1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p

104 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện pháp phòng trị
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn TS. Đặng Xuân Bình
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 860,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HÀNGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN

PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG

Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH HÀ GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 2

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN

PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG

Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực

hiện cùng với sự giúp đỡ của TS Đặng Xuân Bình Các số liệu, hình ảnh và

kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ

một công trình nào khác Tôi xin đảm bảo rằng các thông tin, trích dẫn trong

luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo tận tình của các thầy trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với thầy: T.S Đặng Xuân Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tập thể cán bộ nghiên cứu của Bộ môn Công nghệ Vi Sinh

- Viện Khoa học Sự sống, Chi cục Thú y Hà Giang, cùng gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày… tháng….năm 2010

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4

1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng 6

1.2.1 Quá trình sinh dịch 6

1.2.1.1 Nguồn bệnh 6

1.2.1.2 Yếu tố truyền lây 7

1.2.1.3 Động vật mẫn cảm 8

1.2.2 Tuổi mắc bệnh 9

1.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch 10

1.2.4 Vùng phát bệnh 12

1.2.5 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên của động vật khoẻ 13

1.3 Các đặc tính sinh học của mầm bệnh 15

1.3.1 Phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida 15

Trang 6

1.3.3 Đặc tính nuôi cấy 16

1.3.4 Đặc tính sinh hoá 19

1.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida 21

1.3.6 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida 24

1.4 Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn P multocida gây ra 25

1.4.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25

1.4.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25

1.4.1.2 Bệnh tích 27

1.4.2 Chẩn đoán bệnh 27

1.4.2.1 Chẩn đoán lâm sàng 27

1.4.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học 27

1.4.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học 28

1.4.3 Phòng và trị bệnh 29

1.4.3.1 Phòng bệnh 29

1.4.3.2 Điều trị bệnh 30

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.2.1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang 32

2.2.2 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi gia súc khoẻ 32

2.2.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang 33

2.3 Nguyên liệu dùng cho nghiên cứu 33

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm dùng phân lập vi khuẩn 33

2.3.2 Động vật thí nghiệm 33

Trang 7

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 34

2.4.2 Phương pháp tính tỷ lệ và hệ số 34

2.4.3 Phương pháp xác định tương quan giữa các yếu tố khí hậu và số gia súc mắc bệnh tụ huyết trùng 35

2.4.4 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn Pasteurella multocida 37

2.4.4.1 Phương pháp nuôi cấy, phân lập 37

2.4.4.2 Phương pháp xác định tính chất sinh vật, hoá học của P multocida 38

2.4.5 Kiểm tra độc lực của vi khuẩn của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được 41

2.4.5.1 Kiểm tra độc lực của vi khuẩn trên chuột bạch 41

2.4.5.2 Phương pháp làm kháng sinh đồ 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà Giang 43

3.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2007 - 2009 43

3.1.2 Tần suất xuất hiện dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại các huyện từ năm 2007 - 2009 45

3.1.3 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo loài gia súc 47

3.1.4 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo mùa vụ 49

3.1.5 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo lứa tuổi 51

3.1.6 Triệu chứng đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 55

3.2 Nghiên cứu mức độ và thời gian xảy ra dịch bệnh 56

3.2.1 Nghiên cứu mức độ dịch và hệ số năm dịch 56

Trang 8

3.3.1 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,

bò theo vùng địa lý 61

3.3.2 Ảnh hưởng các yếu tố khí hậu 64

3.4 Kết quả phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học, độc lực Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia súc tại tỉnh Hà Giang 68

3.4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia súc khoẻ 68

3.4.2 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập 69

3.4.3 Kết quả thử độc lực của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập 70

3.4.4 Kết quả thử tính mẫn cảm với kháng sinh và hoá dược của các chủng Pasteurella multocida phân lập 72

3.4.5 Kết quả xác định type của Pasteurella multocida bằng kỹ thuật PCR 73

3.4.6 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 73

3.4.7 Biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hà Giang 75

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 9

ADN : acid deoxyribonucleic

BHI : Brain Heart Infusion

PCR : Polymerase Chain Reaction

P multocida : Pasteurella multocida

THT : Tụ huyết trùng

TT : Thể trọng

VP : Voges Proskauer

Trang 10

Bảng 1.1 Phân biệt các loài Pasteurella 21

Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa hai hệ thống phân loại Carter - Robert 22

Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của P multocida 24

Bảng 3.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà

Giang từ năm 2007 - 2009 43Bảng 3.2 Tần suất xuất hiện dịch tụ huyết trùng tại Hà Giang 45Bảng 3.3 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh tụ

huyết trùng theo loài gia súc 48Bảng 3.4 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh

tụ huyết trùng theo mùa vụ 50Bảng 3.5 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh

tụ huyết trùng theo lứa tổi 53Bảng 3.6 Kết quả theo dõi triệu chứng đặc trưng của trâu bò mắc bệnh tụ

huyết trùng 55Bảng 3.7 Hệ số năm dịch tụ huyết trùng trâu, bò từ năm 2007 - 2009 56Bảng 3.8 Hệ số tháng dịch tụ huyết trùng trâu, bò 58Bảng 3.9 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh

tụ huyết trùng theo vùng địa lý 63Bảng 3.10 Mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh

tụ huyết trùng trung bình/tháng từ năm 2007 - 2009 65

Bảng 3.11 Kết quả phân lập Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi gia

súc khoẻ 68Bảng 3.12 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi

khuẩn Pasteurella multocida phân lập 70 Bảng 3.13 Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập 71

Trang 11

Bảng 3.15 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết

trùng trâu, bò 74

Trang 12

Hình 2.1 Sơ đồ phân loại nhóm vi khuẩn gây bệnh theo tính chất sinh vật học 37

Hình 2.2 Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella 39

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 44

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 44

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo loài 49

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo mùa vụ 51

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo lứa tuổi 54

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo vùng địa lý 64

Hình 3.7 Biểu đồ Mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu và số trâu, bò mắc bệnh 67

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là một trong những bệnh truyền

nhiễm nguy hiểm, hàng năm gây chết hàng loạt gia súc, gia cầm làm thiệt

hại đáng kể cho nền kinh tế nước ta Trong các năm 1999 - 2003 bệnh tụ

huyết trùng xảy ra trên diện rộng của tỉnh Hải Phòng, Hà Tây, Nghệ An

làm chết nhiều trâu, bò gây hoang mang cho người chăn nuôi (Phan Thanh

Phượng, 2000) [21]

Về khả năng đáp ứngmiễn dịch của một số vắc xin phòng bệnh tụ huyết

trùng của trâu, bò đang lưu hành ở nước ta, bệnh tụ huyết trùng ở thể bại huyết

(Haemorrhagic septicaemia) đã và đang gây thiệt hại đáng kể cho người chăn

nuôi (Hoàng Xuân Nghinh và cs, 2004) [18] Do vậy, ngoài việc hoàn thiện các

biện pháp chăn nuôi đảm bảo vệ sinh, thì yêu cầu nghiên cứu sự lưu hành của

vi khuẩn gây bệnh, chọn chủng kháng nguyên phù hợp chế tạo vắc xin phòng

bệnh hiệu quả, một vấn đề cấp thiết để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra cho

trâu, bò ở các tỉnh miền núi phía bắc nói chung và cả nước nói riêng

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc có diện tích tự nhiên rộng, chủ

yếu là rừng núi, đây là điều kiện thuận lợi để Hà Giang phát triển chăn nuôi

đại gia súc, đặc biệt là trâu, bò Hiện nay, tổng đàn trâu, bò tỉnh Hà Giang

trên 224000 con Trâu, bò là nguồn sức kéo quan trọng và nguồn thu nhập

đáng kể cho người chăn nuôi Hàng năm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò gây chết

trung bình từ 300 - 500 con làm thiệt hại lớn cho nghành chăn nuôi Xuất phát

từ những yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả

đi trước ở trong và ngoài nước, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh

tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Hà

Giang và biện pháp phòng trị "

