1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên

141 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Tác giả Phạm Thị Vân Khánh
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tác động của đô thị hóa tới quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn 87 2.3.1.. Đánh giá của các hộ nông dân về các mặt của đời sống trong s

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thái nguyên, năm 2010

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CN - TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

CNH - HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

DTGT Diện tích gieo trồng

KH - KT Khoa học kỹ thuật

Trang 4

MỤC LỤC

1.1 Cơ sở khoa học về chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá

1.1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong

1.1.1.1 Đất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp 8 1.1.1.2 Đô thị hoá và các vấn đề lý luận về đô thị hóa 11 1.1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá

trình đô thị hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20 1.1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong

quá trình đô thị hoá ở một số nước trên thế giới 20 1.1.2.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong

1.1.3 Cơ cấu đất đai và các vấn đề lý luận về cơ cấu đất nông

Trang 5

1.2.3 Chọn hộ nghiên cứu 34

1.2.7 Phương pháp đánh giá sự tác động của đô thị hoá tới chuyên

dịch cơ cấu đất nông nghiệp đến thu nhập của người dân 37 1.2.8 Phương pháp phân tích các nguyên nhân của sự tác động của

quá trình đô thị hoá tới sự chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp 38

1.2.9.1 Yêu cầu của các chỉ tiêu đánh giá 38 1.2.9.2.Các chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả sản xuất ý nghĩa của

1.2.9.3.Các chỉ tiêu phản ánh doanh thu và lợi nhuận 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẤT NÔNG

NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên và xã hội 47 2.1.1.5 Đánh giá chung về diều kiện tự nhiên của đến sự phát

triển kinh tế xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp 48

2.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 49

Trang 6

2.1.2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 53 2.1.2.4 Tình hình phát triển các ngành kinh tế

2.1.2.5 Tình hình sử dụng đất đai

53

57 2.1.2.6 Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội 62

2.1.3.2 Đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội Thành

2.1.3.3 Đánh giá những lợi thế, khó khăn thách thức trong việc

phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên 72

2.2.1 Thực trạng quá trình đô thị hóa tới chuyển dịch cơ cấu đất đai

công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

2.2.2 Thực trạng quá trình đô thị hóa tới chuyển dịch cơ cấu đất nông

nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

75

77 2.2.2.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu đất trồng cây hàng năm

2.2.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu đất trồng cây lâu năm

79

81

2.2.3 Hiệu quả sản xuất của việc chuyển dịch cơ cấu đất nông

2.2.3.1.Hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa

2.2.3.2 Thực trạng sản xuất ngành nông nghiệp trên địa bàn

2.3 Đánh giá tác động của đô thị hóa tới quá trình chuyển dịch cơ cấu

đất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn 87 2.3.1 Đặc điểm của các hộ nông đân điều tra 87 2.3.1.1 Cơ cấu các loại hình sản xuất của các hộ điều tra 87

Trang 7

2.3.1.2 Cơ cấu các hộ điều tra theo thu nhập 89 2.3.1.3 Các nguồn lực sản xuất chủ yếu của các hộ nông dân 90 2.3.2 Tình hình đất đai của các hộ nông dân

2.3.2.1 Tình hình đất đai bình quân của các hộ nông dân trước và

sau quá trình thu hồi đất nông nghiệp

2.3.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu Đất trồng cây hàng năm

của các hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

91

91

99 2.3.2.3.Tình hình chuyển dịch cơ cấu đất trồng cây lâu năm của

các hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 102

2.3.2.4 Tình hình chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi của các hộ nông

dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

2.3.3 Hiệu quả sản xuất của các hộ nông dân trước và sau quá trình

thu hồi đất

103

105 2.3.3.1 Tình hình sản xuất theo loại hình hộ 106 2.3.3.2 Tình hính sản xuất theo mức thu nhập của hộ 109 2.3.4 Đánh giá của các hộ nông dân về các mặt của đời sống trong

sự thay đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa

2.3.5 Phân tích phương sai một nhân tố về sự nhận thức của về sự

tác động của đô thị hóa tới cơ cấu đất nông nghiệp trước và sau quá

trình thu hồi đất

111

112 2.3.6 Phân tích hồi quy về kết quả sản xuất nông nghiệp của các hộ

2.3.7 Những khó khăn hạn chế cần giải quyết 118

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

ĐẤT NÔNG NGHIỆP HỢP LÝ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

119

3.1 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình

Trang 8

3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp phải phù hợp với chủ

3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập

3.1.3 Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp nhằm phát triển bền

tiềm năng của địa phương

3.2 Phương hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp của thành phố

Thái Nguyên từ nay đến năm 2020

120

121

3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp

Trang 9

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi phải có mộ t tiến trình đô thị hóa nhanh hợp lý Công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cùng với những đổi mới về cơ chế , chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã và đang thu hút được những nguồn lực to lớn , toàn diện cho phát triển kinh tế xã - hội của đất nước Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam trong những thập niên vừa qua khá nhanh so với nhiều nước trong khu vực và trên thế gi ới Năm 1989 tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào khoảng 19,7% thì đến 1/04/2009 đã tăng lên 29,6%, dân số đô thị từ khoảng 12,8 triệu người nay đã tăng hơn 2 lần (25,4 triệu người)

Đô thị hóa tác động đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa ; thông qua đó tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi và tạo ra các ngu ồn lực phát triển toàn diện cho công nghi ệp hoá Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá

trình phát triển đồng hành , tác động ảnh hưởng hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau Hai quá trình này cần phải có sự phát triển thống nhất và tương thích với nhau để tạo nên sự phát triển nhanh , ổn định và bền vững

Sự phát triển bền vững của quốc gia và các vùng , địa phương đòi hỏi phải thực hiện một chiến lược đô thị hóa phát triển hài hòa, hợp lý và bền vững

Đô thị hóa của Việt nam trong những năm qua tuy có tốc độ tăng nhanh nhưng chưa đồng đều , hợp lý và hài hòa , còn bộc lộ nhiều bất cập về phát triển của lực lượng sản xuất cũng như khai thác các lợi thế và tiềm năng , các nguồn tài nguyên , nguồn nhân lực v v Có những nơi thì đô thị hóa quá nhanh , thậm chí quá tải , dẫn đến những tác động tiêu cực về môi trường , những khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng phát triển đô thị Có nơi đô thị hóa lại quá chậm, đô thị hóa thấp đã làm chậm tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa và

Trang 10

khai thá c chưa hiệu quả các tiềm năng , lợi thế và các nguồn lực ở địa phương dẫn đến sự gia tăng về khoảng cách phát triển giữa các vùng miền trong cả nước Mặt khác đô thị hóa có những biểu hiện tự phát tràn lan , nhất là ở những vùng ngoại thành các đô thị lớn hoặc dọc các trục đường giao thông đã làm giảm

nhanh quỹ đất sản xuất nông nghiệp , gây nên lãng phí về đầu tư , hủy hoại và tác động xấu đến cảnh quan , môi trường v v dẫn đến tình t rạng đô thị hóa thiếu tính bền vững

Các văn bản pháp luật , pháp quy của Nhà nước về hướng dẫn lập đồ án quy hoạch xây dựng vùng đã đặt ra nhiệm vụ định hướng đô thị hóa và phát triển

mạng lưới dân cư đô thị - nông thôn Chính phủ có chỉ thị cho các ngành , các địa phương tổ chức triển khai lập quy hoạch tổng thể xây dựng hệ thống đô thị tại các khu vực , các vùng trọng điểm , vùng đô thị hóa Bộ xây dựng đã ban hành văn bản (số 772/BXD/KTQH ngày 5/5/2000) hướng dẫn triển khai thực hiện chỉ thị của Chính phủ , yêu cầu các tỉnh , thành phố tiến hành lập dự án quy hoạch tổng thể phát triển đô thị trên địa bàn cấp tỉnh

Phát triển nhanh kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên trong những thập kỷ tới là một đòi hỏi cần phải có các giải pháp tác động mạnh , toàn diện vào tiến trình đô thị hóa và phát triển hệ thống đô thị, xây dựng nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên được xác định là đô th ị trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ có vị trí chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của đất nước, là nơi giao lưu văn hóa giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ, là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế , giáp ranh với thủ đô Hà N ội Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nói chung ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng không chỉ dựa vào các lợi thế, tiềm năng, vai trò chức năng của tỉnh mà còn dựa vào những tác động ảnh hưởng của các tỉnh vùng núi trung du Bắc bộ và vùng kinh t ế trọng điểm thủ đô Hà Nội để phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong những năm qua, phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của Thái Nguyên có lúc nhanh , lúc chậm Tỷ lệ đô thị hóa còn thấp hơn mức trung bình

