1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf

82 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, mức phân đạm và các phương pháp chế biến khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn
Tác giả Trần Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS Từ Quang Hiển
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 776,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http //www lrc tnu edu vn i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM oOo TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG, MỨC P[.]

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-oOo -

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG, MỨC PHÂN ĐẠM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CÚA LÁ SẮN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-oOo -

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG, MỨC PHÂN ĐẠM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CÚA LÁ SẮN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60 62 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Quang Hiển

Thái nguyên, 2010

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa được công bố ở các tài liệu trong nước và nước và nước ngoài

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo hoàn toàn chính xác và chỉ rõ nguồn gốc

Đề tài của tôi là một phần trong nội dung của đề tài nghiên cứu sinh Trần Thị Hoan Tôi đã được nghiên cứu sinh cho phép công bố đề tài trước hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ

Tác giả

Trần Thị Phương Thảo

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bàn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

GS.TS Từ Quang Hiển, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y, và các thầy

cô giáo giảng dạy chuyên ngành trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Đồng thời tôi cũng xin trân trọng cảm ơn ThS Trần Thị Hoan đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trần Thị Phương Thảo

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các từ viết tắt

Mục lục……… i

Danh mục các bảng……… …iv

Danh mục các hình……….……….v

MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Cây sắn và một số đặc điểm sinh vật học của cây sắn 3

1.1.2 Mật độ trồng sắn 7

1.1.3 Lượng phân bón và phương pháp bón phân 8

1.1.4 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá sắn, củ sắn 11

1.1.5 Độc tố trong sản phẩm sắn 15

1.1.6 Những nguyên tắc chế biến để khử bỏ độc tố HCN trong sắn 19

1.1.7 Những phương phương pháp chế biến củ và lá sắn 22

1.1.8 Sắn trong chăn nuôi 25

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 26

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 28

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 30

2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 30

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 30

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.3.1 Thí nghiệm 1 30

2.3.2 Thí nghiệm 2 34

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 36

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Kết quả nghiên cứu thí nghiệm 1 38

3.1.1 Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2009 - 2010 38

3.1.2 Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 39

3.1.3 Ảnh hưởng của các mật độ trồng khác nhau tới năng suất lá sắn thí nghiệm 40

3.1.4 Sản lượng lá tươi, vật chất khô, protein của các mật độ trồng khác nhau 42

3.1.5 Ảnh hưởng của các liều lượng phân đạm khác nhau tới năng suất lá sắn thí nghiệm 43

3.1.6 Sản lượng lá tươi, vật chất khô, protein của các công thức thí nghiệm 45

3.2 Kết quả nghiên cứu thí nghiệm 2 46

3.2.1 Thành phần hoá học của lá sắn 46

3.2.2 Thời gian phơi nắng, sấy khô lá sắn 48

3.2.3 Ảnh hưởng của các phương pháp chế biến đến thành phần hoá học của lá sắn 50

3.2.4 Thành phần hóa học của bột lá sắn sau các khoảng thời gian bảo quản 53

3.2.5 Hàm lượng HCN trong lá sắn tươi ở các giai đoạn lá khác nhau 54

3.2.6 Hàm lượng HCN trong bột lá sắn ở các phương pháp chế biến khác nhau 55

3.2.7 Hàm lượng HCN trong bột lá sắn ở thời gian bảo quản khác nhau 58

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

I TÀI LIỆU TRONG NƯỚC 62

II TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI 65

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Khí tượng tỉnh Thái Nguyên trong các tháng nghiên cứu 38

Bảng 3.2: Thành phần hoá học đất 40

Bảng 3.4: Sản lượng lá tươi, VCK, Protein của các mật độ khác nhau 42

Bảng 3.5: Năng suất lá (bỏ cuống) ở các lứa cắt (tạ/ha/lứa) 43

Bảng 3.6: Sản lượng lá tươi, VCK, Protein của các công thức thí nghiệm 45

Bảng 3.7: Thành phần hoá học lá sắn ở các giai đoạn (già, bánh tẻ, non, búp) 47

Bảng 3.8: Thời gian phơi nắng (giờ nắng), sấy khô lá sắn đạt độ ẩm ≤ 10% 49

Bảng 3.10: Thành phần hoá học của bột lá sắn sau các khoảng thời gian bảo quản 53

Bảng 3.11: Hàm lượng HCN trong lá sắn ở các giai đoạn lá khác nhau 54

Bảng 3.12: Hàm lượng HCN trong lá sắn ở các phương pháp chế biến khác nhau 56

Bảng 3.13: Hàm lượng HCN trong bột lá sắn ở thời gian bảo quản khác nhau 58

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Biểu đồ năng suất lá ở các mật độ khác nhau 41

Hình 3.2: Biểu đồ năng suất lá (bỏ cuống) ở các lứa cắt (tạ/ha/lứa) 44

Hình 3.3: Biểu đồ hàm lượng HCN ở các giai đoạn lá khác nhau 55

Hình 3.4: Biểu đồ hàm lượng HCN ở các phương pháp chế biến khác nhau………56

Hình 3.5: Biểu đồ hàm lượng HCN ở thời gian bảo quản khác nhau 59

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI Trang Hình 1: Ảnh giống sắn KM94 68

Hình 2: Ảnh sắn thí nghiệm trồng ở các mật độ khác nhau 68

Hình 3: Ảnh thí nghiệm ở mức 0N; 20N; 40N; 60N; 80N 69

Hình 4: Ảnh phương pháp chế biến phơi khô 70

Hình 5: Ảnh phương pháp chế biến sấy khô 71

Hình 6: Ảnh lá sắn phơi khô chuẩn bị nghiền lấy bột 72

Hình 7: Ảnh bột lá sắn sau khi đã đem nghiền 72

Hình 8: Ảnh máy sấy chuẩn bị bố trí thí nghiệm 71

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam chăn nuôi trong nông hộ nhìn chung dựa vào những nguồn cây trồng ở địa phương làm thức ăn cho gia súc, gia cầm Lá sắn và củ sắn là những sản phẩm quan trọng của trồng trọt cây có củ ở Việt Nam Đây còn là nguồn thức ăn giàu năng lượng, có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất cho gia súc, gia cầm Ở trên thế giới thì việc sử dụng bột lá thực vật làm thức ăn cho gia súc và gia cầm là một việc làm không thể thiếu

và đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến như: Colombia, Thái Lan,

Ấn Độ… Qua nhiều nghiên cứu, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn khẩu phần ăn có bột lá thực vật thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá thực vật Trong ngành chăn nuôi gia cầm, chất lượng sản phẩm được đảm bảo như: thịt thơm, ngon, chắc thịt, lòng đỏ trứng gà thơm và đỏ…

Việt Nam chưa có ngành công nghiệp sản xuất bột lá thực vật Đối với gia cầm, lá sắn được dùng rất ít làm thức ăn cho gà, đa số chỉ dùng củ và thân làm thức ăn cho gia súc, còn lá được dùng để chăn nuôi cá, tằm Trong khi lá sắn phơi khô sau đó nghiền thành bột và sử dụng như một thành phần của cám hỗn hợp Cây sắn sau khi cắt có khả năng tái sinh cao, năng suất chất xanh lớn Lá sắn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein trung bình có 6,59-7,00% ngoài ra nó còn chứa một lượng đáng kể xantophin có tác dụng làm tăng màu lòng đỏ trứng gà Lá sắn dễ phơi khô (phơi nắng hoặc sấy), dễ bảo quản Để

có cơ sở khoa học đề xuất một loại cây trồng dùng để sản xuất bột lá thực vật

sử dụng làm thức ăn chăn nuôi trong tương lai giống như các nước đã và đang

làm, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng, mức phân đạm và các phương pháp chế biến khác nhau đến năng suất và thành phần hoá học của lá sắn”

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2 Mục đích của đề tài

Tạo và sử dụng nguồn nguyên liệu thức ăn sẵn có ở địa phương, góp phần thực hiện chiến lược dinh dưỡng, thức ăn nhằm giảm chi phí đầu tư và tăng hiệu quả chăn nuôi gia cầm cho nông dân

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài xác định được ảnh hưởng của mật độ, liều lượng bón đạm, phương pháp chế biến, giai đoạn lá, thời gian bảo quản tới thành phần hoá học và độc tố HCN trong lá sắn

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Đề tài đề xuất được mật độ trồng, liều lượng bón đạm hợp lý, phương pháp chế biến bột lá ít gây mất mát các chất dinh dưỡng và loại bỏ được nhiều độc tố HCN, đề xuất được giới hạn thời gian bảo quản bột lá sắn

- Những đề xuất trên áp dụng vào thực tiễn sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cây sắn và một số đặc điểm sinh vật học của cây sắn

* Nguồn gốc

Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz, 1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993) Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico ở Trung Mỹ và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến

năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965)

* Đặc điểm:

Phân loại khoa học

Giới (regnum): Plantae

(không phân hạng): Angiospermae

(không phân hạng) Eudicots

Bộ (ordo): Malpighiales

Họ (familia): Euphorbiaceae

Phân họ (subfamilia): Crotonoideae

Tông (tribus): Manihoteae

Chi (genus): Manihot

Loài (species): M esculenta

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Thân: loại gỗ cao từ 2-3 m, giữa thân có lõi trắng và xốp nên rất yếu

- Lá: Thuộc loại lá phân thuỳ sâu, có gân lá nổi rõ ở mặt sau, thuộc loại

lá đơn mọc xen kẽ, xếp trên thân theo chiều xoắn ốc Cuống lá dài từ 9 đến 20cm có màu xanh, tím hoặc xanh điểm tím