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn

tỉnh Hà Giang

- Nghiên cứu vai trò của các yếu tố khí hậu tác động đến đặc điểm dịch

tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò

- Xác định sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò

- Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò và

tình trạng lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở gia súc khoẻ

- Bổ sung tư liệu về kết quả phân lập và giám định đặc tính sinh vật

học của vi khuẩn Pasteurella multocida, kết quả xác định type vi khuẩn

Pasteurella multocida bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)

- Là cơ sở để xác định biện pháp phòng bệnh hiệu quả

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng, theo Phan Đình Đỗ và

Trịnh Văn Thịnh (1958) [5], bệnh tụ huyết trùng trâu bò được phát hiện

đầu tiên vào năm 1868 bởi Condamine ở Bà Rịa, Long Thành, sau đó được

Gemain phát hiện bệnh ở Gò Công, Shein xác nhận có bệnh này ở Tây

Ninh Những năm sau này Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24], Hoàng Đạo

Phấn (1986) [20], đã nghiên cứu về đặc tính của Pasteurella multocida và

type huyết thanh của chúng Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [26], bệnh tụ huyết

trùng trâu bò ở Việt Nam thường xảy ra ở Nam bộ và đặc biệt ở miền tây

Nam bộ, vào những năm 1910, 1919, 1920, 1933, 1935 dịch xảy ra mạnh gây

thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùng đất trũng, thấp, khí hậu ẩm ướt

Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng ở gia

súc như: Nguyễn Ngã (1996) [17] đã nghiên cứu tính kháng nguyên và độc

lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung; Dương Thế Long

(1995) [15] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh

tụ huyết trùng trâu bò Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp;

Võ Văn Hùng (1997) [11] nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ

huyết trùng lợn ở Đăk Lăk và biện pháp phòng trị

Trước đây bệnh tụ huyết trùng lợn xảy ra mạnh ở các tỉnh phía Nam và

xảy ra lẻ tẻ ở các tỉnh phía Bắc Trong những năm 70 cuối thế kỷ 20, có 80% số

ổ dịch và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh ở

phía Nam Đến những năm 90, phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh

phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm

có 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành (Bùi Quý Huy, 1998) [12]

Trang 16

Nguyễn văn Quang (1998) [25] nghiên cứu về vắc xin phòng bệnh tụ

huyết trùng và đóng dấu lợn Bùi Văn Dũng (2000) [2] nghiên cứu tình hình

bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn P multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu

bò khoẻ ở tỉnh Lai Châu Phan Thanh Phượng (2000) [21] nghiên cứu về bệnh

tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống Cao Văn Hồng

(2001) [10] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn

tại Đăk Lăk Hoàng Đăng Huyến (2004) [13] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ,

các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Bắc Giang Nguyễn

Văn Minh (2005) [16] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết

trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu bò tỉnh Hà Tây

Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007) [9] nghiên cứu một số đặc tính của vi

khuẩn P multocida phân lập từ trâu, bò, lợn Đỗ Ngọc Thuý và cs (2007) [31]

đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định type các chủng vi khuẩn P multocida

phân lập từ vật nuôi; Đỗ Quốc Tuấn (2008) [35] nghiên cứu bệnh tụ huyết

trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Bệnh tụ huyết trùng đã được Bollinger phát hiện đầu tiên năm 1878,

những năm tiếp theo nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bệnh ở các loài vật

khác nhau Mầm bệnh được tìm thấy ở bò tại Munic (Đức) năm 1878, ở thỏ

năm 1881, ở lợn do Loeffer phát hiện năm 1886, ở trâu năm 1887 và sau đó

đã phát hiện vi khuẩn còn gây bệnh cho nhiều loài động vật khác (Carter,

1959) [44] Parvi và Apte (1976) [68] đã ghi nhận vi khuẩn tụ huyết trùng gây

bệnh cho hươu, nai, chó, ngựa, chồn, khỉ v.v

Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc các

nhà khoa học thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương đồng kháng

nguyên nhưng có sự khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật Năm 1887,

Trang 17

Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công lao của

Louis Pasteur

Thời gian sau đó người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho

động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gây bệnh

Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu v.v

Đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [74] đã đề nghị đặt tên cho vi

khuẩn này là Pasteurella multocida để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài

vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và được sử

dụng cho đến ngày nay

Từ năm 1887 đến nay, bệnh đã được phát hiện ở nhiều địa phương trên

thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất là

các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc Châu Á Bệnh xảy ra tại các nước Đông

Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vào

năm 1923, song không gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ Bệnh cũng

được phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922,

1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa vào năm 1969

(Carter, 1982) [46] Năm 1984, tổ chức dịch tễ thế giới (OIE: Office

International Epizooties) chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên

thế giới (FAO, 1991) [56] Theo De Alwis (1992a) [53], bệnh cũng đã xảy ở

Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc

Ngày nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu, P

multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc,

gia cầm Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng

Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau

Trang 18

1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng

1.2.1 Quá trình sinh dịch

1.2.1.1 Nguồn bệnh

Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị

bệnh và mang trùng Theo Bùi Quý Huy (1998) [12], ổ dịch đầu tiên trong

vùng xảy ra từ trâu, bò của địa phương bị bệnh, do việc mổ thịt đem phân tán,

làm cho dịch lây lan rộng Dịch thường xảy ra và lan rộng theo các triền sông

do dòng nước bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh Các nguồn bệnh khác có thể là dê,

cừu hay ngựa bị bệnh

Tại các vùng dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau khi dịch

thường trở thành những con vật mang trùng tiềm ẩn và thường xuyên bài tiết

mầm bệnh ra ngoài ngoại cảnh, nhưng bệnh không xảy ra Bệnh chỉ phát ra

khi xuất hiện những gia súc cảm thụ mới là những gia súc mới sinh ra sau

dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis,1999) [55]

Trong cơ thể gia súc khoẻ mạnh, P multocida thường tồn tại ở trạng

thái cộng sinh với vật chủ Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn tăng

độc lực và gây bệnh Hiramune và De Alwis (1982) [62] cho rằng có một tỷ lệ

thấp trâu, bò mang khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến hạnh nhân Ở những con

này có hiệu giá kháng thể cao hơn với con vật không mang trùng và vi khuẩn

thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây nhiễm cho gia súc

khác Theo De Alwis (1982b) [50] kiểm tra 72 con trâu thấy trong đó có 5 con

có kháng thể, trong số 5 con này có 3 con có mang vi khuẩn P multocida có

mang vi khuẩn P multocida chủng 6:B, còn trong 67 con không có kháng thể

thì không mang vi khuẩn

Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a) [22], Gupta (1962) [58], thấy rằng

con vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện

Trang 19

dịch tụ huyết trùng trong vùng Theo Chung và cs (1992) [48], P multocida

có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận sẽ gây chứng viêm phổi Một số

tác giả cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động vật hoang dại (chồn, cáo, thỏ

rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như bọ chó, ruồi trâu v.v) Chuột nhắt

rất mẫn cảm với P multocida Những gia súc mang trùng từ những vùng có dịch

xâm nhập vào vùng chưa có dịch cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh

phát ra (Saharee và cs, 1991) [75]

1.2.1.2 Yếu tố truyền lây

Sự xuất hiện bệnh có liên quan đến các yếu tố stress do môi trường,

hoặc do quản lý chăm sóc (nóng, lạnh, các kích động, chăn nuôi kém vệ sinh,

thức ăn không tốt) kèm theo những vi khuẩn gây bệnh như nấm độc, vi khuẩn

độc hoặc độc tố làm giảm sức đề kháng của cơ thể là nguyên nhân làm tăng tỷ

lệ nhiễm trùng và phát sinh bệnh Gia súc bị nuôi nhốt quá chật trong những

chuồng kém thông gió, ẩm ướt, gia súc phải làm việc quá sức, làm việc trong

những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh cũng dễ phát

ra (Bolin và Eveleth, 1951) [40]

Vận chuyển đi xa trong những phương tiện thiếu vệ sinh, thiếu

không khí, nhốt quá chật, thiếu nước uống trong khi vận chuyển, vận

chuyển với tốc độ nhanh, đi dưới trời nóng, không cho gia súc nghỉ, đó là

nguyên nhân làm cho bệnh tụ huyết trùng gia súc dễ dàng xảy ra và làm

chết gia súc, gia cầm (Carter, 1982) [46]