Trang 11

của cả nước Nhưng những năm g ần đây đã có nh ững bước chuyển biến m ạnh

mẽ, tích cực do đã tập t rung khai thác nội lực và đầu tư nước ngoài , từng bước mở rộng cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật , cũng như kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn Phát triển kinh tế - xã hội , xây dựng hệ thống đô thị của tỉnh Thái Nguyên sẽ p hát huy nhiều tiềm năng , tạo động lực to lớn, toàn diện và sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hợp lý vào những năm sắp tới

Đô thị hoá các vùng, các địa phương đòi hỏi phải có những nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, chi tiết sao cho phù hợp với các đặc điểm, tình hình và điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương Đó cũng là những đòi hỏi đóng góp cho sự phát triển của khoa học về đô thị hóa và quy hoạch xây dựng hệ thống đô thị

Thực hiện nghị quyết số 37/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 01/7/2004 về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo an ninh quốc phòng vùng trung du miền núi Bắc Bộ

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVII Phát triển hệ thống đô thị có vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình CNH – HĐH, phát triển kinh tế - xã hội – văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển hệ thống đô thị sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phát triển

Để phát triển kinh tế một cách toàn diện, ổn định, vững chắc về trước mắt cũng như lâu dài, Thái Nguyên cần thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn Thành phố Thái Nguyên có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên Thành phố Thái Nguyên có 26 phường xã với diện tích đất đai là 177,65 km2

và tổng dân số quy đổi là 290.400 người Số diện tích đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp là trên 8.800 ha Những năm gần đây, do quá trình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu của quá trình đô thị hoá, thành phố đã tiến hành đô thị hóa nông nghiệp đáp ứng nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất và đô thị làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp ngày càng lớn Ngoài ra, thành phố đã quy hoạch dành

Trang 12

một phần quỹ đất cho phát triển công nghiệp và đô thị nên khi đó diện tích đất

đai dùng cho sản xuất nông nghiệp còn lại rất ít Diện tích đất còn lại lại này

đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho thành phố

nhằm đảm bảo an ninh lương thực, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của thành

phố nói riêng và cả nước nói chung

Với diện tích đất nông nghiệp ít lại liên tục bị thu hẹp do tốc độ đô thị

nhanh và phải dành mặt bằng cho sản xuất công nghiệp và phát triển đô thị, nhưng hiện vẫn còn gần 60% dân số của thành phố Thái Nguyên sống nhờ vào

nông nghiệp Do đó vấn đề chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp tại đô thị cũng

đang được chính quyền Thành phố đặc biệt quan tâm Khu vực sản xuất nông

nghiệp của thành phố Thái Nguyên luôn có mức tăng trưởng ổn định và giá trị

kinh tế cũng thuộc diện cao so với 8 huyện thị trong tỉnh Nhưng, trong cơ cấu

kinh tế của Thành phố những năm gần đây sản xuất nông nghiệp chỉ còn chiếm

tỷ trọng gần 5% và có thể sẽ tiếp tục sụt giảm trong thời gian tới Mặc dù không

có vai trò lớn trong cán cân kinh tế nhưng khu vực sản xuất nông nghiệp lại góp

phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm

thường xuyên, mùa vụ cho gần 60% lao động; cung ứng khối lượng lớn nguồn

lương thực, thực phẩm cho người dân Thành phố Vậy thực trạng của việc

chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp hiện nay ra sao? diện tích đất nông nghiệp

đang sử dụng có hợp lý không? Có mang lại hiệu quả kinh tế không? Cần có

những định hướng và giải pháp chủ yếu nào để việc chuyển đổi cơ cấu đất nông

nghiệp của thành phố hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao và phát triển vững chắc

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc

chuyển đổi cơ cấu đất của thành phố Thái Nguyên trong quá trình phát triển

kinh tế - xã hội, tôi chọn luận văn“Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu

đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Thái

Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế nông nghiệp

2.Mục tiêu nghiên cứu

2.1.Mục tiêu chung

Trang 13

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình chuyển dịch cơ cấu đất đai, cơ cấu đất nông nghiệp, chủ trương phương hướng và quy hoạch đô thị hoá của thành phố Thái Nguyên Từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp của thành phố Thái Nguyên theo hướng hợp lý, có hiệu quả cao, bền vững góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nâng cao đời sống cho người dân

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những vấn đề thuộc về đất đai và cơ cấu đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

- Tác động của đô thị hoá tới quá trình chuyển dịch cơ cấu đất đai của các hộ nông dân thuộc địa bàn nghiên cứu

- Tác động của quá trình đô thị hóa tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

Trang 14

Nội dung nghiên cứu trong phạm vi:

Đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp của các hộ nông đân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Tác động của quá trình đô thị hoá đến sự chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

Những phản ứng của các hộ nông dân trước thực trạng chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp

Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa

Trọng tâm nghiên cứu là những vấn đề về cơ cấu đất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp

4 Những đóng góp mới của luận văn:

- Phân tích toàn diện quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp của thành phố Thái Nguyên Đồng thời phân tích những ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp đến hiệu quả sự dụng đất nông nghiệp

- Thông qua thu thập và phân tích số liệu, đánh giá được thực trạng chuyển dịch cơ cấu đất trên địa bàn thành phố Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp giúp cho việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung

và việc chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá của thành phố Thái Nguyên nói riêng

5 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Chương 2: Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp

trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ

cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ

1.1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình

Đất đai trong nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được Đất là thành phần quan trọng của môi trường sống, là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, năng xuất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai

Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động

Vai trò của đất đai vô cùng quan trọng nó cũng được thể hiện qua Luật đất đai của nước ta “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá Là tư liệu sản xuất, là thành phần quan trọng của môi trường sống ”

* Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp

- Đất đai vừa là sản phẩm tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên ban cho con người Tuy nhiên, con người đã tiến hành khai phá đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống con người, như vậy đất đai đã kết tinh lao động của con người vào đó và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động con người Thông qua lao động con người đã làm tăng giá trị của đất và độ phì nhiêu của đất đai Đất đai

Trang 17

xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người và thuộc sở hữu chung của xã hội “Được quy định rõ trong luật đất đai” Từ đặc điểm này, ngày nay quỹ đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp của con người ngày càng bị thu hẹp trong quá trình đô thị hóa của đất nước do đó con người trong quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo và bồi dưỡng đất đai, làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn Đồng thời khi xác định các chính sách kinh tế có liên quan đến đất nông nghiệp cũng cần lưu ý đến đặc điểm này

- Diện tích đất có hạn

Trước hết là do giới hạn của mặt địa cầu: Cả thế giới chỉ có 1/4 là diện tích đất liền, còn lại là đại dương Đồng thời mỗi quốc gia, mỗi đơn vị cũng có giới hạn về mặt địa lý hành chính, đó là sự giới hạn tuyệt đối của đất đai, sự hạn chế về diện tích đất trong sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở mặt hạn chế về diện tích đất nông nghiệp Không phải diện tích nào cũng được dùng để sản xuất nông nghiệp,

Quỹ đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp của nước ta ngày càng trở lên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất của việc đô thị hóa, mở rộng giao thông, xây dựng nhà ở, xây dựng các khu công nghiệp

Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của đất đai là chưa có giới hạn Tức là mỗi đơn vị diện tích đất đai nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn Đây chính là con đường kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng lên về nông sản phẩm cung cấp cho nhu cầu ngày càng cao của xã hội

ngày càng giảm do sử phát triển của các khu công nghiệp

- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều

Trong khi các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển từ vị trí không thuận lợi sang vị trí thuận lợi thì đất đai không thể di chuyển được Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn mà chỉ có thể canh tác trên những nơi cố định

Trang 18

Đất đai được phân bố trên diện tích rộng lớn, cố định Vị trí cố định của đất đai gắn liền với điều kiện tự nhiên, có các tính chất vật lý, hóa học, sinh thái