- Hoa: Là hoa đơn tính có hoa đực và hoa cái trên cùng một chùm hoa Hoa cái không nhiều mọc ở dưới cụm hoa và nở trước hoa đực nên cây luôn được thụ phấn của cây khác nhờ gió và côn trùng

- Quả: Là loại quả nang, có mầu nâu nhạt đến đỏ tía, có hình lục giác, chia thành ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt, khi chín quả tự khai

- Rễ: Mọc từ mắt và mô sẹo của hom, lúc đầu mọc ngang sau đó cắm sâu xuống đất Theo thời gian chúng phình to ra và tích lũy bột thành củ

- Củ: Hai đầu nhọn, chiều dài biến động từ 25 - 200cm, trung bình khoảng

40 - 50cm Đường kính củ thay đổi từ 2 - 25cm, trung bình 5 - 7cm Nhìn chung, kích thước cũng như trọng lượng củ thay đổi theo giống, điều kiện canh tác và độ màu của đất

Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc họ cây thầu dầu Euphorbiacea, ở một số nước, cây sắn còn có tên gọi khác là Casava, Manioc, Tapioca Plant, Manlioke, maniva Cassave, Yeueca Brava… Ở Việt Nam cây sắn còn có các tên gọi khác như: khoai mì, cây củ mì, sắn tầu…

Từ lâu, sắn đã là một cây màu lương thực quan trọng và được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới thuộc Nam Mỹ, châu Phi, châu

Á, đặc biệt là Đông Nam Á Theo thống kê của FAO (2005), hàng năm trên thế giới có khoảng 18,51 triệu ha đất trồng sắn với sản lượng khoảng 202,64 triệu tấn

Sắn là một cây trồng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới thấp Dựa trên nghiên cứu tài liệu khảo cổ học ở Colombia và Venezuela, người ta đã

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chứng minh rằng cây sắn đã được trồng cách đây khoảng 3000 - 7000 năm (Trần Ngọc Ngoạn, 1990) [23]

Ở khu vực châu Á, cây sắn đầu tiên được đưa từ Mêxico sang trồng ở Philippines vào thế kỷ 17 Ở Ấn Độ, sắn được du nhập vào cuối thế kỷ 18 bởi người Bồ Đào Nha ở đảo Goa (Ấn Độ) mang từ Đông Phi sang Cũng như ở Châu Phi, ở Châu Á, sự trồng sắn chỉ trở nên quan trọng bắt đầu từ thế kỷ 19

Ở Việt Nam, nhiều tác giả trong và ngoài nước đã khẳng định: Cây sắn

là một cây màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc

Quá trình thuần hoá thích nghi và chọn lọc tự nhiên đã hình thành nên nhiều giống sắn địa phương có đặc điểm hình thái, năng suất và chất lượng khác nhau, phù hợp với từng vùng khí hậu, sinh thái khác nhau trong cả nước

Do đó các giống sắn của ta rất đa dạng

Có khoảng trên 30 giống sắn phổ biến đang được trồng ở các vùng khác nhau trên khắp nước ta Ở miền Bắc ngoài những giống sắn địa phương nổi tiếng như sắn xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, sắn Chuối, sắn Thổ (hay sắn Mán), sắn Chè, sắn Huế, sắn Đồng Nai (hay sắn Canh Nông), sắn Nghệ, sắn Goòn, sắn Dù, sắn trắng Bắc Thái Một số giống sắn nhập nội cũng cho năng suất cao như H34, 202, 205…

Các giống sắn Việt Nam đều có hàm lượng tinh bột cao (chiếm khoảng 80% trong vật chất khô) Đặc biệt các giống sắn của ta cho tinh bột cao hơn

cả các giống sắn có tỷ lệ tinh bột cao trên thế giới

Sở dĩ sắn có giá trị kinh tế cao là nhờ đặc điểm sinh học ưu việt của cây sắn mà phần chính là củ sắn và lá sắn

Củ sắn: Cấu tạo củ sắn cắt ngang gồm 4 phần chính như sau:

- Vỏ gỗ: có màu vàng hoặc nâu sẫm dày 0,2 - 0,6mm, chiếm khoảng

0,5 - 3% khối lượng củ Cấu tạo chủ yếu là xơ, có tác dụng bảo vệ củ, tránh tác nhân gây hỏng từ bên ngoài

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Vỏ thịt: (còn gọi là vỏ cùi); nằm trong lớp vỏ gỗ, có màu trắng, đỏ hoặc

hồng, dày 1,5 - 6mm, chiếm khoảng 7% khối lượng toàn củ sắn Trong vỏ thịt

có chứa 2,9 - 3,2% protein thô, 13,1 - 14,2% tinh bột, 2,7 - 3,2% xơ thô Vỏ thịt cũng là nơi chứa nhiều HCN nhất khoảng từ 21 - 22% tổng lượng HCN trong toàn bộ củ sắn Ngoài ra, trong vỏ thịt còn có sắc tố và các chất men

- Thịt sắn: Nằm trong lớp vỏ cùi và là phần quan trọng nhất của củ sắn

Thịt sắn chiếm khoảng 90% khối lượng toàn củ sắn Trong củ sắn chủ yếu là tinh bột, ngoài ra còn một lượng nhỏ protein thô, mỡ thô, khoáng, vitamin và một số men Trong thịt sắn còn có 0,3 - 0,5% nhựa sắn và một lượng nhỏ glucoside độc Nếu chia lớp thịt sắn làm 3 phần, rồi đem phân tích hàm lượng tinh bột thu được kết quả như sau:

Lớp thịt ngoài gần có cùi có khoảng 21% tinh bột, lớp thịt giữa có khoảng 19% tinh bột và lớp thịt trong gần lõi có khoảng 13% tinh bột

- Lõi sắn: Thường nằm giữa củ sắn và chạy suốt từ đầu đến cuối củ sắn

Lõi chiếm khoảng 0,5% khối lượng toàn củ sắn và cũng là nơi chứa một hàm lượng độc tố glucoside khá cao Lõi sắn cấu tạo chủ yếu là xơ, hàm lượng tinh bột rất ít, không đáng kể

- Lá sắn: là loại lá đơn mọc xen kẽ, thẳng hàng trên thân cây Lá gồm 2

phần: cuống và phiến lá Theo Phạm Sỹ Tiệp, (1999) [36] thì một trong những đặc điểm của cây sắn khác với cây ngũ cốc khác là cây sắn đồng thời phát triển thân lá và tích luỹ tinh bột vào củ Như vậy, sản phẩm quang hợp được chia cho sự phát triển của cả lá và củ Điều này có nghĩa là chỉ số diện tích lá tối ưu cho sự phát triển củ của cây này có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng Nếu

sự phân phối này quá mức thích hợp cho sự nuôi dưỡng và sinh trưởng của lá thì sẽ có ít sản phẩm được dành cho củ và ngược lại, sự sinh trưởng của lá quá chậm chạp hoặc sự khai thác lá quá lớn làm số lá trên cây quá thấp sẽ hạn chế

sự quang hợp và tích luỹ vào thân lá và kết quả sẽ hạn chế đến năng suất Sự

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tác động và cân bằng này mở ra hướng chăm bón, khai thác lá sắn hợp lý để đạt được năng suất củ và lá cao

Giống KM94

KM94 (đối chứng 1) là giống sắn công nghiệp được trồng phổ biến nhất của Việt Nam KM94 là con lai của tổ hợp lai Rayong1 x Rayong90 (chung nguồn gốc bố mẹ với giống sắn KU50 - Kasetsart University 50 của Thái Lan) Giống được chuyên gia CIAT, tiến sỹ Kazuo Kawano trực tiếp mang dòng vào Việt Nam trong nguồn gen khảo nghiệm Liên Á Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc đã chọn dòng và khảo nghiệm DUS từ năm

1989 đến năm 1991; khảo nghiệm VCU từ năm 1991 đến 1994 Giống sắn KM94 được công nhận quốc gia năm 1995 KM94 thuộc nhóm sắn đắng, thân cong ở phần gốc, ngọn tím, không phân nhánh ở vùng đồng bằng nhưng lại phân nhánh cấp một ở những tỉnh miền núi; giống ít bị nhiễm bệnh cháy lá, củ đồng đều, thịt củ màu trắng, năng suất củ tươi 28,1 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,4 - 29%, thời gian thu hoạch 10 - 12 tháng sau trồng

Theo tác giả Tongglum, (1987) [56] cho biết mật độ và khoảng cách trồng có sự ảnh hưởng khác biệt lớn đến năng suất Khoảng cách mật độ trồng phụ thuộc vào giống: Giống Rayong 2 mật độ trồng thích hợp có thể thay đổi

từ 7.000 - 27.000 cây/ha, còn giống Rayong 3 là 10.000 - 15.000 cây/ha

Theo Nguyễn Viết Hưng, (2006) [11], mật độ trồng sắn phụ thuộc vào loại đất và mùa vụ trồng Thường những đất có độ phì cao thì trồng sắn với

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mật độ thưa còn đối với đất có thành phần dinh dưỡng thấp thì trồng với mật độ dầy Mật độ trồng sắn còn liên quan đến đặc tính phân cành và sự sinh trưởng thân lá của từng giống: Giống phân cành nhiều, thân lá phát triển nhanh trồng với mật độ thưa và ngược lại Cũng theo tác giả thì mật độ trồng thích hợp với các giống sắn ở phía Nam Trung Quốc thay đổi từ 10.00015.000 cây/ha

Theo tác giả Villamayor, (1983) [57] mật độ trồng sắn chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm về hình thái của giống Đối với những giống sắn ít phân nhánh có tán gọn thì năng suất ít bị ảnh hưởng bởi khoảng cách mật độ trồng Trái lại những giống phân cành nhiều thân lá phát triển mạnh trồng với mật

