NGUYỄN THỊ HÀNGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
Trang 1NGUYỄN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN
PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2NGUYỄN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI KHUẨN
PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện cùng với sự giúp đỡ của TS Đặng Xuân Bình Các số liệu, hình ảnh và
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác Tôi xin đảm bảo rằng các thông tin, trích dẫn trong
luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo tận tình của các thầy trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với thầy: T.S Đặng Xuân Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tập thể cán bộ nghiên cứu của Bộ môn Công nghệ Vi Sinh
- Viện Khoa học Sự sống, Chi cục Thú y Hà Giang, cùng gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày… tháng….năm 2010
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng 6
1.2.1 Quá trình sinh dịch 6
1.2.1.1 Nguồn bệnh 6
1.2.1.2 Yếu tố truyền lây 7
1.2.1.3 Động vật mẫn cảm 8
1.2.2 Tuổi mắc bệnh 9
1.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch 10
1.2.4 Vùng phát bệnh 12
1.2.5 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên của động vật khoẻ 13
1.3 Các đặc tính sinh học của mầm bệnh 15
1.3.1 Phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida 15
Trang 61.3.3 Đặc tính nuôi cấy 16
1.3.4 Đặc tính sinh hoá 19
1.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida 21
1.3.6 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida 24
1.4 Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn P multocida gây ra 25
1.4.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25
1.4.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25
1.4.1.2 Bệnh tích 27
1.4.2 Chẩn đoán bệnh 27
1.4.2.1 Chẩn đoán lâm sàng 27
1.4.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học 27
1.4.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học 28
1.4.3 Phòng và trị bệnh 29
1.4.3.1 Phòng bệnh 29
1.4.3.2 Điều trị bệnh 30
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.2.1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang 32
2.2.2 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi gia súc khoẻ 32
2.2.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang 33
2.3 Nguyên liệu dùng cho nghiên cứu 33
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm dùng phân lập vi khuẩn 33
2.3.2 Động vật thí nghiệm 33
Trang 72.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 34
2.4.2 Phương pháp tính tỷ lệ và hệ số 34
2.4.3 Phương pháp xác định tương quan giữa các yếu tố khí hậu và số gia súc mắc bệnh tụ huyết trùng 35
2.4.4 Phương pháp nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn Pasteurella multocida 37
2.4.4.1 Phương pháp nuôi cấy, phân lập 37
2.4.4.2 Phương pháp xác định tính chất sinh vật, hoá học của P multocida 38
2.4.5 Kiểm tra độc lực của vi khuẩn của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được 41
2.4.5.1 Kiểm tra độc lực của vi khuẩn trên chuột bạch 41
2.4.5.2 Phương pháp làm kháng sinh đồ 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà Giang 43
3.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2007 - 2009 43
3.1.2 Tần suất xuất hiện dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại các huyện từ năm 2007 - 2009 45
3.1.3 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo loài gia súc 47
3.1.4 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo mùa vụ 49
3.1.5 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu, bò theo lứa tuổi 51
3.1.6 Triệu chứng đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 55
3.2 Nghiên cứu mức độ và thời gian xảy ra dịch bệnh 56
3.2.1 Nghiên cứu mức độ dịch và hệ số năm dịch 56
Trang 83.3.1 Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò theo vùng địa lý 61
3.3.2 Ảnh hưởng các yếu tố khí hậu 64
3.4 Kết quả phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học, độc lực Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia súc tại tỉnh Hà Giang 68
3.4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia súc khoẻ 68
3.4.2 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập 69
3.4.3 Kết quả thử độc lực của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập 70
3.4.4 Kết quả thử tính mẫn cảm với kháng sinh và hoá dược của các chủng Pasteurella multocida phân lập 72
3.4.5 Kết quả xác định type của Pasteurella multocida bằng kỹ thuật PCR 73
3.4.6 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 73
3.4.7 Biện pháp phòng trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hà Giang 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 9ADN : acid deoxyribonucleic
BHI : Brain Heart Infusion
PCR : Polymerase Chain Reaction
P multocida : Pasteurella multocida
THT : Tụ huyết trùng
TT : Thể trọng
VP : Voges Proskauer
Trang 10Bảng 1.1 Phân biệt các loài Pasteurella 21
Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa hai hệ thống phân loại Carter - Robert 22
Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của P multocida 24
Bảng 3.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà
Giang từ năm 2007 - 2009 43Bảng 3.2 Tần suất xuất hiện dịch tụ huyết trùng tại Hà Giang 45Bảng 3.3 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh tụ
huyết trùng theo loài gia súc 48Bảng 3.4 Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo mùa vụ 50Bảng 3.5 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo lứa tổi 53Bảng 3.6 Kết quả theo dõi triệu chứng đặc trưng của trâu bò mắc bệnh tụ
huyết trùng 55Bảng 3.7 Hệ số năm dịch tụ huyết trùng trâu, bò từ năm 2007 - 2009 56Bảng 3.8 Hệ số tháng dịch tụ huyết trùng trâu, bò 58Bảng 3.9 Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo vùng địa lý 63Bảng 3.10 Mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh
tụ huyết trùng trung bình/tháng từ năm 2007 - 2009 65
Bảng 3.11 Kết quả phân lập Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi gia
súc khoẻ 68Bảng 3.12 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi
khuẩn Pasteurella multocida phân lập 70 Bảng 3.13 Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập 71
Trang 11Bảng 3.15 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết
trùng trâu, bò 74
Trang 12Hình 2.1 Sơ đồ phân loại nhóm vi khuẩn gây bệnh theo tính chất sinh vật học 37
Hình 2.2 Sơ đồ phân lập vi khuẩn Pasteurella 39
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 44
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết từ năm 2007 - 2009 44
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo loài 49
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo mùa vụ 51
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo lứa tuổi 54
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và chết theo vùng địa lý 64
Hình 3.7 Biểu đồ Mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu và số trâu, bò mắc bệnh 67