… riêng của từng vùng Chính từ những đặc điểm này đã góp phần hình thành lên những lợi thế so sánh nhất định về sản xuất nông nghiệp Từ đó yêu cầu đặt

ra trong việc sử dụng đất nông nghiệp phải hợp lý cho từng vùng đất, phù hợp với lợi thế so sánh của mỗi vùng…

- Đất đai trong nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của

nó không ngừng được tăng lên

Nét đặc trưng của tư liệu sản xuất này là ở chỗ nó khác các tư liệu sản xuất khác ở quá trình sử dụng Các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng

sẽ bị hao mòn và hỏng hóc, còn đất đai nếu ta sử dụng hợp lý thì nó lại phát huy tốt hơn Đặc điểm này do đất đai có độ phì nhiêu

Như vậy trong quá trình sản xuất nông nghiệp chúng ta cần phải:

- Quản lý đất đai một cách chặt chẽ theo luật định

- Phân loại đất một cách chính xác

- Bố trí sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý

- Thực hiện chế độ canh tác hợp lý để tăng năng xuất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất

* Nguyên tắc sử dụng đất đai trong nông nghiệp

- Đất đai cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý

Sử dụng đầy đủ có nghĩa là đất đai phải được sử dụng hết, không để diện tích hoang hóa, càng trồng nhiều vụ trong năm càng tốt Mọi diện tích đất đai đều được bố trí phù hợp với đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng vừa giữ gìn và bảo vệ độ phì nhiêu của đất

- Đất đai cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao

Đây là kết quả của nguyên tắc sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai, để đánh giá hiểu quả sử dụng đất đai cần phải tính năng suất đất đai, năng suất cây trồng, giá cả của đất (thuê đất)

Trang 19

Để nâng cao năng suất cây trồng cần phải áp dụng đồng bộ hệ thống các biện pháp kỹ thuật sản xuất Ngoài ra cần nâng cao năng suất đất, nâng cao thu nhập tren một đơn vị diện tích đất

- Đất đai cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững

Sự bền vững trong sử dụng đất đai có nghĩa là cả về số lượng và chất lượng Đất đai cần được bảo tồn không những đáp ứng cho mục đích trước mắt

mà còn phải đáp ứng được cho cả thế hệ mai sau Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Đây là vấn đề trọng tâm không những của nước ta mà còn là vấn đề của cả thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển

Trong nông nghiệp, cùng với những tiến bộ về thâm canh tăng năng suất cây trồng đã dẫn tới tình trạng lạm dụng phân hóa học, các loại thuốc trừ sâu, bệnh… từ đó làm hư hỏng cấu tượng của đất…Vì vậy cần phải đảm bảo hài hòa phương thức sử dụng đất đai vì lợi ích trước mắt kết hợp với lợi ích lâu dài Sử dụng công nghệ hiện đại kết hợp với công nghệ truyền thống

1.1.1.2 Đô thị hoá và các vấn đề lý luận về đô thị hóa

* Lý luận chung về đô thị hóa

Đô thị hóa là hệ quả tất yếu của nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Điều này cũng đồng nghĩa rằng quá trình đô thị hóa càng phát triển mạnh thì quỹ đất của

xã hội dành cho nông nghiệp có xu hướng giảm Như vậy làm cách nào để có được một cơ cấu đất đai hợp lý đồng thời làm thế nào để sử dụng quỹ đất (nguồn lực khan hiếm) của xã hội có hiệu quả nhất trong quá trình đô thị hóa đang diễn

ra một cách mạnh mẽ như hiện nay

* Khái niệm đô thị hoá

Có nhiều định nghĩa khác nhau về dô thị hóa như sau:

Thứ nhất: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm

giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực

Trang 20

Thứ hai: Đô thị hoá là một quá trình phát triển về dân số đô thị, số lượng

và quy mô của các đô thị cũng như về điều kiện sống đô thị hoặc theo kiểu đô thị

Thứ ba: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm

giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa

Thứ tư: Đô thị hóa là một quá trình định cư của dân số nông nghiệp sang phi nông nghiệp, với những chỉ số biểu trưng như: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ lệ dân số nông thôn giảm đi kèm theo sự mở rộng diện tích và không gian của các đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới

Thứ năm: Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể

hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,

* Đô thị hóa đƣợc hiểu theo hai nghĩa

*Theo nghĩa rộng: Đô thị hoá được hiểu như một quá trình phát triển

toàn diện kinh tế và xã hội hay quan niệm quá trình đô thị hoá hiện nay như một quá trình phát triển của lịch sử thế giới, liên hệ mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các hệ thống xã hội và tổ chức môi trường sống của cộng đồng

* Theo nghĩa hẹp: Đô thị hoá là quá trình chuyển cư từ lĩnh vực sản xuất

nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó như sự tăng trưởng dân cư đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật của thành phố,

sự xuất hiện của các thành phố mới

Như vậy Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội liên quan đến những

chuyển dịch kinh tế - xã hội – văn hóa – không gian – môi trường sâu sắc, gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, sự chuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các nghề nghiệp mới Đồng thời

đô thị hóa tạo ra nhu cầu định cư vào các trung tâm đô thị, đẩy mạnh sự phát

Trang 21

triển kinh tế qua đó làm điểm tựa cho các thay đổi trong đời sống văn hóa xã hội, làm nền cho một sự phân bố dân cư hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trường xây dựng, môi trường kinh tế và thiên nhiên

* Những đặc điểm của đô thị hóa

- Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị

- Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ Do vậy, đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh tế - xã hội

- Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Ở các nước phát triển, đô thị hóa đặc trưng cho sự phát triển các nhân tố chiều sâu (điều tiết và khai thác tối đa lợi ích, hạn chế bất lợi của quá trình đô thị hóa) Đô thị hóa nâng cao điều kiện sống và làm việc… công bằng xã hội, xóa bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn

- Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, đô thị hóa đặc trưng cho sự bùng nổ dân số, còn sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém Sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc do sự mất cân đối

- Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp hay công nghiệp hóa là cơ sở phát triển đô thị hóa Đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách mạng công nghiệp (tượng trưng là máy hơi nước) đã thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao hơn và đã làm thay đổi về cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở phân công lao động xã hội Đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hóa lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ

- Đô thị hóa nông thôn: Là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá

trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách

Trang 22

sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt ) Thực chất đó là tăng trưởng

đô thị theo xu hướng bền vững

- Đô thị hóa ngoại vi: Là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của

thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và cơ sở hạ tầng Tạo ra các cụm

đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn

* Tác động của quá trình đô thị hóa

- Tác động tích cực

Quá trình đô thị hóa đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội và đời sống của người dân ở nông thôn Trong thời gian gần đây chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng nông thôn đang xích lại gần với thành thị Quá trình đô thị hóa nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa

và đa ngành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục, tập quán và những giá trị truyền thống lâu đời Đời sống vật chất của người dân ngày càng một nâng cao, điều kiện sinh hoạt thuận lợi hơn Người nông dân trước kia không chỉ quanh quẩn trong thôn làng, mở rộng quan hệ ra bên ngoài Quá trình đô thị hóa thực sự là một công cuộc vận động xã hội sâu xa và đồng bộ Đó là một quá trình tiến tới sự ngang bằng dần các tiêu chuẩn đời sống, tiện nghi… thu hẹp dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị

tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội

Trang 23

Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có, thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư đến đô thị ĐTH có các tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hóa, tâm lý và lối sống của người dân thay đổi Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị" (urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chống đối

xu thế ĐTH cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu

tư hạ tầng kỹ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô

sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị ĐTH nông thôn thúc đẩy phát triển xã hội

* Quá trình đô thị hóa

- Quá trình đô thị hóa trên thế giới

Trên thế giới đô thị hóa đã xảy ra khá sớm trong lịch sử phát triển của loài người, từ thiên niên kỷ trước công nguyên, song cụm từ “đô thị hóa” lại chỉ mới xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX Thuật ngữ “đô thị hóa” lúc đầu xuất hiện ở các tạp chí chuyên đề kinh tế, dần dà phổ cập sang kinh tế học, xã hội học rồi mới được các nhà kiến trúc đô thị nắm bắt lấy cuối cùng

Quá trình đô thị hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào việc phát triển kinh tế - xã hội vì vậy có rất nhiều quốc gia trên thế giới có nền công nghiệp – dịch vụ - du lịch phát triển mạnh mẽ như: Úc, Mỹ, Đức… mà điển hình ngay cạnh nước ta đó là sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc trong những năm gần dây Vì vậy đã hình thành các khu đô thị ngày càng lớn hơn, to đẹp hơn, hiện đại hơn…

- Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Trang 24

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra chậm trong suốt một thời gian dài Do nhiều nguyên nhân khác nhau như ảnh hưởng của chiến tranh, kinh tế chậm phát triển Từ năm 1954 đến năm 1970 dân số đô thị tăng từ khoảng 7% lên 20% Tuy nhiên gần 30 năm sau (từ 1970 đến 1997) tỷ lệ đó thay đổi không đáng kể, tăng giảm dao động từ 19%- 21% Quy mô dân số đô thị tăng nhưng tỷ

lệ tương quan đô thị - nông thôn không đổi Điều đó cũng có nghĩa thực sự chưa

có sự chuyển hóa lớn dân cư nông thôn thành đô thị

Từ sau khi có chính sách đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt nam đã có những bước tiến đáng kể Từ những năm 90 đến nay, tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm khoảng 7% Sự tăng trưởng kinh tế đã tác động lớn đến quá trình đô thị hóa Tỷ lệ đô thị hóa năm 2001 là 24,7 % (Số liệu của Tổng cục thống kê) [7] và đến nay (2003) có thể đã đạt tới 25% Sự biến đổi rõ rệt nhất ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, và một số các đô thị mới nâng cấp thành phố như Hải Dương, Hạ Long, Vĩnh Phúc…

- Quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên

Trong quá trình phát triển đô thị hóa trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Quá trình đô thị hoá cũng mang những đặc trưng cơ bản của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam Thị xã Thái Nguyên từ sau năm 1945 các cơ sở công nghiệp Trung ương và địa phương lần lượt ra đời như Khu Gang thép Thái Nguyên được xây dựng là khu công nghiệp luyện kim đen đầu tiên ở nước ta

Thành phố Thái Nguyên được công nhận là đô thị loại II theo quyết định

sô 135/2002/QĐ-TTg ngày 14/10/2002, thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị với tổng dân số là 279.710 người trong đó có khoảng hơn 182.370 dân sống ở

đô thị Hiện nay thành phố Thái Nguyên cơ bản đã hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội theo nghị quyết Đại hội thành phố lần thứ XV, tiếp tục nâng cấp đô thị để hoàn thiện tiêu chí đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phấn đấu đến năm

2020 trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch…

* Một số nhận xét chung về phát triển đô thị hóa của Việt Nam

Trang 25

- So với thế giới, đô thị hóa ở Việt Nam phát triển muộn hơn và với tốc độ chậm hơn, ngay cả so với một số nước phát triển trong khu vực, như thống kê dưới đây: (tỷ lệ đô thị hóa %)

Năm 1931 1940 1951 1960 1970 1979 1989 1999

7,5 8,7 10,0 15,0 20,6 19,2 22,0 23,5

- Đô thị hóa phát triển không đồng đều giữa các vùng kinh tế và giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (theo thống kê 1-4-1999): cao nhất là vùng Đông Nam bộ với tốc đô đô thị hóa là 49,97% thấp nhất là vùng Bắc Trung bộ là 12,3% Nhiều tỉnh, nhất là vùng sản xuất nông nghiệp, trung du và miền núi hầu như tỷ lệ đô thị hóa không phát triển, như: Thái Bình năm 1979 xấp xỉ 5,7%, năm 1999 là 5,77%,…

- Cơ cấu của hệ thống đô thị nước ta mất cân đối, cân bằng So với các nước có hệ thống đô thị phát triển cân đối và ổn định, chúng ta thiếu rất nhiều các đô thị vừa và nhỏ, cho nên các đô thị lớn luôn bị sức ép dân số dịch chuyển

từ nông thôn vào sinh ra quá tải, xuống cấp, (nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Trong hệ thống đô thị nước ta (cũng giống như ở một số nước đang phát triển) có đặc điểm “đầu to”, nghĩa là hệ thống đô thị phát triển theo hình tháp đột biến (có 1, 2 đô thị có qui mô vượt trội hẳn lên) còn các nước phát triển ổn định, cân bằng, hệ thống đô thị theo hình nón (giảm hay tăng dần đều) Điều đó gây khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội đồng đều trên toàn lãnh thổ quốc gia

- Sự tăng trưởng dân số đô thị của nước ta không hẳn dựa trên nhu cầu phát triển lao động và việc làm trong các đô thị, mà một phần còn do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở nông thôn gia tăng ở mức cao (khoảng 6 triệu lao động) Đồng thời mức sống ở đô thị và nông thôn còn quá chênh lệch nên dòng dân nông thôn di chuyển vào các đô thị, nhất là đô thị lớn ngày càng nhiều (đô thị hóa giả tạo) làm cho các đô thị quá tải, xuống cấp,… Mặt khác, điều kiện

Trang 26

sống giữa đô thị nhỏ và đô thị lớn còn chênh lệch nhiều cho nên dòng di dân nông thôn chỉ tập trung vào một số đô thị lớn

- Các đô thị phân bố chưa đồng đều tương xứng với khả năng phát triển của các vùng trên lãnh thổ quốc gia Phần lớn các đô thị hình thành và phát triển ở hai khu vực đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long hay ven biển Vùng miền núi, trung du, Tây Nguyên còn thưa (chủ yếu là tỉnh lỵ) và còn thiếu rất nhiều đô thị là trung tâm khu vực,…

* Những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

- Vấn đề về dân số, lao động và việc làm

Trong quá trình đô thị hóa, dân số và lao động ở các đô thị tăng lên nhanh chóng, sự dôi dư lao động trọng nông nghiệp do bị thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để phục vụ cho quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp

và dịch vụ trong quá trình đô thị hóa…

- Vấn đề về ô nhiễm môi trường

Cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh chóng thì tốc độ xây dựng, tốc độ tăng dân số, quy mô sản xuất công nghiệp tăng mạnh tạo lên những áp lực về rác thải về các khu vực nông thôn, làm giảm hiệu quả sản xuất nông nghiệp do ô nhiễm nguồn nước, và không khí bị ô nhiễm…

- Vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng là tăng dần tỷ trọng giá trị sản xuất trong ngành công nghiệp và dịch vụ đồng thời giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Những khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Nguyên nhân do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần… gây ra áp lực buộc người nông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp…

- Vấn đề về phát triển hạ tầng kỹ thuật

Đô thị hóa góp phần nâng cao đời sống xã hội đồng thời hình thành kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa được

Trang 27

dễ dàng, thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật mới

- Vấn đề thu hẹp diện tích đất nông nghiệp

Đây là vấn đề mấu chốt trong quá trình đô thị hóa, việc phát triển các khu công nghiệp để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đai hóa đất nước ngày càng chiếm một diện tích đang kể, đồng nghĩa với việc diện tích cho nông nghiệp ngày càng giảm trong khi đó chúng ta đang đối phó với một vấn đề là

“Đảm bảo An ninh lương thực” Thực trạng này đặt ra hai tình huống, nếu diện

tích nông nghiệp giảm do chuyển sang làm các sản phẩm nông nghiệp khác (thủy sản, rau, màu, cây ăn trái ) thì không ảnh hưởng đến ANLTTP Nếu diện tích lúa bị giảm do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp thì có thể ảnh hưởng lớn đến ANLTTP

Từ đó đã đến lúc cần có sự cân nhắc và lựa chọn chiến lược giữa phát triển các khu công nghiệp và đô thị với việc bảo tồn quỹ đất nông nghiệp

1.1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới, việc chuyển dịch cơ cấu đất trong quá trình đô thị hoá đã được các nước quan tâm đến từ rất lâu Tuy nhiên, tuỳ điều kiện và đặc điểm của từng nước mà việc chuyển dịch cơ cấu đất ở các nước có sự khác nhau

Từ những năm 50, do thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, ở các nước như Malaysia, Inđônêxia, Thái Lan đã đầu tư cho khu vực công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nhẹ, đồng thời thực hiện chính sách mở cửa, khuyến khích

và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích các ngành công nghiệp xuất khẩu và công nghiệp phục vụ nông nghiệp Với việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá này đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, làm cho diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng bị thu nhỏ lại