độ cao năng suất sẽ giảm Mật độ trồng sắn thích hợp có thể thay đổi từ 13.00020.000 cây/ha

Một số kết quả nghiên cứu khác của Malayxia và Indonexia, cũng cho thấy mật độ trồng sắn thích hợp với những giống sắn có thân lá phát triển mạnh và phân nhánh nhiều là từ 10.00012.000 cây/ha thì cho năng suất sắn đạt được cao nhất

Ở Việt Nam tác giả Nguyễn Hữu Hỷ, (2000) [13] cho biết mật độ trồng sắn thích hợp với các giống sắn KM60, KM94 trồng vụ đầu mùa mưa trên đất

đỏ ở Đông Nam Bộ là 10.000 cây/ha và trên đất xám là 11.080 cây/ha sẽ đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Theo D Wyllie, 1979 [58] cho rằng ở phương thức trồng sắn lấy lá và lấy

lá củ, trồng với mật độ 0,8m x 0,4m thì cho năng suất lá và củ cao nhất Ở phương thức trồng sắn lấy củ thì trồng với mật độ 1m x 1m thì cho năng suất

củ là cao nhất

1.1.3 Lượng phân bón và phương pháp bón phân

Theo tác giả Holleman, (1967) [12] cho rằng sắn được trồng trên đất giàu dinh dưỡng hoặc được bón đầy đủ và hợp lý các loại phân vô cơ, hữu cơ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

thì sức sinh trưởng tốt dẫn đến năng suất củ, năng suất sinh học, tỷ lệ tinh bột đạt cao Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng có sức sinh trưởng yếu, năng suất củ, năng suất sinh học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp; bón quá nhiều phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật cao, năng suất củ tươi giảm, chỉ số thu hoạch thấp Cũng theo tác giả Holleman, (1967) [12] nếu cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép sẽ ức chế đến sự hấp phụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca,mg làm cho sắn sinh trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm Việc cung cấp dư thừa đạm dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn

dễ bị sâu bệnh phá hoại Bón phân dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng dẫn đến hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất cao

Đạm là nguyên tố rất cần thiết đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng

số lá trên thân, số đốt, và năng suất củ Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ Ở các thí nghiệm dài hạn và ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là trên các loại đất nghèo dinh dưỡng Phản ứng của sắn đối với các liều lượng N khác nhau đã thể hiện rõ ngay từ năm thí nghiệm đầu tiên Ngoài ra có mối quan hệ khá

rõ giữa lượng N bón vào đất và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn Hàm lượng N trong thân lá tăng khi mức bón đạm tăng

Theo tác giả Holleman, (1967) [12] nếu lúc thu hoạch người ta lấy toàn

bộ sinh khối của sắn có trên đồng ruộng (củ tươi, các bộ phận thân lá) thì họ

đã lấy đi hầu hết các chất hữu cơ do cây sắn hấp thụ được trong quá trình sinh trưởng và phát triển bao gồm 75% N, 92% Ca, 76% mg Số liệu phân tích được cho thấy tổ hợp lân chứa trong củ lúc thu hoạch tương đương với lượng

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

P ở bộ phận trên mặt đất (thân, lá) khi thu hoạch cộng với lượng P ở nhiều bộ phận lá đã rụng (lá già) Riêng ở rễ và củ sắn thì tỷ lệ N, P, K bị lấy đi khi thu hoạch là 2:1:4 Song tính chung cho tất cả các bộ phận ở dưới và trên mặt đất thì tỷ lệ này là 3:1:3 Từ những kết quả nghiên cứu hơn 100 thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân tại Thái Lan và Trung Quốc cho rằng cây sắn phản ứng mạnh với mức bón phân N từ 50 đến 200kgN/ha nhưng cũng có sự khác nhau tuỳ theo giống (giống SC205 phản ứng với mức bón 200kgN/ha còn giống SC201 ở mức 50kgN/ha)

Những kết quả nghiên cứu khác tại Ấn Độ, Thái Lan Indonexia, Philippin

và Trung Quốc cho thấy bón cân đối N, P, K có thể làm tăng năng suất sắn lên 48% so với không bón phân Cũng theo các kết quả nghiên cứu tại các quốc gia này thì mức bón NPK dao động trong khoảng: [100kg N + 50kg P2O5 + 100kg K2O]/ha; [60kgN + 60kg P2O5 + 120kg K2O]/ha; [80kg N +40kg P2P5 + 80kg K2O]/ha Nghĩa là bón tỷ lệ NPK là 2:1:2 và 2:2:4 đều cho năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể duy trì được độ phì của đất Những công trình nghiên cứu của tiến sĩ Lian thực hiện trên đất than bùn ở Malayxia cho thấy công thức bón N, P, K thích hợp cho sắn là: 150 - 250kg N + 30kg P2O5 + 80 - 160 K2O/ha

Ở đề tài này chúng tôi đã bón phân cho sắn theo quy trình trồng sắn của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Liều lượng phân bón: 10 tấn phân hữu cơ +60kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O/ha

Cách bón:

+ Bón lót: 100% phân hữu cơ + 100% P2O5 + 1/3 N +1/3 K2O

+ Bón thúc lần 1: Sau trồng 45 ngày bón 1/3 N + 1/3 K2O kết hợp với làm cỏ và vun nhẹ cho sắn

+ Bón thúc lần 2: Sau trồng 90 ngày bón số phân còn lại (1/3 N + 1/3 K2O) kết hợp với làm cỏ vun cao cho sắn

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.4 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của lá sắn, củ sắn

* Lá sắn:

Theo kết quả nghiên cứu của Ravidran, (1983) [53]; Nguyễn Nghi, (1984) [22]; Nguyễn Văn Thưởng, (1992) [29]; Từ Quang Hiển [8], (1982) thì lá sắn có chứa nhiều chất dinh dưỡng Mặc dù hàm lượng tinh bột rất ít (từ 1,8 đến 3,2%), hàm lượng DXKD của lá có từ 3,7 - 6,4% Năng lượng trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô cũng chỉ có 240Kcal Nhưng từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn thức ăn rau xanh cho người và gia súc

Cũng theo các tác giả trên, hàm lượng protein thô trong VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ 22,6 - 29,9% Còn theo W.S Alhasan và Odei (1982) (Trích Nguyễn Nghi, (1984) [22]; Gomez, G, (1979) [42]; Ravindran, (1984) [54]; Trịnh Cương, (1962) [2]) thì hàm lượng này dao động từ 23 – 32% Các tác giả trên đều có chung một nhận xét là: các giống sắn khác nhau thì hàm lượng protein thô trong lá cũng khác nhau Hàm lượng protein thô trong lá sắn tương đương với hàm lượng protein thô trong một số hạt đậu đỗ

Alvarenga, (1988) [38] đã so sánh thành phần axit amin trong lá sắn với thành phần axit amin trong trứng gà, thấy: hàm lượng axit amin không thay thế trong lá sắn tương đối đầy đủ và cân đối Tuy nhiên, hàm lượng methionine trong protein của lá sắn thấp (1,2g%), chỉ bằng 67% hàm lượng methionine trong protein của trứng gà (3,65g%) Do đó tác giả kiến nghị không nên sử dụng bột lá sắn khi khẩu phần nghèo methionine

Nguyễn Nghi, (1984) [22] đã nghiên cứu phối hợp protein bột cá với protein lá sắn theo tỷ lệ 2/1 thấy: Giá trị sinh học của protein bột cá là 78%, bột lá sắn là 63% nhưng giá trị sinh học của protein hỗn hợp đạt tới 73% Tác giả cũng cho biết: nếu bổ sung methionine vào bột lá sắn thì giá trị sinh học của protein của hỗn hợp có thể đạt tới 80,4% Điều này có thể giải quyết được kiến nghị của Alvarenga, (1988) [38] đã nêu khi sử dụng bột lá sắn Hàm

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng Lysine và arginine trong protein của lá sắn lại tương đối cao, tương ứng 4,45 và 4,35mg%

Theo công bố của Hoài Vũ, (1980) [37] thì về mặt chất lượng, trong protein của lá sắn có khá nhiều và đầy đủ các axit amin cần thiết So với các loại rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn hơn hẳn Ví dụ: hàm lượng lysine, methionine và triptophan của lá sắn tươi là 0,34; 0,14; 0,11 (g/100g) Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04 Rau ngót là 0,16; 0,13; 0,05 Rau cải là 0,07; 0,03; 0,02

Hàm lượng vitamin trong lá sắn cũng cao Theo Maner, J.H, (1987) [46];

Từ Quang Hiển, (1983) [9], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7mg% caroten Còn theo Hoài Vũ, (1980) [37]; hàm lượng caroten trong lá sắn tươi là 3,00mg%, vitamin B1 là 0,25mg%, B2 là 0,66mg%, P.P là 0.66mg% Đặc biệt vitamin C trong lá sắn khá cao (295mg%)

Thành phần khoáng đa lượng và vi lượng của lá sắn nói chung cao hơn

so với củ Hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P=0,25 - 0,38%; K=1,52 - 1,71% Đặc biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2mg trong 1kg chất khô (Nguyễn Khắc Khôi, 1982 [16]; Nguyễn Nghi, 1985 [22]; Muchnick, J, 1984 [47]; Ravindran, V, 1984 [54])

* Củ sắn:

Củ sắn là một loại thức ăn giàu năng lượng Trong 1kg củ sắn tươi có

từ 903 - 1193Kcal năng lượng trao đổi (Maner, J.H, 1987 [46]; P Silvestre,

1990 [25]; Wu, F.J, 1991 [59]) Theo Nguyễn Văn Thưởng, (1992) [29]; Bùi Văn Chính, (1995) [3] thì ở Việt Nam các giống sắn Dù, sắn Chuối, 205 là những giống có năng lượng trao đổi cao, dao động từ 1034 - 1187 Kcal/kg Cũng theo các tác giả trên hàm lượng năng lượng trao đổi của củ sắn đã bóc

vỏ luôn cao hơn củ sắn cả vỏ: ở củ sắn khô cả vỏ, hàm lượng năng lượng trao đổi dao động từ 3087 - 3138 Kcal/kg, còn ở sắn khô bóc vỏ trung bình từ

3115 - 3196 Kcal/kg

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mặc dù trong sắn có chứa nhiều nước: Từ 66,08 - 76,64%; Nguyễn Văn Thưởng, (1992) [29] Song theo P Silvestre, (1990) [25] thì trong VCK của củ sắn có tới 80 - 90% dẫn xuất không đạm Trong dẫn xuất không đạm lại có tới 80% là tinh bột, xơ thô chiếm 3,2 - 4,5%

Tinh bột sắn có chất lượng cao, theo Maner, J H, (1987) [41] đã công

bố kết quả phân tích nhiều giống sắn cho thấy, trong tinh bột của sắn có khoảng 20% Amilose và 70% Amilopectin

Theo Maner, J.H, (1987) [46]; Wenge, K.C (1988) [55], có tới 98% tinh bột nằm ở trong phần thịt (mô dự trữ) của củ sắn Do đó, sắn quá non hoặc quá già, hàm lượng tinh bột đều thấp hơn so với giai đoạn 10 - 12 tháng sau khi đặt hom (Wu, F.J, 1991 [59], Hoài Vũ, 1980 [37]; Bùi Thị Buôn, 1985 [1])

Các giống sắn khác nhau có tỷ lệ tinh bột cũng khác nhau Nếu cùng một giống và trồng trong điều kiện khí hậu như nhau thì hàm lượng tinh bột trong sắn phụ thuộc rất chặt chẽ vào thời gian thu hoạch Thực tế cho thấy, thu hoạch sắn sau khi đặt hom 10 - 12 tháng là lúc củ sắn có hàm lượng bột cao nhất Hoài Vũ, (1980) [37]; Đinh Văn Lữ, (1972) [19] đã nghiên cứu thành phần tinh bột sắn thu hoạch vào các thời điểm khác nhau cho thấy: Hàm lượng tinh bột trong củ sắn tươi ở các tháng 4, 6, 8, 10, 12 sau khi đặt hom tương ứng là: 3,0; 16,5; 20,0; 21,0 và 28,0 Nếu để qua thời gian 12 tháng, hàm lượng tinh bột giảm và ngược lại, hàm lượng protein thô và xơ thô lại tăng lên

Các giống sắn của Việt Nam có tỷ lệ tinh bột rất cao, cao hơn cả giống sắn cho tinh bột cao trên thế giới Cụ thể: Nếu so sánh giống sắn vỏ vàng của

ta có tỷ lệ tinh bột là 34,20% so với giống sắn Soliđa Balanca của Colombia (một trong những giống sắn cho tinh bột cao nhất thế giới) thì sắn của ta vượt 2,09% (Điền Văn Hưng, 1972 [10]; Hoài Vũ, 1980 [37])

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hàm lượng protein trong củ sắn thấp Theo nghiên cứu của Maner, J.H, (1987) [46]; Alvarenga, J.C, (1988) [38]; Trần Thị Nhị Hường, (1996) [7]; Trần Thế Hanh, (1984) [6]; Nguyễn Nghi, (1984) [22]; Nguyễn Khắc Khôi, (1985) [17]; Trần Ngọc Ngoạn, (1990) [23] thì hàm lượng protein trong củ sắn dao động từ 1,47 đến 5,18% tuỳ theo giống, khu vực trồng và phương pháp chế biến bảo quản củ Theo Nguyễn Nghi, (1984) [22] thì hàm lượng protein của giống sắn 205, sắn Chuối, sắn Xanh là cao nhất (khoảng từ 3,78 - 4,61%) còn các giống sắn Dù, Hoa Kỳ Canh nông, Bún, Goòn thấp hơn (chỉ khoảng 2,4 - 2,75%)

Hàm lượng axit amin trong củ sắn cũng được nhiều người nghiên cứu xác định Theo Maner, J.H, (1987) [46]; Gomez, G, (1983) [43] thì hàm lượng axit amin trong củ sắn ít và không cân đối: hàm lượng lysine và triptophan trong củ sắn chiếm 1,55 và 8,50% so với protein, cong methionine và cystine rất thấp, tương ứng là 0,33% và 0,25%, so với tiêu chuẩn của FAO là 2,2% Hàm lượng lysine trong lá cao hơn (7,2g) với tiêu chuẩn thức ăn của FAO (4,2g%)

Hàm lượng mỡ thô trong củ sắn cũng thấp, chỉ đạt 1,6 - 1,8% so với vật chất khô (Gomez, G, 1979 [42] Theo Nguyễn Văn Thưởng, 1992 [29]; Nguyễn Nghi, 1984 [22]; Hoài Vũ, 1980 [37]; Trịnh Cương, 1962, [2]) thì hàm lưọng mỡ thô trong củ sắn Việt Nam đạt cao hơn, từ 2 - 2,5% trong vật chất

Các thành phần khoáng đa lượng, khoáng vi lưọng trong củ sắn cũng tương đối thấp Theo Nguyễn Nghi, (1985) [22] thì hàm lượng Ca đạt từ 0,11-0,25%, P đạt 0,08 - 0,12% trong vật chất khô Hàm lượng K trong củ sắn cao hơn, từ 0,57 - 0,58% Các nguyên tố vi lượng trong bột củ sắn như Zn, Mn, Cu,

Fe tương ứng là 17,1 - 56,61; 11,2 - 40,3; 1,6 - 8,6 và 119,2 - 319,2mg/1kg vật chất khô Cũng theo tác giả này thì hàm lượng Co, P, K, Zn, Mn, Cu trong bột

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sắn rất thấp so với nhu cầu của gia súc Do đó khi sử dụng nhiều bột củ sắn trong khẩu phần phải chú ý bổ sung các nguyên tố trên Thành phần khoáng, đặc biệt là khoáng vi lượng trong củ sắn các giống khác nhau, trồng ở các vùng khác nhau cũng không khác nhau nhiều

1.1.5 Độc tố trong sản phẩm sắn

Một trong những yếu tố quan trọng gây cản trở trong việc sử dụng các sản phẩm của lá sắn làm thức ăn gia súc là do trong các bộ phận của cây có chứa Cyanogen Glucoside Đó là Linamaroside và Lotostraloside Hai chất này khi thuỷ phân đều tạo ra xeton và axit cyanhydric Vì thế mà axit cyanhydric tự do không thấy ở trong mô thực vật, mà chúng tồn tại thành một hợp chất liên kết giữa axetin và axit cyanhydric Cũng vì thế mà các heteroside nói trên còn gọi là glucoside hydroxinitrin

Theo Nambisan, (1985) [48], chất này có tên hoá học là 2 Hydroxyl - 2Methylpropan - Nitrilaglucoside, có công thức C10H17O6N

Gomez, G, (1991) [45] cho biết ở sắn chất Linamaroside chiếm từ 90 - 96%, còn Lotostraloside chiếm từ 4 - 10% Theo Nartey, F, (1978) [49] thì hàm lượng Linamaroside chiếm từ 89 - 93% của tổng số cyanogenic glucoside và Lotostraloside chiếm tới 7 - 11%

Sự tổng hợp các glucoside sinh ra axit cyanhydric được thực hiện trong các cây xuất phát từ axit amin Chất linamaroside từ Valin mà ra, còn chất Lotostraloside từ Izoleusin Nartey, F, (1978) [49] đã xác định vai trò của các glucoside sinh axit cyanhydric trong việc tổng hợp các chất hữu cơ ở cây sắn Theo ông, sự tổng hợp chất hữu cơ không nhất thiết phải qua các chất sinh axit cyanhydric, nhưng cây nào đi theo con đường này thì có thể tự giải độc được

Theo Nartey, F, (1978) [49]; Gomez, G, (1991) [45]; P Silvestre, (1990) [25] quá trình thuỷ phân hình thành HCN trong cây sắn như sau:

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

R ─ C ─ C  N   HCN + R ─ C

(Bộ phận Aglicon) (axit cyanhydric) (xeton)

Axit cyanhydric là một chất có cấu tạo tinh thể, hình kim, không màu, không hoà tan trong rượu, ete, tan ít trong axeton, nhưng dễ bay hơi, dễ hoà tan trong nước, có thể bị oxy hoá thành các axit cyanic không độc hoặc kết hợp với chất đường thành chất độc hơn (Đinh Văn Lữ, 1972 [19]; P Silvestre, 1990 [25])

Cũng căn cứ vào hàm lượng độc tố HCN trong củ sắn mà người ta phân làm 2 loại: Sắn ngọt và sắn đắng Theo P Sillvestre, (1990) [25]; Nartey, F, (1978) [49], người ta phân loại sắn như sau: Nhóm sắn ngọt là những giống sắn có hàm lượng HCN < 80 ppm trong chất tươi Nhóm sắn đắng là những giống sắn có hàm lượng HCN từ 80 ppm trở lên Còn theo Fuller, M.F, (1987) [40]; Gohl, B, (1981) [36] thì các giống sắn có hàm lượng HCN ≥ 0,01%