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là một trong những bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm, hàng năm gây chết hàng loạt gia súc, gia cầm làm thiệt
hại đáng kể cho nền kinh tế nước ta Trong các năm 1999 - 2003 bệnh tụ
huyết trùng xảy ra trên diện rộng của tỉnh Hải Phòng, Hà Tây, Nghệ An
làm chết nhiều trâu, bò gây hoang mang cho người chăn nuôi (Phan Thanh
Phượng, 2000) [21]
Về khả năng đáp ứngmiễn dịch của một số vắc xin phòng bệnh tụ huyết
trùng của trâu, bò đang lưu hành ở nước ta, bệnh tụ huyết trùng ở thể bại huyết
(Haemorrhagic septicaemia) đã và đang gây thiệt hại đáng kể cho người chăn
nuôi (Hoàng Xuân Nghinh và cs, 2004) [18] Do vậy, ngoài việc hoàn thiện các
biện pháp chăn nuôi đảm bảo vệ sinh, thì yêu cầu nghiên cứu sự lưu hành của
vi khuẩn gây bệnh, chọn chủng kháng nguyên phù hợp chế tạo vắc xin phòng
bệnh hiệu quả, một vấn đề cấp thiết để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra cho
trâu, bò ở các tỉnh miền núi phía bắc nói chung và cả nước nói riêng
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc có diện tích tự nhiên rộng, chủ
yếu là rừng núi, đây là điều kiện thuận lợi để Hà Giang phát triển chăn nuôi
đại gia súc, đặc biệt là trâu, bò Hiện nay, tổng đàn trâu, bò tỉnh Hà Giang
trên 224000 con Trâu, bò là nguồn sức kéo quan trọng và nguồn thu nhập
đáng kể cho người chăn nuôi Hàng năm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò gây chết
trung bình từ 300 - 500 con làm thiệt hại lớn cho nghành chăn nuôi Xuất phát
từ những yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả
đi trước ở trong và ngoài nước, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh
tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Hà
Giang và biện pháp phòng trị "
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn
tỉnh Hà Giang
- Nghiên cứu vai trò của các yếu tố khí hậu tác động đến đặc điểm dịch
tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
- Xác định sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò
- Đề xuất các biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bổ sung tư liệu về đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò và
tình trạng lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở gia súc khoẻ
- Bổ sung tư liệu về kết quả phân lập và giám định đặc tính sinh vật
học của vi khuẩn Pasteurella multocida, kết quả xác định type vi khuẩn
Pasteurella multocida bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
- Là cơ sở để xác định biện pháp phòng bệnh hiệu quả
Trang 15CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng, theo Phan Đình Đỗ và
Trịnh Văn Thịnh (1958) [5], bệnh tụ huyết trùng trâu bò được phát hiện
đầu tiên vào năm 1868 bởi Condamine ở Bà Rịa, Long Thành, sau đó được
Gemain phát hiện bệnh ở Gò Công, Shein xác nhận có bệnh này ở Tây
Ninh Những năm sau này Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24], Hoàng Đạo
Phấn (1986) [20], đã nghiên cứu về đặc tính của Pasteurella multocida và
type huyết thanh của chúng Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [26], bệnh tụ huyết
trùng trâu bò ở Việt Nam thường xảy ra ở Nam bộ và đặc biệt ở miền tây
Nam bộ, vào những năm 1910, 1919, 1920, 1933, 1935 dịch xảy ra mạnh gây
thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùng đất trũng, thấp, khí hậu ẩm ướt
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng ở gia
súc như: Nguyễn Ngã (1996) [17] đã nghiên cứu tính kháng nguyên và độc
lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung; Dương Thế Long
(1995) [15] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh
tụ huyết trùng trâu bò Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp;
Võ Văn Hùng (1997) [11] nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ
huyết trùng lợn ở Đăk Lăk và biện pháp phòng trị
Trước đây bệnh tụ huyết trùng lợn xảy ra mạnh ở các tỉnh phía Nam và
xảy ra lẻ tẻ ở các tỉnh phía Bắc Trong những năm 70 cuối thế kỷ 20, có 80% số
ổ dịch và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh ở
phía Nam Đến những năm 90, phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh
phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm
có 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành (Bùi Quý Huy, 1998) [12]
Trang 16Nguyễn văn Quang (1998) [25] nghiên cứu về vắc xin phòng bệnh tụ
huyết trùng và đóng dấu lợn Bùi Văn Dũng (2000) [2] nghiên cứu tình hình
bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn P multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu
bò khoẻ ở tỉnh Lai Châu Phan Thanh Phượng (2000) [21] nghiên cứu về bệnh
tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống Cao Văn Hồng
(2001) [10] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn
tại Đăk Lăk Hoàng Đăng Huyến (2004) [13] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ,
các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Bắc Giang Nguyễn
Văn Minh (2005) [16] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết
trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu bò tỉnh Hà Tây
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007) [9] nghiên cứu một số đặc tính của vi
khuẩn P multocida phân lập từ trâu, bò, lợn Đỗ Ngọc Thuý và cs (2007) [31]
đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định type các chủng vi khuẩn P multocida
phân lập từ vật nuôi; Đỗ Quốc Tuấn (2008) [35] nghiên cứu bệnh tụ huyết
trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Bệnh tụ huyết trùng đã được Bollinger phát hiện đầu tiên năm 1878,
những năm tiếp theo nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bệnh ở các loài vật
khác nhau Mầm bệnh được tìm thấy ở bò tại Munic (Đức) năm 1878, ở thỏ
năm 1881, ở lợn do Loeffer phát hiện năm 1886, ở trâu năm 1887 và sau đó
đã phát hiện vi khuẩn còn gây bệnh cho nhiều loài động vật khác (Carter,
1959) [44] Parvi và Apte (1976) [68] đã ghi nhận vi khuẩn tụ huyết trùng gây
bệnh cho hươu, nai, chó, ngựa, chồn, khỉ v.v
Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài gia súc các
nhà khoa học thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương đồng kháng
nguyên nhưng có sự khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật Năm 1887,
Trang 17Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công lao của
Louis Pasteur
Thời gian sau đó người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng cho
động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi và gây bệnh
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu v.v
Đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [74] đã đề nghị đặt tên cho vi
khuẩn này là Pasteurella multocida để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài
vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và được sử
dụng cho đến ngày nay
Từ năm 1887 đến nay, bệnh đã được phát hiện ở nhiều địa phương trên
thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước, nhất là
các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc Châu Á Bệnh xảy ra tại các nước Đông
Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vào
năm 1923, song không gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ Bệnh cũng
được phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922,
1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa vào năm 1969
(Carter, 1982) [46] Năm 1984, tổ chức dịch tễ thế giới (OIE: Office
International Epizooties) chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên
thế giới (FAO, 1991) [56] Theo De Alwis (1992a) [53], bệnh cũng đã xảy ở
Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc
Ngày nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu, P
multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc,
gia cầm Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng
Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau
Trang 181.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng
1.2.1 Quá trình sinh dịch
1.2.1.1 Nguồn bệnh
Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị
bệnh và mang trùng Theo Bùi Quý Huy (1998) [12], ổ dịch đầu tiên trong
vùng xảy ra từ trâu, bò của địa phương bị bệnh, do việc mổ thịt đem phân tán,
làm cho dịch lây lan rộng Dịch thường xảy ra và lan rộng theo các triền sông
do dòng nước bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh Các nguồn bệnh khác có thể là dê,
cừu hay ngựa bị bệnh
Tại các vùng dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau khi dịch
thường trở thành những con vật mang trùng tiềm ẩn và thường xuyên bài tiết
mầm bệnh ra ngoài ngoại cảnh, nhưng bệnh không xảy ra Bệnh chỉ phát ra
khi xuất hiện những gia súc cảm thụ mới là những gia súc mới sinh ra sau
dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis,1999) [55]
Trong cơ thể gia súc khoẻ mạnh, P multocida thường tồn tại ở trạng
thái cộng sinh với vật chủ Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn tăng
độc lực và gây bệnh Hiramune và De Alwis (1982) [62] cho rằng có một tỷ lệ
thấp trâu, bò mang khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến hạnh nhân Ở những con
này có hiệu giá kháng thể cao hơn với con vật không mang trùng và vi khuẩn
thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây nhiễm cho gia súc
khác Theo De Alwis (1982b) [50] kiểm tra 72 con trâu thấy trong đó có 5 con
có kháng thể, trong số 5 con này có 3 con có mang vi khuẩn P multocida có
mang vi khuẩn P multocida chủng 6:B, còn trong 67 con không có kháng thể
thì không mang vi khuẩn
Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a) [22], Gupta (1962) [58], thấy rằng
con vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện
Trang 19dịch tụ huyết trùng trong vùng Theo Chung và cs (1992) [48], P multocida
có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận sẽ gây chứng viêm phổi Một số
tác giả cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động vật hoang dại (chồn, cáo, thỏ
rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như bọ chó, ruồi trâu v.v) Chuột nhắt
rất mẫn cảm với P multocida Những gia súc mang trùng từ những vùng có dịch
xâm nhập vào vùng chưa có dịch cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho bệnh
phát ra (Saharee và cs, 1991) [75]
1.2.1.2 Yếu tố truyền lây
Sự xuất hiện bệnh có liên quan đến các yếu tố stress do môi trường,
hoặc do quản lý chăm sóc (nóng, lạnh, các kích động, chăn nuôi kém vệ sinh,
thức ăn không tốt) kèm theo những vi khuẩn gây bệnh như nấm độc, vi khuẩn
độc hoặc độc tố làm giảm sức đề kháng của cơ thể là nguyên nhân làm tăng tỷ
lệ nhiễm trùng và phát sinh bệnh Gia súc bị nuôi nhốt quá chật trong những
chuồng kém thông gió, ẩm ướt, gia súc phải làm việc quá sức, làm việc trong
những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh cũng dễ phát
ra (Bolin và Eveleth, 1951) [40]
Vận chuyển đi xa trong những phương tiện thiếu vệ sinh, thiếu
không khí, nhốt quá chật, thiếu nước uống trong khi vận chuyển, vận
chuyển với tốc độ nhanh, đi dưới trời nóng, không cho gia súc nghỉ, đó là
nguyên nhân làm cho bệnh tụ huyết trùng gia súc dễ dàng xảy ra và làm
chết gia súc, gia cầm (Carter, 1982) [46]
Cho đến nay không rõ vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong
một số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài một số con Có
nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hoá,
qua vết xây xước trên da Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ con ốm sang con
khoẻ qua tiếp xúc: Ở chung một chuồng, cùng chăn thả một bãi, uống chung
Trang 20Bệnh lây lan do việc mổ gia súc ốm, phân tán thịt da Chó mèo và một số côn
trùng hút máu như ruồi, mòng v.v, cũng có thể là vật môi giới truyền mầm
bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [24]
Trong giai đoạn đầu của bệnh, khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn
từ nước dãi và phân, nước tiểu được bài ra xung quanh Ổ dịch rộng hay
hẹp tuỳ theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn và sức miễn dịch của đàn (Phan
Thanh Phượng, 1994) [19]
1.2.1.3 Động vật mẫn cảm
Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú hoang dại
và chim đều mẫn cảm với với bệnh Theo Lignieres (1900) [65] ít nhất có 6
dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở gà, cừu, trâu, bò, lợn, ngựa và chó, cả
6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ
Theo De Alwis (1982b) [50] động vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh
tụ huyết trùng trâu bò là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò Bệnh có thể lây
sang lợn, ngựa, chó v.v, nên trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò cần chú ý phòng
bệnh cho cả ngựa, lợn, chó Đặc biệt là dê cũng dễ mắc bệnh tụ huyết trùng này
Nhiều tác giả đã khẳng định: Nơi nào có bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó
người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật hoang dã (voi tại Srilanka, lạc đà tại
Sudan, gấu tại Anh và báo tuyết tại Hymalaya) (De Alwis, 1982a) [49] Tỷ lệ
mắc bệnh và tỷ lệ chết của các loài vật bị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: Mức độ cảm nhiễm, sức đề kháng cơ thể, lứa tuổi v.v
Vi khuẩn P multocida có thể đóng vai trò tiên phát hoặc kế phát đối
với nhiều bệnh ở nhiều loài động vật và ở người Bệnh do Pasteurella
multocida đóng vai trò gây bệnh tiên phát được gọi là Pasteurellosis như bệnh
tụ huyết trùng trâu bò, bệnh tụ huyết trùng gia cầm, bệnh tụ huyết trùng lợn
v.v, trong những trường hợp này bệnh phát sinh do chỉ nhiễm P multocida
Trang 21Trong một số trường hợp như viêm vú, viêm teo mũi ở lợn, viêm phổi bò có
vai trò thứ phát của P multocida (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]
Bệnh tụ huyết trùng lợn thường gặp ở Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ và