+ Trung Quốc

Trang 28

Từ khi cải cách mở cửa đến nay, tiến trình đô thị hóa ở Trung Quốc đã đạt được những thành tựu nổi bật, nhất là kể từ sau năm 1992 - thời điểm mà thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa được thiết lập Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006 - 2010), Trung Quốc đã thực thi chiến lược "Tích cực thúc đẩy tiến trình đô thị hóa", tốc độ đô thị hóa không ngừng được đẩy mạnh, ước tính, đến năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa ở Trung Quốc ít nhất đạt 48% Ngay từ năm 2002, trong Báo cáo về tình hình phát triển thành phố ở Trung Quốc, các chuyên gia Trung Quốc đã chỉ ra rằng, trong vòng 50 năm tới, tỷ lệ đô thị hóa ở Trung Quốc sẽ đạt trên 76%, mức đóng góp của thành phố vào nền kinh tế quốc dân đạt trên 96% Theo thống kê, đến cuối năm 2007, tỷ lệ số dân ở thành phố của Trung Quốc đạt tới 44,9%

Bảng 1: Đô thị hóa ở Trung Quốc trước năm 2000

Trang 29

Công nghiệp hóa, đô thị hóa là quá trình tất yếu để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng công nghiệp hóa, đô thị hóa sẽ khiến nhiều nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyên đất bị thu hẹp lại Tiến trình đô thị hóa được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa vấn đề lợi dụng diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng thành phố và vấn đề bảo vệ diện tích đất trồng cây hàng năm Đô thị hóa có nghĩa là địa giới hành chính của thành phố được mở rộng, song ngày càng có nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi và đưa vào phục vụ cho hoạt động xây dựng, phát triển của thành phố Thống kê cho thấy, khi tỷ lệ đô thị hóa nâng lên 1,5% thì nhu cầu sử dụng đất của thành phố sẽ tăng 1% Từ năm 1979 đến năm 1997, Trung Quốc đã thu hồi 18 triệu ha đất nông nghiệp để mở rộng thành phố, làm đường, xây dựng nhà máy và các khu công nghiệp Nhưng chỉ từ năm 2000 đến tháng 6-2005, diện tích đất trồng cây hàng năm của Trung Quốc bị thu hồi đã lên tới 7,3 triệu ha, con số này đã đi ngược lại với nguyên tắc bảo vệ đất trồng cây hàng năm "lấy đi bao nhiêu, khai hoang bấy nhiêu" mà Chính phủ Trung Quốc đề ra

Những vấn đề tồn tại trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp ở Trung Quốc

Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh, Chính phủ Trung Quốc luôn nhận thấy rằng, muốn phát triển thì phải giải quyết tốt vấn đề

"tam nông", và muốn giải quyết tốt vấn đề "tam nông", phải giải quyết ổn thỏa vấn đề ruộng đất cho người nông dân Bởi ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quan trọng nhất của nông dân, cũng là nguồn tài nguyên bảo đảm cuộc sống ổn định, tạo cơ hội công ăn việc làm cho họ Cùng với tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa được đẩy mạnh và công cuộc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa được thúc đẩy, hoạt động thu hồi đất thuộc quyền sở hữu tập thể của nông dân ở nông thôn ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết, bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng và nhạy cảm trong thời kỳ mới

Từ khi cải cách mở cửa đến nay, nhằm phát triển kinh tế, các cấp chính quyền địa phương ở Trung Quốc đã tiến hành ba đợt thu hồi đất nông nghiệp với

Trang 30

quy mô lớn để xây dựng các đặc khu kinh tế vào những thời gian sau: từ thập kỷ

80 của thế kỷ trước, trước và sau năm 1992, và cuối thế kỷ trước đến nửa đầu năm 2003 Trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đang từng bước được hoàn thiện như hiện nay, hoạt động thu hồi đất nông nghiệp ở Trung Quốc lại gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều bất cập, cụ thể như sau:

Phạm vi thu hồi không rõ ràng

Do ruộng đất bị thu hồi, hằng năm có hàng chục triệu nông dân Trung Quốc mất đất, thất nghiệp, trong khi đó, nhiều nhà đầu tư của Trung Quốc lại

"găm" đất đầu cơ, một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp sau khi bị thu hồi không được khai thác, tận dụng một cách có hiệu quả

Quyền lợi của người nông dân chưa được bảo đảm

Nhiều chuyên gia Trung Quốc cho rằng, trong bối cảnh nông nghiệp phát triển như hiện nay, mức đền bù này chưa thỏa đáng, chưa thể hiện được giá trị thực của đất, chưa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người nông dân Phần lớn nông dân sau khi bị thu hồi đất rất khó duy trì được cuộc sống lâu dài bằng tiền đền bù Trong khi rất nhiều diện tích đất sau khi bị thu hồi trên danh nghĩa

"vì lợi ích công cộng" lại được chuyển nhượng với giá cao cho một số nhà đầu

tư hoạt động vì mục đích kinh doanh Chính vì vậy, tiêu chuẩn đền bù đất nông nghiệp bị thu hồi không phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế thị trường và thấp hơn rất nhiều so với giá giao dịch trên thị trường sau khi đất bị thu hồi

Cuộc sống của người nông dân sau khi bị thu hồi đất không ổn định

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, mức tiền đền bù chưa hợp lý, trình độ của người nông dân có hạn, chi tiêu, đầu tư không hợp lý, số tiền được đền bù chỉ đủ giải quyết những khó khăn trước mắt, nên cuộc sống người nông dân sau khi bị thu hồi đất rất khó được bảo đảm về lâu dài Theo tính toán, cứ 2 mẫu đất bị thu hồi thì có 3 người nông dân thất nghiệp Điều này đồng nghĩa với việc đến năm 2030, số lượng nông dân mất đất của Trung Quốc sẽ tăng từ 40 triệu như hiện nay lên tới 110 triệu Các chuyên gia Trung Quốc cũng dự đoán, sẽ có trên

50 triệu người thậm chí có thể là tới 80 triệu người rơi vào hoàn cảnh vừa mất

Trang 31

đất vừa thất nghiệp Con số khổng lồ này đang trở thành nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định xã hội của Trung Quốc

+ Hàn Quốc

Là một trong những quốc gia được đánh giá có tốc độ đô thị hóa cao nhất ở châu Á, Hàn Quốc đã gặt hái được nhiều thành tựu cũng như nhìn ra được những mặt trái của quá trình đô thị hóa Đây là những bài học kinh nghiệm đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Ngay từ những năm 70, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra chính sách điều chỉnh nhanh chóng chiến lược phát triển đô thị bằng cách mở rộng vùng đô thị, nâng cấp mở rộng các đô thị đã có Một loạt các thành phố vệ tinh mới có quy

mô vừa và nhỏ lần lượt được xây dựng Các thành phố mới đều là các trung tâm công nghiệp lớn, tạo thành hành lang đô thị nối từ thành phố trung tâm thông ra các cảng biển nằm ở miền Nam của Hàn Quốc

Những thành phố này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh Chẳng hạn như thành phố Un-xan vào năm 1960 còn là một làng chài nhỏ bé với vài ngàn dân, nhưng sau 20 năm (đến năm 1980) đã trở thành thành phố lớn thứ 7 của Hàn Quốc, nơi có công ty Hun-đai và tổ lọc dầu lớn nhất Hàn Quốc Việc xây dựng các đô thị vừa và nhỏ một cách kịp thời đã khiến Hàn Quốc tránh khỏi những đổ

vỡ lớn mà các quốc gia khác gặp phải trong tiến trình đô thị hoá nhanh như ở châu Á và châu Phi

Đô thị hóa ở Hàn Quốc gắn liền với quá trình công nghiệp hoá và là hệ quả trực tiếp của quá trình này Sau 5 năm đầu thực hiện đô thị hóa nhanh chóng, các thành phố lớn như Xơ-un, Pu-san của Hàn Quốc đã trở thành “khối nam châm” khổng lồ thu hút nguồn tài nguyên và lao động từ các vùng miền khác nhau trên cả nước Chỉ trong vòng 15 năm (1975-1990), các thành phố vệ tinh của Xơ-un đã tăng từ 4 (Kung-nam, Ư-giông-bu, An-yang, Bu-chon) với số dân là 7.514 người lên 11 thành phố (thêm các thành phố Koan-mi-ung, Koa-che-on, Ku-ri, Si-hung, Kun-po, I-oan, Ha-nam) với dân số là 13.431 người Đây là một kỳ tích mà chưa quốc gia châu Á nào đạt được Các thành phố vệ