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong củ tươi thì thuộc nhóm sắn ngọt, còn các giống có hàm lượng HCN ≤ 0,01% trong củ tươi thì thuộc nhóm sắn đắng Trên thực tế các tác giả trong

và ngoài nước thường sử dụng phương pháp phân loại thứ nhất nhiều hơn

Trong cây sắn, lượng độc tố phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở bộ phận dưới mặt đất Sự phân bố HCN trong các bộ phận của cây sắn được chia

Hàm lượng HCN trong lá sắn cũng rất khác nhau phụ thuộc vào vị trí của lá, các giống và điều kiện ngoại cảnh

Hàm lượng HCN ở những lá búp và lá non cao hơn nhiều so với lá già

Ở những lá non, hàm lượng glucoside trong cuống cao hơn ở phiến lá, còn ở những lá già thì ngược lại Hàm lượng HCN ở phiến những lá búp là 330 -

790 ppm (so với khối lượng tươi), ở những lá bánh tẻ là 340 - 1040 ppm và ở những lá già là 210 - 730 ppm

Hệ số tương quan giữa hàm lượng glucoside trong lá và trong củ đã bóc

vỏ là r =0,55 Điều đó cho thấy những giống có hàm lượng HCN trong lá cao thì hàm lượng độc tố HCN trong củ cũng cao và ngược lại (Fuller, M.F, 1987 [40], Maner, J.H, 1987 [46], Gohl, B, 1981 [41])

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Triệu trứng gây độc và tác hại của độc tố HCN đối với cơ thể gia súc thì đã rõ ràng song cơ chế tác động của độc tố đến cơ thể gia súc ra sao thì các nhà khoa học từ lâu đã tranh cãi gay gắt về vấn đề này và cũng còn rất nhiều ý kiến khác nhau

Theo Oke, O.L, (1969) [51] thì ở động vật thường gặp 2 triệu chứng ngộ độc HCN đó là ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính Ngộ độc cấp tính thường

có những triệu chứng thể hiện như thở gấp, tăng mạch đập, mất phản ứng từ các tác nhân gây kích thích và cuối cùng là sự co cứng của các cơ trên cơ thể Phần lớn các triệu chứng của độc tố có thể giải thích trên cơ sở của mối liên hệ giữa axit cyanhydric với các ion kim loại như Cu+2

và Fe+2 Gốc Cyanua (CN

-) thường kết hợp với hemoglobin của hồng cầu để tạo thành phức chất cyanohemoglobin Chất này không có khả năng vận chuyển oxy trong máu (Oke, O.L, 1969 [61]; Nambisan, B, 1985 [48]; Maner, J.H, 1987 [46])

Mặt khác độc tố cyanohydric cũng có những dạng kết hợp với các ion của Cu+2

được giải phóng do sự oxi hoá các tế bào Crome, chính những dạng này lại đóng một vai trò như một chất oxi hoá những enzym làm ức chế sự vận chuyển các Electron trong tế bào, gây nên sự thiếu hụt oxi trong toàn bộ các mô bào của cơ thể

Những tác nhân hoá học không bình thường đó đã gây ra sự suy nhược của thần kinh ở các trung tâm tuỷ sống (medullar centers) là nguyên nhân gây

tê liệt toàn bộ hệ thần kinh và và gây chết động vật Vì vậy, theo các tác giả trên thì axit cyanhydric HCN được coi là một chất độc nguyên sinh chất (protoplasma poison) mạnh nhất đối với tất cả các dạng cơ thể sống

Bên cạnh các triệu chứng ngộ độc cấp tính, còn một dạng nữa là ngộ độc mãn tính Theo Oke, O.L, (1969) [61] khi cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ hydrocyanic axit thì ở gia súc cũng xuất hiện dấu hiệu ngộ độc Maner, J.H, (1987) [46] đã chỉ ra rằng, với một lượng nhỏ độc tố đưa vào cơ thể gia

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

súc không dẫn đến tử vong nhưng chúng cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu và

sử dụng các chất dinh dưỡng khác lấy từ thức ăn như methionine, cystine, sulfure, vitamin B12, sắt, đồng và Iode, vv Các tác giả đã khẳng định rằng,

sự thiếu hụt này xảy ra thậm chí ngay cả khi khẩu phần thức ăn có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng trên Điều này có thể giải thích bằng sự có mặt của một lượng HCN được tích luỹ trong cơ thể lâu ngày đủ để làm giảm đi hiệu quả của sự hấp thu và sử dụng các chất dinh dưỡng khác lấy từ thức ăn P Slivestre, (1990) [25]; Gomez G, (1988) [44]; Nartey, F, (1978) [49] đã cho biết: hàm lượng độc tố HCN có thể gây chất động vật khoảng ≥ 2,5mg/kg thể trọng

Do đó việc nghiên cứu chế biến làm giảm đến mức tối đa và loại bỏ hoàn toàn glucoside trong củ và lá sắn trước khi dùng làm thức ăn gia súc là một việc không thể thiếu được

1.1.6 Những nguyên tắc chế biến để khử bỏ độc tố HCN trong sắn

Muốn sử dụng sắn với tỷ lệ cao trong khẩu phần thức ăn cho lợn, việc đầu tiên các nhà khoa học phải tập trung vào nghiên cứu chế biến củ và lá sắn sao cho vừa giảm được độc tố trong sản phẩm, lại vừa bảo tồn được các thành phần dinh dưỡng, tăng khẩu vị, lợn dễ tiêu hoá, hấp thu mà giá thành rẻ, dễ làm, dễ bảo quản

Theo Bolhuis G.G., (1954) [39]; P.Silevetre, (1990) [25], việc loại bỏ độc tố HCN trong củ và lá sắn thường áp dụng theo những nguyên tắc sau:

- Loại trực tiếp những glucoside sinh ra HCN bằng cách cho hoà tan trong nước

- Làm phân huỷ glucoside sau đó loại HCN bằng bốc hơi hoặc rửa

- Vô hiệu hoá hoạt động của men Linamariaza

Cơ chế thứ nhất chắc chắn dễ thực hiện và có hiệu quả vì glucoside dễ hoà tan trong nước Nguyên tắc này được sử dụng nhiều trong các phương

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

pháp như ngâm sắn: sắn cả củ hoặc thái lát được ngâm 5 - 7 ngày trong nước chảy hoặc nước đọng, sau đó lọc lấy tinh bột Như vậy, một phần lớn Glucoside bị loại bỏ theo dòng nước

Theo P Silvestre, (1990) [25] trong quá trình ngâm nước lâu ngày như vậy, đã có hiện tượng lên men nhẹ trong củ sắn Nhờ hiện tượng lên men này làm cho nước thâm nhập dễ dàng hơn vào củ, nhờ đó mà nước loại đi các glucoside và một lượng nhỏ HCN đã được hình thành trong củ khi glucoside tiếp xúc với enzym cũng được hoà tan theo

P Silvestre khi nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng HCN bằng nhiệt đã kết luận, khi luộc sắn, đồng thời với nhiệt độ tăng lên dần dần, thì độc tố giảm

từ khoảng 332 ppm xuống còn khoảng 10 ppm Tác giả cho rằng sự giảm của độc tố HCN trong củ sắn luôn chắc chắn cũng do một quá trình lên men tương

tự như trên L W Holleman, (1967) [12] cũng cho rằng nếu luộc từ từ củ hoặc

lá sắn thì lượng độc tố giảm mạnh, nhưng nếu đun to lửa đột ngột sẽ hạn chế tác dụng của men và khó loại trừ axit HCN ở dạng kết hợp

Cơ chế thứ hai được áp dụng nhiều hơn Việc phân huỷ các glucoside sau đó loại HCN bằng bốc hơi hay rửa được sử dụng nhiều trong kỹ thuật chế biến sắn như: thái lát phơi khô, băm nhỏ (lá sắn) phơi khô, thái lát xử lý bề mặt lát cắt bằng ngâm nước (nước lã, nước vôi, nước muối, axit HCl, axit axetic ), sắn sợi (nạo, duôi), làm sắn hạt, làm bột sắn thô, chế biến tinh bột sắn ủ chua (lá sắn), ủ tươi (củ sắn) và lên men vi sinh vật cho bột sắn

Sự phân huỷ các glucoside nhờ tác động của enzym được dễ dàng thêm khi người ta nghiền tế bào hoặc để cho tế bào tự tiêu, do đó glucoside và enzym tiếp xúc được với nhau Nghiền hay đúng hơn mài sát củ sắn được thực hiện không những phổ biến trong nhân dân mà còn được thực hiện với quy mô công nghiệp Theo Phạm Sỹ Tiệp, (1999) [36]; trường hợp này không chỉ có sự phân huỷ các glucoside và loại bỏ HCN bằng nước rửa, mà nước

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

còn cuốn theo các glucoside chưa bị thuỷ phân Do đó bột sắn mài lọc, sắn hạt

“Farinhahe Madioea” của Brazil, “Couac” của Angola, “Gary atieke” của Châu Phi bao giờ cũng sạch, hầu như không còn axit cyanhydric

Việc cho lên men sắn mài, sắn lát hoặc cả củ tươi trong nhiều ngày (như làm bột “Musseque” hay “Malanje” ở Angola, “Tipiti” của người da đỏ Taruma, “Mapadiola” của Nigeria; chế biến bột sắn theo phương pháp “ủ sắn” (Nguyễn Phước Tương [28]), hoặc sản xuất tinh bột bằng cách phân giải cấu trúc thành tế bào nhờ các enzym và tổ hợp enzym đảm bảo thời gian cần thiết