Cho đến nay không rõ vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong

một số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài một số con Có

nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hoá,

qua vết xây xước trên da Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ con ốm sang con

khoẻ qua tiếp xúc: Ở chung một chuồng, cùng chăn thả một bãi, uống chung

Trang 20

Bệnh lây lan do việc mổ gia súc ốm, phân tán thịt da Chó mèo và một số côn

trùng hút máu như ruồi, mòng v.v, cũng có thể là vật môi giới truyền mầm

bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [24]

Trong giai đoạn đầu của bệnh, khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn

từ nước dãi và phân, nước tiểu được bài ra xung quanh Ổ dịch rộng hay

hẹp tuỳ theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn và sức miễn dịch của đàn (Phan

Thanh Phượng, 1994) [19]

1.2.1.3 Động vật mẫn cảm

Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú hoang dại

và chim đều mẫn cảm với với bệnh Theo Lignieres (1900) [65] ít nhất có 6

dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở gà, cừu, trâu, bò, lợn, ngựa và chó, cả

6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ

Theo De Alwis (1982b) [50] động vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh

tụ huyết trùng trâu bò là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò Bệnh có thể lây

sang lợn, ngựa, chó v.v, nên trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò cần chú ý phòng

bệnh cho cả ngựa, lợn, chó Đặc biệt là dê cũng dễ mắc bệnh tụ huyết trùng này

Nhiều tác giả đã khẳng định: Nơi nào có bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó

người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật hoang dã (voi tại Srilanka, lạc đà tại

Sudan, gấu tại Anh và báo tuyết tại Hymalaya) (De Alwis, 1982a) [49] Tỷ lệ

mắc bệnh và tỷ lệ chết của các loài vật bị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc

vào nhiều yếu tố như: Mức độ cảm nhiễm, sức đề kháng cơ thể, lứa tuổi v.v

Vi khuẩn P multocida có thể đóng vai trò tiên phát hoặc kế phát đối

với nhiều bệnh ở nhiều loài động vật và ở người Bệnh do Pasteurella

multocida đóng vai trò gây bệnh tiên phát được gọi là Pasteurellosis như bệnh

tụ huyết trùng trâu bò, bệnh tụ huyết trùng gia cầm, bệnh tụ huyết trùng lợn

v.v, trong những trường hợp này bệnh phát sinh do chỉ nhiễm P multocida

Trang 21

Trong một số trường hợp như viêm vú, viêm teo mũi ở lợn, viêm phổi bò có

vai trò thứ phát của P multocida (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]

Bệnh tụ huyết trùng lợn thường gặp ở Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ và

Việt Nam v.v (FAO,1991) [56] De Alwis (1999) [55] cho rằng, mặc dù

không phải là vật chủ thường xuyên của bệnh tụ huyết trùng, nhưng lợn

vẫn là loài mẫn cảm với bệnh

Bệnh có thể lây từ trâu, bò sang ngựa, chó và lợn Khả năng cảm nhiễm

của dê, cừu với P multocida rất lớn Bệnh cũng xảy ra ở lợn và truyền từ lợn

sang trâu, bò, gà và ngược lại Ở một số nơi, bệnh tụ huyết trùng xảy ra ít hơn

hoặc nhiều hơn so với dịch tả lợn cổ điển (Townsend và cs, 1998) [78]

1.2.2 Tuổi mắc bệnh

Bệnh xảy ra hầu hết ở các lứa tuổi Những con đang bú mẹ ít mắc

hơn những con trưởng thành Gia súc non dễ mắc hơn gia súc già Bệnh

thường xảy ra ở lợn 3 - 6 tháng tuổi Trâu, bò 1 -3 tuổi dễ mắc hơn trâu, bò

già và khi mắc bệnh thì có tỷ lệ chết cao hơn Trâu, bò càng béo, khoẻ, trẻ

càng dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc

bệnh (Bùi Quý Huy,1998) [12]

Theo De Alwis (1984) [51] mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh

hơn động vật già Khi nghiên cứu vùng có dịch tại Srilanka tác giả cho biết, tỷ

lệ mắc bệnh tụ huyết trùng đối với trâu bò dưới hai năm tuổi là 30 - 32%,

trong khi đó trâu bò trên hai năm tuổi chỉ mắc bệnh 3 - 5 % ở bò và 8 - 9 % ở

trâu De Alwis (1999) [55] trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành

có lượng kháng thể cao hơn trong cơ thể và kháng thể tự nhiên này sẽ được

trâu, bò dưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ Cũng theo tác giả, kháng thể có

trong sữa đầu có thể tồn tại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến

ngày thứ 58

Trang 22

Dương Thế Long (1995) [15] theo dõi bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở

Sơn La thấy tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Đỗ Văn

Được (1998) [6] cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn xảy ra ở

mọi lứa tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế Bùi Quý Huy (1998)

[12] thống kê trên 1000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa

tuổi 2 - 6 năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25% Cao Văn Hồng (2001)

[10] tại Đăk Lăk cũng cho thấy, lứa tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới

36 tháng tuổi Nguyễn Đăng Huyến (2004) [13] cho biết tại Bắc Giang trâu

bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất

1.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch

Bệnh tụ huyết trùng ở gia súc phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu,

Mustafa và cs (1978) [66] nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ

huyết trùng đã nhận xét bệnh thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm ướt

Theo Yeo và Mukhtar (1992) [80] khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh tụ huyết

trùng phải quan tâm đến điều kiện thời tiết, khí hậu và địa lý của từng vùng vì

những yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của mầm bệnh trong

môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm

Mùa phát bệnh tụ huyết trùng ở các nước Châu Á tập chung vào các

tháng và mùa khác nhau trong năm Carter và De Alwis (1989) [47] nhận xét

bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm song tập chung vào các tháng mưa, ẩm

Ở Lào bệnh phát ra từ tháng 5 đến tháng 8, ở Pakistan bệnh xảy ra rải rác

quanh năm song thường ở tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (FAO, 1991) [56];

bệnh xảy ra các tháng 8, 9 ở Malaysia (Yeo và Mukhtar, 1992) [80]; ở

Campuchia bệnh xảy ra vào cuối mùa nóng (Kral và cs, 1992) [64]

Ở Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra vào các

tháng mưa nhiều Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24] cho rằng khi bắt đầu mùa

mưa, khí hậu nóng ẩm thì bệnh lây lan và phát thành dịch Đặc biệt sau những

trận mưa đầu mùa mang đến những thay đổi về sức khoẻ do gia súc bị lạnh, ở

Trang 23

những vùng ngập lụt, sau khi nước rút đi, cỏ bị dính bùn và thối, nên bệnh

thường phát sinh vào các tháng có mưa nhiều (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987)

[26] Dương Thế Long (1995) [15], Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], Nguyễn

Thiên Thu (1996) [30], Võ Văn Hùng (1997) [11], đều cho rằng vào thời gian

mưa, bệnh xảy ra nhiều

Bùi Quý Huy (1998) [12] cho biết, ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm

nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 Ở miền

Nam, bệnh xảy ra mạnh khi mưa và nắng từ tháng 4 đến tháng 10 Đỗ Văn

Được (1998) [6] cho biết, ở Lạng Sơn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến tháng

8, 9; bệnh xảy ra nhiều đối với gia súc chưa tiêm phòng vắc xin Bùi Xuân

Đồng (2000) [4] nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Hải Phòng cho

thấy bệnh bắt đầu vào tháng 4, đỉnh cao là tháng 6, 7 Theo Bùi Văn Dũng

(2000) [2], ở Lai Châu bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm nhưng tập trung

vào các tháng 3, 4, 7, 8 hàng năm, vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa Cao Văn