Việt Nam v.v (FAO,1991) [56] De Alwis (1999) [55] cho rằng, mặc dù
không phải là vật chủ thường xuyên của bệnh tụ huyết trùng, nhưng lợn
vẫn là loài mẫn cảm với bệnh
Bệnh có thể lây từ trâu, bò sang ngựa, chó và lợn Khả năng cảm nhiễm
của dê, cừu với P multocida rất lớn Bệnh cũng xảy ra ở lợn và truyền từ lợn
sang trâu, bò, gà và ngược lại Ở một số nơi, bệnh tụ huyết trùng xảy ra ít hơn
hoặc nhiều hơn so với dịch tả lợn cổ điển (Townsend và cs, 1998) [78]
1.2.2 Tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra hầu hết ở các lứa tuổi Những con đang bú mẹ ít mắc
hơn những con trưởng thành Gia súc non dễ mắc hơn gia súc già Bệnh
thường xảy ra ở lợn 3 - 6 tháng tuổi Trâu, bò 1 -3 tuổi dễ mắc hơn trâu, bò
già và khi mắc bệnh thì có tỷ lệ chết cao hơn Trâu, bò càng béo, khoẻ, trẻ
càng dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc
bệnh (Bùi Quý Huy,1998) [12]
Theo De Alwis (1984) [51] mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh
hơn động vật già Khi nghiên cứu vùng có dịch tại Srilanka tác giả cho biết, tỷ
lệ mắc bệnh tụ huyết trùng đối với trâu bò dưới hai năm tuổi là 30 - 32%,
trong khi đó trâu bò trên hai năm tuổi chỉ mắc bệnh 3 - 5 % ở bò và 8 - 9 % ở
trâu De Alwis (1999) [55] trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành
có lượng kháng thể cao hơn trong cơ thể và kháng thể tự nhiên này sẽ được
trâu, bò dưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ Cũng theo tác giả, kháng thể có
trong sữa đầu có thể tồn tại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến
ngày thứ 58
Trang 22Dương Thế Long (1995) [15] theo dõi bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở
Sơn La thấy tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Đỗ Văn
Được (1998) [6] cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn xảy ra ở
mọi lứa tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế Bùi Quý Huy (1998)
[12] thống kê trên 1000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa
tuổi 2 - 6 năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25% Cao Văn Hồng (2001)
[10] tại Đăk Lăk cũng cho thấy, lứa tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới
36 tháng tuổi Nguyễn Đăng Huyến (2004) [13] cho biết tại Bắc Giang trâu
bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất
1.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch
Bệnh tụ huyết trùng ở gia súc phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu,
Mustafa và cs (1978) [66] nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ
huyết trùng đã nhận xét bệnh thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm ướt
Theo Yeo và Mukhtar (1992) [80] khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh tụ huyết
trùng phải quan tâm đến điều kiện thời tiết, khí hậu và địa lý của từng vùng vì
những yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của mầm bệnh trong
môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm
Mùa phát bệnh tụ huyết trùng ở các nước Châu Á tập chung vào các
tháng và mùa khác nhau trong năm Carter và De Alwis (1989) [47] nhận xét
bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm song tập chung vào các tháng mưa, ẩm
Ở Lào bệnh phát ra từ tháng 5 đến tháng 8, ở Pakistan bệnh xảy ra rải rác
quanh năm song thường ở tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (FAO, 1991) [56];
bệnh xảy ra các tháng 8, 9 ở Malaysia (Yeo và Mukhtar, 1992) [80]; ở
Campuchia bệnh xảy ra vào cuối mùa nóng (Kral và cs, 1992) [64]
Ở Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra vào các
tháng mưa nhiều Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24] cho rằng khi bắt đầu mùa
mưa, khí hậu nóng ẩm thì bệnh lây lan và phát thành dịch Đặc biệt sau những
trận mưa đầu mùa mang đến những thay đổi về sức khoẻ do gia súc bị lạnh, ở
Trang 23những vùng ngập lụt, sau khi nước rút đi, cỏ bị dính bùn và thối, nên bệnh
thường phát sinh vào các tháng có mưa nhiều (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987)
[26] Dương Thế Long (1995) [15], Nguyễn Xuân Bình (1996) [1], Nguyễn
Thiên Thu (1996) [30], Võ Văn Hùng (1997) [11], đều cho rằng vào thời gian
mưa, bệnh xảy ra nhiều
Bùi Quý Huy (1998) [12] cho biết, ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm
nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 Ở miền
Nam, bệnh xảy ra mạnh khi mưa và nắng từ tháng 4 đến tháng 10 Đỗ Văn
Được (1998) [6] cho biết, ở Lạng Sơn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến tháng
8, 9; bệnh xảy ra nhiều đối với gia súc chưa tiêm phòng vắc xin Bùi Xuân
Đồng (2000) [4] nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Hải Phòng cho
thấy bệnh bắt đầu vào tháng 4, đỉnh cao là tháng 6, 7 Theo Bùi Văn Dũng
(2000) [2], ở Lai Châu bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm nhưng tập trung
vào các tháng 3, 4, 7, 8 hàng năm, vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa Cao Văn
Hồng (2001) [10] cho biết, mùa dịch tụ huyết trùng ở Đăk Lăk từ tháng 5 đến
tháng 9, đây là những tháng mưa nhiều Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [13]
bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, thời
gian này cũng đang là mùa mưa Cũng theo Nguyễn Văn Minh (2005) [16] bệnh
tụ huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8,
vào đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 đây là
những tháng nắng, nhiệt độ cao và mưa nhiều
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [22]; (1986b) [23] khi nghiên cứu tỷ lệ
mang trùng ở trâu, bò và lợn bằng cách lấy dịch ngoáy mũi đã rút ra kết
luận ở vùng nào có tỷ lệ tiêm phòng càng cao, thì tỷ lệ mang trùng càng
thấp thậm chí là không có con mang trùng De Alwis (1992b) [54] nhận xét
rằng, bệnh thường xảy ra vào các năm kế do tiêm phòng không tốt, vào các
tháng mưa nhiều
Trang 24Bùi Quý Huy (1998) [12] cho biết, vùng xảy ra ổ dịch đều là nơi mà
đàn trâu, bò từ lâu không được tiêm phòng hoặc tiêm chỉ đạt tỷ lệ 10 - 15%
tổng đàn Một khu vực có tỷ lệ tiêm phòng từ 80% trở lên bệnh khó xảy ra
Bain và cs (1982) [37], gia súc một làng đã bị bệnh trong một năm thì
năm sau có thể không bị mắc, mặc dầu mức độ bệnh chung của cả huyện vẫn
giữ nguyên trong các năm
Theo kết quả điều tra ở Sri Lanka của De Alwis (1992b) [54], tỷ lệ
những con có miễn dịch tự nhiên tuỳ theo đàn và trong cùng một đàn nó cũng
thay đổi theo thời gian Nó liên quan trực tiếp với bệnh tụ huyết trùng mới
xuất hiện trong đàn Tỷ lệ có miễn dịch cao nhất thuộc về những con không
có tiêm chủng qua một vụ dịch Sức miễn dịch này giảm dần theo thời gian
nhưng thường mạnh và tốt hơn miễn dịch sau khi tiêm phòng
Nguyễn Đình Trọng (2002) [34], ở Bắc Kạn do việc triển khai các công
tác về thú y, trong đó có công tác tiêm phòng và xử lý ổ dịch không được tốt nên
bệnh thường xuyên tái phái
1.2.4 Vùng phát bệnh