để hoàn thành thuỷ phân glucoside cho sự thuỷ phân đó; kết quả cuối cùng của sản phẩm là: HCN được giải phóng ra sẽ bị loại theo nước do vắt, lọc, vẩy bỏ nước, còn lại bao nhiêu thì bị bay hơi hết trong quá trình phơi khô

Thái lát phơi khô là phương pháp chế biến cổ điển nhất Theo P Silvestre, (1990) [25]; Đinh Văn Lữ, (1972) [19] việc phơi sắn củ đã cắt ra thành từng lát hoặc phơi héo lá (cả lá hay băm nhỏ), cùng với những sự thay đổi của tế bào (về hình thái, cấu trúc và sinh hoá) đồng thời cũng chính là quá trình thực hiện sự tiếp xúc giữa glucoside và enzym và kết quả là HCN tự do được giải phóng và bay hơi

Trong những ngày mưa cần phải làm khô với khối lượng lớn, người ta thường dùng phương pháp sấy Nguyên tắc cơ bản của phương pháp sấy khô sắn là phải đảm bảo nhiệt độ thích hợp và thoát ẩm tốt trong lò sấy Sấy khô bằng lò điện ở 700

C - 800C hoặc bằng lò sấy thủ công cũng là một phương pháp tích cực để khử độc tố axit cyanhydric và men Linamariaza có trong củ

và lá sắn Trong quá trình sấy, glucoside bị thuỷ phân thành dạng HCN tự do, sau đó bị bốc hơi cùng với nước trong sản phẩm

Ở những nơi vụ thu hoạch sắn vào mùa mưa hay mưa phùn nhiều ngày, người ta thường chế biến sắn dưới dạng muối dưa (lá sắn) và ủ xi lô (củ sắn) Thực chất ở đây cũng được theo nguyên tắc thứ 2 của việc bỏ độc tố HCN

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong quá trình ủ hoặc muối dưa, nhờ tác động của men sẵn có trong sắn mà glucoside được phân huỷ giải phóng HCN tự do Trước khi cho gia súc ăn lá sắn ủ chua hay sắn ủ xi lô, các sản phẩm nên rửa qua bằng nước lã rồi vắt bỏ nước (Bùi Văn Chính, 1995 [3]; Gomez, G, 1988 [44]; Gomez, G, 1983 [43])

Cũng theo các tác giả này dưa lá sắn vắt kiện nước chỉ còn 1 - 3,25mg% HCN; hàm lượng HCN trong củ sắn sau khi ủ xi lô giảm từ 63% (ủ 30 ngày) đến 68% (ủ 60 ngày) so với sắn tươi Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng vấn đề axit cyanhydric con cần phải xem xét, cho nên các tác giả đã khuyến cáo, chỉ nên dùng các giống sắn ngọt để muối dưa hoặc ủ tươi làm thức ăn cho gia súc (Theo P Silvestre, 1990 [25])

Việc phá huỷ các enzym phân giải glucoside thành HCN cũng là một trong những phưong pháp để loại bỏ HCN trong sản phẩm sắn Đun nóng hoặc sấy ở nhịêt độ cao tới 720C trở lên (như làm sắn sấy) có thể phá huỷ enzym và như vậy cắt đứt nguồn sinh ra độc tố HCN Tuy nhiên những glucoside đó vẫn có thể bị phá huỷ và giải phóng ra HCN bởi các enzym do vi sinh vật ở ruột tiết ra (theo Nartey, F, 1978 [49]) Vì thế các phương pháp chế biến sắn theo nguyên tắc này thường ít được áp dụng trong thực tế

Từ những nguyên tắc đã nêu trên, có thể khẳng định một điều chắc chắn rằng khi chế biến có thể loại bỏ được phần lớn độc tố glucoside và hoàn toàn có thể sử dụng như một nguồn thức ăn cung cấp năng lưọng chính trong khẩu phần nuôi lợn thịt ở trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam

1.1.7 Những phương phương pháp chế biến củ và lá sắn

Việc nghiên cứu chế biến và sử dụng sắn vào chăn nuôi đã được các nhà khoa học trong nước chú ý từ lâu Có rất nhiều công trình đã được

công bố:

+ Phương pháp nghiền khô làm bột: là phương pháp cổ điển cho đến nay vẫn được áp dụng nhiều nhất Người ta có thể để cả củ thái lát rồi phơi khô hoặc

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sấy khô trong các lò sấy thủ công hay lò sấy điện Sau khi sắn khô mới đem nghiền thành bột cho gia súc ăn Sắn lát được phơi khô từ 1,5 - 4 ngày tuỳ theo kích thước lát sắn, bóc vỏ hay để nguyên vỏ P.Silvestre, (1990) [25], đã nghiên cứu điều kiện của sân phơi, mật độ sắn/m2

sân đến thời gian phơi khô sắn thái lát ở Malaysia, Thái Lan, Colombia và Madagasca cho thấy nếu phơi sắn ở sân xi măng với số lượng 37kg/m2 thì thời gian phơi khô sắn kéo dài 1,5 ngày, còn với số lượng 62kg/m2

thì kéo dài 3 ngày Nếu phơi bằng mâm đặt cách mặt đất 30cm với số lượng 5kg/m2

thì thời gian phơi kéo dài 7 giờ, còn với số lượng 10kg/m2

thì kéo dài 14 giờ Tác giả cũng cho biết trong quá trình phơi, nhờ sức nóng của năng lượng mặt trời mà hơi nước được bốc hơi, đồng thời men Linamaraza cũng phân huỷ Glucoside tạo thành HCN bay hơi theo sự thoát hơi nước Do đó, sắn lát sau khi phơi khô hàm lượng độc tố HCN còn lại rất ít (từ 1,0 - 2,1mg%) tuỳ vào giống sắn

Ngoài việc làm khô bằng năng lượng mặt trời, người ta còn làm khô các sản phẩm sắn bằng phương pháp sấy, có thể sấy bằng lò thủ công (lò tĩnh tại) hay lò điện (lò di động) Theo P.Silvestre và M Arraudeau, (1990) [25], cho biết: phơi nhân tạo không phải là phương pháp tối ưu vì lượng nước bốc hơi trong sản phẩm sắn rất lớn 50 - 55kg nước/ 100kg sắn tươi nên việc làm khô rất tốn kém Tác giả cho biết, đối với lò sấy tĩnh tại cần phải có gần 1200 Kcal hay 120g dầu Marut cho việc tách 1kg nước và gần 20kg dầu Marut cho việc sấy khô 1 tấn củ sắn Mặt khác, khi sắn được sấy ở nhiệt độ cao sẽ làm cho sắn bị khô cứng, sản phẩm có thể bị cháy hoặc bị biến màu Lát sắn có hiện tượng bị cứng lại và ngả màu nâu Như vậy, phương pháp sấy nhân tạo chỉ có thể xem xét là biện pháp bổ sung sau khi phơi nắng hoặc sau khi tách một phần nước trong sản phẩm tươi bằng ép

+ Phương pháp nghiền bột làm khô: Đây cũng là một phương pháp được nghiên cứu từ lâu và hiện nay được áp dụng khá phổ biến Công nghệ

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

gồm làm thành bột (dựa vào mài, xát, nghiền, xay, ngâm nước nhiều ngày ) sau đó mới sấy khô hoặc phơi khô Theo Oke, O.L, (1969) [51] đã nghiên cứu các kỹ thuật chế biến cổ truyền của phương pháp này cho biết: khi củ sắn tươi được ngâm trong nước chảy nhẹ từ 5 - 7 ngày, vi sinh vật sẽ tác động vào quá trình phá vỡ thành các tế bào, tinh bột dễ dàng được giải phóng nhờ các tác động nghiền, xát, lọc xơ Quá trình này cũng làm cho sắn có vị đặc biệt, hấp dẫn gia súc ăn đồng thời axit cyanhydric được giải phóng rất tốt Sau khi ngâm vỏ ngoài và vỏ trong bị bóc ra, tinh bột ướt sau khi thu được sẽ được phơi nắng, cứ 5kg sắn tươi làm được 1kg sắn bột

+ Phương pháp ủ tươi (ủ xi lo): Được áp dụng khi các điều kiện phơi sấy gặp khó khăn Gomez.G (1988) [44], khi nghiên cứu về phương pháp này cho biết: ủ tươi có thể thực hiện trong các silo kim loại bằng gỗ hay đơn giản hơn trong hầm đất được phủ kín bằng các túi nilông để tạo ra một môi trường hoàn toàn yếm khí, tạo điều kiện cho Lactorbacillus hoạt động Củ sắn thường được cắt thành các miếng mỏng hoặc nghiền nhỏ rồi đem ủ, có thể cho thêm nấm men, một ít phân vô cơ NPK hoặc rỉ mật đường Sau khi ủ 90 ngày, có thể sử dụng sắn ủ và có thể kéo dài 2 - 3 tháng

Theo Nguyễn Nghi, (1982) [22]; Nguyễn Khắc Khôi, (1982) [16]; thì thái lát phơi khô là một phương pháp thực tiễn làm giảm hàm lượng độc tố HCN và glucoside trong củ và lá sắn Đối với lá sắn cũng có thể cho ăn tuơi bằng cách tước bỏ phần cuống lá và gân lá vì chất độc HCN phần lớn tập trung tại đây nhưng rất tốt công và thời gian