Hồng (2001) [10] cho biết, mùa dịch tụ huyết trùng ở Đăk Lăk từ tháng 5 đến

tháng 9, đây là những tháng mưa nhiều Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [13]

bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, thời

gian này cũng đang là mùa mưa Cũng theo Nguyễn Văn Minh (2005) [16] bệnh

tụ huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8,

vào đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 đây là

những tháng nắng, nhiệt độ cao và mưa nhiều

Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [22]; (1986b) [23] khi nghiên cứu tỷ lệ

mang trùng ở trâu, bò và lợn bằng cách lấy dịch ngoáy mũi đã rút ra kết

luận ở vùng nào có tỷ lệ tiêm phòng càng cao, thì tỷ lệ mang trùng càng

thấp thậm chí là không có con mang trùng De Alwis (1992b) [54] nhận xét

rằng, bệnh thường xảy ra vào các năm kế do tiêm phòng không tốt, vào các

tháng mưa nhiều

Trang 24

Bùi Quý Huy (1998) [12] cho biết, vùng xảy ra ổ dịch đều là nơi mà

đàn trâu, bò từ lâu không được tiêm phòng hoặc tiêm chỉ đạt tỷ lệ 10 - 15%

tổng đàn Một khu vực có tỷ lệ tiêm phòng từ 80% trở lên bệnh khó xảy ra

Bain và cs (1982) [37], gia súc một làng đã bị bệnh trong một năm thì

năm sau có thể không bị mắc, mặc dầu mức độ bệnh chung của cả huyện vẫn

giữ nguyên trong các năm

Theo kết quả điều tra ở Sri Lanka của De Alwis (1992b) [54], tỷ lệ

những con có miễn dịch tự nhiên tuỳ theo đàn và trong cùng một đàn nó cũng

thay đổi theo thời gian Nó liên quan trực tiếp với bệnh tụ huyết trùng mới

xuất hiện trong đàn Tỷ lệ có miễn dịch cao nhất thuộc về những con không

có tiêm chủng qua một vụ dịch Sức miễn dịch này giảm dần theo thời gian

nhưng thường mạnh và tốt hơn miễn dịch sau khi tiêm phòng

Nguyễn Đình Trọng (2002) [34], ở Bắc Kạn do việc triển khai các công

tác về thú y, trong đó có công tác tiêm phòng và xử lý ổ dịch không được tốt nên

bệnh thường xuyên tái phái

1.2.4 Vùng phát bệnh

Các nghiên cứu đều cho thấy, bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ở

những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh

Văn Thịnh (1958) [5], bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu

nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa Điều kiện tự nhiên, khí

hậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây

lan bệnh Đặc biệt là ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có

nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh, làm

chết nhiều gia súc (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [26]

Nguyễn Ngã (1996) [17] cho biết, bệnh này phụ thuộc rất nhiều vào

điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Theo Võ Văn Hùng (1997) [11], bệnh xảy

ra ở vùng địa hình phức tạp như núi cao, đầm lầy, trình độ dân trí thấp, tập

quán chăn nuôi lạc hậu v.v Năm 1990, riêng ba tỉnh Sơn la, Hoàng Liên Sơn,

Trang 25

Bắc Thái, số ổ dịch tụ huyết trùng gia súc chiếm 60% và trong đó có tới 70%

số gia súc chết so với toàn Miền Bắc (Bùi Quý Huy, 1998) [12] Đỗ Văn

Được (2003) [7] cho biết, ở Lạng Sơn vùng núi đất có độ dốc lớn, nhiệt độ

thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ

nhiễm bệnh và chết cao Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [13], ở Bắc Giang

vùng đồi núi thấp, tỷ lệ mắc bệnh tụ huyết trùng và chết cao Nguyễn Văn

Minh (2005) [16], ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò ốm, chết vì bệnh tụ huyết trùng ở vùng

đồi, bán sơn địa cao hơn vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng Nguyễn Đình

Trọng (2002) [34], ở Bắc Cạn bệnh tụ huyết trùng xảy ra chủ yếu ở các vùng

sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp có tập quán thả rông trâu, bò nên trâu, bò dễ

tiếp xúc với mầm bệnh Ở những vùng có phương thức chăn nuôi thả rông,

không có người chăm sóc, không làm chuồng nuôi nhốt, để gia súc nơi bùn

lầy, ngập nước, không dọn phân thường xuyên, việc vệ sinh, chăm sóc nuôi

dưỡng kém thì khả năng xảy ra bệnh cao Ngoài ra trình độ dân trí thấp,

nhận thức của người dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều

khó khăn v.v, thì cũng không tránh khỏi dịch bệnh thường xuyên xảy ra

Carter và De Alwis (1989) [47] cũng xác định bệnh thường xảy ra ở những

vùng sâu, hẻo lánh nên việc phòng chống bệnh gặp nhiều khó khăn

1.2.5 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp

trên của động vật khoẻ

Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể tìm thấy ở các hạch lympho

của đường hô hấp trên của trâu, bò khoẻ đóng vai trò mang trùng Những

trâu bò mang trùng tiềm tàng không xuất hiện triệu chứng lâm sàng vì vậy

được coi là không mắc bệnh nhưng liên tục thải vi khuẩn qua đường mũi Ở

giai đoạn tiềm ẩn này chỉ có thể xác định được vi khuẩn bằng nuôi cấy các

hạch lympho lấy từ lò mổ hoặc dịch tiết ở mũi, hầu (Singh, 1948 [76],

Wijewantha và cs, 1992 [79])

Trang 26

Hiramune và De Alwis, (1982) [62] cũng cho rằng, có một tỷ lệ thấp

trâu bò mang khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến amidan, ở những con vật

này có hiệu giá kháng thể cao hơn so với con vật không mang trùng và vi

khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây cảm nhiễm

đối với động vật khác khi chúng tiếp xúc

Singh (1948) [76] tìm thấy 3,55% vật mang trùng từ dịch ngoáy mũi

trâu bò khoẻ mạnh, 7% vật mang trùng từ hạch lympho ở trâu bò đem giết mổ

ở lò mổ Wijewantha và cs (1992) [79] tìm thấy 15% vật mang trùng trong

những trâu bò đem giết mổ

Mustafa và cs (1978) [66] tìm thấy 0 - 5% trâu bò mang trùng ở vùng

không có dịch và 44,4% ở vùng xảy ra dịch Nhưng theo Hiamune và De

Alwis (1982) [62] thì chỉ tìm thấy 2,7% vật mang trùng có dịch và không tìm

thấy vật mang trùng ở vùng không có dịch

Saharee và cs (1991) [75] cũng cho rằng, vi khuẩn bài xuất ra môi

trường qua dịch tiết niêm mạc mũi và nguyên nhân gây ra các ổ dịch khi gặp

các stress Từ đó kết luận để phân lập vi khuẩn ở vật mang trùng có thể lấy

dịch ngoáy mũi và hạch lympho

Gupta (1962) [58] cũng phân lập được vi khuẩn ở phần trên đường

hô hấp của lợn khoẻ, đồng thời tác giả cũng nghiên cứu 4 chủng có nguồn

gốc từ gia cầm, thấy có một chủng được phân lập từ một ổ dịch gà mãn tính

trong vùng có dịch tụ huyết trùng, chúng thuộc type B:6 Theo tác giả việc

phân lập được type B:6 từ gia cầm trong vùng có dịch nói lên gà là nguồn

mang bệnh tụ huyết trùng

Gupta (1980) [59] khi nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Ấn Độ

cho thấy 0% vật mang trùng ở vùng không có dịch; 1,9% ở vùng phát sinh dịch

trung bình và 5 - 6% ở những vùng phát sinh dịch cao Tỷ lệ mang trùng ở trâu

Trang 27

là 2,5 - 6,15% cao hơn ở bò là 1,25 - 2% Việc xét nghiệm phần trên đường hô

hấp của trâu bò ở vùng thường có dịch khi dịch đang phát ra thấy 7,5% súc vật

mang khuẩn Theo Hiramune và De Alwis (1982) [62], tỷ lệ trâu bò khoẻ

mang trùng giảm nhanh từ 22% ở tuần lễ đầu, sau vụ dịch xuống còn 1,9%

sau 6 tuần và vi khuẩn này có thể tồn tại đến 8 tháng

Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [22] cho biết, tỷ lệ mang trùng ở đường

hô hấp trên ở trâu bò khoẻ các tỉnh phía Nam là 5,61% Ở miền Trung, Tây

Nguyên là 1 - 9,4%, tương tự như ở trâu bò thì có 4,1% tỷ lệ lợn khoẻ mang

vi khuẩn Pasteurella

Theo Phan Thanh Phượng (1994) [19] khi gia súc mang vi khuẩn

Pasteurella hoặc nó sẽ gây bệnh ngay cho vật chủ khi vật chủ chịu tác động

của các yếu tố stress làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm

Cao Văn Hồng (2001) [10] cho biết, tỷ lệ trâu bò và lợn khoẻ mang P

multocida ở đường hô hấp khi điều tra ở Đăk Lăk là 14,79% và 11,61%, sau 6

tháng có dịch thì tỷ lệ này lên tới 21,43%

1.3 Các đặc tính sinh học của mầm bệnh

Giống Pasteurella có nhiều loài, căn cứ vào tính chất gây bệnh cho các

loài vật, trong đó loài gây bại huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm là

