MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2 1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 2 1.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ 2 1.1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 4 1.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 5 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 6 2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 6 2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra 6 2.1.2 Thiệt hại do chính hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 6 2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra 7 2.1.4 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 7 2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 8 2.3 Xác định loại thiệt hại được bồi thường, Chủ thể được hưởng bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 9 2.3.1 Loại thiệt hại được bồi thường 9 2.3.2 Chủ thể được hưởng bồi thường thiệt hại và mức bồi thường 10 Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 12 3.1 Những khó khăn, vướng mắc 12 3.2 Đề xuất giải pháp 13 KẾT LUẬN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN LUẬT DÂN SỰ MODULE 2
Hà Nội, Tháng 11 năm 2019
Trang 2MỞ ĐẦU
Ngày nay sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của công nghiệp hóa, cơ giới hóa đã làm thế giới ngày càng văn minh, hiện đại hơn Tuy nhiên, thực tế cho thấy nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản… của các chủ thể trong xã hội Có những sự vật như máy móc, phương tiện, hệ thống điện, dây chuyền sản xuất trong nhà máy… bản thân hoạt động của nó luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường xung quanh Mặc dù con người luôn tìm mọi cách kiểm soát, vận hành nó một cách an toàn nhưng vẫn có những thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó Trong khoa học pháp lý xuất hiện thuật ngữ “nguồn nguy hiểm cao độ” để chỉ những sự vật như vậy Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
là loại trách nhiệm đặc biệt bởi lẽ thiệt hại xảy ra không phải do hành vi và do lỗi của con người mà do hoạt động của những sự vật mà hoạt động của chúng luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại Mặc dù chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể không có lỗi đối với thiệt hại nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật vẫn buộc họ có trách nhiệm bồi thường
Như vậy, “nguồn nguy hiểm cao độ” là gì? Luật pháp đã có những quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như thế nào? Xuất phát từ những lý do trên nên em chọn đề bài số 19
“PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA” để làm bài tập học kỳ của mình
Trang 3NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1.1.1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ
Bản thân loại tài sản luôn chứa đựng tiềm ẩn những nguy hiểm khách quan, con người không thể kiểm soát tuyệt đối, dễ xảy ra những thiệt hại ở mức độ lớn cho những người xung quanh như: nguyên, nhiên liệu (nguy hiểm khả năng cháy nổ), phương tiện cơ giới (nguy hiểm tốc độ), thú dữ (nguy hiểm tính hoang dã)
Về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ, tại khoản 1 điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các đối tượng được coi là
nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: “Phương tiện giao thông vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”
- Đối với “Phương tiện giao thông vận tải cơ giới” bao gồm: phương tiện
giao thông vận tải cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt, đường thủy, đường hàng không
+ Về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: Khoản 18 và Khoản 19 Điều
3 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “18 Phương tiện giao thông
cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô
tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự 19 Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe
Trang 4đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự” Theo đó, chỉ các phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ mới được coi là nguồn nguy hiểm cao độ Còn các phương tiện giao thông thô sơ đường bộ không được xét là nguồn nguy hiểm cao độ
+ Về phương tiện vận tải đường sắt: Khoản 26 Điều 3 Luật đường sắt năm
2017 quy định: “26 Phương tiện giao thông đường sắt là đầu máy, toa xe,
phương tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt”
+ Về phương tiện giao thông vận tải đường thủy: Khoản 7 Điều 3 Luật đường
thủy nội địa năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “7 Phương tiện
thuỷ nội địa (sau đây gọi là phương tiện) là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa.”
+ Về phương tiện giao thông vận tải đường hàng không: Khoản 1 Điều 13 Luật Hàng không dân dụng năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1 Tàu bay là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương hỗ với không khí, bao gồm máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương hỗ với không khí phản lại từ bề mặt trái đất.”
- Đối với “hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động”: Hệ
thống tải điện được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện, cầu dao,…; nhà máy công nghiệp như nhà máy công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ…cũng như phương tiện giao thông vận tải cơ giới chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi nó đang hoạt động, nghĩa là nếu nó đang ở trạng thái tĩnh thì không tạo nguy hiểm cho những người xung quanh
- Đối với “vũ khí” bao gồm: vũ khí quân dụng (gồm: súng cầm tay hạng nhỏ,
vũ khí hạng nhẹ, các loại bom, mìn, lựu đạn, các vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng)
- “Chất cháy, chất nổ”: Chất cháy có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với
ôxy trong không khí, nước hoặc dưới tác động của nhiệt như xăng, dầu, cồn,
Trang 5ga…; Chất nổ với khả năng gây nổ mạnh, nhanh tỏa nhiệt và ánh sáng như thuốc nổ, thuốc pháo, thuốc súng
- “Chất độc”: là những chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho sức khỏe, tính
mạng của con người, động vật, cũng như đối với môi trường xung quanh
- “Chất phóng xạ”: là nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân, có khả năng
phát ra những chùm tia phóng xạ không nhìn thấy gây bệnh hoặc gây nhiễm
xạ đối với người, động vật và môi trường sống
- “Thú dữ” là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú, nuôi con bằng sữa,
lớn, rất dữ, có thể làm hại người Ví dụ: hổ, báo, sư tử, gấu…
- “Nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”: Có thể thấy đây là
quy định mở để khắc phục hạn chế của việc liệt kê không đầy đủ các loại nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên hiện nay ngoài quy định tại khoản 1 Điều
601 Bộ Luật Dân sự năm 2015 về nguồn nguy hiểm cao độ thì pháp luật chưa
có bất kỳ văn bản pháp luật nào quy định thêm về nguồn nguy hiểm cao độ nên gây lúng túng trong việc xác định nguồn nguy hiểm trong độ trong thực
tế
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của nguồn nguy hiểm cao độ là luôn tiềm ẩn trong nó khả năng gây thiệt hại nên tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm
2015 cũng quy định: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử
dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật”
1.1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như bù đắp tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ngay
cả khi không có lỗi
Trang 61.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại điều 585 Bộ luật Dân sự