Trang 32

tinh của Xơ-un nằm cách trung tâm 40km, được nối bằng hệ thống tàu điện ngầm và đường cao tốc Cho đến năm 1990, 45% dân số của Hàn Quốc tập trung sống ở vùng đô thị Xơ-un Những khu định cư mới dành cho tầng lớp trung lưu được hình thành xung quanh Xơ-un từ sau năm 1980 như vùng Bun-dang, I-li-xan, Py-ung-chon, hình thành nên một khuynh hướng mới trong việc

sử dụng các chung cư cao tầng

So sánh mức độ đô thị hóa

Đơn vị tính: %

Nguồn: Phát triển và xã hội - Trường đại học Xơ-un, tập 27, 6-1998, tr 100

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Hàn Quốc đã có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường, đến quá trình đô thị hóa nông thôn và tỷ lệ dân cư đô thị, đánh dấu trình độ văn minh hóa của đất nước Kinh tế đô thị phát triển đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và nông thôn ven đô của các đô thị lớn Cơ cấu kinh tế nông thôn được chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp Điều này góp phần điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế của các đô thị lớn theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội Các đô thị là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, thúc đẩy tỷ trọng GDP ngày càng tăng Chỉ tính riêng một số vùng đô thị lớn như Xơ-un, Pu-san và Kung-nam đã cung cấp 66% vào GDP chung của cả nước

Sau hơn 35 năm đô thị hóa (1970 - 2007), Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể: xây dựng và phát triển những khu đô thị lớn, trung tâm công nghiệp khổng lồ với hơn 88% dân số sống ở đô thị

Trang 33

Hàn Quốc đạt được những thành công nhất định như vậy, trước hết phải

kể đến vai trò chỉ đạo của chính phủ trong việc tập hợp mọi nguồn lực trong

nước cho công cuộc đô thị hóa đất nước Thứ hai là những chiến lược phát triển

cụ thể được vạch định phù hợp với khả năng của từng địa phương, tận dụng mọi

cơ hội để tăng trưởng kinh tế, lấy mục tiêu tăng trưởng và xuất khẩu làm nhiệm

vụ trọng tâm của mọi kế hoạch kinh tế Thứ ba là vai trò quan trọng của văn

hóa truyền thống đã tạo nên một đội ngũ lao động giỏi, tính kỷ luật cao, một nền công nghiệp đồ sộ có cơ cấu quản lý chuyên biệt

Bên cạnh những thành tự to lớn ở trên thì với mức độ đô thị hóa cao Hàn Quốc cũng gặp phải những hạn chế như sau:

Theo các chuyên gia nghiên cứu quy hoạch đô thị, hệ thống đô thị Hàn Quốc bắt đầu bộc lộ những hạn chế sau:

Một là, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn Quá trình

công nghiệp hoá và đô thị hoá đã dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị Vào năm 1960, 78% lao động Hàn Quốc là ở nông thôn, đến năm

1990 còn 19,5% và năm 2000 chỉ còn 10% Việc mất đất trồng cây hàng năm, thiếu lao động nông nghiệp là khó tránh khỏi Đây là những trở ngại khiến Hàn Quốc gặp khó khăn trong vấn đề “an toàn lương thực”, cân đối lực lượng lao động khi có biến động ở khu vực công nghiệp và đô thị

Hai là, sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế Quá trình công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước đã dẫn đến mức độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn theo quy

mô và vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế bị giảm dần Do không chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp, khu vực nông thôn Hàn Quốc đã gặp phải các vấn đề như ô nhiễm môi trường sinh thái do chất thải công nghiệp và phân hoá học, năng suất nông nghiệp thấp do đất đai bị ô nhiễm, mức sống của nông dân không được nâng cao Chính sách cơ giới hoá nông nghiệp đã khiến nông dân lâm vào cảnh nợ nần do gánh nặng về vốn nông nghiệp, chi phí thuê lao động do thiếu nhân công ở vùng nông thôn, cùng các chi phí sinh hoạt

Trang 34

Ngoài ra, đô thị hoá còn làm nảy sinh sự phân hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn Mặc dù chính phủ Hàn Quốc đã cố gắng thực hiện công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế, nhưng hiện tượng phân hoá xã hội ngày càng tăng đã trở thành nguy cơ lớn, đòi hỏi phải giải quyết kịp thời và nhất quán

Ba là, nhiều thành phố không phát huy tác dụng Từ sau năm 1980, sự

phát triển đô thị và việc xây dựng các thành phố mới diễn ra như một cơn sốt Bất kỳ tỉnh hay vùng nào cũng quy hoạch, vay tiền để xây dựng các đô thị mới với kỳ vọng các thành phố này sẽ trở thành đòn bẩy kinh tế của tỉnh Nhưng thực tế là không phải thành phố nào cũng thu hút được đầu tư Do đó đã xảy ra tình trạng mà các chuyên gia gọi là các thành phố “bong bóng” (bubble cities) Nhiều thành phố không tăng dân số mà chững lại và bị giảm dần khi không còn khả năng phát triển (như thành phố Chun-chon, Un-du, Ku-ăng-du, Xun-chon)

+ Úc

Quy hoạch đất đai bền vững nhìn từ kinh nghiệp của úc: Úc là một đất nước có thể nói là rất "trẻ", nhưng ngành quy hoạch phát triển đô thị của nước này hiện được coi là một điểm sáng, không những phục vụ tốt cho nhu cầu trong nước mà đang là ngành mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường dịch vụ tư vấn toàn cầu Tiến sĩ Trương Tiến Hải - một chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực có bài viết về những kinh nghiệm của đất nước này trong quy hoạch đô thị (đăng trên trang web mạng kiến trúc xây dựng VN) Những nội dung này có thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho "những người trong cuộc"

Theo Cameron Nelson: Những kinh nghiệm trong quy hoạch đô thị của

Úc, ông nói: “Để có một đồ án quy hoạch tốt, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, không phải là dễ” Và bài học kinh nghiệm của họ là xây dựng quy hoạch muốn tốt phải dựa trên 4 tiêu chí bền vững là: bền vững về xã hội, bền vững về tự nhiên, bền vững về kỹ thuật và bền vững về tài chính

Bền vững về xã hội: Đây là tiêu chí quan trọng nhất Quy hoạch đô thị

ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều người từ nhiều sắc tộc khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau Để đồ án sống được theo thời gian với đầy đủ ý nghĩa mong

Trang 35

muốn, đồ án đó phải vì con người, nghĩa là phải mang tính nhân văn, phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội như giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ cần thiết khác, đó là những yếu tố tạo nên tính bền vững xã hội

Để đạt được yêu cầu đó, công tác truyền thông rất được coi trọng, nghĩa là tất cả đều phải công khai, với mong muốn ý tưởng quy hoạch kết hợp với công nghệ tiên tiến phải hài hòa được với ý nguyện của nhân dân Chi phí cho công tác truyền thông và điều tra xã hội chiếm tỷ lệ rất lớn, thường từ 10%-20%, trong tổng chi phí của một đồ án quy hoạch, nhưng mang lại nhiều lợi ích rất thiết thực