Pasteurella multocida và với từng giống gia súc khác nhau bệnh tụ huyết

trùng lại do các serotype khác nhau gây ra

1.3.1 Phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida

Theo phân loại của Bergey (1974) [39], Pasteurella multicida thuộc:

- Bộ (order) Eubacteriales

- Họ (family) Parvobacteriaceae

- Tộc (tribe) Pasteurellceae

- Giống (genus) Pasteurella

- Loài (Species) P multocida

Trang 28

1.3.2 Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

Theo Smith (1959) [77] kích thước và hình thái của Pasteurella

multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân

lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µ, trong khi đó vi khuẩn phân

lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 µ Vi khuẩn Pasteurella

multocida có dạng trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, hình bầu dục hay hình

cầu, có kích thước 0,6 - 2,5 x 0,2 - 0,4 µ Vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, thành

đôi hoặc chuỗi, có giáp mô, không sinh nha bào, không có lông, không di

động và bắt màu lưỡng cực ở các tiêu bản động vật mới chết Pasteurella

multocida là vi khuẩn Gram âm, dễ dàng bắt màu với thuốc nhuộm Fuchsin

hoặc xanh Methylen Tính chất bắt màu lưỡng cực của Pasteurella multocida

có thể thấy khi nhuộm bằng Xanh methylen, chỉ thấy ở những tiêu bản làm từ

máu động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm từ con vật mới chết

Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này, nguyên

nhân này do trong quá trình phân bào nguyên sinh chất bắt màu lưỡng cực

dồn về hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]

Theo Bain (1954) [36], các vi khuẩn mới phân lập được người ta căn

cứ vào giáp mô mà phân chúng thành hai nhóm: Một nhóm có giáp mô và

một nhóm không có giáp mô Tác giả cho rằng cơ sở của giáp mô là axit

hyaluronic trên đó gắn vào lớp polysaccarit

1.3.3 Đặc tính nuôi cấy

Pasteurella multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, ưa

kiềm nhẹ (PH = 7,2 – 7,4), có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 130C đến 380

C, thích hợp nhất ở nhiệt độ 370

C

Vi khuẩn P multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường, môi

trường nuôi cấy lỏng, đặc hoặc bán cố thể Môi trường có thể cho thêm chất

kích thích P multocida phát triển và ức chế các loại vi khuẩn khác Tuỳ thuộc

Trang 29

vào mục đích nghiên cứu người ta cho thêm vào môi trường các loại đường,

axit amin và hoá chất khác nhau

Peter và cs (1996) [69], sử dụng môi trường dinh dưỡng tối thiểu để

nuôi cấy chủng sinh độc tố và không sinh độc tố của P multocida Môi trường

này gồm có 17 thành phần, trong đó có cysteine, acid glutamic, leucine,

methionine, muối vô cơ, nicotinamid, pantothenate, thiamine Kết quả 40/46

chủng đem thử (chiếm 87%) mọc tốt trên môi trường này sau 10 lần cấy chuyển

vẫn giữ nguyên khả năng sinh độc tố hoặc không sinh độc tố như lúc đầu

Nếu nuôi cấy tĩnh P multocida sẽ phát triển theo 4 pha: Pha phát triển

chậm (pha thích nghi) kéo dài từ khi nuôi cấy đến giờ thứ 8, pha phát triển

(pha logarit) bắt đầu từ giờ thứ 8 đến giờ 14, pha cân bằng bắt đầu từ giờ 14

đến giờ 19, sau đó là pha suy tàn

- Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 24 giờ ở nhiệt độ 370C vi

khuẩn làm đục môi trường, đáy ống có cặn nhầy, lắc có hiện tượng vẩn như

sương mù rồi lại mất, có khi sinh ra một màng mỏng trên mặt môi trường

Môi trường có mùi tanh của nước dãi khô Theo Carter (1952) [42] mùi tanh

đặc trưng rõ nhất ở pha phát triển nhanh, để lâu mùi tanh giảm dần (trong môi

trường nước thịt P multocida phát triển theo 4 pha: Pha chậm, pha phát triển

nhanh, pha cân bằng và pha suy thoái)

-Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy ở 370C P

multocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ trong suốt như hạt sương, mặt khuẩn

lạc vồng Nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà dính vào môi trường

Theo Carter (1955) [43] trên môi trường thạch P multocida tạo thành

ba dạng khuẩn lạc:

+ Khuẩn lạc dạng S (Smooth): Có rìa gọn, bóng láng, có dung quang

mạnh và độc lực mạnh

+ Khuẩn lạc dạng M (Mucoid): Nhày, ướt, có kích thước lớn nhất, bề

mặt khuẩn lạc ướt, có dung quang yếu, độc lực trung bình

Trang 30

+ Khuẩn lạc dạng R (Ruogh): Có rìa xù xì, thường không có dung

quang, độc lực yếu

Vi khuẩn P multocida tạo khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng có độc

lực mạnh, gây bệnh thể cấp tính Khi cấy chuyển nhiều lần qua môi trường

dinh dưỡng hoặc tiêm động vật thí nghiệm, từ dạng S có thể chuyển sang

dạng M hoặc dạng R và ngược lại

Theo Namioka và Murata (1961) [67] khi nghiên cứu các dạng khuẩn

lạc của P multocida cho thấy chủ yếu hai dạng là dạng có dung quang màu

xanh và dạng có dung quang sắc cầu vồng Những khuẩn lạc có dung quang

màu xanh thường không có hoặc ít có giáp mô vì thế không có độc lực hoặc

độc lực thấp Khuẩn lạc dạng R thường có dung quang màu xanh lơ Các

chủng cường độc, mới phân lập có dung quang mạnh Khi tiêm truyền các

chủng P multocida qua bồ câu vi khuẩn sẽ tạo thành khuẩn lạc dạng S

- Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn phát triển mạnh, không làm dung

huyết, khuẩn lạc có kích thước to hơn khuẩn lạc trên môi trường thạch thường,

có màu tro xám, hình giọt sương và có mùi tanh của nước dãi khô rất đặc trưng

Nếu cấy vi khuẩn P multocida trên môi trường thạch máu sẽ hạn chế

xuất hiện các biến thể Một số nghiên cứu còn cho thấy có thể thay máu bằng

các chất khác như Haematin, catalase, Sodium sulfite và một số chất khác có

đặc tính xúc tác phân huỷ H202

Trên môi trường thạch có huyết thanh và huyết cầu tố: Đây là môi

trường đặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn

Pasteurella Môi trường này được chế bằng cách: Thạch Martin 100ml nấu

chảy để nguội đến 450C, rồi cho vào 1ml huyết cầu tố 1/10 của cừu hay dê,

4ml huyết thanh của bò, ngựa hoặc dê Trên môi trường này vi khuẩn phát

triển thành những khuẩn lạc đặc biệt có hiện tượng phát quang (Fluoresent),

khi quan sát vi khuẩn trên kính hiển vi độ phóng đại 20 lần và góc chiếu phản

Trang 31

quang của ánh đèn điện là 450C Mầu sắc phát quang của khuẩn lạc phụ thuộc

vào độc lực của vi khuẩn: Vi khuẩn có độc lực cao mầu xanh lá mạ chiếm 2/3

diện tích khuẩn lạc, còn 1/3 diện tích khuẩn có màu vàng da cam khuẩn lạc

này gọi Fg (Greenish Fluorescent) Vi khuẩn có độc lực yếu, khuẩn lạc của

chúng không có hiện tượng phát quang gọi là NF (No Fluorescent)