Luộc lá sắn cũng làm giảm đi đáng kể hàm lượng độc tố HCN, trong lá sắn luộc, hàm lượng HCN chỉ còn khoảng 1 - 5mg% Kết quả của Từ Quang Hiển, (1983) [9]; Bùi Văn Chính, (1990) [3] đã thí nghiệm muối dưa lá sắn cho thấy trong lá sắn đã muối dưa chỉ còn 1 - 2mg% HCN Tuy nhiên, theo các tác giả trên thì biện pháp phơi khô lá sắn và nghiền thành bột là tốt nhất Trong lá sắn phơi khô, chỉ còn chưa 1 - 2mg% HCN Sau khi nghiền thành bột thì hàm lượng HCN lại giảm đi rất nhiều và có thể cất giữ cẩn thận sau 4 - 5

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tháng bột lá sắn vẫn còn chất lượng tốt Lượng bột lá sắn gia súc ăn được gấp

3 - 4 lần so với lượng sắn được ở dạng lá tươi, luộc hoặc muối dưa

Nguyễn Khắc Khôi, (1982) [16], cũng công bố kết quả thí nghiệm cho lợn ăn lá sắn tươi thay thế hoàn toàn thức ăn thô xanh trong khẩu phần lợn thịt cho thấy: lô sử dụng lá sắn tươi cho tăng trọng hơn lô cho ăn rau muống

là 20 - 22%, giảm chi phí thức ăn 16 - 18% (ở giai đoạn lợn choai) và ở giai đoạn vỗ béo tương ứng là 14 - 16%; 12 - 14% Đối với lợn con theo mẹ sử dụng lá sắn đã tăng trọng hơn 18 - 21% Đối với lợn nái nuôi con sử dụng lá sắn tươi, sự hao mòn của cơ thể lợn mẹ ít hơn 20 - 30% so với lợn ăn rau muống tươi

1.1.8 Sắn trong chăn nuôi

Sản phẩm chính của cây sắn là củ và lá sắn Củ và lá sắn từ lâu đã được

sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi, nhất là ở khu vực trung du và miền núi Theo Nguyễn Văn Thưởng, (1992) [29]; Nguyễn Nghi, (1984) [22]; Hoài Vũ, (1980) [37]; Bùi Văn Chính, (1995) [3]; Ravindran, V, (1983) [53] thì thành phần trung bình của củ sắn tươi sau khi dỡ như sau: Nước: 66,08 - 76,64%; tinh bột 16,45 - 31,50%; protein thô từ 0,80 - 2,94%; mỡ thô 0,30 - 0,41%; xơ thô 0,90 - 1,10%; khoáng tổng số từ 0,40 - 0,50% Hàm lượng các axit amin trong củ sắn cũng thấp và không cân đối Do đó khi phối hợp khẩu phần có tỷ

lệ bột sắn cao phải chú ý bổ sung các chất thiếu hụt trên Lá sắn có hàm lượng protein cao, ngoài ra có chứa nhiều loại muối khoáng và vitamin Cũng theo các tác giả trên thì trong lá sắn tươi trung bình có 6,59 - 7,00 protein thô, mỡ thô 2,50 - 2,55%; xơ thô 2,84 - 3,82%, DXKD từ 10,80 - 11,15%, khoáng tổng số từ 1,60 - 2,51%, trong protein thô của lá sắn có khá đầy đủ và cân đối các axit amin thiết yếu Trong củ sắn còn chứa độc tố HCN Tuy nhiên, nếu qua chế biến có thể sử dụng với tỷ lê cao trong khẩu phần, tuỳ theo từng loài giống gia súc và mục đích nuôi

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đối với bò: Theo Nartey, F, (1978) [50]; Gomez, G, (1979) [42] ở Ấn Độ

đã sử dụng các khẩu phần cho bò thịt với 80% thân, lá sắn tươi; ở Madagascar đã

sử dụng từ 20-30% củ sắn tươi trong khẩu phần thức ăn cho bò sữa; ở châu Âu thức ăn tổng hợp thường sản xuất với 20% bột sắn cho bò đực và 40% bột sắn cho bò sữa

Đối với lợn: Nhiều tác giả đã khuyến cáo nên sử dụng bột lá sắn với tỷ

lệ 30 - 50% trong khẩu phần đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Nhưng đối với một

số khác bột sắn có thể đạt tới 60% trong khẩu phần vẫn cho tăng trọng 800 g/ngày Serres và Tilon (1973) đạt được tăng trọng hoàn toàn như trên với khẩu phần có 75% bột sắn Nhưng tăng trọng này rất ảnh hưởng bởi chất lượng protein bổ sung Tăng trọng đạt tối đa khi bổ sung protein có nguồn gốc động vật Với khẩu phần có bột sắn, đậu tương và bổ sung DL-Methionine kết quả cũng cho tương tự

Đối với gia cầm: Nhiều nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng từ 20 – 30%

bột sắn cho gà thịt và gà đẻ trứng Việc dùng lá sắn trong khẩu phần cho gà đẻ làm tăng nhiễm sắc tố trong lòng đỏ trứng (Theo P Silvestre [25])

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Công Doãn Sắt, (1997) [27] cho thấy sắn được trồng chủ yếu trên các loại đất có độ phì thấp, quá trình canh tác không bón phân hoặc bón ít và chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp bảo vệ đất trồng sắn Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác; mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Long, (1998) [15] cho thấy bón phân NPK cân đối cho sắn có hiệu lực rõ rệt so với không bón phân hoặc bón mất cân đối, đồng thời ở các công thức bón cho 1 ha: 160kg N + 80kg P2O5 + 100kg K2O và 120kg N + 80kg P2O5 + 160kg K2O đem lại hiệu quả cao nhất trên đất nâu đỏ ở Bình Long

Theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh, (1998) [26] khi trồng sắn 3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năng suất sắn giảm xuống chỉ còn 10tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năng suất sắn tăng lên đến 20 tấn/ha khi cung cấp đầy đủ N; P; K và đặc biệt khi bón K ở mức cao

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hỷ, (2002) [13] trên đất đỏ và đất xám Đông Nam Bộ, công thức bón phân khoáng thích hợp cho sắn là [80kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O]/ha

Một số công trình nghiên cứu thực hiện tại miền Bắc Việt Nam trên đất

đỏ vàng của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một số địa điểm khác trên ruộng của nông dân cho thấy rõ phản ứng của cây sắn với N và K Trong các nguyên tố đa lượng thì K là yếu tố hạn chế năng suất sắn Thí nghiệm bón

N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàng của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chỉ

ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thì năng suất sắn vẫn cao, nhưng khi bón N,

P mà không bón K năng suất sắn giảm

Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân hữu cơ làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hoà được chế độ nhiệt và

ẩm độ trong đất, dung tích hấp thu của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổi ion và khoáng chất của đất được tốt hơn Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyển lân từ dạng khó tiêu thành dạng dễ tiêu cho cây trồng

Bùi Văn Chính, (1995) [3] đã thí nghiệm sử dụng lá sắn ủ chua (1,6kg/con/ngày) cho lợn thịt trong thời gian 120 ngày Kết quả đã làm khả

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

năng sinh trưởng của lợn tăng và làm cho tỷ lệ tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng trọng giảm được 20% Phương thức này đã góp phần làm tăng nguồn thức ăn gia súc ở địa phương với giá thành rẻ

Nguyễn Khắc Khôi, (1982) [16], cũng công bố kết quả thí nghiệm cho lợn ăn lá sắn tươi thay thế hoàn toàn thức ăn thô xanh trong khẩu phần lợn thịt cho thấy: Lô sử dụng lá sắn tươi cho tăng trọng hơn lô cho ăn rau muống là

20 - 22, giảm chi phí thức ăn 16 - 18% (ở giai đoạn lợn choai) và ở giai đoạn

vỗ béo tương ứng là 14 - 16%; 12 - 14% Đối với lợn con theo mẹ, sử dụng lá sắn đạt tăng trọng hơn 18 - 21% Đối với lợn nái nuôi con, sử dụng lá sắn tươi

sự hao mòn cơ thể của lợn mẹ ít hơn 20 - 30% so với lợn ăn rau muống tươi

Kết quả thí nghiệm sử dụng bột lá sắn khô cho lợn thịt được tác giả Từ Quang Hiển, (1982) [8] công bố: thí nghiệm được tiến hành trên lợn thịt lúc 3;

5 và 8 tháng tuổi với mức bột lá sắn tăng dần từ 15 - 50% số đơn vị tinh trong tiêu chuẩn ăn hàng ngày Kết quả cho thấy: có thể thay thế 20 – 30% thức ăn tinh bằng bột lá sắn, lợn vẫn sinh trưởng, phát triển tôt, cho năng suất cao

Nguyễn Nghi và cs, (1984) [21], thí nghiệm trên 50 lợn đại bạch: Lô thí nghiệm 1 cho ăn 10% bột lá sắn trong khẩu phần, sau 56 ngày tăng bột lá lên 20% Lô thí nghiệm 2: cho ăn 20% đến 56 ngày sau tăng lên 30% bột lá sắn Tác giả đã rút ra kết luận rằng khả năng tăng trọng của các lô đều tốt, ở mức

740 - 760 g/ngày

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo P Silvestre, (1990) [25], thay thế khô dầu dừa trong khẩu phần của lợn con bằng 0; 10; 20; 30% bột lá sắn thấy, có thể cho lợn ăn 20 – 30% bột lá sắn trong khẩu phần vẫn bảo đảm lợn sinh trưởng phát triển tốt

Gomez G, (1991) [45], đã tiến hành thí nghiệm trên đàn lợn con 14 ngày tuổi, cho ăn trên máng tự động khẩu phần thức ăn cở sở là ngô và đậu