năm 2015: “1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời
Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác 2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình 3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường 4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra 5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”
Từ quy định của pháp luật có thể rút ra các nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:
Thứ nhất, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Tuy nhiên, pháp luật vẫn cho phép các bên tự nguyện thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại sao cho phù hợp nhất, đảm bảo cân bằng lợi ích các bên Thứ hai, người gây ra thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại có thể yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường thiệt hại
Thứ tư, nếu bên bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại trong phạm vi lỗi đó
Trang 7Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại được hiểu là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không bao gồm thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Bởi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại là do sự hoạt động của các phương tiện cơ giới, do vậy những thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại là tài sản, sức khỏe, tính mạng Hơn nữa, do tính chất nguy hiểm “cao độ” nên nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây thiệt hại cho bất kỳ ai Có thể là chính chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, vận hành hay cả những người không có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ Đối với chủ sở hữu, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài sản của mình gây ra Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ được đặt ra khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người không có quan hệ đến nguồn nguy hiểm đó nhằm để bảo vệ quyền được bồi thường cho những người này
2.1.2 Thiệt hại do chính hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì thiệt hại đó phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Nếu thiệt hại phát sinh do các yếu tố khác tác động thì chỉ phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường Để xác định một thiệt hại có phải do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay không cần xác định hai yếu tố:
- Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ phải trong trạng thái đang vận hành, hoạt động Đối với phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp thì chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi “đang hoạt
Trang 8động” Còn trường hợp thiệt hại xảy ra khi nguồn nguy hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” thì không thể coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra
- Thứ hai, thiệt hại xảy ra do hoạt động tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Ví dụ xe ô tô đang di chuyển thì bị nổ lốp gây thiệt hại, xe ôtô đang xuống dốc thì đứt phanh gây tai nạn…nếu thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ mà không phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh thông thường Ví dụ: A điều khiển ô tô vượt đèn đỏ gây tai nạn khiến B bị thương nặng Trong trường hợp này, mặc dù ô tô được coi nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên thiệt hại xảy ra không phải do tự thân chiếc ô tô gây nên mà do hành vi vi phạm giao thông của người điều khiển gây nên Vì vậy, trong trường hợp này chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng người khác Trường hợp này không được coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Tuy nhiên thực tế, trong nguồn nguy hiểm cao độ luôn luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định có thể xảy ra nên có những
sự kiện bất ngờ mà con người không thể biết trước và phòng tránh được Ví dụ: Do mưa làm cho cột điện bị nhiễm điện, người nào không biết đi qua đó
bị nhiễm điện chết Trong trường hợp này thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất ngờ, bất khả kháng chứ không phải do hành vi của con người gây ra và con người cũng không sao kiểm soát và phòng ngừa hiệu quả hết được Vì thế không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của nguồn nguy hiểm cao
độ và thiệt hại xảy ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được đặt ra khi có mối quan hệ nhân quả được xác định khi hoạt động tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
2.1.4 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trang 9Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh ngay cả khi chủ sở hữu hay người sử dụng nguồn nguy hiểm không có
lỗi theo quy định tại Khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015: “3 Chủ sở
hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi” Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định các trường hợp
loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 3 điều 601
Bộ luật dân sự năm 2015: “a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của
người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Dấu hiệu quan
trọng nhất để xác định trách nhiệm này là hoạt động của nguồn nguy hiểm cao
độ chính là nguyên nhân trực tiếp, là yếu tố quyết định dẫn đến thiệt hại Hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ có thể hoàn toàn không có lỗi của con người hoặc cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, điều khiển, tuy nhiên lỗi ở đây chỉ đóng vai trò thứ yếu đối với thiệt hại Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi, do hành vi của người điều khiển nguồn nguy hiểm
cao độ thì không áp dụng trách nhiệm này
2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:
- Chủ sở hữu;
- Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ;
- Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ
Chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo quy
định tại khoản 2 điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015: “2 Chủ sở hữu nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác” Và khoản 4 điều 601
Bộ luật dân sự năm 2015: “4 Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm
hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
Trang 10hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”
- Thứ nhất, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Bởi lẽ, chủ sở hữu là người trực tiếp nắm giữ, sử dụng và định đoạt nguồn nguy hiểm cao độ Chủ sở hữu có trách nhiệm phải bảo quản, sử dụng, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ cẩn trọng và phải tuân theo các quy định của pháp luật về việc bảo quản, sử dụng, vận hành đó theo quy định tại khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 Vì vậy, nếu có thiệt hại xảy ra thì chủ sở hữu là chủ thể có trách nhiệm phải bồi thường
- Thứ hai, nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thì người này có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường
- Thứ ba, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu,
sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao
độ bị chiếm hữu, sử dụng trái phép thì phải liên đới bồi thường thiệt hại Mặt khác, trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại
2.3 Xác định loại thiệt hại được bồi thường, Chủ thể được hưởng bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
2.3.1 Loại thiệt hại được bồi thường
Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra bao gồm:
- Thiệt hại về vật chất (tính mạng, sức khỏe, tài sản)