Một tính chất quan trọng là hình thái và màu sắc cầu vồng của khuẩn

lạc P multocida nhìn qua ánh sáng điện xiên 450: Khi mới phân lập khuẩn lạc

có cầu vồng mạnh hay yếu hoặc có hình rẻ quạt với màu biến đổi hoặc khuẩn

lạc có màu xanh ít hoặc không màu

Các tác giả đều thống nhất, hiện tượng phát quang của khuẩn lạc vi

khuẩn có liên quan đến tính chất của một số hợp chất có khả năng hấp thu

những tia sáng nhất định (Rosenbusch và Merchant, 1939 [74], Heddleston và

cs, 1966 [60]) Theo Smith đặc tính dung quang này còn có quan hệ chặt chẽ

với sự tạo vỏ của vi khuẩn tụ huyết trùng Dựa vào tính chất này, có thể chọn

được những chủng tụ huyết trùng có tính kháng nguyên cao

1.3.4 Đặc tính sinh hoá

Những năm đầu của thế kỷ XX, một đặc tính sinh vật hoá học của vi

khuẩn tụ huyết trùng đã được phát hiện bởi Lignieres Theo thời gian, nhiều

công trình nghiên cứu về đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P multocida đã được

công bố Các tác giả đều thống nhất về một số đặc tính sinh hoá cơ bản của vi

khuẩn tụ huyết trùng như sau:

- Dương tính trong các phản ứng: Indol, Nitrat, Oxydase, Catalase

- Âm tính trong các phản ứng: Urease, Homelyse, VP, MR

- Phân giải lên men đường: Glucose, Galactose, Saccarose, Mannose và

Levulose

- Không lên men đường: Lactose, Maltose, Ducitol, và Rafinose

Trang 32

Rosenbush và Merchant (1939) [74] nghiên cứu 113 chủng tụ huyết

trùng về các phản ứng phân giải Arabinose, Xylose và Ducitol, chia vi khuẩn

thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Gồm các vi khuẩn phân giải Arabinose và Ducitol Không

phân giải Xylose Những chủng này phân lập từ gia cầm

- Nhóm 2: Gồm các chủng phân giải Xylose Không phân giải

Arabinose và Ducitol Những chủng này phân lập từ động vật có vú

- Nhóm 3: Gồm các chủng lên men phân giải Arabinose, Ducitol và

Xylose Tác giả còn thấy khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiệm vi khuẩn mất

khả năng phân giải Arabinose và Xylose Tất cả các chủng được nghiên cứu ở trên

đều sinh Indol, không di động, không dung huyết và không phân huỷ Urease

Carter (1955) [43] cho rằng, các chủng P multocida type A phân giải

Arabinose, Ducitol và không phân giải Xylose Các chủng type B và C phân

giải Xylose, nhưng không phân giải Arabinose, Ducitol Chúng còn phân giải

Glucose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol và

Fructose tạo thành axit

Frederickson (1973) [57] khi nghiên cứu tính chất sinh hoá của vi

khuẩn đã chia P multocida thành 6 type (biotype) dựa trên các phản ứng phân

giải các loại đường sau:

- Type 1: Phân giải Arabinose

- Type 2: Không phân giải Arabinose

- Type 1, 6: Phân giải Xylose

- Type 2, 3, 4, 5: Không phân giải Xylose

- Type 6: Không phân giải Manitol và Sorbitol

Heddleston và cs (1966) [60] căn cứ vào tính chất sinh hoá để phân biệt

các loài vi khuẩn thuộc giống Pasteurella bảng 1.1

Trang 33

1.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida

Kháng nguyên P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng

nguyên cũng luôn thay đổi Những nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và sự

phân bố kháng nguyên Pasteurella multocida rất quan trọng trong việc chế

tạo vắc xin đặc hiệu Một vắc xin có hiệu lực tốt phải bao gồm các kháng

nguyên tương ứng với các chủng của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập

được trong từng vùng hay khu vực Cho đến nay, người ta đã xác định được

P multocida có hai loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng

nguyên thân (O)

* Kháng nguyên vỏ (K): Chỉ có ở P multocida tạo khuẩn lạc dạng S,

không gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc M và R Kháng nguyên K bao bọc xung

quanh thân vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị các phage tác động,

Trang 34

đồng thời ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O Do đó,

muốn phát hiện kháng nguyên O bị che lấp, người ta phải phá huỷ kháng

nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy không cho vi khuẩn hình thành

giáp mô Kháng nguyên K thu được qua chiết xuất từ canh khuẩn non, phát

hiện được dễ dàng qua phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp Thành phần và

cấu trúc kháng nguyên K khá phức tạp Theo Prince và Smith (1966) [70]

chúng gồm 3 loại là α, β, γ, kháng nguyên γ được coi là kháng nguyên thân

của Namioka Kháng nguyên có cấu tạo phức tạp giữa protein và polysaccarit

Robert (1947) [73] bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột bạch đã

xác định P multocida có 4 type kháng nguyên K đánh theo số la mã là I, II,

III, IV Carter (1955) [43] sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp

ngưng kết gián tiếp hồng cầu cũng đã xác định P multocida có 4 type nhóm

kháng nguyên K đánh theo chữ cái in hoa A, B, C, D trong đó type B của Carter

tương đương type I Robert Carter (1961) [45] bằng phản ứng ngưng kết gián

tiếp hồng cầu đã xác định type mới, đặt tên là type E Sau này đến năm 1963

Carter đã đề nghị bỏ type C Nhiều thực nghiệm đã chứng minh được mối quan

hệ giữa hai hệ thống phân loại type của Roberts và Carter như sau:

Bảng 1 2 Mối quan hệ giữa hai hệ thống phân loại Carter - Robert

Type theo Roberts I, II, III I - -

* Kháng nguyên thân (O): Vi khuẩn P multocida là một phức hợp

protein - lipit - polysaccarit chiết xuất được nhờ acid trichoaxetic, dung dịch

phenol Phát hiện được bằng phản ứng khuếch tán trong thạch Prince và

Smith (1966) [70] dùng phương pháp điện di miễn dịch trên máy lắc Mikle đã

tách được 16 kháng nguyên O và ký hiệu từ 1 - 16 Sau khi nhuộm với đỏ

Thiazine, xử lý nhiệt và enzym, tác giả đã xác định được 6 trong 16 kháng

nguyên O là protein Sau đó, Johnson và cs (1989) [63] đã phát hiện được một

Trang 35

kháng nguyên O là protein với hơn 40 chuỗi polypeptid trong một chủng P

multocida gây bệnh Khi mở rộng nghiên cứu với 14 chủng gây bệnh trên các

loài vật từ những vùng khác nhau, cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên qua

phân tích tác giả cho rằng, không có một protein nào đặc trưng cho những

chủng P multocida phân lập từ bệnh tụ huyết trùng, mà chỉ có một chuỗi

polypeptid chính (27Kda) được coi là chủng cho những chủng phân lập

Rosenbush và Merchant (1939) [74], bằng phản ứng ngưng kết chéo

với huyết thanh miễn dịch đã chia 44 chủng vi khuẩn nghiên cứu thành 3

nhóm khác nhau Namioka và Murata (1961) [67] dùng phản ứng ngưng kết

nhanh trên phiến kính cũng đã phân kháng nguyên giáp mô thành 4 type A,

B, C, D và bằng phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm với kháng nguyên

được xử lý đặc biệt bằng acid chlohydric để xác định kháng nguyên thân

(somatic antigen) ghi nhận 11 type từ 1 - 11 Tác giả cho rằng kháng

nguyên O bền nên sử dụng lâu hơn

Phân loại của Heddleston và cs (1972) [61] dùng kỹ thuật kết tủa

khuếch tán trên thạch (AGPT) đã chia kháng nguyên thân của P multocida

thành 16 type ký hiệu từ 1 - 16

De Alwis (1987) [52] dùng phản ứng IHA của Carter (1955) [43],

AGPT của Heddleston và cs (1972) [61], của Namioka và Murata (1961) [67]