Bền vững về tự nhiên: Đây là tiêu chí quan trọng thứ hai Tiêu chí này

dựa trên nguyên tắc cơ bản là tất cả mọi cấu phần của đồ án quy hoạch phải tồn tại thân thiện với môi trường sinh thái Người ta thiết lập một thứ tự ưu tiên để

phân tích tác động của đồ án đến môi trường Ưu tiên thứ nhất là nguồn nước

Người Úc coi “nước là linh hồn cuộc sống” nên quý trọng từng giọt và chú ý bảo vệ như nguồn tài nguyên quý giá nhất Tại mỗi vòi nước đều có lời nhắc nhở dùng nước tiết kiệm: “Bạn cứ dùng nước thoải mái nhưng chỉ với mục đích thiết thực” Trong mỗi buồng tắm khách sạn cũng có những tờ rơi nhắc nhở ý thức bảo vệ môi trường: “Xin bạn bỏ khăn cần giặt vào nơi quy định Bởi nếu không chúng tôi sẽ giặt tất cả, và như vậy thì không hợp lý: thứ nhất tốn nước vô ích, thứ hai tốn chi phí xử lý nước thải vì xà phòng là chất không thân thiện với môi

trường” Ưu tiên thứ hai là những khoảng không gian xanh Cây xanh ở Úc

cũng có quyền pháp lý và được bảo vệ như những công dân Mỗi cây đều có hồ

sơ lý lịch và được quản lý bằng máy vi tính Canberra của Úc được coi là một trong những thành phố xanh nhất thế giới với tỷ lệ ba cây xanh trên một đầu

người Ưu tiên thứ ba là tài nguyên và thổ nhưỡng Tài nguyên khoáng sản của

Úc khá phong phú được bảo vệ và gìn giữ như “của để dành” cho thế hệ mai sau

Trang 36

Bền vững về kỹ thuật là tiêu chí quan trọng thứ ba Đồ án quy hoạch

được coi là bền vững kỹ thuật khi tích hợp được mọi yêu cầu hạ tầng kỹ thuật một cách đầy đủ và đồng bộ với các phương án hợp lý bảo đảm cho cuộc sống văn minh lâu dài Quan điểm lựa chọn công nghệ cũng là điều đáng chú ý Người Úc coi công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp nhất Phù hợp với sự tiến bộ, với năng lực vận hành, với điều kiện sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội v.v Cái gì cần hiện đại thì phải làm rất hiện đại, cái gì mà giản đơn còn phù hợp thì vẫn giữ lại đơn giản như bản chất vốn có

Bền vững về tài chính là tiêu chí quan trọng cuối cùng Công tác phân

tích kinh tế - xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở giai đoạn ba - quy hoạch sơ bộ - và thẩm định lại ở giai đoạn cuối cùng, nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý

Từ những kinh nghiệm mà ông Cameron Nelson cung cấp, Nước ta hoàn toàn có thể áp dụng Bởi Úc cũng đã từng trải qua một thời gian gặp phải vô vàn khó khăn về vấn đề quy hoạch, giống như hoàn cảnh của nước ta bây giờ, nhưng nhờ biết thực hiện tốt 4 tiêu chí bền vững mà Úc đã mau chóng trở thành một trong những nước sớm thoát khỏi những vướng mắc trong quy hoạch đô thị

1.2.2.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp ở Việt Nam trong quá trình đô thị hoá

Hiện nay 79% diện tích lúa bị giảm của cả nước lại thuộc đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL Nghĩa là những “bờ xôi ruộng mật” mà cha ông chúng ta khai phá từ ngàn đời nay đang bị biến thành vùng bêtông, khu công nghiệp, sân golf Thực trạng này đặt ra hai tình huống, nếu diện tích lúa giảm do chuyển sang làm các sản phẩm nông nghiệp khác (thủy sản, rau, màu, cây ăn trái ) thì không ảnh hưởng đến ANLTTP Nếu diện tích lúa bị giảm do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp thì có thể ảnh hưởng lớn đến ANLTTP Từ đó cần có sự cân nhắc và lựa chọn chiến lược giữa phát triển các khu công nghiệp và đô thị với việc bảo tồn quỹ đất nông nghiệp

Trang 37

Việc dùng đất cho công nghiệp và đô thị cần phải được tính toán thận trọng hơn Chúng ta không thiếu đất làm công nghiệp Nhiều nước trên thế giới thường quy hoạch khu công nghiệp ở các vùng đất xấu Bài học Nhật Bản cho thấy họ tiết kiệm từng mét vuông đất nông nghiệp

Dân số nước ta sẽ tăng lên 100 triệu người năm 2020, trong khi diện tích đất nông nghiệp không nhiều (cả nước chỉ có hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa), đáng lo ngại hơn là sự biến đổi khí hậu

có thể tác động nặng nề đến nước ta (nước biển dâng lên, diện tích lúa ở ĐBSCL có thể bị suy giảm) Các chuyên gia đã tính toán là để đảm bảo lương thực cho dân số khoảng 100 triệu người thì phải giữ ổn định diện tích trồng lúa cả nước là 3,9 triệu ha và tổng sản lượng lúa phải đạt 39,63 triệu tấn

Do vậy cần có một quy hoạch đất toàn diện và chiến lược hơn cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và cơ sở hạ tầng đảm bảo đáp ứng được nhu cầu về lương thực thực phẩm của nước ta, không phải đến năm 2030

mà còn nhiều thế kỷ sau nữa

Tăng giá đền bù cũng là một cách để giữ đất trồng lúa, nhưng không nên chỉ khoanh vùng vào mỗi cây lúa, nên đề cập giá đất nông nghiệp nói chung Như vậy, cần có chiến lược giữ diện tích đất nông nghiệp và cho phép một cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt (có thể trồng lúa hay sản phẩm nông nghiệp khác, phù hợp với thị trường) hơn là giữ diện tích lúa

Muốn giữ diện tích trồng lúa thì phải đầu tư vào hạ tầng, khoa học, công nghệ, phát triển nhân lực, thông tin và thị trường để người trồng lúa thấy lợi thì sẽ thủy chung với cây lúa

Kinh nghiệm về quá trình đô thị hóa ở các thành phố lớn:

Ba thành phố nằm ở 3 miền của đất nước, mỗi thành phố có những nét đặc trưng riêng biệt Riêng hai thành phố loại đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ đô thị hóa được dự kiến 55 - 65% vào năm 2020 Các chuyên gia nhận định, thành phố Hồ Chí Minh sẽ dẫn đầu cả nước về tỷ lệ

đô thị hóa và gia nhập hàng ngũ các thành phố có dân số lớn hơn 10 triệu người

Trang 38

của thế giới Thành phố Hà Nội sau khi có quyết định hợp nhất với tỉnh Hà Tây đã trở thành Thủ đô có diện tích lớn với nhiều tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức, tuy đã được mở rộng nhưng giải pháp gì cho vấn đề tắc nghẽn giao thông tại thành phố trung tâm, vấn đề ngập úng khi mưa lớn, vấn đề ô nhiễm khói bụi,… TP.Huế đã được UNESCO công nhận 2 lần là di sản thế giới nhưng quá trình phát triển phải đảm bảo hài hòa giữa phát triển và bảo tồn Những đặc thù đó là những yếu tố rất cần được quan tâm trong định hướng, chiến lược và giải pháp để đảm bảo phát triển bền vững của mỗi đô thị Hiệp hội các đô thị Việt Nam là ngôi nhà chung của các đô thị Hiệp hội rất quan tâm và trân trọng những kết quả và thành tích đạt được của từng đô thị Mỗi thành công sẽ là một kết quả góp phần vào sự lớn mạnh của hệ thống đô thị Việt Nam

Trong quá trình phát triển ba thành phố đã có nhiều kinh nghiệm hay mà tại Hội thảo này các đô thị khác có thể học hỏi và trao đổi Bên cạnh những chiến lược phát triển lớn, thành phố Hồ Chí Minh đã phát động những cuộc thi đua lớn trong toàn thành phố để mọi gia đình, mọi cơ quan đều tích cực thực hiện “Xây dựng Nếp sống văn minh đô thị”, chỉnh trang và làm sạch đường phố… Những công việc tưởng là nhỏ bé đó đã tạo nên sự thay đổi đáng kể bộ mặt của thành phố cùng với việc xây dựng đô thị theo quy hoạch đã góp phần quan trọng trong việc phát triển bền vững Thành phố Hà Nội đã triển khai đầu

tư xây dựng hơn 60 dự án khu đô thị mới Những dự án này đã làm thay đổi diện mạo đô thị và đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho rất nhiều người Như vậy từ những kinh nghiệm đã tiến hành, Hà Nội có thể rút ra những vấn đề liên quan tới việc khớp nối các dự án thành phần, bảo đảm có sự thống nhất về hệ thống công trình kỹ thuật hạ tầng, hệ thống công trình văn hoá - dịch vụ, tạo điều kiện hình thành bộ mặt các đường phố một cách đồng bộ nhất là khi Hà Nội được mở rộng, công tác quy hoạch đang được tiến hành rất khẩn trương Bên cạnh đó Hà Nội đã có nhiều hoạt động thực hiện cuộc vận động "Xây dựng đô thị xanh, sạch, đẹp" do Hiệp hội các đô thị Việt Nam phát động như: làm sạch các hồ, chỉnh trang bộ mặt đô thị

Trang 39

Những năm qua, để trở thành đô thị trung tâm, thành phố Huế đã có nhiều chương trình trong quy hoạch và quản lý đô thị, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc cảnh quan thiên nhiên và quần thể di tích Cố đô Huế vốn được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại Những bài học về bảo tồn và phát triển như quy hoạch thiết kế để giữ gìn bản sắc sông Hương núi Ngự, và nhiều công trình khác để phục vụ phát triển du lịch Đã tạo thêm những nét đặc trưng riêng của thành phố Huế Những việc làm của TP.Huế đã góp phần phát triển thành phố Huế một cách bền vững

Tất cả những điều đó là các bài học hết sức sinh động để ba thành phố và các thành phố khác cùng trao đổi và chia sẻ

Ngày 07/04/2009 Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 445/QĐ-TTg Phê duyệt điều chỉnh định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 Mục tiêu của Định hướng đã

nêu rõ: Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc.”