Các nghiên cứu đều cho thấy, bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ở
những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh
Văn Thịnh (1958) [5], bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu
nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa Điều kiện tự nhiên, khí
hậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây
lan bệnh Đặc biệt là ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có
nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh, làm
chết nhiều gia súc (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [26]
Nguyễn Ngã (1996) [17] cho biết, bệnh này phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Theo Võ Văn Hùng (1997) [11], bệnh xảy
ra ở vùng địa hình phức tạp như núi cao, đầm lầy, trình độ dân trí thấp, tập
quán chăn nuôi lạc hậu v.v Năm 1990, riêng ba tỉnh Sơn la, Hoàng Liên Sơn,
Trang 25Bắc Thái, số ổ dịch tụ huyết trùng gia súc chiếm 60% và trong đó có tới 70%
số gia súc chết so với toàn Miền Bắc (Bùi Quý Huy, 1998) [12] Đỗ Văn
Được (2003) [7] cho biết, ở Lạng Sơn vùng núi đất có độ dốc lớn, nhiệt độ
thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ
nhiễm bệnh và chết cao Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [13], ở Bắc Giang
vùng đồi núi thấp, tỷ lệ mắc bệnh tụ huyết trùng và chết cao Nguyễn Văn
Minh (2005) [16], ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò ốm, chết vì bệnh tụ huyết trùng ở vùng
đồi, bán sơn địa cao hơn vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng Nguyễn Đình
Trọng (2002) [34], ở Bắc Cạn bệnh tụ huyết trùng xảy ra chủ yếu ở các vùng
sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp có tập quán thả rông trâu, bò nên trâu, bò dễ
tiếp xúc với mầm bệnh Ở những vùng có phương thức chăn nuôi thả rông,
không có người chăm sóc, không làm chuồng nuôi nhốt, để gia súc nơi bùn
lầy, ngập nước, không dọn phân thường xuyên, việc vệ sinh, chăm sóc nuôi
dưỡng kém thì khả năng xảy ra bệnh cao Ngoài ra trình độ dân trí thấp,
nhận thức của người dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều
khó khăn v.v, thì cũng không tránh khỏi dịch bệnh thường xuyên xảy ra
Carter và De Alwis (1989) [47] cũng xác định bệnh thường xảy ra ở những
vùng sâu, hẻo lánh nên việc phòng chống bệnh gặp nhiều khó khăn
1.2.5 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp
trên của động vật khoẻ
Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể tìm thấy ở các hạch lympho
của đường hô hấp trên của trâu, bò khoẻ đóng vai trò mang trùng Những
trâu bò mang trùng tiềm tàng không xuất hiện triệu chứng lâm sàng vì vậy
được coi là không mắc bệnh nhưng liên tục thải vi khuẩn qua đường mũi Ở
giai đoạn tiềm ẩn này chỉ có thể xác định được vi khuẩn bằng nuôi cấy các
hạch lympho lấy từ lò mổ hoặc dịch tiết ở mũi, hầu (Singh, 1948 [76],
Wijewantha và cs, 1992 [79])
Trang 26Hiramune và De Alwis, (1982) [62] cũng cho rằng, có một tỷ lệ thấp
trâu bò mang khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến amidan, ở những con vật
này có hiệu giá kháng thể cao hơn so với con vật không mang trùng và vi
khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài xuất ra ngoài gây cảm nhiễm
đối với động vật khác khi chúng tiếp xúc
Singh (1948) [76] tìm thấy 3,55% vật mang trùng từ dịch ngoáy mũi
trâu bò khoẻ mạnh, 7% vật mang trùng từ hạch lympho ở trâu bò đem giết mổ
ở lò mổ Wijewantha và cs (1992) [79] tìm thấy 15% vật mang trùng trong
những trâu bò đem giết mổ
Mustafa và cs (1978) [66] tìm thấy 0 - 5% trâu bò mang trùng ở vùng
không có dịch và 44,4% ở vùng xảy ra dịch Nhưng theo Hiamune và De
Alwis (1982) [62] thì chỉ tìm thấy 2,7% vật mang trùng có dịch và không tìm
thấy vật mang trùng ở vùng không có dịch
Saharee và cs (1991) [75] cũng cho rằng, vi khuẩn bài xuất ra môi
trường qua dịch tiết niêm mạc mũi và nguyên nhân gây ra các ổ dịch khi gặp
các stress Từ đó kết luận để phân lập vi khuẩn ở vật mang trùng có thể lấy
dịch ngoáy mũi và hạch lympho
Gupta (1962) [58] cũng phân lập được vi khuẩn ở phần trên đường
hô hấp của lợn khoẻ, đồng thời tác giả cũng nghiên cứu 4 chủng có nguồn
gốc từ gia cầm, thấy có một chủng được phân lập từ một ổ dịch gà mãn tính
trong vùng có dịch tụ huyết trùng, chúng thuộc type B:6 Theo tác giả việc
phân lập được type B:6 từ gia cầm trong vùng có dịch nói lên gà là nguồn
mang bệnh tụ huyết trùng
Gupta (1980) [59] khi nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Ấn Độ
cho thấy 0% vật mang trùng ở vùng không có dịch; 1,9% ở vùng phát sinh dịch
trung bình và 5 - 6% ở những vùng phát sinh dịch cao Tỷ lệ mang trùng ở trâu
Trang 27là 2,5 - 6,15% cao hơn ở bò là 1,25 - 2% Việc xét nghiệm phần trên đường hô
hấp của trâu bò ở vùng thường có dịch khi dịch đang phát ra thấy 7,5% súc vật
mang khuẩn Theo Hiramune và De Alwis (1982) [62], tỷ lệ trâu bò khoẻ
mang trùng giảm nhanh từ 22% ở tuần lễ đầu, sau vụ dịch xuống còn 1,9%
sau 6 tuần và vi khuẩn này có thể tồn tại đến 8 tháng
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [22] cho biết, tỷ lệ mang trùng ở đường
hô hấp trên ở trâu bò khoẻ các tỉnh phía Nam là 5,61% Ở miền Trung, Tây
Nguyên là 1 - 9,4%, tương tự như ở trâu bò thì có 4,1% tỷ lệ lợn khoẻ mang
vi khuẩn Pasteurella
Theo Phan Thanh Phượng (1994) [19] khi gia súc mang vi khuẩn
Pasteurella hoặc nó sẽ gây bệnh ngay cho vật chủ khi vật chủ chịu tác động
của các yếu tố stress làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm
Cao Văn Hồng (2001) [10] cho biết, tỷ lệ trâu bò và lợn khoẻ mang P
multocida ở đường hô hấp khi điều tra ở Đăk Lăk là 14,79% và 11,61%, sau 6
tháng có dịch thì tỷ lệ này lên tới 21,43%
1.3 Các đặc tính sinh học của mầm bệnh
Giống Pasteurella có nhiều loài, căn cứ vào tính chất gây bệnh cho các
loài vật, trong đó loài gây bại huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm là
Pasteurella multocida và với từng giống gia súc khác nhau bệnh tụ huyết
trùng lại do các serotype khác nhau gây ra
1.3.1 Phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida
Theo phân loại của Bergey (1974) [39], Pasteurella multicida thuộc:
- Bộ (order) Eubacteriales
- Họ (family) Parvobacteriaceae
- Tộc (tribe) Pasteurellceae
- Giống (genus) Pasteurella
- Loài (Species) P multocida
Trang 281.3.2 Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu
Theo Smith (1959) [77] kích thước và hình thái của Pasteurella
multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân
lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µ, trong khi đó vi khuẩn phân
lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 µ Vi khuẩn Pasteurella
multocida có dạng trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, hình bầu dục hay hình
cầu, có kích thước 0,6 - 2,5 x 0,2 - 0,4 µ Vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, thành
đôi hoặc chuỗi, có giáp mô, không sinh nha bào, không có lông, không di