để xác định các serotype của vi khuẩn tụ huyết trùng trâu, bò cho rằng những

thành phần được coi là kháng nguyên thân (somatic) trong hệ thống phân loại

của người này, có những điểm khác biệt so với người khác là do sự che phủ

giữa kháng nguyên giáp mô và kháng nguyên thân

Rimler và Rhoades (1987) [72] bằng phản ứng IHA đã bổ sung thêm

một serotype giáp mô mới ký hiệu là F Sự phân loại này dựa trên sự khác biệt

của Polysaccharid bề mặt vi khuẩn

Trang 36

Ngày nay, phương pháp phổ biến để xác định các serotype của vi

khuẩn là kết hợp hệ thống của Carter (kháng nguyên giáp mô) và hệ thống

của Heddleston (kháng nguyên thân) Đôi khi hệ thống của Namioka cũng

được sử dụng

Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của P multocida

(theo De Alwis, 1999) [55]

Phân loại theo giáp mô

Type A, B, C, D Type E

Bỏ type C Type A, B, C, D Type F

Phân loại theo kháng nguyên thân

AGPT AGPT

Type 1 - 11 Type 1 - 16 Type 1 - 16 Type 1 - 16

IHA: Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu

AGPT: Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch

1.3.6 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida

Vi khuẩn P multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và

các chất sát trùng thông thường Vi khuẩn dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 580

C trong 20 phút, 800C trong 10 phút, 1000C trong vài giây Trong các mô bào

của cơ thể, ở nhiệt độ 800C vi khuẩn giữ độc lực trong vòng 15 - 20 ngày, ánh

sáng mặt trời diệt vi khuẩn trong 12 giờ Trong xác súc vật, vi khuẩn sống

Trang 37

được từ 1 - 3 tháng Trong máu, mô bào, nước tiểu của súc vật chết, vi khuẩn

giữ độc lực trong vòng từ 5 - 9 ngày Trong tuỷ xương, vi khuẩn giữ độc lực ít

nhất 8 ngày sau khi con vật chết Vì vậy, bệnh phẩm được gửi đi chẩn đoán

tốt nhất là tuỷ xương

Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng: Axit

phenic 5% trong 1 phút, creolin 3%, nước vôi 1% trong 3 - 5 phút Vi khuẩn

sống khá lâu và sinh sản trong đất ẩm có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng Trong

nền chuồng, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể sống hàng năm

1.4 Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn P multocida gây ra

1.4.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng

1.4.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14], Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24] cho

biết trâu, bò thường mắc bệnh ở 3 thể: thể ác tính (thể quá cấp tính), thể cấp

tính và thể mãn tính

* Thể quá cấp tính

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14] thể này thường ít gặp Trâu, bò

thường phát bệnh rất nhanh, con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41 - 420C và trở

lên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết trong vòng 24 giờ Với bê

nghé 3 - 18 tháng có biểu hiện triệu chứng thần kinh như giãy giụa, ngã vật

suống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy,

ngã xuống rồi lịm đi

* Thể cấp tính

Theo Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14],

thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con

vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C Các niêm mạc

mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt, nước mũi chảy ra liên tục Các hạch

Trang 38

lâm ba đều sưng, đặc biệt hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè

lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi bệnh "trâu hai lưỡi" Hạch lâm ba

trước vai, trước đùi sưng, thuỷ thũng làm cho con vật đi lại khó khăn

Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24] cho biết ngoài triệu chứng chung này,

còn có những triệu chứng cục bộ do vi khuẩn xâm nhập vào một bộ phận nào

đó của cơ thể như ngực, bụng, hạch, hay xâm nhập vào tất cả các bộ phận này

- Trường hợp bệnh khu trú ở ngực: Có triệu chứng phổi tụ máu, viêm

màng phổi, viêm ngoại tâm mạc có nước vàng Con vật ho khan, ho nhỏ, ho

từng cơn Nước mũi chảy đặc lẫn mủ

- Trường hợp bệnh khu trú ở bụng: Có triệu chứng viêm ruột cấp tính,

lúc đầu đi táo, rồi đi tháo có máu, sau cùng viêm phúc mạc có nước vàng,

bụng chướng to

- Trường hợp bệnh khu trú ở hạch lâm ba có triệu chứng viêm hạch,

hạch sưng to, chỗ sưng nóng, đau Ấn tay vào chỗ sưng thì có vết lõm nhưng

không có tiếng kêu lạo xạo

Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều

chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày, tỷ lệ chết

90 - 100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong

thời gian 24 - 36 giờ

* Thể mãn tính

Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành

mãn tính, vật bệnh thể hiện viêm ruột mãn tính: Lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm

khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mãn tính

Bệnh tiến triển trong vài tuần, con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ

dần, con vật gầy rạc và chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2008) [14]

Trang 39

1.4.1.2 Bệnh tích

Theo các tác giả Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24], Phan Thanh Phượng

(1994) [21], Phạm Huy Thuỵ (2000) [32], các bệnh tích chủ yếu thường thấy là:

- Con vật chết có hiện tượng phù nề, một số trâu, bò chết có biểu hiện

bụng chứng to do viêm ruột Thịt có màu tím sẫm, chứa nhiều dịch thẩm xuất,

tổ chức dưới da tụ huyết, xuất huyết

- Xoang bụng, xoang ngực, xoang bao tim tích nước màu vàng Các

hạch lâm ba bị tụ huyết, xuất huyết

- Phổi sưng tụ máu, phế quản có bọt, xuất huyết cơ tim, ruột sưng, xuất

huyết, túi mật sưng

1.4.2 Chẩn đoán bệnh

1.4.2.1 Chẩn đoán lâm sàng

Dựa vào triệu chứng, bệnh tích và đặc điểm dịch tễ của bệnh tụ huyết

trùng trâu bò để làm căn cứ và cơ sở chẩn đoán lâm sàng Tuy nhiên chẩn

đoán phi lâm sàng đóng vai trò quyết định

1.4.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [29], chẩn đoán vi khuẩn học để

xác định P multocida có thể tiến hành theo các bước sau:

- Lấy bệnh phẩm và kiểm tra tiêu bản nhuộm: Bệnh phẩm từ máu tim,

gan, lách, hạch, tuỷ xương, phổi, dịch thuỷ thũng của động vật chết nghi

mắc bệnh tụ huyết trùng, bảo quản trong lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm

Nếu con vật chết lâu thì nên lấy bệnh phẩm là xương ống Do nhiễm trùng máu

là giai đoạn đầu của quá trình sinh bệnh nên các mẫu máu lấy từ các gia súc nghi

mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng của bệnh vẫn có thể cho kết quả âm tính

- Nuôi cấy phân lập: Máu tim hoặc tuỷ xương được hoà loãng trong 2 -

3 ml nước sinh lý, đem ria cấy trực tiếp lên thạch máu, nếu bệnh phẩm là

xương ống thì trước khi cấy phải tiêu độc bên ngoài bằng cồn Trong trường

hợp bệnh phẩm lấy từ động vật đã chết lâu hoặc lấy không vô trùng thì các tạp

khuẩn sẽ phát triển lấn át và việc phân lập vi khuẩn tụ huyết trùng sẽ rất khó

Trang 40

- Tiêm truyền động vật thí nghiệm: Lấy một lượng nhỏ máu hoặc tuỷ

xương pha loãng (0,2ml) tiêm cho chuột bằng đường tiêm tĩnh mạch hoặc

tiêm xoang phúc mạc, nếu có vi khuẩn thì chuột sẽ chết trong vòng 24 - 36

giờ Có thể quan sát thấy vi khuẩn P multocida trên tiêu bản nhuộm máu tim

và các khuẩn lạc P multocida sẽ phát triển thuần khiết trên thạch máu, khuẩn

lạc P multocida trên thạch máu có dạng láng bóng, màu trắng xám, đường

kính 1mm sau 24 giờ nuôi cấy ở 370

C

- Các phương pháp xác định vi khuẩn P multocida phân lập được: Vi

khuẩn phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm được xác định bằng các đặc tính

như kiểm tra hình thái, nuôi cấy vi khuẩn, kiểm tra các đặc tính sinh vật hoá

học và huyết thanh học của các chủng phân lập được

- Các phản ứng sinh hoá:

+ Chuyển hoá đường: P multocida có khả năng lên men nhưng không sinh

hơi đường glucose, saccarose, mannit Không lên men đường lactose, maltose

+ Các phản ứng sinh hoá khác như:

Indol: Indol dương tính

Voges Proskauer (VP) : VP âm tính

Methylen Red (MR): MR âm tính

H2S: H2S sản sinh bất thường

Catalase: Catalase dương tính

1.4.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học

Xác định serotype P multocida phân lập bằng phản ứng ngưng kết

nhanh trên phiến kính, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu cừu để xác định

type kháng nguyên giáp mô và phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch để

xác định kháng nguyên thân từ đó khẳng định chắc chắn vi khuẩn này

(Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]

Ngày đăng: 30/10/2023, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng gia cầm và biện pháp phòng trị thích hợp, Luận án phó Tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện Thú y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng gia cầm và biện pháp phòng trị thích hợp
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Năm: 1996
2. Bùi Văn Dũng (2000), Nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khoẻ mạnh của tỉnh Lai Châu, Luận văn Thạc sỹ Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khoẻ mạnh của tỉnh Lai Châu
Tác giả: Bùi Văn Dũng
Năm: 2000
4. Bùi Xuân Đồng (2000), "Công tác phòng chống bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hải Phòng", Tạp chí KHKT thú y, tập VII, số 1, tr. 91 - 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hải Phòng
Tác giả: Bùi Xuân Đồng
Năm: 2000
5. Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958), Bệnh truyền nhiễm gia súc (những bệnh thường có tại Việt Nam), NXB Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc (những bệnh thường có tại Việt Nam)
Tác giả: Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1958
6. Đỗ Văn Được (1998), "Vài nét tình hình dịch bệnh ở đàn trâu, bò ở Lạng Sơn trong những năm 1991 - 1996", Tạp chí KHKT thú y, tập IV, số 5, tr. 92 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét tình hình dịch bệnh ở đàn trâu, bò ở Lạng Sơn trong những năm 1991 - 1996
Tác giả: Đỗ Văn Được
Nhà XB: Tạp chí KHKT thú y
Năm: 1998
7. Đỗ Văn Được (2003), Nghiên cứu một số nguyên nhân, đặc điểm bệnh lý, triệu chứng bệnh viêm phổi ở trâu Lạng Sơn và biện pháp phòng chống, Luận án tiến sỹ Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số nguyên nhân, đặc điểm bệnh lý, triệu chứng bệnh viêm phổi ở trâu Lạng Sơn và biện pháp phòng chống
Tác giả: Đỗ Văn Được
Năm: 2003
8. Trần Xuân Hạnh, Kirsty M. Townsend, Ian Wilkie, Alan J. Frost, Tô Thị Phấn, Nguyễn Tiến Trung (2002), "Giám định vi khuẩn Pasteurella multocida serotype B:2 bằng kỹ thuật PCR", Tạp chí KHKT thú y, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám định vi khuẩn Pasteurella multocida serotype B:2 bằng kỹ thuật PCR
Tác giả: Trần Xuân Hạnh, Kirsty M. Townsend, Ian Wilkie, Alan J. Frost, Tô Thị Phấn, Nguyễn Tiến Trung
Năm: 2002
9. Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007), "Một số đặc tính vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập trên trâu, bò, lợn",Tạp chí KHKT thú y, tập XIV, số 4, tr. 30 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tính vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập trên trâu, bò, lợn
Tác giả: Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn
Năm: 2007
10. Cao Văn Hồng (2001), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đăk Lăk và một số biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sỹ Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn tại Đăk Lăk và một số biện pháp phòng trị
Tác giả: Cao Văn Hồng
Năm: 2001
12. Bùi Quý Huy (1998), " Một số đặc điểm bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam trong những năm vừa qua",Tạp chí KHKT thú y, tập V, số 1, tr. 91 - 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam trong những năm vừa qua
Tác giả: Bùi Quý Huy
Năm: 1998
13. Hoàng Đăng Huyến (2004), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Bắc Giang và đề xuất một số biện pháp phòng chống, Luận án Tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện Thú y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Bắc Giang và đề xuất một số biện pháp phòng chống
Tác giả: Hoàng Đăng Huyến
Năm: 2004
16. Nguyễn Văn Minh (2005), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây, Luận văn Thạc sỹ Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Văn Minh
Năm: 2005
17. Nguyễn Ngã (1996), Đặc tính sinh học và sự tương đồng kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Miền Trung với chủng Iran chế tạo vắc xin, Luận án phó Tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện thú Y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh học và sự tương đồng kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Miền Trung với chủng Iran chế tạo vắc xin
Tác giả: Nguyễn Ngã
Năm: 1996
18. Hoàng Xuân Nghinh, Trương Văn Dung, Hoàng Đăng Huyến, Tô Long Thành (2004), "Khả năng đáp ứng miễn dịch của một số vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đang lưu hành ở nước ta", Tạp chí KHKT thú y, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng đáp ứng miễn dịch của một số vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đang lưu hành ở nước ta
Tác giả: Hoàng Xuân Nghinh, Trương Văn Dung, Hoàng Đăng Huyến, Tô Long Thành
Năm: 2004
19. Phan Thanh Phượng (1994), Ba bệnh đỏ của lợn, Nxb Nông thôn, Hà Nội, tr. 59 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba bệnh đỏ của lợn
Tác giả: Phan Thanh Phượng
Nhà XB: Nxb Nông thôn
Năm: 1994
21. Phan Thanh Phượng (2000), "Bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống", Tạp chí KHKT thú y, tập VII, số 2, tr. 87 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống
Tác giả: Phan Thanh Phượng
Năm: 2000
22. Nguyễn Vĩnh Phước, Lê Thanh Tòng, Lê Anh Phụng, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Hồng Phước (1986a), "Phân lập định Type huyết thanh học vi khuẩn tụ huyết trùng trâu, bò ở các tỉnh phía Nam", Kết quả hoạt động khoa học kỹ thuật thú y1975 - 1985, NXb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập định Type huyết thanh học vi khuẩn tụ huyết trùng trâu, bò ở các tỉnh phía Nam
23. Nguyễn Vĩnh Phước, Lê Thanh Tòng, Lê Anh Phụng, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Hồng Phước (1986b), "Phân lập định Type huyết thanh học vi khuẩn tụ huyết trùng lợn ở các tỉnh phía Nam", Kết quả hoạt động khoa học kỹ thuật thú y1975 - 1985, NXb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả hoạt động khoa học kỹ thuật thú y1975 - 1985
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước, Lê Thanh Tòng, Lê Anh Phụng, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Hồng Phước
Nhà XB: NXb Nông Nghiệp
Năm: 1986
24. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, NXb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Năm: 1978
25. Nguyễn Văn Quang (1998), Nghiên cứu vắc xin vô hoạt tụ dấu nhũ hoá phòng bệnh tụ huyết trùng và đóng dấu lợn, Luận án phó Tiến sỹ Nông Nghiệp, Viện khoa học Nông Nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vắc xin vô hoạt tụ dấu nhũ hoá phòng bệnh tụ huyết trùng và đóng dấu lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân biệt các loài Pasteurella - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 1.1. Phân biệt các loài Pasteurella (Trang 33)
Bảng 1.3. Hệ thống phân loại serotype của P. multocida - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 1.3. Hệ thống phân loại serotype của P. multocida (Trang 36)
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại nhóm vi khuẩn gây bệnh theo tính chất - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại nhóm vi khuẩn gây bệnh theo tính chất (Trang 49)
Hình  2.2. Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
nh 2.2. Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella (Trang 51)
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 (Trang 56)
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 (Trang 56)
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo loài - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo loài (Trang 61)
Bảng 3.4.  Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 3.4. Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử (Trang 62)
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo mùa vụ - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo mùa vụ (Trang 63)
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo lứa tuổi - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo lứa tuổi (Trang 66)
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo vùng địa lý - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo vùng địa lý (Trang 76)
Bảng 3.10. Mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 3.10. Mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh (Trang 77)
Hình 3.7. Biểu đồ mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu và số trâu, - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Hình 3.7. Biểu đồ mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu và số trâu, (Trang 79)
Bảng 3.12. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 3.12. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi (Trang 82)
Bảng 3.13. Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập - Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn pasteurella multocida trong bệnh tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh hà giang và biện p
Bảng 3.13. Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập (Trang 83)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w