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tương có bổ sung 14 và 28% bột sắn (ở thí nghiệm 1), 20 và 40 bột sắn (ở thí nghiệm 2) Cai sữa 42 ngày tuổi và kết thúc thí nghiệm lúc 56 ngày tuổi Khối lượng cai sữa và khối lượng kết thúc thí nghiệm ở lợn con của các lô ở cả 4 mức 14, 20, 28 và 40% bột sắn đều xấp xỉ như nhau Tình hình sức khoẻ của lợn con tốt

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu:

* Địa điểm nghiên cứu:

- Trung tâm Thực hành Thực nghiệm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sản lượng dinh dưỡng và thành phần hoá học của lá sắn ở phương thức trồng sắn lấy lá

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến năng suất và thành phần hóa học của lá sắn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của giai đoạn lá, các phương pháp chế biến khác nhau và thời gian bảo quản đến thành phần dinh dưỡng và độc tố trong

Ngày đăng: 30/10/2023, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Buôn, Nguyễn Văn Nghị (1985), “Kỹ thuật trồng, bảo quản và chế biến sắn”, Nhà xuất bản Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, bảo quản và chế biến sắn
Tác giả: Bùi Thị Buôn, Nguyễn Văn Nghị
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Hóa
Năm: 1985
2. Trịnh Cương (1962), “Sắn - phương pháp chế biến và giá trị sử dụng”, Nhà xuất bản KHKT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắn - phương pháp chế biến và giá trị sử dụng
Tác giả: Trịnh Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT Hà Nội
Năm: 1962
3. Bùi Văn Chính (1995), “Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và nguồn thức ăn sẵn có ở nông thôn” Tuyển tập NCKH (69-95), Nhà xuất bản KHKT Nông nghiệp Hà Nội, tr 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và nguồn thức ăn sẵn có ở nông thôn
Tác giả: Bùi Văn Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
4. Bùi Văn Chính (1995), “Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
5. Lê Doãn Diên (1994), “Ấn phẩm công nghệ sau thu hoạch trong nông nghiệp Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn phẩm công nghệ sau thu hoạch trong nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Doãn Diên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
6. Trần Thế Hanh (1984), “So sánh các giống sắn và nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh hóa của chúng”. KHKT Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái, tr 81-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KHKT Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái
Tác giả: Trần Thế Hanh
Năm: 1984
7. Trần Thị Hường và CTV (1996), “Nghiên cứu một số cơ lý tính của củ sắn và củ khoai lang”, KHKT Nông nghiệp Hà Nội số 8/1996, tr 362 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số cơ lý tính của củ sắn và củ khoai lang
Tác giả: Trần Thị Hường, CTV
Nhà XB: KHKT Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
9. Từ Quang Hiển (1983), “Kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng”, trích “những kết quả nghiên cứu về cây sắn”, KHKT Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái, tr 54-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những kết quả nghiên cứu về cây sắn
Tác giả: Từ Quang Hiển
Nhà XB: KHKT Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái
Năm: 1983
10. Điền Văn Hƣng (1972), “Cây thức ăn gia súc Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Điền Văn Hƣng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1972
11. Nguyễn Viết Hƣng (2006), “Luận án tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp”, tr 32-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Viết Hƣng
Năm: 2006
12. Holleman, W.L (1967), “Chế biến bột sắn và thức ăn từ sắn”, Trần Đức Quý dịch. Nhà xuất bản Vụ kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế biến bột sắn và thức ăn từ sắn
Tác giả: W.L Holleman
Nhà XB: Nhà xuất bản Vụ kỹ thuật
Năm: 1967
13. Nguyễn Hữu Hỷ, Reinhardt Howeler, Tống Quốc Ân (2000), “Một số kỹ thuật canh tác khoai mì ở Đông Nam Bộ năm 1997-1998”; Kỷ yếu hội thảo “ Kết quả Nghiên cứu và Khuyến nông sắn Việt Nam” Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam, tr 142-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kỹ thuật canh tác khoai mì ở Đông Nam Bộ năm 1997-1998
Tác giả: Nguyễn Hữu Hỷ, Reinhardt Howeler, Tống Quốc Ân
Nhà XB: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền nam
Năm: 2000
14. Nguyễn Hữu Hỷ (2002), “Xây dựng mô hình trồng sắn có năng suất cao ổn định trên đất đỏ Bazan và đất xám phù sa cổ của vùng Đông Nam Bộ”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình trồng sắn có năng suất cao ổn định trên đất đỏ Bazan và đất xám phù sa cổ của vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Hữu Hỷ
Năm: 2002
15. Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Long (1998), “Kết quả khảo nghiệm giống và nghiên cứu bón phân khoáng cho sắn ở Bình Long (Bình Phước)”năm 1996, Kỷ yếu hội thảo “Chương trình sắn Việt Nam hướng tới năm 2000”, 1998, tr 215-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm giống và nghiên cứu bón phân khoáng cho sắn ở Bình Long (Bình Phước) năm 1996
Tác giả: Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo “Chương trình sắn Việt Nam hướng tới năm 2000”
Năm: 1998
16. Nguyễn Khắc Khôi (1982), “Sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn” KHKT Viện chăn nuôi Hà Nôi T4, tr 53-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: KHKT Viện chăn nuôi Hà Nội T4
Năm: 1982
17. Nguyễn Khắc Khôi (1985), “Giáo trình cây sắn” Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây sắn
Tác giả: Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái
Năm: 1985
18. Lê Hồng Lịch, Võ Thị Kim Oanh (2000), “Kết quả khảo nghiệm giống và nghiên cứu liều lượng phân bón cho một số giống sắn tại Buôn Ma Thuột – Daklak”. Kỷ yếu hội thảo “Kết quả nghiên cứu và Khuyến nông sắn Việt Nam”, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, 2000, tr 219-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm giống và nghiên cứu liều lượng phân bón cho một số giống sắn tại Buôn Ma Thuột – Daklak
Tác giả: Lê Hồng Lịch, Võ Thị Kim Oanh
Nhà XB: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam
Năm: 2000
19. Đinh Văn Lữ (1972), “Sản xuất và chế biến sắn”, Nhà xuất bản Nông thôn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất và chế biến sắn
Tác giả: Đinh Văn Lữ
Nhà XB: Nông thôn Hà Nội
Năm: 1972
20. Nguyễn Thị Hoa Lý và cs (2005), “Nghiên cứu sử dụng lá sắn KM94 trong khẩu lợn thịt nuôi ở nông hộ tỉnh Thừa Thiên Huế”, trường Đại học Huế, Tr 2 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng lá sắn KM94 trong khẩu lợn thịt nuôi ở nông hộ tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa Lý và cs
Nhà XB: Trường Đại học Huế
Năm: 2005
22. Nguyễn Nghi và CTV (1985), “Xác định thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong một số loại thức ăn ở Việt Nam”, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp 1981 – 1985, phần Chăn nuôi – NXB Nông nghiệp Hà Nôi, tr 27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp 1981 – 1985, phần Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Nghi, CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 42)
Bảng 3.2: Thành phần hoá học đất - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Bảng 3.2 Thành phần hoá học đất (Trang 50)
Hình 3.2: Biểu đồ năng suất lá (bỏ cuống) ở các lứa cắt (tạ/ha/lứa) - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 3.2 Biểu đồ năng suất lá (bỏ cuống) ở các lứa cắt (tạ/ha/lứa) (Trang 54)
Bảng 3.8: Thời gian phơi nắng (giờ nắng), sấy khô lá sắn đạt độ ẩm ≤ 10% - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Bảng 3.8 Thời gian phơi nắng (giờ nắng), sấy khô lá sắn đạt độ ẩm ≤ 10% (Trang 59)
Bảng 3.10: Thành phần hoá học của bột lá sắn sau các khoảng - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Bảng 3.10 Thành phần hoá học của bột lá sắn sau các khoảng (Trang 63)
Hình 3.3: Biểu đồ hàm lượng HCN ở các giai đoạn lá khác nhau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 3.3 Biểu đồ hàm lượng HCN ở các giai đoạn lá khác nhau (Trang 65)
Hình 3.4: Biểu đồ hàm lượng HCN ở các phương pháp chế biến khác nhau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 3.4 Biểu đồ hàm lượng HCN ở các phương pháp chế biến khác nhau (Trang 67)
Bảng 3.13: Hàm lượng HCN trong bột lá sắn ở thời gian - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Bảng 3.13 Hàm lượng HCN trong bột lá sắn ở thời gian (Trang 68)
Hình 3.5: Biểu đồ hàm lượng HCN ở thời gian bảo quản khác nhau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 3.5 Biểu đồ hàm lượng HCN ở thời gian bảo quản khác nhau (Trang 69)
Hình 2: Ảnh sắn thí nghiệm trồng ở các mật độ khác nhau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 2 Ảnh sắn thí nghiệm trồng ở các mật độ khác nhau (Trang 78)
Hình 3: Ảnh thí nghiệm ở mức 0N; 20N; 40N; 60N; 80N - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 3 Ảnh thí nghiệm ở mức 0N; 20N; 40N; 60N; 80N (Trang 79)
Hình 4: Ảnh phương pháp chế biến phơi khô - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 4 Ảnh phương pháp chế biến phơi khô (Trang 80)
Hình 5: Ảnh phương pháp chế biến sấy khô - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 5 Ảnh phương pháp chế biến sấy khô (Trang 81)
Hình 6: Ảnh lá sắn phơi khô - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 6 Ảnh lá sắn phơi khô (Trang 82)
Hình 8: Ảnh máy sấy chuẩn bị bố trí thí nghiệm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Mật Độ Trồng, Mức Phân Đạm Và Các Phương Pháp Chế Biến Khác Nhau Đến Năng Suất Và Thành Phần Hoá Học Của Lá Sắn.pdf
Hình 8 Ảnh máy sấy chuẩn bị bố trí thí nghiệm (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w