động và bắt màu lưỡng cực ở các tiêu bản động vật mới chết Pasteurella
multocida là vi khuẩn Gram âm, dễ dàng bắt màu với thuốc nhuộm Fuchsin
hoặc xanh Methylen Tính chất bắt màu lưỡng cực của Pasteurella multocida
có thể thấy khi nhuộm bằng Xanh methylen, chỉ thấy ở những tiêu bản làm từ
máu động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm từ con vật mới chết
Vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này, nguyên
nhân này do trong quá trình phân bào nguyên sinh chất bắt màu lưỡng cực
dồn về hai đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]
Theo Bain (1954) [36], các vi khuẩn mới phân lập được người ta căn
cứ vào giáp mô mà phân chúng thành hai nhóm: Một nhóm có giáp mô và
một nhóm không có giáp mô Tác giả cho rằng cơ sở của giáp mô là axit
hyaluronic trên đó gắn vào lớp polysaccarit
1.3.3 Đặc tính nuôi cấy
Pasteurella multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, ưa
kiềm nhẹ (PH = 7,2 – 7,4), có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 130C đến 380
C, thích hợp nhất ở nhiệt độ 370
C
Vi khuẩn P multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường, môi
trường nuôi cấy lỏng, đặc hoặc bán cố thể Môi trường có thể cho thêm chất
kích thích P multocida phát triển và ức chế các loại vi khuẩn khác Tuỳ thuộc
Trang 29vào mục đích nghiên cứu người ta cho thêm vào môi trường các loại đường,
axit amin và hoá chất khác nhau
Peter và cs (1996) [69], sử dụng môi trường dinh dưỡng tối thiểu để
nuôi cấy chủng sinh độc tố và không sinh độc tố của P multocida Môi trường
này gồm có 17 thành phần, trong đó có cysteine, acid glutamic, leucine,
methionine, muối vô cơ, nicotinamid, pantothenate, thiamine Kết quả 40/46
chủng đem thử (chiếm 87%) mọc tốt trên môi trường này sau 10 lần cấy chuyển
vẫn giữ nguyên khả năng sinh độc tố hoặc không sinh độc tố như lúc đầu
Nếu nuôi cấy tĩnh P multocida sẽ phát triển theo 4 pha: Pha phát triển
chậm (pha thích nghi) kéo dài từ khi nuôi cấy đến giờ thứ 8, pha phát triển
(pha logarit) bắt đầu từ giờ thứ 8 đến giờ 14, pha cân bằng bắt đầu từ giờ 14
đến giờ 19, sau đó là pha suy tàn
- Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 24 giờ ở nhiệt độ 370C vi
khuẩn làm đục môi trường, đáy ống có cặn nhầy, lắc có hiện tượng vẩn như
sương mù rồi lại mất, có khi sinh ra một màng mỏng trên mặt môi trường
Môi trường có mùi tanh của nước dãi khô Theo Carter (1952) [42] mùi tanh
đặc trưng rõ nhất ở pha phát triển nhanh, để lâu mùi tanh giảm dần (trong môi
trường nước thịt P multocida phát triển theo 4 pha: Pha chậm, pha phát triển
nhanh, pha cân bằng và pha suy thoái)
-Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy ở 370C P
multocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ trong suốt như hạt sương, mặt khuẩn
lạc vồng Nuôi lâu khuẩn lạc có màu trắng ngà dính vào môi trường
Theo Carter (1955) [43] trên môi trường thạch P multocida tạo thành
ba dạng khuẩn lạc:
+ Khuẩn lạc dạng S (Smooth): Có rìa gọn, bóng láng, có dung quang
mạnh và độc lực mạnh
+ Khuẩn lạc dạng M (Mucoid): Nhày, ướt, có kích thước lớn nhất, bề
mặt khuẩn lạc ướt, có dung quang yếu, độc lực trung bình
Trang 30+ Khuẩn lạc dạng R (Ruogh): Có rìa xù xì, thường không có dung
quang, độc lực yếu
Vi khuẩn P multocida tạo khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng có độc
lực mạnh, gây bệnh thể cấp tính Khi cấy chuyển nhiều lần qua môi trường
dinh dưỡng hoặc tiêm động vật thí nghiệm, từ dạng S có thể chuyển sang
dạng M hoặc dạng R và ngược lại
Theo Namioka và Murata (1961) [67] khi nghiên cứu các dạng khuẩn
lạc của P multocida cho thấy chủ yếu hai dạng là dạng có dung quang màu
xanh và dạng có dung quang sắc cầu vồng Những khuẩn lạc có dung quang
màu xanh thường không có hoặc ít có giáp mô vì thế không có độc lực hoặc
độc lực thấp Khuẩn lạc dạng R thường có dung quang màu xanh lơ Các
chủng cường độc, mới phân lập có dung quang mạnh Khi tiêm truyền các
chủng P multocida qua bồ câu vi khuẩn sẽ tạo thành khuẩn lạc dạng S
- Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn phát triển mạnh, không làm dung
huyết, khuẩn lạc có kích thước to hơn khuẩn lạc trên môi trường thạch thường,
có màu tro xám, hình giọt sương và có mùi tanh của nước dãi khô rất đặc trưng
Nếu cấy vi khuẩn P multocida trên môi trường thạch máu sẽ hạn chế
xuất hiện các biến thể Một số nghiên cứu còn cho thấy có thể thay máu bằng
các chất khác như Haematin, catalase, Sodium sulfite và một số chất khác có
đặc tính xúc tác phân huỷ H202
Trên môi trường thạch có huyết thanh và huyết cầu tố: Đây là môi
trường đặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn
Pasteurella Môi trường này được chế bằng cách: Thạch Martin 100ml nấu
chảy để nguội đến 450C, rồi cho vào 1ml huyết cầu tố 1/10 của cừu hay dê,
4ml huyết thanh của bò, ngựa hoặc dê Trên môi trường này vi khuẩn phát
triển thành những khuẩn lạc đặc biệt có hiện tượng phát quang (Fluoresent),
khi quan sát vi khuẩn trên kính hiển vi độ phóng đại 20 lần và góc chiếu phản
Trang 31quang của ánh đèn điện là 450C Mầu sắc phát quang của khuẩn lạc phụ thuộc
vào độc lực của vi khuẩn: Vi khuẩn có độc lực cao mầu xanh lá mạ chiếm 2/3
diện tích khuẩn lạc, còn 1/3 diện tích khuẩn có màu vàng da cam khuẩn lạc
này gọi Fg (Greenish Fluorescent) Vi khuẩn có độc lực yếu, khuẩn lạc của
chúng không có hiện tượng phát quang gọi là NF (No Fluorescent)
Một tính chất quan trọng là hình thái và màu sắc cầu vồng của khuẩn
lạc P multocida nhìn qua ánh sáng điện xiên 450: Khi mới phân lập khuẩn lạc
có cầu vồng mạnh hay yếu hoặc có hình rẻ quạt với màu biến đổi hoặc khuẩn
lạc có màu xanh ít hoặc không màu
Các tác giả đều thống nhất, hiện tượng phát quang của khuẩn lạc vi
khuẩn có liên quan đến tính chất của một số hợp chất có khả năng hấp thu
những tia sáng nhất định (Rosenbusch và Merchant, 1939 [74], Heddleston và
cs, 1966 [60]) Theo Smith đặc tính dung quang này còn có quan hệ chặt chẽ
với sự tạo vỏ của vi khuẩn tụ huyết trùng Dựa vào tính chất này, có thể chọn
được những chủng tụ huyết trùng có tính kháng nguyên cao
1.3.4 Đặc tính sinh hoá
Những năm đầu của thế kỷ XX, một đặc tính sinh vật hoá học của vi
khuẩn tụ huyết trùng đã được phát hiện bởi Lignieres Theo thời gian, nhiều
công trình nghiên cứu về đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P multocida đã được
công bố Các tác giả đều thống nhất về một số đặc tính sinh hoá cơ bản của vi
khuẩn tụ huyết trùng như sau:
- Dương tính trong các phản ứng: Indol, Nitrat, Oxydase, Catalase
- Âm tính trong các phản ứng: Urease, Homelyse, VP, MR
- Phân giải lên men đường: Glucose, Galactose, Saccarose, Mannose và
Levulose
- Không lên men đường: Lactose, Maltose, Ducitol, và Rafinose
Trang 32Rosenbush và Merchant (1939) [74] nghiên cứu 113 chủng tụ huyết
trùng về các phản ứng phân giải Arabinose, Xylose và Ducitol, chia vi khuẩn
thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Gồm các vi khuẩn phân giải Arabinose và Ducitol Không
phân giải Xylose Những chủng này phân lập từ gia cầm
- Nhóm 2: Gồm các chủng phân giải Xylose Không phân giải
Arabinose và Ducitol Những chủng này phân lập từ động vật có vú
- Nhóm 3: Gồm các chủng lên men phân giải Arabinose, Ducitol và
Xylose Tác giả còn thấy khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiệm vi khuẩn mất
khả năng phân giải Arabinose và Xylose Tất cả các chủng được nghiên cứu ở trên
đều sinh Indol, không di động, không dung huyết và không phân huỷ Urease
Carter (1955) [43] cho rằng, các chủng P multocida type A phân giải
Arabinose, Ducitol và không phân giải Xylose Các chủng type B và C phân
giải Xylose, nhưng không phân giải Arabinose, Ducitol Chúng còn phân giải
Glucose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol và
Fructose tạo thành axit
Frederickson (1973) [57] khi nghiên cứu tính chất sinh hoá của vi
khuẩn đã chia P multocida thành 6 type (biotype) dựa trên các phản ứng phân
giải các loại đường sau:
- Type 1: Phân giải Arabinose
- Type 2: Không phân giải Arabinose
- Type 1, 6: Phân giải Xylose
- Type 2, 3, 4, 5: Không phân giải Xylose
- Type 6: Không phân giải Manitol và Sorbitol
Heddleston và cs (1966) [60] căn cứ vào tính chất sinh hoá để phân biệt
các loài vi khuẩn thuộc giống Pasteurella bảng 1.1
Trang 331.3.5 Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida
Kháng nguyên P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng
nguyên cũng luôn thay đổi Những nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và sự
phân bố kháng nguyên Pasteurella multocida rất quan trọng trong việc chế
tạo vắc xin đặc hiệu Một vắc xin có hiệu lực tốt phải bao gồm các kháng
nguyên tương ứng với các chủng của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập
được trong từng vùng hay khu vực Cho đến nay, người ta đã xác định được
P multocida có hai loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng
nguyên thân (O)
* Kháng nguyên vỏ (K): Chỉ có ở P multocida tạo khuẩn lạc dạng S,
không gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc M và R Kháng nguyên K bao bọc xung
quanh thân vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị các phage tác động,
Trang 34đồng thời ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O Do đó,
muốn phát hiện kháng nguyên O bị che lấp, người ta phải phá huỷ kháng
nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy không cho vi khuẩn hình thành
giáp mô Kháng nguyên K thu được qua chiết xuất từ canh khuẩn non, phát
hiện được dễ dàng qua phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp Thành phần và
cấu trúc kháng nguyên K khá phức tạp Theo Prince và Smith (1966) [70]
chúng gồm 3 loại là α, β, γ, kháng nguyên γ được coi là kháng nguyên thân
của Namioka Kháng nguyên có cấu tạo phức tạp giữa protein và polysaccarit
Robert (1947) [73] bằng phương pháp bảo hộ chéo trên chuột bạch đã
xác định P multocida có 4 type kháng nguyên K đánh theo số la mã là I, II,
III, IV Carter (1955) [43] sử dụng phản ứng kết tủa và dùng phương pháp
ngưng kết gián tiếp hồng cầu cũng đã xác định P multocida có 4 type nhóm
kháng nguyên K đánh theo chữ cái in hoa A, B, C, D trong đó type B của Carter
tương đương type I Robert Carter (1961) [45] bằng phản ứng ngưng kết gián
tiếp hồng cầu đã xác định type mới, đặt tên là type E Sau này đến năm 1963
Carter đã đề nghị bỏ type C Nhiều thực nghiệm đã chứng minh được mối quan
hệ giữa hai hệ thống phân loại type của Roberts và Carter như sau:
Bảng 1 2 Mối quan hệ giữa hai hệ thống phân loại Carter - Robert
Type theo Roberts I, II, III I - -
* Kháng nguyên thân (O): Vi khuẩn P multocida là một phức hợp
protein - lipit - polysaccarit chiết xuất được nhờ acid trichoaxetic, dung dịch
phenol Phát hiện được bằng phản ứng khuếch tán trong thạch Prince và
Smith (1966) [70] dùng phương pháp điện di miễn dịch trên máy lắc Mikle đã
tách được 16 kháng nguyên O và ký hiệu từ 1 - 16 Sau khi nhuộm với đỏ
Thiazine, xử lý nhiệt và enzym, tác giả đã xác định được 6 trong 16 kháng
nguyên O là protein Sau đó, Johnson và cs (1989) [63] đã phát hiện được một
Trang 35kháng nguyên O là protein với hơn 40 chuỗi polypeptid trong một chủng P
multocida gây bệnh Khi mở rộng nghiên cứu với 14 chủng gây bệnh trên các
loài vật từ những vùng khác nhau, cũng cho kết quả tương tự Tuy nhiên qua
phân tích tác giả cho rằng, không có một protein nào đặc trưng cho những
chủng P multocida phân lập từ bệnh tụ huyết trùng, mà chỉ có một chuỗi
polypeptid chính (27Kda) được coi là chủng cho những chủng phân lập
Rosenbush và Merchant (1939) [74], bằng phản ứng ngưng kết chéo
với huyết thanh miễn dịch đã chia 44 chủng vi khuẩn nghiên cứu thành 3
nhóm khác nhau Namioka và Murata (1961) [67] dùng phản ứng ngưng kết
nhanh trên phiến kính cũng đã phân kháng nguyên giáp mô thành 4 type A,
B, C, D và bằng phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm với kháng nguyên
được xử lý đặc biệt bằng acid chlohydric để xác định kháng nguyên thân
(somatic antigen) ghi nhận 11 type từ 1 - 11 Tác giả cho rằng kháng
nguyên O bền nên sử dụng lâu hơn
Phân loại của Heddleston và cs (1972) [61] dùng kỹ thuật kết tủa
khuếch tán trên thạch (AGPT) đã chia kháng nguyên thân của P multocida
thành 16 type ký hiệu từ 1 - 16
De Alwis (1987) [52] dùng phản ứng IHA của Carter (1955) [43],
AGPT của Heddleston và cs (1972) [61], của Namioka và Murata (1961) [67]
để xác định các serotype của vi khuẩn tụ huyết trùng trâu, bò cho rằng những
thành phần được coi là kháng nguyên thân (somatic) trong hệ thống phân loại
của người này, có những điểm khác biệt so với người khác là do sự che phủ
giữa kháng nguyên giáp mô và kháng nguyên thân
Rimler và Rhoades (1987) [72] bằng phản ứng IHA đã bổ sung thêm
một serotype giáp mô mới ký hiệu là F Sự phân loại này dựa trên sự khác biệt
của Polysaccharid bề mặt vi khuẩn
Trang 36Ngày nay, phương pháp phổ biến để xác định các serotype của vi
khuẩn là kết hợp hệ thống của Carter (kháng nguyên giáp mô) và hệ thống
của Heddleston (kháng nguyên thân) Đôi khi hệ thống của Namioka cũng
được sử dụng
Bảng 1.3 Hệ thống phân loại serotype của P multocida
(theo De Alwis, 1999) [55]
Phân loại theo giáp mô
Type A, B, C, D Type E
Bỏ type C Type A, B, C, D Type F
Phân loại theo kháng nguyên thân
AGPT AGPT
Type 1 - 11 Type 1 - 16 Type 1 - 16 Type 1 - 16
IHA: Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu
AGPT: Phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch
1.3.6 Sức đề kháng của vi khuẩn P multocida
Vi khuẩn P multocida dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và
các chất sát trùng thông thường Vi khuẩn dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 580
C trong 20 phút, 800C trong 10 phút, 1000C trong vài giây Trong các mô bào
của cơ thể, ở nhiệt độ 800C vi khuẩn giữ độc lực trong vòng 15 - 20 ngày, ánh
