai cấp cơng nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc khơng thiên tư, thiên vị”
+ Năm 1965, Hồ Chí Minh khẳng định lại: Đảng ta xứng đáng là đội tiên phong, là bộ tham mưu của giai cấp vơ sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc
→ ĐCSVN mang trong mình bản chất GCCN – đó là bản chất cách mạng và khoa học Do đó, có thể nói: ĐCSVN là đảng của
GCCN, nhân dân lao động và của dân tộc VN
- ĐCSVN ra đời từ trong phong trào cách mạng của nhân dân Đảng luôn gắn bó máu thịt với nhân dân lao động và dân tộc VN Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của nhân dân và của
Nguyễn Văn Tồn – Khoa Địa lý_USSH 7
dân tộc, ĐCSVN không có lợi ích nào khác Chính vì mối quan hệ đặc biệt đó mà GCCN, nhân dân lao động và cả dân tộc VN đều coi
Trang 10ĐCSVN là đảng của mình, của dân tộc mình và đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CMVN
- Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng cũng là mục tiêu, lý tưởng của dân tộc Độc lập DT rửa nỗi nhục mất nước là khát vọng của Đảng và cũng là khát vọng, ước nguyện của cả dân tộc.Dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, DC, VM là mong muốn của Đảng và cũng là mong muốn của cả dân tộc.Rõ ràng, Đảng, GCCN, NDLĐ và cả dân tộc VN đều gặp nhau ở mục tiêu, lý ưởng cách mạng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp cơng nhân của Đảng là thống nhất với tính dân tộc, tính nhân dân
HCM là người sáng lập, đồng thời là người giáo dục và rèn luyện ĐCS VN trong gần 40 năm Từ nhu cầu giải phĩng dân tộc theo con đường cách mạng vơ sản, vận dụng sáng tạo và phát triển CN M – L, HCM đã kết hợp chặt chẽ giữa nhận thức lý luận và hoạt động, tổng kết thực tiễn, xác lập nên một hệ thống các quan điểm, tư tưởng về ĐCS
Được chiếu rọi bởi ánh sáng TT HCM, Đảng ta quyết tâm xây dựng về mọi mặt một cách thiết thực; xác định đổi mới và chỉnh đốn Đảng đáp ứng nhu cầu phát triển của giai cấp và dân tộc là quy luật tồn tại sống cịn của Đảng
Chính ý nghĩa đĩ, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục TT HCM về Đảng và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh phải được quán triệt đến từng tổ chức cơ sở Đảng, từng cán bộ Đảng viên
CÂU: TT HCM VỀ VAI TRỊ CỦA ĐẠI ĐỒN KẾT DÂN TỘC TRONG
SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phĩng dân tộc vĩ đại, nhà văn hĩa kiệt xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vơ giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt Trong đĩ tư tưởng về đại đồn kết là tư tưởng nổi bật, cĩ giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của tồn nhân loại Đấy là tư tưởng xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận
và trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc
Tư tương đại đồn kết dân tộc cua Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Nĩi một cách khác, đĩ là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phĩng dân tộc, giải phĩng giai câp, giải phĩng con người
Đại đồn kết dân tộc là vấn đề cĩ ý nghĩa chiến lược, quyết định thành cơng của cách mạng Chiến lược được hiểu là phương châm và biện pháp cĩ tính tồn
cục được vận dụng trong suốt tiến trình cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, để đánh bại đế quốc thực dân nhằm giải phĩng dân tộc, giải phĩng giai cấp và giải phĩng con người, nếu chỉ cĩ tinh thần yêu nước chưa đủ mà cần phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng cĩ thể tập hợp, xây dựng khối đại đồn kết dân tộc bền vững Vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đại đồn