1.1.3 Cơ cấu đất đai và các vấn đề lý luận về cơ cấu đất nông nghiệp

1.1.3.1 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp

Cơ cấu đất nông nghiệp là tỷ lệ diện tích các loại đất nông nghiệp trong đó bao gồm: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp khác

Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp chính là sự biến đổi có mục đích các loại đất nông nghiệp dựa trên cơ sở phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để việc chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội

Trang 40

1.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá phát triển

Ngày nay, do quá trình phát triển kinh tế xã hội diễn ra với tốc độ nhanh, con người có thể đầu tư và lập ra khu đô thị mới trên các vùng đất mà trước đó hoàn toàn là vùng sản xuất nông nghiệp Quá trình hình thành và phát triển của các đô thị đều gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người với xuất phát điểm của nó là từ khu vực nông thôn Cho nên phần lớn các

đô thị đều gắn liền với sản xuất nông nghiệp và nông thôn

Do tốc độ đô thị hoá nhanh, sự hình thành các khu công nghiệp, khu dịch vụ nên đất nông nghiệp trong đô thị dễ bị chia cắt và không có vùng đất nông nghiệp tập chung rộng lớn như ở nông thôn thuần tuý

Từ những đặc điểm trên, nếu không có cơ chế chính sách rõ ràng, phát triển nông nghiệp đô thị sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của nông nghiệp

đô thị Nếu quy hoạch không tốt, lâu dài thì năm nay là đất nông nghiệp, năm sau có thể trở thành đất đô thị, điều đó sẽ ảnh hưởng đến sự đầu tư lâu dài làm cho tính ổn định của nông nghiệp đô thị không cao

Việc chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp là rất phù hợp với quá trình đô thị hoá hiện nay Những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu tốc độ đô thị hóa, tại nhiều vùng nông thôn, Nhà nước tiến hành đô thị hóa nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất và đô thị Tuy nhiên, từ đây cũng nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc ở địa phương, trong đó

có vấn đề việc làm của những lao động sau khi bị đô thị hóa

Trong quá trình đô thị hóa canh tác nông nghiệp, nhiều địa phương chưa gắn công tác quy hoạch với hỗ trợ tái định cư, nhất là đào tạo nghề cho người lao động Việc bồi thường cho các hộ bị đô thị hóa lại chủ yếu thực hiện dưới hình thức trả tiền mà chưa có cơ chế, giải pháp kịp thời và hiệu quả để tạo việc làm, ổn định đời sống cho họ Vì vậy, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đang là vấn đề bức xúc ở nhiều vùng chuyển đổi đất

Ngày đăng: 30/10/2023, 17:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bruce Hannon & Matthias Ruth, 1994. Dynamic Modeling Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dynamic Modeling
Tác giả: Bruce Hannon, Matthias Ruth
Năm: 1994
2. Begg David, Fischer Stanley, Dornbusch Rudiger, Kinh tế học, NXB Thống kê (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Begg David, Fischer Stanley, Dornbusch Rudiger
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
3. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc 1996 - 2050, 1999. Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc 1996 - 2050
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 1999
4. Đặng Kim Sơn, 2001. CNH từ nông nghiệp. Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH từ nông nghiệp. Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
5. Đỗ Đức Thịnh, 1999. CNH - HĐH, phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu á. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH - HĐH, phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu á
Tác giả: Đỗ Đức Thịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
6. Kinh tế phát triển, tập 1, 1999. Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1999
7. Một số vấn đề về lý luận, phương pháp luận, phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam, 2002. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lý luận, phương pháp luận, phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
9. Nguyễn Cao Văn, Trần Thái Ninh, (1998), Lý thuyết Xác suất và Thống kê toán, NXB GD.(Tái bản năm, 2002, 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Xác suất và Thống kê toán
Tác giả: Nguyễn Cao Văn, Trần Thái Ninh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
10. Nguyễn Hoàng Xanh, Lối ra cho tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn. Tạp chí Tài Chính, số 8 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối ra cho tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hoàng Xanh
Năm: 2004
11. Nguyễn Sinh Cúc, 2004. Nông nghiệp Việt Nam nửa đầu kế hoạch 5 năm 2001 – 2005. Tạp chí Cộng sản, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam nửa đầu kế hoạch 5 năm 2001 – 2005
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2004
12. Nguyễn Quang Dong, (2002), Bài giảng Kinh tế lượng, NXB Thống kê.(Tái bản các năm 2000, 2001, 2002, 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kinh tế lượng
Tác giả: Nguyễn Quang Dong
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
14. Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên và thành phố Thái Nguyên: 2007, 2008, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên và thành phố Thái Nguyên
Năm: 2007, 2008, 2009
15. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
16. Phát triển con người từ quan niệm đến chiến lược và hành động, 2000. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người từ quan niệm đến chiến lược và hành động
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
17. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên, 2007. Định hướng xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2007
18. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên, 1997. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên
Năm: 1997
19. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, 2007. Báo cáo quy hoạch quỹ đất đầu tư tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch quỹ đất đầu tư tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2007
8. Ngô Đức Cát, 2004. Thực trạng đô thị hóa nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới lao động nông nghiệp. Tạp chí Kinh tế phát triển, số 82 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Tình hình khí hậu thời tiết năm 2009 - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3 Tình hình khí hậu thời tiết năm 2009 (Trang 55)
Bảng 2.4. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế thành phố Thái Nguyên - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.4. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế thành phố Thái Nguyên (Trang 60)
Bảng 2.5. Tốc độ tăng trưởng kinh tế - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.5. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Trang 63)
Bảng 2.6.  Các chỉ tiêu kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2007 - 2009 - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.6. Các chỉ tiêu kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2007 - 2009 (Trang 66)
Bảng 2.7. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai năm 2009 của thành phố Thái Nguyên - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.7. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai năm 2009 của thành phố Thái Nguyên (Trang 68)
Bảng 2.8. Tình hình dân số và lao động thành phố Thái Nguyên - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.8. Tình hình dân số và lao động thành phố Thái Nguyên (Trang 78)
Bảng 2.9. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2007 – 2009 - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.9. Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu năm 2007 – 2009 (Trang 84)
Bảng 2.2.1.  Chuyển địch cơ cấu đất đai của thành phố Thái Nguyên qua - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.2.1. Chuyển địch cơ cấu đất đai của thành phố Thái Nguyên qua (Trang 86)
Bảng 2.2.2: Thực trạng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.2.2 Thực trạng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa (Trang 88)
Bảng 2.2.5: Hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.2.5 Hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố (Trang 93)
Bảng 2.3.4. Tình hình diện tích đất bình quân/hộ của các hộ nông dân trước - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3.4. Tình hình diện tích đất bình quân/hộ của các hộ nông dân trước (Trang 101)
Bảng 2.3.5. Tình hình diện tích đất bình quân của các hộ nông đân - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3.5. Tình hình diện tích đất bình quân của các hộ nông đân (Trang 106)
Bảng 2.3.7 : Thực trạng tình hình chuyển dịch cơ cấu đất trồng cây lâu năm - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3.7 Thực trạng tình hình chuyển dịch cơ cấu đất trồng cây lâu năm (Trang 112)
Bảng 2.3.10.  Tình hình sản xuất của các hộ nông đân theo mức thu nhập - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3.10. Tình hình sản xuất của các hộ nông đân theo mức thu nhập (Trang 120)
Bảng 2.3.14: Kết quả phân tích hàm CD của các hộ điều tra năm 2009 - Thực trạng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố thái nguyên
Bảng 2.3.14 Kết quả phân tích hàm CD của các hộ điều tra năm 2009 (Trang 126)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w