sáng mặt trời diệt vi khuẩn trong 12 giờ Trong xác súc vật, vi khuẩn sống
Trang 37được từ 1 - 3 tháng Trong máu, mô bào, nước tiểu của súc vật chết, vi khuẩn
giữ độc lực trong vòng từ 5 - 9 ngày Trong tuỷ xương, vi khuẩn giữ độc lực ít
nhất 8 ngày sau khi con vật chết Vì vậy, bệnh phẩm được gửi đi chẩn đoán
tốt nhất là tuỷ xương
Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng: Axit
phenic 5% trong 1 phút, creolin 3%, nước vôi 1% trong 3 - 5 phút Vi khuẩn
sống khá lâu và sinh sản trong đất ẩm có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng Trong
nền chuồng, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể sống hàng năm
1.4 Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn P multocida gây ra
1.4.1 Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng
1.4.1.1 Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14], Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24] cho
biết trâu, bò thường mắc bệnh ở 3 thể: thể ác tính (thể quá cấp tính), thể cấp
tính và thể mãn tính
* Thể quá cấp tính
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14] thể này thường ít gặp Trâu, bò
thường phát bệnh rất nhanh, con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41 - 420C và trở
lên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết trong vòng 24 giờ Với bê
nghé 3 - 18 tháng có biểu hiện triệu chứng thần kinh như giãy giụa, ngã vật
suống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy,
ngã xuống rồi lịm đi
* Thể cấp tính
Theo Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2008) [14],
thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con
vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C Các niêm mạc
mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt, nước mũi chảy ra liên tục Các hạch
Trang 38lâm ba đều sưng, đặc biệt hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè
lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi bệnh "trâu hai lưỡi" Hạch lâm ba
trước vai, trước đùi sưng, thuỷ thũng làm cho con vật đi lại khó khăn
Nguyễn Vĩnh phước (1978) [24] cho biết ngoài triệu chứng chung này,
còn có những triệu chứng cục bộ do vi khuẩn xâm nhập vào một bộ phận nào
đó của cơ thể như ngực, bụng, hạch, hay xâm nhập vào tất cả các bộ phận này
- Trường hợp bệnh khu trú ở ngực: Có triệu chứng phổi tụ máu, viêm
màng phổi, viêm ngoại tâm mạc có nước vàng Con vật ho khan, ho nhỏ, ho
từng cơn Nước mũi chảy đặc lẫn mủ
- Trường hợp bệnh khu trú ở bụng: Có triệu chứng viêm ruột cấp tính,
lúc đầu đi táo, rồi đi tháo có máu, sau cùng viêm phúc mạc có nước vàng,
bụng chướng to
- Trường hợp bệnh khu trú ở hạch lâm ba có triệu chứng viêm hạch,
hạch sưng to, chỗ sưng nóng, đau Ấn tay vào chỗ sưng thì có vết lõm nhưng
không có tiếng kêu lạo xạo
Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều
chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày, tỷ lệ chết
90 - 100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong
thời gian 24 - 36 giờ
* Thể mãn tính
Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành
mãn tính, vật bệnh thể hiện viêm ruột mãn tính: Lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm
khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mãn tính
Bệnh tiến triển trong vài tuần, con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ
dần, con vật gầy rạc và chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2008) [14]
Trang 391.4.1.2 Bệnh tích
Theo các tác giả Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [24], Phan Thanh Phượng
(1994) [21], Phạm Huy Thuỵ (2000) [32], các bệnh tích chủ yếu thường thấy là:
- Con vật chết có hiện tượng phù nề, một số trâu, bò chết có biểu hiện
bụng chứng to do viêm ruột Thịt có màu tím sẫm, chứa nhiều dịch thẩm xuất,
tổ chức dưới da tụ huyết, xuất huyết
- Xoang bụng, xoang ngực, xoang bao tim tích nước màu vàng Các
hạch lâm ba bị tụ huyết, xuất huyết
- Phổi sưng tụ máu, phế quản có bọt, xuất huyết cơ tim, ruột sưng, xuất
huyết, túi mật sưng
1.4.2 Chẩn đoán bệnh
1.4.2.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích và đặc điểm dịch tễ của bệnh tụ huyết
trùng trâu bò để làm căn cứ và cơ sở chẩn đoán lâm sàng Tuy nhiên chẩn
đoán phi lâm sàng đóng vai trò quyết định
1.4.2.2 Chẩn đoán vi khuẩn học
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [29], chẩn đoán vi khuẩn học để
xác định P multocida có thể tiến hành theo các bước sau:
- Lấy bệnh phẩm và kiểm tra tiêu bản nhuộm: Bệnh phẩm từ máu tim,
gan, lách, hạch, tuỷ xương, phổi, dịch thuỷ thũng của động vật chết nghi
mắc bệnh tụ huyết trùng, bảo quản trong lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm
Nếu con vật chết lâu thì nên lấy bệnh phẩm là xương ống Do nhiễm trùng máu
là giai đoạn đầu của quá trình sinh bệnh nên các mẫu máu lấy từ các gia súc nghi
mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng của bệnh vẫn có thể cho kết quả âm tính
- Nuôi cấy phân lập: Máu tim hoặc tuỷ xương được hoà loãng trong 2 -
3 ml nước sinh lý, đem ria cấy trực tiếp lên thạch máu, nếu bệnh phẩm là
xương ống thì trước khi cấy phải tiêu độc bên ngoài bằng cồn Trong trường
hợp bệnh phẩm lấy từ động vật đã chết lâu hoặc lấy không vô trùng thì các tạp
khuẩn sẽ phát triển lấn át và việc phân lập vi khuẩn tụ huyết trùng sẽ rất khó
Trang 40- Tiêm truyền động vật thí nghiệm: Lấy một lượng nhỏ máu hoặc tuỷ
xương pha loãng (0,2ml) tiêm cho chuột bằng đường tiêm tĩnh mạch hoặc
tiêm xoang phúc mạc, nếu có vi khuẩn thì chuột sẽ chết trong vòng 24 - 36
giờ Có thể quan sát thấy vi khuẩn P multocida trên tiêu bản nhuộm máu tim
và các khuẩn lạc P multocida sẽ phát triển thuần khiết trên thạch máu, khuẩn
lạc P multocida trên thạch máu có dạng láng bóng, màu trắng xám, đường
kính 1mm sau 24 giờ nuôi cấy ở 370
C
- Các phương pháp xác định vi khuẩn P multocida phân lập được: Vi
khuẩn phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm được xác định bằng các đặc tính
như kiểm tra hình thái, nuôi cấy vi khuẩn, kiểm tra các đặc tính sinh vật hoá
học và huyết thanh học của các chủng phân lập được
- Các phản ứng sinh hoá:
+ Chuyển hoá đường: P multocida có khả năng lên men nhưng không sinh
hơi đường glucose, saccarose, mannit Không lên men đường lactose, maltose
+ Các phản ứng sinh hoá khác như:
Indol: Indol dương tính
Voges Proskauer (VP) : VP âm tính
Methylen Red (MR): MR âm tính
H2S: H2S sản sinh bất thường
Catalase: Catalase dương tính
1.4.2.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Xác định serotype P multocida phân lập bằng phản ứng ngưng kết
nhanh trên phiến kính, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu cừu để xác định
type kháng nguyên giáp mô và phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch để
xác định kháng nguyên thân từ đó khẳng định chắc chắn vi khuẩn này
(Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]